Tải bản đầy đủ

Một số biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của Hiệu trưởng trường Trung học Võ Trường Toản, Huyện Cẩm Mỹ, Tỉnh Đồng Nai năm học 2009 2010











SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG GIÁO
DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP CỦA HIỆU
TRƯỞNG TRƯỜNG THPT VÕ
TRƯỜNG TOẢN, HUYỆN CẨM MỸ,
TỈNH ĐỒNG NAI NĂM HỌC 2009 -2010
Phần I: MỞ ĐẦU
I Lý do chọn đề tài.
1. Lý do khách quan

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế hiện
nay, sự phát triển của GD & ĐT quyết định sự tiến bộ của xã hội. Nhận thức sâu
sắc về vai trò của nền kinh tế tri thức và tầm quan trọng đặc biệt của Giáo dục-
Đào tạo, Nghị quyết TW2 - Khoá VIII đã chỉ
rõ “Giáo dục - Đào tạo là quốc
sách hàng đầu, là nhân tố phát triển kinh tế xã hội, là cơ sở để thực hiện Công
nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước”. Giáo dục-đào tạo là điều kiện cực kỳ cần
thiết để phát huy nguồn lực con người. Vì thế, việc nâng cao chất lượng giáo dục
toàn diện, tích cực đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học là nhiệm v
ụ hàng
đầu của cả hệ thống chính trị mà trước hết là của ngành giáo dục - đào tạo nước
ta. Những phương châm giáo dục cần được thấu triệt có thể thâu tóm ngắn gọn là:
giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, giáo dục của nhà trường gắn với giáo dục
của gia đình và giáo dục của toàn xã hội, giáo dục tri thức khoa học gắn với giáo
dục đạ
o đức, nhân cách và rèn luyện kỹ năng sống. Về mục tiêu, giáo dục hiện
nay phải đáp ứng được yêu cầu phát huy tối đa khả năng của người học và đáp
ứng tốt nhất yêu cầu của xã hội về nguồn nhân lực có chất lượng cao đủ tri thức-
sức khỏe- đạo đức và kỹ năng sống. Nhiệm vụ của mỗi nhà trường là phải giáo
dụ
c đào tạo như thế nào để mỗi học sinh khi bước vào cuộc sống có được một
hành trang tương đối đầy đủ, không bị động trước cuộc sống nhiều biến động và
đầy rẫy những điều phức tạp.
Để đạt được mục đích và hiệu quả giáo dục như mong muốn, việc dạy học
và giáo dục không những được tiến hành bằng các gi
ờ học chính khóa mà còn
được thực hiện bằng các hoạt động ngoài giờ lên lớp. Việc giáo dục phải được kết
hợp chặt chẽ với việc tự giáo dục, việc dạy học của giáo viên phải kết hợp với
việc tự học, tự rèn của học sinh. Giáo dục ngoài giờ lên lớp ( GDNGLL) là một
trong những hoạt động đáp ứng được yêu cầu đó của công tác giáo d
ục - đào tạo.
Xét về thực tế, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp với nội dung phong phú,
hình thức đa dạng, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý học sinh được xem như một
sân chơi hấp dẫn với học sinh. Ở đó, các em có cơ hội thể hiện năng lực và rèn
luyện kỹ năng sống, kỹ năng hoạt động nhóm trong khi tham gia các trò chơi,
hoạt
động văn hóa - văn nghệ, thể dục - thể thao, lao động, công tác xã hội …
Các em cũng sẽ có điều kiện thuận lợi hơn để tạo lập và củng cố thêm các mối
quan hệ xã hội. Đặc biệt, sân chơi này còn là nơi học sinh tìm kiếm và làm giàu
vốn tri thức văn hóa - lịch sử - xã hội cho bản thân. Nói tóm lại, tất cả những gì
các em ít có điều kiện thực hiện trong giờ họ
c chính khóa sẽ được bổ khuyết
trong các giờ học ngoài giờ lên lớp. Xét về lý luận dạy học, hoạt động GDNGLL
là sự tiếp nối hoạt động dạy học trên lớp, là con đường gắn lý thuyết với thực
tiễn, tạo nên sự thống nhất giữa nhận thức và hoạt động, góp phần hình thành tình
cảm, niềm tin ở học sinh. Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là đi
ều kiện tốt
nhất để học sinh có thể phát huy vai trò chủ thể, tính tích cực chủ động của các
em trong quá trình học tập, rèn luyện toàn diện. Khi thoát khỏi khuôn viên chật
hẹp của lớp học, các em được tự do và trực tiếp tham gia nhiều công tác khác
nhau ở ngoài xã hội. Nó đảm bảo được nguyên tắc giáo dục gắn liền với thực tiễn
đời sống xã hội. Mặt khác, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp còn thu hút và
phát huy tiềm năng của các lực lượng giáo dục góp phần nâng cao hiệu qủa giáo
dục.
2. Lý do chủ quan
Sau b
ốn năm tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp,
qua tham khảo, theo dõi ở một số đơn vị trường học, bản thân tôi nhận thấy: Hiện
nay, trong nhiều trường phổ thông, việc tổ chức hoạt đông giáo dục ngoài giờ lên
lớp cho học sinh đã được quan tâm, góp phần thúc đẩy các hoạt động dạy và học,
nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đào tạ
o. Bên cạnh đó, một số trường còn xem
nhẹ vai trò của hoạt động này. Nếu có tổ chức thì cũng thiên về hình thức, đối
phó, nội dung đơn điệu, thiếu chất lượng. Đồng thời, một số giáo viên do chưa
nhận thức đúng đắn về hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp nên còn thờ ơ với
hoạt động này. Năng lực tổ chức các hoạt
động và kỹ năng sinh hoạt của nhiều
giáo viên được phân công thực hiện nhiệm vụ này còn hạn chế. Đây là những
nguyên nhân cơ bản làm cho hiệu qủa của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
chưa cao. Để khắc phục tình trạng này, lãnh đạo các nhà trường phải nhận thức rõ
vai trò, tầm quan trọng cũng như lợi ích của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
trong việc thực hi
ện mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Trên cơ sở
đó, những người làm công tác quản lý của các trường cần tìm ra những biện pháp
lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể, phù hợp và kịp thời.
Qua thực tế tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường
THPT Võ Trường Toản, xã Xuân Tây, huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai, là một cán
bộ quản lý, cá nhân tôi luôn luôn trăn trở trướ
c những câu hỏi: Phải làm gì để
hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp trong nhà trường được tổ chức khoa học và
đạt hiệu quả hơn? Làm như thế nào để hoạt động GDNGLL phát huy tác dụng
của nó với việc giáo dục đạo đức, hoàn thiện nhân cách cho học sinh, góp phần
nâng cao nề nếp kỷ cương của nhà trường? Trên cơ sở tiếp thu được nhiều kiến
thức bổ ích về lý lu
ận và thực tiễn giáo dục, chúng tôi đã nhận thức sâu sắc và rõ
ràng hơn về con đường, cách thức giáo dục học sinh. Một trong những nhận thức
đó là muốn nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, nhất thiết phải làm tốt công
tác giáo dục đạo đức, nhân cách, rèn luyện kỹ năng cho học sinh. Giải pháp quan
trọng để thực hiện mục tiêu đó là tổ chức hiệu quả, khoa học các hoạt động giáo
dục ngoài giờ lên lớp.
Với các lý do khách quan và chủ quan đó tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu:
“Một số biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
của Hiệu trưởng trường THPT Võ Trường Toản, Huyện Cẩm Mỹ, Tỉnh
Đồng Nai năm học 2009 -2010”
II. Nhiệm vụ nghiên cứu
1. Tìm hiểu cơ sở pháp lý và cơ sở lý luận cuả đề tài.
2. Phân tích thực trạng công tác quản lý hoạt động động giáo dục ngoài giờ
lên lớp tại trường THPT Võ Trường Toản, Huyện Cẩm Mỹ, Tỉnh Đồng Nai.
3. Rút ra bài học kinh nghiêm và đề xuất một số biện pháp nhằm khắc
phục những hạn chế, nâng cao hiệu quả quản lý các hoạt động ngoài giờ lên lớp
tại trường THPT Võ Trường Toản, Huyện Cẩm Mỹ, Tỉnh Đồng Nai trong giai
đoạn t
ới.
III. Phương pháp nghiên cứu.
Để viết được đề tài này tôi đã dùng các phương pháp nghiên cứu như sau:
1. Đọc sách và các tài liệu tham khảo liên quan đến đề tài;
2. Phương pháp nghiên cứu sư phạm;
3. Điều tra bằng trao đổi và đàm thoại;
4. Tổng kết kinh nghiệm.
IV. Phạm vi giới hạn đề tài.
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp rất đa dạng và phong phú về cả nội
dung lẫn hình thức. Trong phạ
m vi đề tài này, do những hạn chế về năng lực của
bản thân và thời gian viết bài nên tôi không có tham vọng thực hiện một công
trình nghiên cứu có quy mô lớn mà chỉ vận dụng lý luận đã học để phân tích thực
trạng về vấn đề đã nêu ở đơn vị mình. Từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho công
tác quản lý họat động GDNGLL có hiệu qủa hơn. Đúng như tên đề tài, tôi sẽ chỉ
tập trung vào vấn đề: “Một số biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động giáo
dục ngoài giờ lên lớp của Hiệu trưởng trường THPT Võ Trường Toản,
Huyện Cẩm Mỹ, Tỉnh Đồng Nai năm học 2009 -2010”
Phần II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU.
Chương I: Cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý.
I. Các khái niệm liên quan đến đề tài
Quản lý là hoạt động, là tác động có định hướng, có chủ đích củ
a của chủ
thể quản lý đến đối tượng quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận
hành và đạt được mục đích của tổ chức.
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là những họat động được tổ chức
ngòai giờ học của các môn học ở trên lớp. Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
là sự tiếp nối hoạ
t động dạy - học trên lớp, là con đường gắn lý tuyết với thực
tiễn, tạo nên sự thống nhất giữa nhận thức với hành động của học sinh.
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là việc tổ chức giáo dục thông qua
hoạt động thực tiễn của học sinh về khoa hoc – kỹ thuật, lao động công ích, hoạt
động xã hội, hoạt động nhân đạo, văn hóa văn nghệ
, thẩm mĩ, thể dục thể thao,
vui chơi giải trí … để giúp các em hình thành và phát triển nhân cách (đạo đức,
năng lực, sở trường …)
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp do nhà trường quản lý chỉ đạo với sự
tham gia của các lực lượng xã hội … Nó tiến hành xen kẽ hoặc tiếp nối hoạt động
dạy học trong phạm vi nhà trường hoặc trong đời sống xã hội. Hoạt động này
di
ễn ra trong suốt năm học và cả thời gian nghỉ hè để khép kín qúa trình đào tạo,
làm cho quá trình này được thực hiện ở mọi nơi, mọi lúc.
Hoạt động giáo dục ngoài nhà trường là tổ chức cuộc sống của thanh thiến
niên về giáo dục, là cuộc sống thực của họ về học tập, lao động, vui chơi …Giáo
dục ngoài nhà trường là trách nhiệm của toàn xã hội, của gia đình học sinh, nhà
trường đóng vai trò cố vấn sư phạm và phối hợp tổ chức.
II. Cơ sở lý luận.
1. Vị trí của hoạt động giáo dụ
c ngoài giờ lên lớp.
Về mặt pháp lý: theo điều lệ nhà trường phổ thông, các hoạt đông giáo dục
trong nhà trường phổ thông bao gồm:
+ Hoạt đông giáo dục trên lớp thông qua việc dạy và học các môn học theo
quy định.
+ Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp do nhà trường phối hợp với các lực
lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường tổ chức bao gồm các hoạt động ngoại
khoá về khoa học, văn h
ọc, nghệ thuật, thể dục thể thao, nhằm phát triển năng lực
toàn diện của học sinh và bồi dưỡng học sinh có năng khiếu; các hoạt đông vui
chơi, tham quan du lịch, giao lưu văn hoá, các hoạt đông giáo dục môi trường,
các hoạt đông lao động công ích, các hoạt động xã hội, các hoạt động từ thiện
phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của học sinh. Như vậy, hoạt độ
ng giáo dục
ngoài giờ lên lớp được xác định là một bộ phận của hoạt động dạy học và giáo
dục.
Về phương diện thực tiễn: hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp có vị trí là
cầu nối hai chiều giữa nhà trường và xã hội.
+ Hoạt động GDNGLL tạo điều kiện cho nhà trường phát huy vai trò của
mình với đời sống xã hội, mở ra khả năng thuậ
n lợi để gắn học với hành, nhà
trường với xã hội.
+ Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là điều kiện và phương hướng để
huy động sức mạnh cộng đồng tham gia vào quá trình giáo dục đào tạo học sinh
và sự nghiệp phát triển của nhà trường.
2. Mục tiêu hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
- Mục tiêu giáo dục:
+ Trí dục; đức dục; thẩm mỹ; lao độ
ng; thể chất.
+ Nâng cao hiệu biết về các giá trị truyền thống của dân tộc, biết tiếp thu
những giá trị tốt đẹp, của nhân loại; củng cố, mở rộng kiến thức đã học trên lớp,
có ý thức trách nhiệm đối với bản thân và xã hội, có ý thức lựa chọn nghề nghiệp
cho bản thân.
- Mục tiêu xã hội.
+ Phát huy chức năng văn hoá, khoa học, kỷ luật c
ủa nhà trường ở địa
phương.
+ Bồi dưỡng nhân sinh quan, thế giới quan khoa học để từ đó có thái độ
đúng đắn trước những vấn đề của cuộc sống, biết chịu trách nhiệm về hành vi của
bản thân và đấu tranh tích cực với những biểu hiện sai trái của người khác.
3. Nhiệm vụ hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
3.1. Nhiệm vụ về giáo dục t
ư tưởng, nhận thức.
- Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp giúp học sinh bổ sung, củng cố
hoàn thiện những tri thức đã được học trên lớp, đồng thời giúp các em có những
hiểu biết mới, mở rộng nhãn quan với thế giới xung quanh, cộng đồng xã hội.
- Hoạt động GDNGLL giúp học sinh vận dụng tri thức đã học vào hoạt
động hàng ngày, biết tự điều chỉnh hành vi đạo đức, lối số
ng cho phù hợp các
chuẩn mực xã hội. Qua đó từng bước làm giàu thêm những kiến thức và kinh
nghiệm thực tế, xã hội cho các em.
- Hoạt động GDNGLL giúp học sinh định hướng chính trị - xã hội, có
những hiểu biết nhất định về truyền thống đấu tranh Cách mạng, truyền thống
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tôc, của đất
nước, c
ủa địa phương … qua đó tăng thêm sự hiểu biết của các em về Bác Hồ, về
Đảng, về Đoàn, về Hội.
- Hoạt động GDNGLL giúp học sinh có những hiểu biết tối thiểu về các
vấn đề có tính thời đại như vấn đề quốc tế, hợp tác, hoà bình và hữu nghị, vấn đề
bảo vệ môi sinh, môi trường, vấn đề dân số và kế hoạch hóa gia đình, v
ấn đề
phòng chống các tệ nạn xã hội, vấn đề pháp luật …
3.2. Nhiệm vụ giáo dục về thái độ.
- Hoạt động GDNGLL từng bước hình thành cho học sinh niền tin vào chế
độ xã hội, vào tương lai của đất nước, từ đó các em có lòng tự hào dân tộc, mong
muốn làm đẹp truyền thống của trường, của lớp, của quê hương đất nước.
- Hoạt động GDNGLL từng bước hình thành cho học sinh nh
ững tình cảm
đạo đức trong sáng (tình cảm thầy trò, tình cảm bạn bè, tình yêu quê hương đất
nước), qua đó giúp các em biết yêu kính và trân trọng cái tốt cái đẹp, biết ghét cái
xấu, cái lỗi thời không phù hợp.
- Hoạt động GDNGLL bồi dưỡng, xây dựng cho học sinh lối sống phù hợp
với đạo đức, pháp luật, truyền thống tốt đẹp của địa phương và đất nước.
- Hoạt động GDNGLL góp phần giáo dục học sinh tình
đoàn kết hữu nghị
với các bạn thanh thiếu niên quốc tế, với các dân tộc khác trên thế giới.
- Hoạt động GDNGLL bồi dưỡng cho học sinh tính tích cực, tính năng
động, sẵn sàng tham gia những hoạt động xã hội, hoạt động tập thể của trường,
của lớp vì lợi ích chung, vì sự trưởng thành và tiến bộ của bản thân.
3.3. Nhiệm vụ rèn luyện kỹ năng.
- Hoạt động GDNGLL rèn luy
ện cho học sinh kỹ năng giao tiếp, ứng xử có
văn hoá, những thói quen tốt trong học tập, lao động công ích và các hoạt động
khác.
- Hoạt động GDNGLL rèn luyện cho học sinh kỹ năng tự quản, trong đó
có kỹ năng tổ chức, kỹ năng điều khiển và thực hiện một hoạt động tập thể có kết
quả, kỹ năng nhận xét, đánh giá kết qủa ho
ạt động.
- Hoạt động GDNGLL rèn cho học sinh các kỹ năng giáo dục, tự điều
chỉnh, kỹ năng hòa nhập để thực hiện tốt các nhiệm vụ do thầy cô giáo, do nhà
trường hoặc tập thể lớp giao cho.
4. Nội dung hoạt động GDNGLL ở trường THPT
Nội dung hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp rất đa dạng và phong phú,
thể hiện tập trung ở các loại hình hoạt động sau đây
- Hoạt động chính trị - xã hội và nhân văn;
- Hoạt động văn hoá nghệ thuật;
- Hoạt động thể dục thể thao;
- Hoạt động lao động, khoa học, kỹ thuật và hướng nghiệp;
- Hoạt động vui chơi và giải trí…
Theo khoản 2, điề
u 26 điều lệ trường THCS, THPT và trường phổ thông
có nhiều cấp học qui định Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp bao gồm các nội
dung:
- Các hoạt động ngoại khóa về khoa học, văn học, nghệ thuật, thể dục thể
thao, an toàn giao thông, phòng chống tệ nạn xã hội, giáo dục giới tính, giáo dục
pháp luật nhằm phát triển toàn diện và bồi dưỡng năng khiếu;
- Các hoạt động vui chơi, tham quan, du l
ịch, giao lưu văn hóa, giáo dục
môi trường;
- Các hoạt động xã hội, từ thiện phù hợp với đặc tính sinh lý lứa tuổi.
Hoạt động GDNGLL là hoạt động giáo dục có ý nghĩa quan trọng trong
quá trình phát triển và hoàn thiện nhân cách của học sinh THPT. Trong công tác
quản lý của mình, người Hiệu trưởng cần tổ chức chỉ đạo cân đối giữa hoạt động
GDNGLL với các hoạt động khác nhằm thực hiện mục tiêu đ
ào tạo của cấp học.
5. Nguyên tắc tổ chức hoạt đông GDNGLL.
Để đảm bảo hiệu qủa giáo dục của hoạt động này, quá trình tổ chức nó
phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
5.1.Nguyên tắc về tính mục tiêu, tính kế hoạch.
- Tính mục tiêu: Cần xác định mục tiêu yêu cầu hoạt động GDNGLL cho
cả năm học, từng học kỳ, từng chủ điểm hoạt động; Trong
đó tính đa dạng của
mục tiêu cần được định hướng nhằm thực hiện mục tiêu tổng quát là phát triển
nhân cách học sinh.
- Tính kế hoạch: Mọi hoạt động đều cần có kế hoạch, đặc biệt kế hoạch
hoạt động GDNGLL cần đảm bảo tính ổn định tương đối, tính hệ thống và tính
hướng đích, không gây sự hỗn loạn và tuỳ tiện trong tổ
chức các hoạt động của
nhà trường. Trên cơ sở kế hoạch, nhà trường định ra cách thức tổ chức chỉ đạo,
nội dung, phương tiện và quy mô hoạt động.
5.2. Đảm bảo tính tự nguyện, tự giác
- Nếu hoạt động học tập trên lớp là bắt buộc thì hoạt động GDNGLL là tự
nguyện, tự giác. Nguyện tắc này bảo đảm quyền tự chọn tham gia các hoạt độ
ng
theo khả năng, hứng thú, điều kiện sức khỏe của mỗi học sinh, chỉ có như vậy
mới tạo ra được động cơ hoạt động, phát huy được từng thiên hướng của học
sinh. Điều quan trọng là nhà trường phải tổ chức các nhóm hoạt động, các câu lạc
bộ khác nhau; Thường xuyên tổ chức các cuộc gặp gỡ, tham quan, hoạt động văn
thể, lao độ
ng … Chỉ khi đó học sinh mới có thể tự nguyện, tự giác lựa chọn tham
gia vào loại hình hoạt động phù hợp với hứng thú của mình.
5.3. Tính đến các đặc điểm lứa tuổi và cá biệt của học sinh
Nội dung và hình thức hoạt động GDNGLL phải được thay đổi, tuỳ thuộc
vào sự chuyển từ giai đoạn lứa tuổi này sang lứa tuổi khác ở học sinh. Giáo viên
phải xác định các loại hình hoạt động và các hình thức công việc sao cho chúng
phù hợp với khả năng của lứa tuổi học sinh và hứng thú cá nhân của họ, đồng
thời đáp ứng yêu cầu giáo dục. Điều đó đòi hỏi giáo viên phải rất hiểu học sinh
của mình, nắm rõ các đặc điểm cá bịêt của họ để có thể đưa họ vào các hoạt động
phù hợp với khả năng và hứng thú của họ.
5.4. Kết hợp lãnh đạo sư phạm với tính độc lập, tự quản của học sinh
- Học sinh THPT có tính tích c
ực hoạt động xã hội và có khả năng tự quản,
tuy nhiên các em chưa có đủ kinh nghiệm sống, vì vậy cần có sự lãnh đạo sư
phạm thường xuyên.
- Nguyên tắc này đòi hỏi phát triển tính tích cực độc lập, sáng tạo của học
sinh. Hoạt động GDNGLL phải là hoạt động của học sinh, do học sinh tổ chức và
quản lý. Vai trò của người thầy là xác định phương hướng hoạt động và giúp
đỡ
học sinh tổ chức công việc, là người cố vấn của học sinh trong các hoạt động của
họ
5.5 Nguyên tắc bảo đảm tính hiệu qủa.
- Khi tiến hành bất cứ hoạt động nào củng phải tính đến hiệu qủa; nhưng
hiệu quả giáo dục luôn được coi là hàng đầu, chủ yếu của hoạt động GDNGLL.

- Kết hợp hiệu qủa giáo dục với các hiệu q
ủa khác như: Kinh tế, chính trị, xã hội
… thì phải lấy hiệu qủa giáo dục để điều chỉnh các hiệu qủa khác.
6. Chức năng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
Trong trường trung học, để quản lý các hoạt động GDNGLL người Hiệu
trưởng nhà trường THPT cần thực hiện các chức năng quản lý như sau:
6.1. Xây dựng kế hoạch.
Xây dựng kế hoạ
ch là điểm khởi đầu cho một chu trình quản lý khoa học
mà người quản lý nào cũng phải thực hiện. Hiệu trưởng quản lý các hoạt động
giáo dục cũng phải bắt đầu từ việc xây dựng kế hoạch.
Đây là chức năng quan trọng trong công tác quản lý của người Hiệu trưởng
nhằm định hướng cho các hoạt động GDNGLL tại trường trong từng thời kỳ, tiến
t
ới ổn định cho cả năm học. Để xây dựng kế hoạch đạt hiệu qủa cao cần đảm bảo
các yêu cầu sau:
6.1.1. Yêu cầu đối với việc xây dựng kế hoạch các hoạt động giáo dục:
- Kế hoạch phải được xây dựng phù hợp với điều kiện cụ thể của từng
trường, đáp ứng nhiệm vụ giáo dục trọng tâm củ
a từng năm học và nhiệm vụ
chính trị của địa phương.
- Phải có kế hoạch, lịch hoạt động cho toàn trường, cho từng khối lớp, cho
từng thời kỳ tiến tới ổn đình nề nếp.
- Có kế hoạch hoạt động đều đặn, cân đối từ đầu năm cho đến cuối năm
học và trong hè.
- Có lịch hoạt động hàng ngày, hàng tuần.
- Kế hoạch hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp phải được xây dựng trên
cơ sở kế hoạch năm học chung của nhà trường, trong sự phối hợp với kế hoạch
của các bộ phận khác trong nhà trường như kế hoạch dạy-học, kế hoạch hoạt
động ngoại khóa bộ môn, xây dựng kế hoạch cơ sở vậ
t chất …
6.1.2. Xây dựng lịch hoạt động thành nề nếp thời gian
a. Hoạt động hàng ngày:
- Ở lớp:
+ Trực nhật: vệ sinh trường lớp, chăm sóc cây hoa.
+ Sinh hoạt 15 phút đầu giờ: truy bài, đọc báo Đoàn, văn nghệ …
+ Bình nhật thi đua cuối buổi học, cuối ngày học.
- Toàn trường:
+ Thể dục giữa giờ, múa hát tập thể.
+ Bản tin hàng ngày.
+ Hoạt động của đội sao đỏ, c
ờ đỏ để duy trì nề nếp, kỉ luật nhà trường.
b. Hoạt động tuần:
- Ở lớp:
+ Hoạt động ngoài giờ lên lớp theo chương trình.
+ Sinh hoạt lớp, sinh hoạt chi đoàn: phát động thi đua, sơ kết hàng tuần,
phổ biến công việc, trao đổi thảo luận những vấn đề học sinh lớp quan tâm, văn
nghệ, trò chơi, …
- Ở trường:
+ Sinh hoạt dưới cờ: chào cờ
đầu tuần, câu chuyện dưới cờ theo chủ điểm
giáo dục, văn nghệ, trò chơi, …
+ Phát thanh học đường theo các chủ đề: phòng chống ma túy, an toàn giao
thông, bảo vệ môi trường, …
+ Sinh hoạt câu lạc bộ: câu lạc bộ những nhà văn trẻ, câu lạc bộ khoa học
tự nhiên, câu lạc bộ cờ vua, …
c. Hoạt động hàng tháng:
- Tổ chức sinh hoạt theo chủ điểm.
- Tổ chức ngày hội truy
ền thống.
- Công tác xã hội: lao động công ích, hoạt động từ thiện xã hội, …
- Tổ chức tuyên truyền các sự kiện chính trị lớn trong cả nước như tuyên
truyền đại hội Đảng các cấp, …
- Tổ chức cắm trại, tham quan dã ngoại, …
d. Học kỳ: sơ kết, tổng kết thi đua, khen thưởng, văn nghệ …
6.1.3. Kế hoạch năm học: các hoạt động giáo dục của nhà trườ
ng có thể
trình bày như sau:
a. Tình hình nhà trường, địa phương, chỉ đạo của các cấp quản lý.
b. Mục tiêu quản lý các hoạt động giáo dục:
- Mục tiêu chung.
- Các mục tiêu cụ thể: chỉ tiêu về chất lượng các hoạt động giáo dục; mục
tiêu xá hội, …
c. Các biện pháp lớn để thực hiện mục tiêu:
- Xây dựng chương trình hoạt động giáo dục.
- Xây dựng đội ngũ giáo viên có nhận thức và có năng lực tổ chức các hoạt
động giáo dục,…
- Phối hợp các lực lượng giáo dục ngoài xã hội.
- Xây dựng cơ sở vật chất trường l
ớp, sách tham khảo,
6.2. Hiệu trưởng tổ chức thực hiện kế hoạch
6.2.1: Tổ chức
Thành lập, củng cố ban chỉ đạo hoạt động GDNGLL với thành phần theo
thông tứ số 32 của Bộ giáo dục và TW Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh
ký ngày 15/10/1988…
- Thành phần ban chỉ đạo gồm:
+ Trưởng ban: Hiệu trưởng hoặc phó hiệu trưởng.
+ Các thành viên: Bí thư chi bộ, bí thư Đoàn trường, bí thư chi đ
oàn giáo
viên, tổ trưởng tổ bộ môn, đại diện ban chấp hành công đoàn, đại diện hội cha mẹ
học sinh trường, …
- Để ban chỉ đạo hoạt động có hiệu quả, các thành viên hoạt động đều tay,
hiệu trưởng nên lập các tiểu ban, mỗi tiểu ban chịu trách nhiệm tổ chức chỉ đạo
một mảng hoạt động giáo dục, có thể tổ chức các tiểu ban như sau:
+ Tiểu ban chính tr
ị, chịu trách nhiệm tổ chức các hoạt động giáo dục
truyền thống, giáo dục chính trị tư tưởng, …
+ Tiểu ban khoa học, chịu trách nhiệm tổ chức các hoạt động ngoại khóa
bộ môn, câu lạc bộ bộ môn, …
+ Tiểu ban văn nghệ, chịu trách nhiệm tổ chức các hoạt động văn nghệ, thể
dục thể thao.
- Sau khi thành lập hoặc củng cố Ban chỉ đạo, đ
iều hết sức quan trọng là
hiệu trưởng phải xây dựng được:
+ Nhiệm vụ, trách nhiệm và quyền hạn của từng tiểu ban trong việc tổ
chức các hoạt động giáo dục.
+ Nhiệm vụ, trách nhiệm và quyền hạn của mỗi thành viên trong ban chỉ
đạo.
+ Qui định lề lối hoạt động của ban chỉ đạo.
6.2.2. Tổ chức các hoạt động bên trong nhà trường
Các lực lượ
ng giáo dục bên trong nhà trường giữ vai trò quyết định chất
lượng giáo dục của nhà trường. Vì vậy, hiệu trưởng cần phải quan tâm tổ chức,
động viên lực lượng này tích cực tham gia tổ chức hoạt động giáo dục học sinh.
Cụ thể là:
- Lực lượng giáo viên chủ nhiệm lớp;
- Lực lượng giáo viên bộ môn;
- Qui định nhiệm vụ của tổ chủ nhiệm, tổ bộ môn trong đó có nhiệm vụ tổ
chức các hoạt động giáo dục.
- Đoàn thanh niện cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp thanh niên Việt
nam.
6.2.3. Phối hợp với các lực lượng ngoài xã hội.
Tổ chức phối hợp với các lực lượng giáo dục ngoài nhà trường như chính
quyền địa phương, các tổ chức xã hội khác
đóng trên địa bàn …
6.3 Hiệu trưởng chỉ đạo thực hiện kế hoạch
6.3.1. Hiệu trưởng chỉ đạo Ban chỉ đạo hoạt động giáo dục
- Trước hết, Hiệu trưởng chỉ đạo giao ban hàng tháng của Ban chỉ đạo,
những nội dung giao ban cơ bản có thể là:
+ Tổng kết, rút kinh nghiệm việc tổ chức các hoạt động giáo dục cuat
tháng trước.
+ Đề nghị khen thưởng những cá nhân, t
ập thể có thành tích trong các hoạt
động giáo dục; đề nghị phê bình, nhắc nhở những cá nhân, tập thể chưa hoàn
thành nhiệm vụ.
+ Xây dựng chủ đề, kế hoạch hoạt động trong tháng tới.
+ Phân công trách nhiệm cụ thể cho các ban.
- Sau khi được Hiệu trưởng thông qua và đưa vào kế hoạch tháng của
trường, nội dung họp giao ban sẽ được trưởng ban chỉ đạo phổ biến trong cuộc
họp toàn nhà trường vào đầu tháng để
triển khai thực hiện.
- Hiệu trưởng chỉ đạo cho Ban chỉ đạo tuyên truyền cho đội ngũ giáo viên
trong nhà trường cũng như cho cha mẹ học sinh có nhận thức đúng đắn về vai trò,
nhiệm vụ của các hoạt động giáo dục đối với sự hình thành và phát triển nhân
cách học sinh để từ đó họ tự giác tham gia tổ chức hoạt động giáo dục và hỗ trợ
nhà trường tổ chứ
c hoạt động.
- Hiệu trưởng chỉ đạo Ban chỉ đạo huấn luyện kĩ năng tổ chức hoạt động
tập thể cho học sinh cốt cán các lớp, giáo viên chủ nhiệm.
6.3.2. Hiệu trưởng chỉ đạo hoạt động của tổ khối chủ nhiệm
Giáo viên chủ nhiệm giữ vai trò chính trong tổ chức hoạt động giáo dục
cho học sinh lớp chủ nhiệm, nên hoạt độ
ng của tổ, khối chủ nhiệm có ảnh hưởng
rất lớn tới chất lượng hoạt động giáo dục của nhà trường. Hiệu trưởng chỉ đạo
hoạt động của tổ, khối chủ nhiệm thực hiện nhiệm vụ đã được xây dựng.
6.3.3. Hiệu trưởng chỉ đạo các tổ bộ môn tham gia tổ chức các hoạt động
giáo dục
- Trên cơ sở
kế hoạch giáo dục đã được tập thể cán bộ giáo viên thông qua,
đầu năm học Hiệu trưởng phân công trách nhieemjcho các tổ bộ môn, mỗi tổ bộ
môn có trách nhiệm phải tổ chức một hoạt động chủ đề hoạt động GDNGLL
trong năm học phù hợp với đặc thù bộ môn. Kế hoạch tổ chức phải thống nhất
với kế hoạch chung của toàn trường tránh chồng chéo các hoạ
t động trong cùng
thời điểm.
- Hiệu trưởng chỉ đạo các tổ bộ môn thành lập các câu lạc bộ bộ môn, xây
dựng mục tiêu, nội dung và lịch hoạt động của các câu lạc bộ, phân công giáo
viên phụ trách để duy trì hoạt động của câu lạc bộ trong suốt năm học.
6.3.4. Hiệu trưởng chỉ đạo các bộ phận khác trong trường tham gia giáo
dục học sinh
- Bộ phận giám thị, bảo vệ: là lực lượng duy trì kỉ cương nề
nếp học sinh,
góp phần giáo dục nhà trường, vì vậy Hiệu trưởng chỉ đạo bộ phận này tham gia
công tác giáo dục học sinh ngoài giờ lên lớp.
- Bộ phận thư viện tạo điều kiện về tư liệu tham khảo cho việc tổ chức các
hoạt động giáo dục.
- Bộ phận thiết bị, đồ dùng dạy học: Xây dựng đồ dùng dạy học, trang thiết
bị ph
ục vụ cho tổ chức hoạt động GDNGLL.
6.3.5. Hiệu trưởng phối hợp với các đoàn thể trong nhà trường.
- Tổ chức Đoàn-Hội: nội dung phối hợp cụ thể
+ Liên kết chương trình, kế hoạch hoạt động của Đoàn-Hội với kế hoạch
nhà trường.
+ Qui định lề lối làm việc giữa Hiệu trưởng với bí thư đoàn trường, giữa
GVCN với bí thư đoàn trong việc tổ chức các hoạt động GDNGLL.
+ Phân công trách nhiệm rõ ràng trong tổ chức các hoạt động giáo dục
NGLL.
+ Cừ cán bộ Đoàn-Hội đi tập huấn về nghiệp vụ hoạt động Đoàn-Hội.
+ Có chế độ bồi dưỡng khen thưởng thich đáng với thành tích của Bí thư
đoàn.
- Với công Đoàn trường.
6.3.6. Hiệu trưởng phối hợp với các lực l
ượng xã hội tổ chức các hoạt động
giáo dục.
- Phối hợp với cha mẹ học sinh.
- Hiệu trưởng tham mưu với cấp ủy, chính quyền địa phương.
- Hiệu trưởng phối hợp với các lực lượng xã hội khác: cơ quan công an,
trung tâm y tế, hội cựu chiến binh, …
6.4. Hiệu trưởng tổ chức kiểm tra, đánh giá thực hiện kế hoạch:
Bất cứ hoạ
t động giáo dục nào, khi tổ chức hoạt động thì hiệu trưởng phải
tổ chức kiểm tra đánh giá chất lượng, hiệu quả giáo dục, từ đó rút kinh nghiệm và
điều chỉnh tổ chức hoạt động nhằm đạt được chất lượng và hiệu quả cao hơn.
6.4.1. Kiểm tra hoạt động GDNGLL được thể hiện qua:
- Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch hoạ
t động của bộ phận, của các lớp.
- Kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục thông qua hoạt động của học sinh.
6.4.2 Nội dung kiểm tra:
+ Kiểm tra các hoạt động nêu ra trong kế hoạch có thực hiện không ?
+ Kiểm tra kết qủa từng hoạt động giáo dục về các mặt: nhận thức, động
cơ, thái độ tham gia hoạt động, nề nếp sinh hoạt, kỹ năng, hành vi, thành tích…
6.4.3. Xây dựng tiêu chí, lực l
ượng kiểm tra:
- Xây dựng tiêu chí đánh giá. Khác với hoạt động dạy học trên lớp, hoạt
động GDNGLL đa dạng phong phú, không có cuẩn chung cho mọi hoạt động, để
đánh giá được kết quả giáo dục của mỗi hoạt động, ban chỉ đạo phải xây dựng
được mức chuẩn cần thống nhất trong trường và phù hợp với mục tiêu giáo dục
của cấp học.
- Tổ chức lực lượng kiểm tra: L
ực lượng kiểm tra chủ yếu là các thành
viên trong ban chỉ đạo, phối hợp với thành viên của các lực lượng giáo dục khác.
6.4.4. Một số phương pháp kiểm tra hoạt động GDNGLL
- Kiểm tra qua hồ sơ so sánh.
- Trao đổi, tìm hiểu.
- Tham dự một hoạt động cụ thể.
- Nghe báo cáo.
- Điều chỉnh: sau khi kiểm tra, cần tổ chức sơ kết, rút kinh nghiệm, điều
chỉnh để việc tổ
chức các hoạt động sau đó tốt hơn.
III.Cơ sở pháp lý
1. Điều 35 trong hiến pháp Nước CHXHCN Việt Nam năm 1992 đã xác
định
“ Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Nhà nước và xã hội phát triển
giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Mục tiêu
của giáo dục là hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của
công dân; đào tạo những người lao độ
ng có nghề, năng động và sáng tạo, có niềm
tự hào dân tộc, có đạo đức, có ý chí vươn lên góp phần làm cho dân giàu nước
mạnh, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.”
2. Quá trình giáo dục trong nhà trường nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục
đã nêu trong luât giáo dục nước CHXHCN Việt Nam do Quốc hội khóa XI - Kỳ
họp thứ 7 thông qua ngày 14/6/2005: “ Điều 2 chương I : Mục tiêu giáo dục là
đào tạo con ng
ười Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ,
thẩm mỹ, và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và Chủ nghĩa
xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân,
đáp ứng nhu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
3. Về “ Tính chất nguyên lý giáo dục”, Điều 3 Luật giáo dục có nêu:
+ “ Nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục XHCN có tính chất nhân dân,
dân t
ộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tuởng Hồ Chí Minh
làm nền tảng”
+ “Hoạt động giáo dục phải thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành,
giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục
nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”.
4. Điều 26 khoản 2 đi
ều lệ trường Trung học (ngày 02/4/2007) Quy định
các hoạt đông GDNGLL bao gồm:
Nhà trường phối hợp với các tổ chức, cá nhân tham gia giáo dục ngoài nhà
trường thực hiện các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Hoạt động giáo dục
ngoài giờ lên lớp bao gồm các hoạt động ngoại khoá về khoa học, văn học, nghệ
thuật, thể dục thể thao, an toàn giao thông, phòng chống tệ nạn xã hội, giáo dục
giới tính, giáo dục pháp luật nhằm phát triển toàn diện và bồi dưỡng năng khiếu;
các hoạt động vui chơi, tham quan, du lịch, giao lưu văn hoá, giáo dục môi
trường; các hoạt động xã hội, từ thiện phù hợp với đặc điểm sinh lý lứa tuổi học
sinh.
5. Chương trình THPT hoạt động GDNGLL ban hành kèm theo quyết định
số: 47/2002/QĐ –BGD&
ĐT ngày 19/01 /2002 của Bộ trưởng Bộ GD& ĐT .
Chương II. Thực trạng quản lý hoạt động GDNGLL tại trường THPT
Võ Trường Toản, huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai năm học 2008-2009.
I. Đặc điểm tình hình nhà trường
1. Đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội ở địa phương.
Đồng Nai nằm trong khu kinh tế trọng điểm phía nam, tiếp giáp với các
tỉnh: Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Bà R
ịa - Vũng Tàu. Là một tỉnh có
tỷ trọng công nghiệp chiếm đa số do vậy nhu đào tạo nguồn nhân lực có chất
lượng cao là nhiệm vụ rất cần thiết và quan trọng.
2. Khái quát về nhà trường:
Trường THPT Võ Trường Toản thành lập vào năm 2005, là một trường
công lập nằm ở vùng sâu, vùng xa của tỉnh Đồng Nai, trường cách trung tâm
hành chính của Tỉnh khoảng 80 km, cách xa trung tâm huyện gần 20km. Nơi
trường to
ạ lạc là trung tâm xã Xuân Tây của huyện Cẩm Mỹ. Là trường mới
thành lập, điều kiện cơ sở vật chất tuy đã được trang bị nhưng chưa thực sự đầy
đủ, đồng bộ. Trường thường xuyên nhận được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp
lãnh đạo chính quyền, của lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo Đồng Nai cũng như
toàn thể xã hội. Tình hình an ninh t
ương đối ổn định, giao thông thuận tiện nên
điều kiện đi lại của giáo viên và học sinh đến trường thật dễ dàng.
Nhiệm vụ của trường là thu hút học sinh của 4 xã Xuân Tây, Xuân Đông,
Xuân Bảo, Bảo Bình và một số xã phía nam của huyện Xuân Lộc để thực hiện
công tác giáo dục và đào tạo. Trước đây, khi chưa có trường chỉ có một số gia
đình có điều kiện kinh tế khá m
ới cho con đi học ở các trường ngoài huyện, số
còn lại thì ở nhà làm rẫy hoặc đi học nghề. Do đó, nhà trường được xây dựng để
đảm được nhiệm vụ tạo điều kiện thuận lợi cho con em vùng nông thôn có điều
kiện học tập. Trên thực tế, việc trường được thành lập đã đáp ứng được phần lớn
nhu cầu học tập c
ủa con em địa phương và nhân dân cũng đã tin tưởng gửi gắm
con em mình cho trường.
2.1 Đội ngũ cán bộ - giáo viên - công nhân viên - học sinh
a. Tổng số cán bộ - giáo viên - công nhân viên
+ Đội ngũ CBGV - CNV: 63 người.
+ Cán bộ quản lý: 03 người.
+ Giáo viên: 50 người. Trong đó:
 Giáo viên đạt chuẩn: 50 người.
 Cán bộ - Giáo viên đang học cao học: 06 người.
+ Công nhân viên: 11 người.
- Tỷ lệ giáo viên đạt 1,6 /lớp.
Giáo viên cư trú tại địa phương ít, phần lớn là giáo viên ở nơi khác đến
giảng dạy, cho nên việc đi lại gặp nhiều khó khăn và không ổn định, nhiều người
có tư tưởng Trường chỉ là nơi trú chân buổi ban đầu, khi có điều kiện, họ lại xin
chuyển đi nơi có nhiều thuận lợi hơn để công tác. Bên cạnh đó, giáo viên hầu h
ết
là mới ra trường (Trên 80% giáo viên có tuổi nghề dưới 5 năm), thiếu kinh
nghiệm giảng dạy cũng như giáo dục học sinh. Việc nâng cao chất lượng dạy và
học vì thế gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, đội ngũ giáo viên trẻ của trường cũng
có những ưu thể như nhiệt tình năng động và có tinh thần trách nhiệm cao trong
công tác.
b. Học sinh:
Năm học 2009-2010 Trường có 35 lớp với 1720 học sinh (HS).
Số
học sinh được biên chế :
+ Khối 12: 09 lớp - 441 HS. Trong đó HS nữ: 250.
+ Khối 11: 11 lớp - 559 HS. Trong đó HS nữ: 368.
+ Khối 10: 15 lớp - 720 HS. Trong đó HS nữ: 483.
Học sinh các địa phương nơi trường tọa lạc tuy có truyền thống hiếu học,
chăm chỉ nhưng chất lượng không cao. Đầu vào của HS nhà trường không qua thi
tuyển, điểm chuẩn xét tuyển vào lớp 10 luôn thấp hơn so với các trường lân cận
(không có HS nộp hồ
sơ xét tuyển bị loại). Nhiều học sinh chưa nắm vững kiến
thức cơ bản vững, tư duy chậm. Khá đông học sinh chưa có nhận thức và động cơ
học tập đúng đắn. Do đó, việc giáo dục các em theo đúng yêu cầu, nhiệm vụ và
mục tiêu mà Đảng và nhà nước giao cho là cả một thách thức đối với tập thể sư
phạm nhà trường. Để nâng cao ch
ất lượng cho học sinh, ngoài việc cải tiến
phương pháp dạy theo hướng phát huy tích cực và phù hợp với đối tượng thì việc
đẩy mạnh các hoạt động GDNGLL cũng là một yêu cầu cần thiết và cấp bách.
2.2 Tình hình cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động GDNGLL:
Cơ sở vật chất của trường đáp ứng tương đối tốt cho nhu cầu dạy và học
vớ
i 38 phòng học đủ đáp ứng cho học 1 ca. Ngoài ra còn có:
- Sân chơi khá rộng .
- Bãi tập rộng 6000 m
2
đảm yêu cầu về kỹ thuật.
- Hệ thống âm thanh đã được trang bị.
- Dụng cụ thể dục thể thao đầy đủ.
- Các loại phòng chức năng khá đầy đủ gồm: Thư viện, phòng truyền
thống, văn phòng đoàn, phòng y tế …
2.3 Chất lượng dạy học - giáo dục
Chất lượng giáo dục năm học 2008 – 2009.


Khối

Số
HS
Xếp loạ
i học lực
Kém Yếu TB Khá Giỏi
SL % SL % SL % SL % SL %
10 564
3 0.5 103 18,3 292 51,8 136 24,1 30 5,3
11 459
0 0 44 9,5 244 53,2 163 35,5 8 1,7
12 424
0 0 48 11,3 229 54 138 32,5 9 2,2
Tổng 1447 3 0.2 195 13.5 765 52.9 437 30.2 47 3.2


Khối


Số
HS
Xếp loại hạnh kiểm
Yếu TB Khá Tốt
Sl % SL % SL % SL %
10 564
8 1,5 63 11,2 112 19,9 381 67,5
11 459
8 1,7 14 3,1 79 19,2 358 78,0
12 424
0 0 18 8,0 63 15,1 343 80,2
Tổng 1447 16 1.1 95 6.5 245 17.6 1082 74.8
3. Đánh giá thuận lợi và khó khăn.
3.1. Thuận lợi:
- Quan điểm giáo dục của Đảng và nhà nước về hoạt động GDNGLL thể
hiện qua các văn bản chỉ đạo của các cấp.
- Sự quan tâm sâu sắc của các cấp lãnh đạo và sự đồng tình ủng hộ của các
đoàn thể ở trường cũng như ở địa phương và nhất là Hội cha mẹ học sinh.
- Đội ngũ
giáo viên - nhân viên trẻ, trình độ chuyên môn đạt chuẩn đào tạo,
nhiệt tình tâm huyết với nghề, với phong trào Đoàn và công tác xã hội, có tinh thần
đoàn kết cao.
- Gia đình học sinh thuần nông có truyền thống hiếu học, cư trú trên địa
bàn nông thôn, ít bị tác động của các yếu tố tiêu cực ngoài xã hội.
3.2. Khó khăn:
a. Nguyên nhân chủ quan:
- Ban lãnh đạo nhà trường: Mặc dù lãnh đạo nhà trường rất quan tâm đến
việc giáo dục học sinh thông qua các hoạt động GDNGLL nh
ưng những hoạt
động ấy vẫn còn mang tính hình thức, chạy theo phong trào, theo từng thời điểm,
nhất là còn bị động, trông chờ vào sự chỉ đạo của các bộ phận có liên quan: Chi
bộ, đoàn thanh niên, các phong trào của địa phương …
+ Các hoạt động GDNGLL hầu như dập khuôn, lặp lại, chưa có hình thức
mới lạ, linh hoạt, hấp dẫn, chưa đáp ứng được yêu cầu nguyện vọng củ
a đối
tượng, đôi khi chưa phù hợp với từng tâm lý đối tượng.
+ Các hoạt động GDNGLL hầu như mang tính chất bắt buộc. Tất cả những
giờ sinh hoạt GDNGLL ở trường thường được gọi chung bằng thuật ngữ “sinh
hoạt chủ điểm” và qui định trong nội quy của trường. HS không tham gia sẽ bị hạ
hạnh kiểm. Vì vậy, chưa thực sự tạo cho các em hứ
ng thú để đến với hoạt động
GDNGLL, các em tham gia đa phần chỉ là đối phó.
+ Các hoạt động GDNGLL hầu như được tiến hành trong phạm vi toàn
trường hoặc theo từng khối lớp. Vì vậy, điều kiện phát huy tính độc lập trong suy
nghĩ, tính chủ động trong sinh hoạt giao tiếp vẫn còn hạn chế, chưa tạo điều kiện
cho tất cả học sinh có thể nói lên những suy nghĩ của bản thân. Tất cả đều có sự
chỉ đạo cụ thể, phân công của giáo viên hoặc tổ chức Đoàn, Hội liên hiệp thanh
niên (LHTN) trong nhà trường. Học sinh chưa tự mình tổ chức thực hiện.
- Về phía tập thể giáo viên: một số giáo viên trong tập thể nhà trường vẫn
chưa ý thức được giá trị của những hoạt độ
ng GDNGLL. Họ quan niệm cho rằng
đó là những hoạt động của đoàn thể cho nên có khi đứng ngoài cuộc không tham
gia các hoạt động GDNGLL. Nếu có tham gia thì đó cũng là sự miễn cưỡng, bị
ép buộc (vì quyền lợi của cá nhân, có tăng thu nhập) chứ chưa tự nguyện, tự giác.
Thậm chí có những giáo viên chủ nhiệm bỏ mặc cho lớp muốn làm gì thì làm,
không vận động, khuyến khích, phó thác hoàn toàn vai trò hướng dẫn cho Đoàn
thể … Bên cạ
nh đó có những giáo viên thiếu kinh nghiệm trong giao tiếp, lời nói
chưa thật tế nhị, khéo léo nên đôi khi làm cho những hoạt động GDNGLL phản
tác dụng .
- Về việc phân công giáo viên: Trong quá trình phân công hướng dẫn các
hoạt động GDNGLL, lãnh đạo nhà trường đôi khi còn e ngại, chưa thật sự tin
tưởng vào khả năng của giáo viên. Vì vậy trong quá trình tiến hành công việc, chỉ
có một số người làm, số còn lại chỉ cần có mặt là đủ, chẳ
ng làm gì …
- Về điều kiện cơ sở vật chất: Tại khuôn viên trường, điều kiện cơ sở vật
chất để tạo cho học sinh có sân chơi, sinh hoạt rất khó khăn, trường mới xây dựng
hầu như chưa có cây bóng mát. Hầu hết các hoạt động GDNGLL đều diễn ra
ngoài trời, tại sân cờ. Vì vậy, những lúc điều kiện thời tiết khắc nghiệ
t thì hoạt
động GDNGLL không tiến hành được. Thời gian dành cho hoạt động GDNGLL
chưa cụ thể rõ ràng, nên khi tổ chức cũng gặp rất nhiều khó khăn.
b. Nguyên nhân khách quan:
- Về phía chính quyền địa phương: Mặc dù chính quyền địa phương có
quan tâm nhưng chủ yếu là sự cổ vũ về tinh thần chứ chưa có sự hỗ trợ đắc lực về
kinh phí, chưa tạo điều kiện tốt cho các ho
ạt động; lực lượng an ninh đôi khi chưa
tích cực trong việc can thiệp vào những sự cố bất ngờ như đánh nhau, bài bạc,
rượu chè, hút chích, các hàng quán chứa chấp các tệ nạn xã hội xung quanh
trường vẫn chưa thật sự được dẹp bỏ.
- Về phía cha mẹ học sinh: Đa số cha mẹ học sinh thờ ơ với các hoạt động
GDNGLL, coi nó là vô bổ, không thiết thực. Có những phụ
huynh còn đứng tên
để xin phép cho con được nghỉ trong các ngày, giờ sinh hoạt hoạt động
GDNGLL. Hội cha mẹ học sinh của trường ít quan tâm ủng hộ về vật chất cho
những hoạt động GDNGLL này.
- Bản thân học sinh: rất nhiều học sinh có học lực khá, giỏi thì chỉ nghĩ
đến bản thân, quyền lợi cá nhân, ít hợp tác giúp đỡ bạn bè. Còn học sinh có học
lực yếu kém, phần lớn là con em nhà lao động nghèo lại không có nhiều thờ
i gian
tham gia hoạt động GDNGLL, các em còn phải giúp gia đình trong công việc lao
động sản xuất; một số học sinh gia đình giàu có, dư giả thì mải ăn chơi, không
quan tâm đến việc học tập, bị lôi cuốn vào những lối chơi vô bổ … vì vậy, cũng
ảnh hưởng phần nào tới chất lượng học tập cũng như rèn luyện đạo đức học sinh.
Tóm lại, trường THPT Võ Trường Toản là một trường công lập ở vùng
sâu, vùng xa có nhiều thuận lợi cũng như không ít những khó khăn, vì vậy trách
nhiệm của người Hiệu trưởng là hết sức nặng nề trong việc tổ chức các họat động
của nhà trường nhằm giáo dục học sinh một cách toàn diện. Công tác chỉ đạo hoạt
động GDNGLL, góp phần đưa chất lượng giáo dục nhà trường đi lên là m
ột trong
những nhiệm vụ cần được người đứng đầu nhà trường quan tâm, chú trọng.
II. Thực trạng hoạt động GDNGLL tại trường THPT Võ Trường
Toản
1. Công tác xây dựng kế hoạch
* Ưu điểm:

- Ngay từ đầu năm học, căn cứ vào hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học
của Sở GD và ĐT Đồng Nai, các văn bản liên tịch giữa tỉnh Đoàn Đồng Nai và
Sở GD - ĐT Đồng Nai về công tác Đoàn trường học, căn cứ vào nhiệm vụ chính
trị và xã hội ở địa phương và điều kiện cụ thể của nhà trường, Hi
ệu trưởng đã
phối hợp với Đoàn Thanh niên xây dựng kế hoạch hoạt động GDNGLL song
song với việc dự thảo kế hoạch năm học của nhà trường. Kế hoạch, sau khi được
xây dựng hoàn tất đã được triển khai trong hội đồng sư phạm nhà trường. Căn cứ
vào kế hoạch chung đó, tất cả giáo viên, các tổ chức đoàn thể trong nhà trường và
học sinh ch
ủ động lên kế hoạch hoạt động cụ thể của mình.
- Kế hoạch hoạt động GDNGLL được xây dựng từng tháng tương ứng với
chủ điểm giáo dục theo hướng dẫn của Bộ. Trong từng tháng lại có nội dung và
hình thức hoạt động theo từng tuần. Các bộ phận được phân công sẽ chủ động lên
kế hoạch hoạt động riêng của bộ phận mình phụ
trách, rồi trình lên Hiệu trưởng
duyệt trước khi thực hiện. Ngoài ra, giáo viên chủ nhiệm căn cứ vào tình hình đặc
điểm của lớp để xây dựng kế hoạch hoạt động của lớp, tổ, nhóm cho hàng tuần và
hàng tháng từ tháng 09 năm này đến tháng 05 năm sau. Còn hoạt động hè thì do
Đoàn thanh niên và ban chỉ đạo công tác hoạt động GDNGLL phối hợp tổ chức
và thực hiện.
- Các loại kế hoạch như sau:
+ Hàng ngày:
Duy trì nề
nếp, giờ giấc, vệ sinh, tác phong đạo đức, các công tác khác.
+ Hàng tuần:
Các sinh hoạt thường xuyên và chủ điểm như:
# Sinh hoạt dưới cờ (chào cờ và hạ cờ): Hát quốc ca, nghe báo cáo sơ kết
thi đua, trao giải “Đố vui để học”, nêu gương người tốt, việc tốt và phổ biến kế
hoạch tuần tới …
# Sinh hoạt lớp: Giáo viên chủ nhiệm có kế hoạch sinh hoạt lớp theo kế
hoạch chung của nhà trường và kế hoạch của từng lớp. Trong các tiết sinh hoạt
lớp GVCN là người cố vấn, lớp trưởng trực tiếp điều khiển sinh hoạt lớp.
# Đố vui để học: Mỗi tuần tổ chức thi đố vui bằng cách đưa câu hỏi thuộc
04 môn (khoa học xã hội hoặc tự nhiện) lên bản tin. HS tham gia sẽ trả lời câu
hỏi vào giấy và nộp lại cho cán b
ộ Đoàn trường. Các giám khảo bộ môn sẽ chấm
giải và Đòan trường sẽ công bố, trao giải trong tiết sinh hoạt dưới cờ. Việc tổ
chức thi đố vui để học được thực hiện trong toàn trường ở cả 3 khối lớp.
+ Hàng tháng tổ chức sinh hoạt theo chủ điểm, hướng tới các ngày lễ, ngày
kỷ niệm truyền thống, như tổ chức các cuộc thi đấu thể thao; làm báo tường, báo
ảnh; hội diễn văn nghệ
, hội khỏe Phù Đổng; cắm trại 26/03; thăm quan dã ngoại,

- Trong kế hoạch thể hiện rõ mục đích hoạt động GDNGLL của nhà trường
là hỗ trợ hoạt động học tập cho học sinh, giúp các em có thêm hiểu biết về các
lĩnh vực đời sống xã hội, làm phong phú thêm kinh nghiệm hoạt động tập thể,
hình thành tình cảm và niềm tin cuộc sống ở các em, góp phần giáo dục toàn diện
nhân cách học sinh, tổ
chức các hoạt động hưởng ứng phong trào “xây dựng
trường học thân thiện, học sinh tích cực” do Bộ Giáo dục và Đào tạo phát động.

- Ngoài ra, trường còn xây dựng kế hoạch GDNGLL lồng ghép với kế
hoạch chuyên môn ở một số nội dung theo sự chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào
tạo; các văn bản hướng dẫn của sở Giáo dục và Đào tạo Đồng Nai. Cụ thể là
trong kế hoạch chuyên môn của trường đã đưa các nội dung tích hợp hoạt động
GDNGLL vào các môn học chính khóa như:
+ Trong môn Giáo dục công dân:
Lớp 10: chủ đề đạo đức;
Lớp 11: chủ đề kinh tế và Chính trị - Xã hội;
Lớp 12: các chủ đề về pháp luật.
+ Kế hoạch tích hợp giáo dục hướng nghiệp sang hoạt động GDNGLL, có
chủ điểm, có trọng tâm, có tính khả thi. Cụ thể: điều chỉ
nh thời lượng hoạt động
GDNGLL thành 9 tiết/năm học sau khi tích hợp đưa sang giảng dạy ở môn công
nghệ (phần: “tạo lập doang nghiệp” ở lớp 10) và tích hợp đưa sang hoạt động
GDNGLL (do giáo viên môn công nghệ, giáo viên GDCD phụ trách) ở 3 chủ đề:
# Chủ đề tháng 9: Thanh niên với học tập, rèn luyện vì sự nghiệp công
nghệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
# Chủ đề tháng 12: Thanh niên với xây dựng và bảo vệ t
ổ quốc.
# Chủ đề tháng 3: Thanh niên với vấn đề lập nghiệp.
* Hạn chế:

- Việc lập kế hoạch như trên đã đảm bảo được các nguyên tắc, mục đích và
tâm sinh lý lứa tuổi học sinh nhưng việc thực hiện kế hoạch thường trễ, sau Hội
nghị công chức của nhà trường, kế hoạch mới được triển khai. Trong khi đó, việc
này đáng ra cần phải làm từ tháng 08 để sau khai giảng năm học mới, các bộ phận
liên quan có thể tiế
n hành ngay các hoạt động GDNGLL.
- Kế hoạch chưa cụ thể khoa học, còn chung chung cả về hình thức lẫn nội
dung cũng như sự phân công trách nhiệm cho từng người. Vì thế, trong khi tổ
chức thường xảy ra tình trạng bị động nhất là với các hoạt động theo chủ điểm.
Ngoài ra còn phải kể đến những trở ngại về cách làm, công việc dẫm đạp lên
nhau hoặc không đồng bộ, … Tất cả dẫn đến việc tổ chức các hoạt động
GDNGLL không đạt hiệu qủa.
- Một số kế hoạch hoạt động GDNGLL do xây dựng chung với kế hoạch
chuyên môn, hướng nghiệp của nhà trường nên trong kế hoạch nhiều hoạt động
chưa được dự trù kinh phí, cũng như chưa có lịch hoạt động cụ thể cho toàn
trường, cho từng khố
i lớp nhằm hình thành nề nếp lâu dài,
- Kế hoạch Đoàn thanh niên, Hội LHTN, kế hoạch chủ nhiệm … được
thực hiện độc lập với những nét đặc thù riêng, dẫn đến thiếu thông tin phối hợp,
hoạt động tẻ nhạt, chồng chéo làm cho học sinh chán ngán khi nghe thấy tổ chức
hoạt động GDNGLL.
Ví dụ: Khi Đoàn trường và ban văn nghệ nhà trường tổ chức đợt hội trại
chào m
ừng ngày 26/3, trong đó việc tổ chức đêm văn nghệ do Đoàn triển khai kế
hoạch. Trên thực tế, Đoàn không có quyền phân công nhiệm vụ cho các bộ phận
khác của trường mà chỉ có chức năng phối hợp tổ chức thực hiện. Vì thế, khi
Đoàn đứng ra triển khai kế hoạch thì nhiều giáo viên chủ nhiệm không tham gia
ủng hộ hoặc có tham gia thì là chuyện bị ép buộc. Hậu quả là chất lượ
ng đêm hội
diễn văn nghệ không cao.
- Mặt khác, trường chưa có kế hoạch hoạt động GDNGLL riêng phù hợp
với từng khối lớp, đặc biệt là HS lớp 12. Nguyên nhân một phần do nhà trường
chỉ chú trọng tới việc ôn tập kiến thức để thi tốt nghiệp THPT; thi đại học, cao
đẳng cho các em. Mặt khác, do nhận thức sai của một số giáo viên đang dạy lớp
12 cũng như PHHS củ
a trường: họ cho rằng hoạt động GDNGLL là hoạt động bề
nổi không cần thiết. Đây chính là cách nhìn nhận sai lệch trong chủ trương giáo
dục toàn diện học sinh của ngành đề ra. Do vậy, học sinh khối 12 ít khi tham gia
các hoạt động GDNGLL.
- Một số giáo viên chủ nhiệm được phân công dạy hoạt động GDNGLL
không được dự các lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ. Vì thế, khi triển khai họ
không chuẩn b
ị hoặc không biết chuẩn bị gì và không biết tổ chức như thế nào
cho phù hợp.
* Nguyên nhân:

- Ban lãnh đạo cùng với các lực lượng cốt cán của nhà trường chưa có
nhận thức đúng đắn hoặc xem nhẹ vị trí, vai trò, mục tiêu của hoạt động
GDNGLL trong nhà trường. Do đó, thiếu sự chuẩn bị chu đáo, cụ thể một kế
hoạch hoạt động GDNGLL có chất lượng từ sớm để có thể phối hợp, triển khai
một cách thống nhất, nhịp nhàng giữa các bộ
phận có trách nhiêm trong nhà
trường.
- Thực hiện chương trình hoạt động GDNGLL do Bộ Giáo dục và Đào tạo
ban hành còn máy móc, chưa vận dụng sáng tạo, linh hoạt, phù hợp vào tình hình
thực tế của nhà trường, của địa phương.
2. Công tác tổ chức và chỉ đạo thực hiện:
1.1. Thành lập ban chỉ đạo
* Ưu điểm:

Đầu năm học, Hiệu trưởng ra quyết định thành lập ban chỉ đạo hoạt động
GDNGLL cùng với các ban khác hỗ trợ cho hoạt động này như: Ban văn nghệ,
Ban phụ trách ngoại khoá. Ban chỉ đạo các hoạt động GDNGLL do Hiệu trưởng
làm trưởng ban, Bí thư Đoàn trường làm phó ban thường trực, chịu trách nhiệm
về nội dung và tổ chức, các Uỷ viên là Bí thư chi Đoàn giáo viên, các Tổ trưởng
chuyên môn, giáo viên chủ nhiệm lớp và các ban khác. (Có quy
ết định đính kèm)
Việc thành lập Ban chỉ đạo kịp thời đã tạo điều kiện cho các thành viên có
thể thực hiện nhiệm vụ được phân công một cách hợp lệ. Trong đó, có bí thư
Đòan trường làm việc rất năng nổ, nhiệt tình, tổ chức được nhiều hoạt động lớn,
tạo điều kiện cho học sinh vui chơi, giải trí, góp phần giáo dục đạo
đức cũng như
giúp các em hòa nhập tốt hơn với tập thể, tự tin hơn trước đám đông.
* Hạn chế:

- Theo thông tư số 32/TT của Bộ Giáo dục và Trung ương Đoàn ngày
15/10/1988 thì quyết định thành lập ban chỉ đạo còn thiếu các thành phần như:
Đại diện của chi ủy, đại diện Công đoàn, đại diện Hội cha mẹ học sinh. Đây là
những lực lượng quan trọng góp phần rất lớn để Ban chỉ đạo hoạt động GDNGLL
hoạt động có hiệu quả.
- Hiệu trưởng có thành lập ban chỉ
đạo, có phân công một số tiểu ban phụ
trách các mảng công việc riêng nhưng chưa qui định lề lối hoạt động của ban chỉ
đạo, chưa phân công nhiệm vụ cụ thể, trách nhiệm và quyền hạn của từng thành
viên trong ban. Vì thế, các thành viên trong ban có người làm việc rất nhiều, có
người chỉ có mặt cho đủ ban bệ mà trong năm không tham gia hoạt động gì hết
hoặc làm việc cho xong không quan tâm đến chất lượng, hiệu quả.
Ví dụ như: Trong tiết sinh hoạt dưới cờ hàng tuần, kế hoạch hoạt động đã
được lên rất cụ thể, chi tiết, đảm bảo một buổi sinh hoạt phong phú, thiết thực, bổ
ích nhưng trên thực tế, nó chỉ diễn ra đơn giản: Bí thư đoàn trường lên sơ kết thi
đua trong tuần, sau đó là nhận xét của lãnh đạo nhà trường, rất it khi có sự tham
gia sinh hoạt của các môn văn hóa (Thi
đố em, hái hoa học tập …), tổ chức thi
văn nghệ, các trò chơi dân gian … Buổi sinh hoạt dưới cờ cứ lặp đi lặp lại như
thế làm cho học sinh có cảm giác nhàm chán, ít có tính giáo dục, lãng phí thời
gian, hiệu quả đạt được không cao. Tuy vậy, trách nhiệm ấy cũng chẳng quy về
ai, người tổ chức thực hiện cũng không bị nhắc nhở, phê bình gì.
- Mặt khác, do Ban chỉ đạo thiếu các thành phần nên mọi ho
ạt động chủ
yếu do Đoàn lập kế hoạch, tham mưu xin ý kiến cấp ủy và lãnh đạo nhà trường
rồi tổ chức thực hiện. Thiếu sự phối hợp của các bộ phận khác trong nhà trường
dẫn đến hoạt động GDNGLL dường như chỉ hoạt động đơn lẻ của bộ phận Đoàn
thanh niên, không cuốn hút được các lực lượng khác cùng tham gia, hoạt động
thi
ếu tính đa dạng, phong phú cả hình thức lẫn nội dung hoạt động.
- Hiệu trưởng chưa tổ chức bồi dưỡng cho GVCN về năng lực nhận thức,
phương pháp hoạt động, cách thức phối hợp các phương pháp giáo dục và phối
hợp với các lực lượng liên quan để tổ chức tốt các hoạt động GDNGLL. Việc
tham mưu đề xuất của các tổ trưởng chuyên môn, giáo viên chủ nhiệ
m với Hiệu
trưởng trong việc phối hợp thực hiện nhiệm vụ của nhà trường hầu như rất hiếm,
rất rời rạc.
* Nguyên nhân:

Như đã nói ở trên, Hiệu trưởng ra quyết định thành lập ban chỉ đạo hoạt
động GDNGLL nhưng chưa có kế hoạch thống nhất với kế hoạch chung của nhà
trường và các bộ phận, các tổ chức đoàn thể trong nhà trường. Chưa có kế hoạch
qui định chế độ sinh hoạt định kỳ hàng tháng, phân công nhiệm vụ cụ thể rõ ràng
cho từng thành viên để chỉ đạo xuyên suốt và
đạt hiệu quả quản lý.
2.2. Tổ chức và chỉ đạo các lực lượng giáo dục bên trong nhà trường
2.2.1. Đối với lực lượng giáo viên chủ nhiệm
* Ưu điểm:

- Trong phân công GVCN, Hiệu trưởng có sự cân nhắc, lựa chọn cho phù
hợp với đặc điểm từng khối lớp (đặc biệt là chú ý đến đội ngũ GVCN lớp 12, lớp
10), phát huy được năng lực của giáo viên chủ nhiệm. Một số GVCN làm rất tốt
việc huấn luyện, bồi dưỡng, phát huy vai trò chủ động, tự quản của học sinh trong
việc tổ chức các hoạt động ngoài giờ
. Nhiều cán bộ lớp tổ chức các tiết hoạt động
ngoài giờ rất hấp dẫn, lôi cuốn học sinh tham gia nhiệt tình như: 12 C1, C2, C3,
C9; 10 B1, B2, B3, B4, B10 ,B11 ….Chính sự nắm vững và phát hiện được học
sinh có khả năng tự tổ chức sinh hoạt của GVCN đã giúp đỡ rất tốt cho các hoạt
động chung của nhà trường, của Đoàn, của Hội LHTN. Ngoài ra thông qua
GVCN đã phát hiện và giới thiệu cho nhà trường các học sinh có năng khi
ếu văn
nghệ, TDTT.
- Giáo viên chủ nhiệm nghiên cứu hồ sơ để nắm vững những thông tin về
học sinh, xây dựng kế hoạch chủ nhiệm cho lớp minh trong đó có sự thích hợp
với kế hoạch hoạt động GDNGLL, nắm bắt nội dung các hoạt động của nhà
trường, của Đoàn thanh niên để phổ biến, theo dõi và nhắc nhở học sinh của lớp
mình thực hiện. Tổ
chức sinh hoạt chủ nhiệm vào cuối tuần hoặc đầu tuần. Giờ
sinh hoạt GVCN hướng dẫn và lớp trưởng điều khiển.
- Hoạt động GDNGLL rất phong phú và Hiệu trưởng đã dành một số hoạt
động cho học sinh đứng ra tổ chức và thực hiện dưới sự hướng dẫn và lãnh đạo
sư phạm của nhà trường. Việc làm này vừa đảm bảo tính độc lậ
p, tư duy năng
động, sáng tạo vừa phát huy được ý thức tự nguyện, tự giác của học sinh.
* Hạn chế:

- Hiệu trưởng chưa xây dựng được qui định về nhiệm vụ, quyền hạn và qui
trình công việc của GVCN lớp trong tổ chức các hoạt động giáo dục học sinh lớp
chủ nhiệm (cụ thể như: GVCN phải làm gì vào đầu năm học, vào cuối học kỳ I,
cuối năm học, hàng tháng, hàng tuần; qui định mối liên hệ phối hợp giữa GVCN
với các tổ chức trong nhà trường, vớ
i PHHS …)
- Với chương trình sách giáo khoa về hoạt động GDNGLL của Bộ, Ban chỉ
đạo chưa tổ chức được một số tiết hoạt động mẫu để giáo viên dự rút kinh
nghiệm; chưa có kế hoạch phân công mỗi GVCN thiết kế hoạt động cơ bản cho
một chủ đề của một tháng, sau đó tổng hợp thống nhất nội dung tập hợp thành
giáo án chung của khối lớp, giúp họ có định hướng nhất định và giảm bớt thời
gian chuẩn bị.
- Việc bố trí tiết hoạt động GDNGLL trong các tiết học chính khóa của
trường hiện nay là chưa phù hợp, cần phải dạy trái buổi, có thể bố trí riêng từng
lớp hoặc cả khối tùy theo chủ đề hoạt động của tháng.
- Hiệu trưởng chưa thành lập tổ chủ nhiệ
m riêng cho từng khối lớp. Vì thế
chưa phát huy được vai trò của tổ chủ nhiệm trong việc xây dựng kế hoạch hoạt
động GDNGLL riêng, phù hợp với đặc điểm của từng khối. Do chưa có tổ trưởng
tổ chủ nhiệm nên hiệu trưởng khó có thể theo dõi chặt chẽ thực tế việc sử dụng
tiết hoạt động GDNGLL của một số GVCN, chưa có biện pháp xử
lý thích hợp
đối với một số giáo viên sử dụng tiết hoạt động GDNGLL để làm các công việc
khác.
- GVCN lớp chưa phối hợp với Chi hội cha mẹ học sinh lớp mình trong
tiết hoạt động GDNGLL, tiết sinh hoạt lớp, do đó chưa phát huy được vai trò của
lực lượng này, thiếu sự hỗ trợ của họ đối với lớp.
* Nguyên nhân:

- Lãnh đạo nhà trường ít dự giờ các tiết hoạt động GDNGLL, tiết sinh hoạt
lớp.
- Hiệu trưởng chưa xây dựng được qui trình làm việc của GVCN một cách
cụ thể.
- Hiệu trưởng chưa mở lớp tập huấn nâng cao vai trò, chức năng, nghiệp vụ
của giáo viên chủ nhiệm.
2.2.2. Đối với giáo viên trường, các tổ chuyên môn:
* Ưu điểm

- Ban chỉ đạo hoạt động GDNGLL đều có lên kế hoạch cùng với các tổ
chuyên môn trong việc lồng ghép, tích hợp các nội dung: bảo vệ môi trường, giáo
dục dân số, phòng chống các tệ nạn xã hội… vào các bài dạy ở chính khóa trên
lớp ở các môn: Vật lý, Hóa, Sinh, GDCD, Địa, Lịch sử…
- Ban chỉ đạo đã yêu cầu các tổ chuyên môn lập kế hoạch lồng ghép, tích
hợp các nội dung này xuyên suốt chương trình cả năm học và có dự gi
ờ rút kinh
nghiệm việc dạy lồng ghép đó.
- Hiệu trưởng đã triển khai kế hoạch của nhà trường trong đó có hoạt động
GDNGLL ngay từ đầu năm học. Do đó, tập thể sư phạm nhà trường thống nhất
kế hoạch, tham gia đầy đủ, giáo viên bộ môn theo dõi kế hoạch và chủ động trong
các nhiệm vụ được giao như: Ra đề thi đố vui để học, làm trọng tài cho các trận
bóng đá, làm ban giám khảo trong các cuộc thi do nhà trường tổ chức …
* Hạn chế:

- Đa số giáo viên được phân công tham gia tổ chức hoạt động GDNGLL
có suy nghĩ đây chỉ là một phong trào hoạt động ngoại khóa, tham gia dạy cho
đủ số tiết chuẩn theo qui định nên họ không đầu tư cho tiết dạy, chưa thật sự chủ
động tham gia các tổ chức hoạt động. Tất cả phó mặc cho Ban chỉ đạo hoạt động
GDNGLL mà vai trò chính là các thành viên trong Ban chấp hành Đoàn trường.
- Việc dạy lồng ghép, tích hợp ở các môn học thì chủ yếu các tổ chuyên
môn chỉ thực hiện theo phong trào và mang tính đối phó (khi có người dự giờ thì
cũng lồng ghép gượng ép cho có), chứ chưa được bàn bạc, nghiên cứu kỹ, thống
nhất trong tổ chuyên môn, giữa các giáo viên cùng môn. Bản thân mỗi GV chưa
có ý thức và trách nhiệm cao trong quá trình tích hợp các tri thức đời sống xã hội
để giáo dục đạo đức, nhân cách cho học sinh.
- Hiệu trưởng chưa chỉ
đạo các tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch tổ chức
ngoại khóa phù hợp với đặc thù bộ môn. Kế hoạch và việc sinh hoạt định kỳ của
các tổ chuyên môn chỉ tập trung vào nội dung chuyên môn, nghiệp vụ, hầu như
không có kế hoạch ngoại khóa. Hoặc nếu có kế hoạch đề xuất hoạt động thì cũng
không thực hiện được do trường thiếu kinh phí hoạt động, chính điều này c
ũng
làm ảnh hưởng các hoạt động ngoại khóa nói chung và hoạt động GDNGLL của
các tổ chuyên môn nói riêng.
* Nguyên nhân:

- Do nội dung bài học chính khóa ở các môn đều dài, nặng nề, đa số học
sinh có học lực yếu, tiếp thu kiến thức chậm nên phần lớn giáo viên đều không
dạy kịp chương trình, hoặc chỉ tập trung vào một mục đích duy nhất là dạy cho
hết bài, Do vậy họ không tha thiết với việc lồng ghép, tích hợp các nội dung
như đã nêu ở trên. Mặc dù các nội dung đã có sẵn trong quá trình học tậ
p thay
sách giáo khoa, thảo luận trong các cuộc họp hội đồng bộ môn của Sở Giáo dục
và Đào tạo tổ chức.
- Hiệu trưởng mới chỉ tác động đến thái độ của giáo viên bằng văn bản, chỉ
thị của cấp trên, chưa tác động đến nhận thức và tình cảm của họ, chưa có biện
pháp kích thích hoặc bồi dưỡng để họ tự giác thực hiện hay tự
giác phối hợp tham
gia các hoạt động GDNGLL.
2.2.3. Đối với Đoàn, Hội liên hiệp thanh niên.
* Ưu điểm:

- Bí thư Đoàn, Chủ tịch Hội LHTN của trường là những người trẻ, cởi mở,
tự tin, nhiệt huyết và có kỹ năng tổ chức các phong trào. Họ là thủ lĩnh của các
phong trào thanh niên và là lực lượng nòng trong rất nhiều các phong trào hoạt
động GDNGLL của nhà trường. Nhận thức được điều này nên hiệu trưởng đã
phối hợp tốt, tạo nhiều điều kiện thuận l
ợi cho Đoàn, Hội LHTN của nhà trường
hoạt động. Cụ thể hiệu trưởng đã nhất trí với kế hoạch và chương trình hoạt động
của Đoàn, Hội LHTN đề ra ngay từ đầu năm học trên cơ sở liên kết với kế hoạch
của nhà trường, tổ chức đoàn, Hội LHTN đã cụ thể hóa kế hoạch hoạt động
GDNGLL của nhà trường vớ
i kế hoạch của hoạt động Đoàn, của Hội LHTN nhà
trường. Trong năm học, lãnh đạo nhà trường đã phối phối hợp với đoàn trường đã
tổ chức được nhiều hoạt động khá thành công như:
+ Phối hợp với Đoàn Thanh niên tổ chức các đợt thi đua theo chủ điểm với
nhiều hình thức hoạt động cụ thể như: làm báo tường, thi v
ăn nghệ, bóng đá, cầu
lông, thi cắm hoa, thi sân khấu hóa các tác phẩm văn học, … Một năm một lần tổ
chức cắm trại 26/03 cho toàn thể học sinh của trường. Tổ chức thi “Đố vui để
học” xuyên suốt cả năm học.
- Tổ chức và phát động nhiều đợt thi đua theo chủ đề:
+ Chào mừng năm học mới, chào mừng ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11
với chủ điểm “tôn sư trọng đạo” với hình thức hoạt động như: Lao động vệ sinh
toàn trường, trồng và chă
m sóc cây xanh, thi đua học tập và nề nếp, làm báo
tường, hội khoẻ phụ đổng, thể thao, nói chuyện chuyên đề, thi thuyết trình về
phòng chống ma túy và các tệ nạn xã hội trong học đường…, sơ kết thi đua đợt
một vào ngày 20/11.
+ Đợt thi đua chào mừng ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và
ngày học sinh, sinh viên với 2 chủ điểm “Uống nước nhớ nguồn” và “Gương
sáng noi theo anh bộ đội cụ Hồ
”. Đoàn trường phát động thi đua học tốt, thăm
viếng tặng qùa “Các bà mẹ Việt Nam anh hùng” và gia đình liệt sỹ; nghe các cựu
chiến binh nói chuyện truyền thống nhân ngày 22/12. Đặc biệt, Lãnh đạo nhà
trường đã chỉ đạo tổ Sử kết phối hợp với Đoàn thanh niên tổ chức ngoại khóa lịch
sử: cho các lớp xây dựng kịch bản về các chiến dịch, các nhân vật lịch sử
đã được
học. Với sự trợ giúp của giáo viên bộ môn các em đóng hoạt cảnh và dự thi. Sau
vòng loại, chọn mỗi khối 3 tiết mục vào chung kết, tổ chức biểu diễn và tuyên
truyền dưới cờ. Tổ chức mít tinh ôn lại truyền thống ngày học sinh, sinh viên, nêu
cao vai trò trách nhiệm người thanh niên trong sự nghiệp xây dựng đất nước,
hướng nghiệp cho học sinh để chọn nghề thích hợp với khả
năng và nguyện vọng
của bản thân. Trường tổ chức họp phụ huynh học sinh cuối học kỳ I để thông báo
kết qủa học tập và hướng dẫn những yêu cầu chủ yếu về giáo dục của nhà trường.
Giải thích cho phụ huynh về tầm quan trọng của hoạt động GDNGLL để phụ
huynh tạo điều kiện thuận lợi cho con em tham gia nghiêm túc, đánh giá đợt thi
đua vào d
ịp sơ kết học kỳ I.
+ Đợt thi đua “Mừng Đảng, mừng Xuân” và ngày thành lập Đoàn 26/03
với 3 chủ điểm: Ngày thành lập Đoàn (26/03), ngày quốc tế Phụ nữ (08/03) và
ngày thành lập Đảng (03/02). Đoàn phát động phong trào thi đua học tập trong
toàn trường (Giờ học tốt, tuần học tốt và tháng học tốt); thi hội diễn văn nghệ và
học sinh thanh lịch; thể thao (Bóng đá, cầu lông, bóng bàn, đi
ền kinh); hội trại
26/3; thi cắm hoa, thi nấu ăn, thi vẽ tranh, vẽ panô áp phích cổ động về phòng
chống ma túy và các tệ nạn xã hội … Trong đó tổ chức đêm văn nghệ “Mừng
Đảng, mừng Xuân” có bán vé gây qũy cho phong trào “Học sinh nghèo hiếu học”
được trên10.000.000đ.
+ Đợt thi đua ôn lại truyền thống yêu nước của dân tộc với 2 chủ điểm
mừng ngày thống nhất đất nước 30/04 và sinh nhật Bác Hồ
19/5: Đoàn tiếp tục
phát động phong trào thi đua học tốt, thi tìm hiểu về thân thế và sự nghiệp của Hồ
Chí Minh, thi đua tìm hiểu về lịch sử dân tộc, Chiến dịch Hồ Chí Minh và Đại
thắng mùa xuân 1975, trồng cây nhớ Bác, ôn tập và thi học kỳ nghiêm túc, đánh
giá vào đợt thi đua tổng kết cuối năm.

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×