Tải bản đầy đủ

Báo cáo nghiên cứu khoa học " KẾT QUẢ ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN LOÀI VÀ ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ CỦA NHÓM BƯỚM NGÀY (RHOPALOCERA: LEPIDOPTERA) Ở KHU VỰC NHÀ MÁY THUỶ ĐIỆN A VƯƠNG, TỈNH QUẢNG NAM " pdf


199

TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, Số 49, 2008


KẾT QUẢ ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN LOÀI VÀ ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ
CỦA NHÓM BƯỚM NGÀY (RHOPALOCERA: LEPIDOPTERA) Ở KHU VỰC
NHÀ MÁY THUỶ ĐIỆN A VƯƠNG, TỈNH QUẢNG NAM
Đỗ Anh Tuấn, Lê Trọng Sơn
Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế
TÓM TẮT
Tiến hành điều tra thành phần loài và đặc điểm phân bố của nhóm bướm ngày
(Rhopalocera: Lepidoptera) ở khu vực nhà máy thuỷ điện A Vương, tỉnh Quảng Nam từ ngày 04
đến 20 tháng 01 năm 2006.
Tổng số 124 loài, thuộc 76 giống, 10 họ đã được thu thập và ghi nhận trong thời gian
khảo sát thực địa. Trong đó, họ Papilionidae 11 loài; Pieridae 11 loài; Danaidae 8 loài;
Satyridae 31 loài; Amathusiidae 3 loài; Nymphalidae 31 loài; Riodinidae 2 loài; Lycaenidae 11
loài; Hesperiidae 15 loài. Phát hiện được 2 loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam, 3 loài bướm
hiếm và đặc hữu cho miền Trung Việt Nam.
Phân bố của các loài trong các sinh cảnh bị tác động: Rừng ít bị tác động 14 loài; rừng

bị tác động 47 loài; trảng cây bụi, trảng cỏ, nương rẫy 30 loài; rừng tre nứa 22 loài; ven sông
suối 63 loài; khu dân cư, vườn và ruộng 40 loài. Sự phân bố của các loài theo độ cao từ 350
đến 650 m.
I. Đặt vấn đề
Công trình thu
ỷ điện A Vương thuộc tỉnh Quảng Nam hiện đang được xây dựng.
Việc đánh giá tài nguyên và những tác động đến môi trường sống của hệ động thực vật
trong khu vực nhà máy thuỷ điện, trong đó có nhóm bướm ngày (Rhopalocera) là việc
làm cần thiết cho kế hoạch sử dụng hợp lý tài nguyên trong tương lai.
Nhóm b
ướm ngày (Rhopalocera) khá đa dạng về thành phần loài và sinh cảnh
phân bố. Chúng có số lượng lớn và tác động rất mạnh mẽ đối với môi trường sống nhất
là đối với rừng đầu nguồn, nơi có công trình thuỷ điện. Hầu hết các loài lại có xu hướng
gắn liền với những nơi sinh sống tự nhiên nhất định, đồng thời cũng chịu ảnh hưởng
mạnh mẽ bởi sự thay đổi của môi trường sống. Ở khu vực xây dựng nhà máy thuỷ điện
A Vương, nhóm bướm ngày còn chưa được đề cập đến mặc dù đã có một số kết quả
khảo sát về các nhóm động vật khác (bò sát, ếch nhái, chim và thú). Báo cáo này trình

200

bày kết quả nghiên cứu thành phần loài và đặc điểm phân bố của nhóm bướm ngày, của
đề tài “Đánh giá tác động môi trường dự án Nhà máy Thuỷ điện A Vương”.
II. Ph
ương pháp nghiên cứu
2.1.
Địa điểm nghiên cứu
Xã Ma Cooih huy
ện Đông Giang và xã Dang huyện Tây Giang, Quảng Nam.
2.2. Ph
ương pháp nghiên cứu
a. Phân chia các sinh c
ảnh: Vùng khảo sát bao gồm khu vực lòng hồ chứa và các
khu rừng hai bên bờ sông vùng hạ lưu có chiều dài 9 km, được chia thành 6 kiểu sinh cảnh.
 Rừng ít bị tác động: Độ cao từ 350 – 650 m. Rừng thứ sinh giàu xen lẫn với
rừng nguyên sinh, dọc theo sông, độ dốc lớn, thảm thực vật ít bị tác động.
 Rừng bị tác động: Độ cao từ 350 – 650 m. Rừng thứ sinh trên núi đá và núi
đất, độ dốc lớn. Thảm thực vật chịu tác động chặt phá của người dân địa phương và đào
bới do thi công công trình thuỷ điện.
 Trảng cây bụi, trảng cỏ, nương rẫy: Độ cao từ 350 – 400 m. Có những bãi cát
trắng, nhiều cây bụi, trảng cỏ và nương rẫy bỏ hoang sau khi di dân.
 Rừng tre nứa: Độ cao từ 350 – 650 m. Rừng thường Nm, nhiều lá tre nứa mục
nát, độ dốc tương đối lớn, xen kẽ có những mảng rừng mới trồng hay nương rẫy. Nhìn
chung hệ thực vật nghèo nàn.
 Ven sông, suối: Độ cao khoảng 350 m. Sinh cảnh này rất phức tạp, hai bên bờ
có nhiều bãi cỏ, cây dại hoặc là nối tiếp với các dải rừng nguyên sinh hay thứ sinh tuỳ
thuộc vào các sinh cảnh mà sông, suối chảy qua.
 Khu dân cư, vườn và ruộng: Độ cao 350 – 400 m. Tập trung thành từng bản
khoảng 10 đến 20 gia đình phân bố dọc theo hai bên bờ sông, suối. Quanh nhà có các
vực nước nhỏ như ao, khe rãnh nước, bể nước; chuồng nhốt gia súc và gia cầm; ruộng
trồng lúa, hoa màu hoặc là những cây lâu năm như Quế, Cam, Chanh, Mít
b. Thu th
ập và xử lý mẫu vật theo các phương pháp thường quy [1]: thu mẫu vật,
xử lý và dựng mẫu đạt điều kiện cho việc định loại.
c. Định loại căn cứ vào các tài liệu tra cứu chuyên sâu [2], [4], [5], [6].
d. Đánh giá mức độ đe doạ dựa vào Sách đỏ Việt Nam (2000); xác định các loài
phổ biến theo tài liệu đã công bố [3].


201

III. Kết quả và thảo luận
3.1. Thành ph
ần loài
K
ết quả điều tra phát hiện được 124 loài, thuộc 76 giống, 10 họ. Trong đó, họ
Papilionidae có 11 loài, Pieridae có 11 loài, Danaidae có 8 loài, Satyridae có 31 loài,
Amathusiidae có 3 loài, Nymphalidae có 31 loài, Riodinidae có 2 loài, Lycaenidae có 11
loài và Hesperiidae có 15 loài, (bảng 1).
Bảng 1: Thành phần loài bướm ngày ở A Vương - Quảng Nam
Tên khoa học
Độ cao
(m)
Các sinh cảnh
1

2

3

4

5

6

I
Papilionidae Latrelle, [1802]
1 Pachliopta aristolochiae (Fabricius, 1860) 500 x

x


2 Chilasa clytia (Linnaeus, 1758) 350 x

x

3 Graphium agamemnon (Linnaeus, 1758) 350 x

x

x

4 Graphium antiphates (Cramer, 1775) 350 x


5 Graphium doson (C. & R. Felder, 1864) 350 x


6 Graphium sarpedon (Linnaeus, 1758) 350 x


7 Lamproptera curius (Moore, 1902) 350 x


8 Lamproptera meges (Butle, [1870]) 350 x


9 Papilio demoleus (Linnaeus, 1758) 350 x

10 Papilio memnon (Linnaeus, 1758) 350 x


11 Papilio polytes (Linnaeus, 1758) 350 x

x

II Pieridae Duponchel, [1835]
12 Appias lyncida (Cramer, 1777) 600 x


13 Appias albina (C. & R. Felder, 1865) 400-600 x


14 Pieis canidia (Linnaeus, 1768) 400-650 x

x


15 Catopsilia pomona (Fabricius, 1775) 400-600 x


16 Cepora nadina (Lucas, 1852) 400 x


17 Cepora nerissa (Moore, 1879) 400-600 x

x

18 Eurema blanda (Boisduval, 1836) 350-600 x

x

x

x

19 Eurema hecabe (Linnaeus, 1758) 350-600 x

x

x

x

20 Hebomoia glaucippe (Linnaeus, 1758) 350 x


21 Ixias pyrene (Linnaeus, 1764) 400 x


22 Peris canidia (Linnaeus, 1768) 400 x

x


III Danaidae Boisduval, [1833]
23 Danaus genutia (Cramer, 1779) 400 x

x

24 Euploea algea (Moor, 1879) 400 x

25 Euploea core (Cramer, 1780) 350-500 x



202

26 Euploea mulciber (Cramer, 1777) 350-500 x

x

x

27 Euploea radamanthus (Fabricius, 1793) 400 x


28 Euploea tulliolus (Lucas, 1853) 400 x


29 Ideopsis similis (Linnaeus, 1758) 400 x


30 Tirumala septentrionis (Butler, 1874) 350-500 x

x

IV Satyridae Boisduvall, [1833]
31 Elymnias hypermnestra (Linnaeus, 1763) 350-650 x


32 Erites falcipennis (Wood – Masson, 1883) 350-650 x


33 Erites medura (de Nicéville, 1893)
34 Orsotriaena medus (Fabricius, 1775) 350 x

x

35 Lethe confusa (Aurivillius, 1898) 350-650 x

x


36 Lethe dura (Marshall, 1882) 350-650 x

x


37 Lethe mekara (Fruhstorfer, 1911) 350-650 x

x

x

38 Lethe minerva (Fruhstorfor, 1911) 400 x

x

39 Lethe verma (Fruhstorfer, 1902) 400 x


40 Melanitis zitenius (Fruhstorfer, 1908) 400-500 x

x


41 Melanitis leda (Linnaeus, 1758) 350-650 x

x

x

42 Melanitis phedima (Cramer, 1870) 350-650 x

x

x

x


43 Mycalesis adamsonii (Watson, 1897) 350-650 x


44 Mycalesis deficiens (Fruhstorfer, 1906) 350-650 x


45 Mycalesis pereoides (Moore, [1892]) 400 x


46 Mycalesis francisca (Fruhstorfer, 1908) 350-650 x

x


47 Mycalesis mucianus (Fruhstorfer, 1908) 400 x


48 Mycalesis minius (Linnaeus, 1758) 350-500 x

x

49 **Mycalesis sp1 400 x


50 **Mycalesis sp2 400 x


51 Ragadia crisilda (Hewitson, [1962]) 400 x


52 Ragadia critias (Riley & Godfrey, 1921) 350-500 x

x

x

x

x

53 Ypthima baldus (Fabricius, 1775) 350 x

x


54 Ypthima evansi (Elior, 1967) 400 x

x


55 Ypthima huebneri (Kirby, 1871) 350 x


56 Ypthima norma (Fruhstorfer, 1911) 350 x


57 Ypthima nebulosa (Aoki & Uémura, 1982) 400 x

58 Ypthima philomela (Evans, 1923) 350 x


59 Ypthima persimilis (Elwes-Edwards, 1893) 400 x


60 Ypthima similis (Elwes & Edwards, 1893) 350 x

x


61 Ypthima tappana (Mell, 1942) 400 x

x

V Amathusiidae Moore, 1890
62 Faunis caneus (Stichel, 1933) 350-650 x

x


63 Faunis eumeus (Staudinger, 1887) 350-650 x

x

x



203

64 Discophora sondaica (Boisduval, 1836) 400-650 x

x


VI Nymphalidae Swainson, 1872
65 Ariadne ariadne (Fruhstorfer, 1899) 400 x

66 Ariadne merione (Moore, 1874) 400 x


67 Argyreus hyperbius (Linnaeus, 1763) 500 x


68 Athyma perius (Linnaeus, 1758) 350-650 x

x


69 Cethosia cyane (Drury, 1773) 400 x

x

70 Charaxes bernadus (Fabricius, 1914) 350 x


71 Chersonesia risa (Doubleday, 1848) 400 x


72 Cirrochroa aoris (Doubleday, 1848) 400 x


73 Cyrestis cocles (Fabricius, 1787) 400 x


74 Cyrestis themire (Honrath, 1884) 400 x


75 Cyrestis thyodamas (Doyere, 1840) 500 x


76 Euripus nyctelius (Doubleday, 1854) 500 x


77 Euthalia aconthea (Moore, 1858) 400-600 x

x

x

78 Euthalia monina (Fabricius, 1787) 400 x


79 Hestina nama (Doubleday, 1844) 400 x

x

80 Hypolimnas bolina (Linnaeus, 1758) 400 x

x

81 Junonia almana (Linnaeus, 1758) 350 x

x

82 Junonia atlites (Linnaeus, 1763) 400 x

x

x

83 Lexias pardalis (Moore, 1878) 350-650 x

x

x

84 Neptis clinia (Moore, 1872) 400 x


85 Neptis hylas (Linnaeus, 1758) 400 x

x

x

x


86 Neptis soma (Moore, 1858) 350 x

x


87 Rhinopalpa polynice (Cramer, 1779) 400 x

x

88 Polyura athamas (Drury, 1773) 350-650 x

x


89 Stibochiona nicea (G.R. Gray, 1846) 350-650 x


90 Symbrenthia hypselis (Godar, [1824]) 400 x

x

91 Symbrenthia lilaea (Hewitson, 1864) 400 x

x

x


92 Tanaecia julii (Lesson, 1837) 350-500 x

x


93 Tanaecia lepidea (Butler, 1869) 350-500 x

x


94 Vagrans egista Cramer, 1780 350 x


95 Vindula erota (Fabricius, 1793) 350-400 x

x

VII Lybytheidae Boisduval, 1829
96 Libythea myrrha (Fruhstorfer, 1898) 400 x

VIII Riodinidae Grote, 1895
97 Abisara echerius (Stoll, 1790) 350-500 x

x


98 Zemeros flegyas (Cramer, 1780) 400 x


IX Lycaenidae Leach, [1815]
99 Anthene emonus (Godrt, 1824) 350-500 x

x



204

100 Caleta elna (Frushtorfer, 1918) 400 x


101 Castalius rosimon (Fabricius, 1775) 350-500 x

x

x

102 Catochryrops panormus (C. Felder, 1860) 350-500 x

x


103 Curetis bulis (Westwood, 1851) 350 x


104 Jamides celeno (Cramer, 1775) 350-650 x

x

x

105 Lampides boeticus (Linnaeus, 1767) 350-500 x

x

x

106 Loxura atymnus (Fruhstorfer, 1912) 350 x


107 Prosotas nora (C. Felder, 1860) 400 x


108 Spidasis lohita (Fruhstorfer, 1912) 400 x


109 Zizeeria maha Kollar [1844] 350-500 x

x


X Hesperiidae Latreille, 1809
110 Ancistroides nigrita (Moore, 1866) 350-650 x

x


111 Arnetta atkinsoni (Moore, 1878) 350-650 x

x

x

112 Bibasis hasira (Moore, 1866) 400 x

x

113 Iambrix salsala (Moore, 1866) 350-650 x

x

x


114 Matapa cresta (Evans, 1949) 400 x

x

115 Oriens goloides (Moore, [1881]) 400 x


116 Polytremis lubricans (Herr-Schaf, 1869) 350-650 x

x

x


117 Pseudocoladenia dan (Fruhstorfer, 1909) 400 x

x

118 Potanthus ganda (Fruhstorfer, 1911) 350-650 x

x

x


119 Potanthus juno (Evans, 1932) 400 x

x

120 Potanthus trachala (Evans, 1914) 400 x


121 Scobura isota (Swinhoe, 1893) 400 x

x

122 Stimula swinhoei (Elwes-Edwards, 1897) 350 x


123 Tagiades japetus (Moore, [1866]) 350 x


124 Tagiades gana (Fruhstorfer, 1910) 350-650 x

x

x


Ghi chú: 1- Rừng ít bị tác động; 2- Rừng bị tác động; 3- Trảng cây bụi, trảng cỏ, nương
rẫy; 4- Rừng tre nứa; 5- Ven sông suối; 6- Khu dân cư, vườn và ruộng; ** Loài chưa xác định
Hiện trạng các loài: Phát hiện được 2 loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam:
Graphium antiphates (mức độ nguy cấp) và Lamproptera curius (mức độ ít gặp). Xác
định được 3 loài bướm hiếm và đặc hữu cho miền Trung Việt Nam, bao gồm: Ypthima
similis, Ragadia critias, Erites medura (Satyridae). Bổ xung 2 loài cho vùng phân bố
miền Trung Việt Nam, bao gồm: Lethe minerva và Mycalesis francisca (Satyridae).
Đã ghi nhận 74 loài thuộc các loài phổ biến, chiếm 60 % tổng số loài thu được.
Tất cả các loài này phân bố rộng rãi ở Việt Nam và rất phổ biến ở các quốc gia lân cận.
Nơi sinh sống điển hình của chúng thường là những khu vực rừng bị tác động, ven rừng
nguyên sinh, thảm thực vật thứ sinh, đất nông nghiệp và khu vực dân cư. Chúng xuất

205

hiện quanh năm, dễ quan sát thấy và có độ phong phú rất cao… Vì những lý do đó, các
loài này được xem như là chỉ thị sinh thái của loài cho mức độ tự nhiên hay mức độ tác
động của khu vực.
3.2. S
ự phân bố các loài bướm ngày
Trong t
ổng số 124 loài thu thập được trong vùng khảo sát có 14 loài thu thập
được ở khu vực rừng ít bị tác động, 47 loài ở khu vực rừng bị tác động, 30 loài ở các
trảng cây bụi, trảng cỏ và nương rẫy, 22 loài thu được ở rừng tre nứa, 63 loài thu được ở
các thảm thực vật ven sông suối, 40 loài thu được ở các khu dân cư, vườn và ruộng. Sự
phân bố của các họ bướm được trình bày ở bảng 2.
Bảng 2: Số lượng loài của các họ bướm phân bố trong các sinh cảnh
Họ
Rừng ít bị
tác động
350-650 m

Rừng bị
tác động
350-650
m
Trảng
cây bụi,
cỏ,
nương
rẫy
350-400
m
Rừng tre
nứa
350-650
m
Ven sông
suối
350 m
Khu dân
cư, vườn
và ruộng
350-400
m
Papilionidae 0 4 1 0 7 4
Pieridae 1 6 5 1 4 3
Danaidae 1 5 1 0 1 4
Satyridae 3 8 9 12 12 8
Amathusiidea 3 1 0 2 1 0
Nymphalidae 4 10 7 3 19 11
Lybytheidae 0 0 0 0 0 1
Riodinidae 0 2 0 0 1 0
Lycaenidae 1 6 1 2 7 3
Hesperiidae 1 5 6 2 11 6
Tổng số loài 14 47 30 22 63 40
Các loài bướm phổ biến thường sống ở những nơi bị tác động như các khu rừng
bị chặt phá, thảm thực vật thứ sinh, ven sông suối, khu canh tác nông nghiệp và thường
có độ cao vừa và thấp. Các loài phân bố hẹp hoặc chỉ sống dưới tán rừng và phần lớn
các loài bướm thuộc hai họ Satyridae và Riodinidae có thể làm chỉ thị sinh thái của loài
cho tình trạng của rừng, khi rừng bị phá đều gây ảnh hưởng đến chúng. Số loài bướm
núi không cao, do địa hình nghiên cứu có độ dốc lớn và độ cao khảo sát hạn chế từ 350
đến 650 m.



206

IV. Kết luận
T
ổng số 124 loài, thuộc 76 giống, 10 họ đã được thu thập và ghi nhận trong thời
gian khảo sát thực địa. Trong đó, họ Papilionidae 11 loài; Pieridae 11 loài; Danaidae 8
loài; Satyridae 31 loài; Amathusiidae 3 loài; Nymphalidae 31 loài; Riodinidae 2 loài;
Lycaenidae 11 loài; Hesperiidae 15 loài.
Phát hiện được 2 loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam: Graphium antiphates
(mức độ nguy cấp) và Lamproptera curius (mức độ ít gặp). Đã xác định được 3 loài
bướm hiếm, đặc hữu và bổ xung 2 loài cho vùng phân bố miền Trung Việt Nam.
Phân bố của các loài trong các sinh cảnh bị tác động: Rừng ít bị tác động 14 loài;
rừng bị tác động 47 loài; trảng cây bụi, trảng cỏ, nương rẫy 30 loài; rừng tre nứa 22 loài;
ven sông suối 63 loài; khu dân cư, vườn và ruộng 40 loài. Sự phân bố của các loài theo
độ cao từ 350 đến 650 m. Đặc tính của khu vực khảo sát là sự phân bố chiếm ưu thế của
các loài bướm phổ biến, có mức độ phong phú cao, dễ bắt gặp.
TÀI LI
ỆU THAM KHẢO
1. Dự án SPAM - Việt Nam. Sổ tay hướng dẫn giám sát và điều tra đa dạng sinh học. Nxb
Giao thông - Vận tải, (2003), trang 227 – 286.
2. D’ Abre B., 1982-1990. Butterflies of the Oriental Region. Hill House Melburne. Vol 1-
3, 1230.
3. Monastyskii A. L Các loài bướm phổ biến ở Việt Nam. Nxb Lao động - Xã hội, (2002).
4. Monastykii A. L Butterflies of Vietnam (Nymphalidae: Satyridae) Cartographic
Publishing House, Ha Noi, Vietnam, (2005).
5. Pinratana A Butterflies in Thailan. Vol 1-6. St. Gasienl, (1977-1988).
6. Osada S., Uémura Y., Uehara J An Illustrated Checklist of the Butterflies of Laos P.D.R.
Mokuyo-sha, Tokyo. 1999.


207

RESULTS FROM THE SURVEY ON THE SPECIES COMPOSITION AND
DISTRIBUTION OF BUTTERFLIES (RHOPALOCERA: LEPIDOPTERA)
IN A VUONG HYDROELETRIC PLANT, QUANG NAM PROVINCE
Do Anh Tuan, Le Trong Son
College of Sciences, Hue University
SUMMARY
The studies were carried out in January, 2006 in A Vuong hydroeletric plant of Dong
Giang and Tay Giang district, Quang Nam province, Central Vietnam. There were 124 butterfly
species belonging to 76 genera and 10 families of Lepidoptera: Ropalocera, inhabiting
hydroeletric plant sector. There were 11 species belonging to Papilionidae, Pieridae: 11 sp.,
Danaidae: 8 sp., Satyridae: 31 sp., Amathusiidae: 3 sp., Nymphalidae: 31 sp., Riodinidae: 2 sp.,
Lycaenidae: 11 sp., and Hesperiidae: 15 sp. There were 2 rare butterfly species (in Red Data
Book of Vietnam, 2000), namely Graphium antiphates and Lamproptera curius (Papilionidae).
Distribution in the ecosystem: 14 species in forest few injury; 47 species in forest
serious injury; 30 species in scrub, grass-plot and kaingin; 22 species in bamboo forest; 63
species in riverine and stream-side; 40 species in residential, garden and fleld.

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×