Tải bản đầy đủ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC: MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KỸ NĂNG LÀM VĂN MIÊU TẢ CHO HỌC SINH LỚP 4, 5 TRƯỜNG TIỂU HỌC TƯỜNG HẠ - HUYỆN PHÙ YÊN - TỈNH SƠN LA


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC



ĐINH THỊ YẾN



MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KỸ NĂNG LÀM VĂN
MIÊU TẢ CHO HỌC SINH LỚP 4, 5 TRƯỜNG
TIỂU HỌC TƯỜNG HẠ - HUYỆN PHÙ YÊN -
TỈNH SƠN LA





KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC







SƠN LA, NĂM 2013

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC



ĐINH THỊ YẾN



MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KỸ NĂNG LÀM VĂN
MIÊU TẢ CHO HỌC SINH LỚP 4, 5 TRƯỜNG
TIỂU HỌC TƯỜNG HẠ - HUYỆN PHÙ YÊN -
TỈNH SƠN LA




CHUYÊN NGÀNH: PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG VIỆT

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Người hướng dẫn: ThS. Khổng Cát Sơn



SƠN LA, NĂM 2013
LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo - Thạc sĩ
Khổng Cát Sơn, giảng viên khoa Ngữ văn, Trường Đại học Tây Bắc người đã
hướng dẫn và giúp đỡ em tận tình trong suốt quá trình thực hiện khóa luận này.
Em xin gửi lời cảm ơn tới phòng Nghiên cứu khoa học và Quan hệ Quốc
tế, phòng Đào tạo, Ban Chủ nhiệm Khoa Tiểu học – Mầm non, các bạn sinh viên
lớp K50 ĐHGD Tiểu học đã động viên khuyến khích và tạo điều kiện cho em
hoàn thành khóa luận.
Qua đây em cũng xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cô giáo,
các em học sinh Trường Tiểu học Tường Hạ - Phù Yên – Sơn La và gia đình đã
quan tâm, động viên giúp đỡ giúp em hoàn thành khóa luận.
Em xin chân thành cảm ơn!

Sơn La, tháng 5 năm 2013
Người thực hiện
Đinh Thị Yến
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3. Mục đích nghiên cứu 3
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4
5. Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6. Phương pháp nghiên cứu 4
7. Phạm vi nghiên cứu 4
8. Giả thiết khoa học 5
9. Cấu trúc đề tài 5
NỘI DUNG 6
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN
CỨU 6
1.1. Cơ sở lý luận 6
1.1.1. Một số khái niệm cần xác định 6
1.1.1.1. Văn miêu tả 6
1.1.1.2. Phương pháp dạy học 6
1.1.1.3. Kỹ năng làm văn 7
1.1.2. Cơ sở khoa học của việc dạy học tập làm văn 8
1.1.2.1. Cơ sở tâm lý học 8
1.1.2.2. Cơ sở ngôn ngữ học 10
1.1.2.3. Cơ sở văn học 11
1.1.3. Mục tiêu và nội dung chương trình Tập làm văn miêu tả lớp 4, 5 11
1.1.3.1. Mục tiêu 11
1.1.3.2. Nội dung chương trình TLV lớp 4, 5 12
1.2. Cơ sở thực tiễn 14
1.2.1. Thực trạng dạy học TLV miêu tả cho học sinh lớp 4, 5 Trường Tiểu học
Tường Hạ - Huyện Phù Yên – Tỉnh Sơn La 14
1.2.1.1. Mục đích khảo sát 14
1.2.1.2. Nội dung khảo sát 14
1.2.1.3. Phương pháp khảo sát 14
1.2.1.4. Thời gian và địa bàn khảo sát 14
1.2.1.5. Kết quả khảo sát 15
1.2.1.6. Kết luận 17
1.2.2. Thực trạng về kết quả viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4, 5 trường tiểu
học Tường Hạ - Phù Yên – Sơn La 20
TIỂU KẾT …………………………………………………………………… 23
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KỸ NĂNG LÀM VĂN MIÊU TẢ
CHO HỌC SINH LỚP 4, 5 TRƯỜNG TIỂU HỌC TƯỜNG HẠ - PHÙ YÊN -
SƠN LA 24
2.1. Giúp học sinh hiểu rõ đối tượng của văn miêu tả 24
2.1.1. Đối tượng trong văn miêu tả đồ vật 24
2.1.2. Đối tượng của bài văn miêu tả cây cối 24
2.1.3. Đối tượng của văn miêu tả loài vật 24
2.1.4. Đối tượng tả cảnh 25
2.1.5. Đối tượng tả người 25
2.2. Rèn luyện kỹ năng quan sát cho học sinh 25
2.2.1. Khái niệm 25
2.2.2. Vai trò của quan sát trong văn miêu tả 26
2.2.3. Hướng dẫn học sinh trình tự quan sát 26
2.3. Hướng dẫn học sinh tìm ý và lập dàn ý 30
2.3.1. Hướng dẫn học sinh tìm ý 30
2.3.2. Hướng dẫn học sinh lập dàn ý 30
2.4. Hướng dẫn học sinh tích lũy vốn từ miêu tả và tưởng tượng khi miêu tả 33
2.4.1. Tạo điều kiện để học sinh tích lũy vốn từ ngữ miêu tả. 33
2.4.2. Hướng dẫn học sinh tưởng tượng khi miêu tả 34
2.5. Rèn luyện kỹ năng viết câu, đoạn trong bài tập làm văn cho học sinh 35
2.5.1. Kỹ năng viết những câu văn sinh động gợi tả, gợi cảm, giàu hình ảnh và
nhạc điệu 35
2.5.2. Kỹ năng viết đoạn văn đảm bảo sự liên kết chặt chẽ về ý 37
2.5.3. Rèn kỹ năng viết bài văn có bố cục chặt chẽ, lời văn phù hợp với yêu cầu
nội dung, thể loại và kiểu bài 37
2.6. Hướng dẫn xây dựng đoạn văn mở bài, thân bài, kết bài và xây dựng bố cục
bài văn 38
2.7. Bổ sung vốn hiểu biết và kỹ năng sống cho học sinh 40
2.8. Ra đề bài văn miêu tả 42
TIỂU KẾT………………………………………………………………… …45
CHƯƠNG 3: THỂ NGHIỆM SƯ PHẠM 46
3.1. Mục đích thể nghiệm 46
3.2. Đối tượng, địa bàn, thời gian thực nghiệm 46
3.3. Phương pháp thể nghiệm 47
3.4. Nội dung thể nghiệm 48
3.5. Kết quả thể nghiệm 48
TIỂU KẾT…………………………………………………………………… 50
KẾT LUẬN 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC









DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT

GV : Giáo viên
HS : Học sinh
SGK : Sách giáo khoa
SGV : Sách giáo viên
NXB : Nhà xuất bản
VD : Ví dụ
TLV : Tập làm văn



1
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Bước vào thế kỷ XXI - thế kỷ mở đầu thiên nhiên kỷ mới, trên thế giới có
biết bao sự thay đổi lớn lao và mạnh mẽ. Những công trình khoa học, mạng lưới
công nghiệp và nền giáo dục cũng từng bước được phát triển mang lại nhiều lợi
ích phục vụ cho công cuộc phát triển đất nước. Với Việt Nam, bước vào thời kỳ
công nghiệp hóa - hiện đại hóa là cơ hội cũng như chứa nhiều thử thách đối với
đất nước và con người thời đại mới. Đây là một quá trình đầy gian khổ kéo dài
nhiều năm dẫn đến những thay đổi quan trọng trong cơ cấu kinh tế, trình độ phát
triển sản xuất, khoa học kỹ thuật…Những thay đổi đó đã tác động vào giáo dục,
đòi hỏi phải có những đổi mới tư duy giáo dục, phải thực hiện cải cách giáo dục,
giáo dục phải đi trước một bước, “đi tắt đón đầu” nhằm đáp ứng nhu cầu ngày
càng cao của xã hội, nhu cầu đào tạo ra những con người có trình độ, năng động
sáng tạo trong thời đại đổi mới.
Nước ta cũng đã tiếp tục đổi mới giáo dục và đổi mới giáo dục theo tinh
thần của đại hội VI, Nghị quyết Trung ương V (khóa 7), Nghị quyết Hội nghị
Trung ương II (khóa 8), cũng như Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ 9 theo
phương châm “giáo dục là quốc sách hàng đầu”. Giáo dục là nhân tố quan trọng
nhất, là động lực, mục tiêu cho sự phát triển bền vững của xã hội.
Theo điều 28, Luật giáo dục 2005: “Phương pháp giáo dục phải phát huy
tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo cho học sinh, phù hợp với đặc điểm
của từng lớp, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo
nhóm, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình
cảm đem lại niềm vui, hứng thú cho học sinh”. Do đó, đổi mới giáo dục là vấn
đề có tính cấp bách và cần thiết trong sự nghiệp giảng dạy và học tập nhằm nâng
cao trình độ dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước.
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, bậc tiểu học đóng vai trò là tiền đề, nền
tảng. Vì vậy, phải chú trọng chăm lo hình thành cho các em những tri thức ban
đầu đúng đắn, vững chắc để làm cơ sở cho những bậc học cao hơn, góp phần
phát triển đạo đức, trí tuệ, hình thành nhân cách con người mới.
Trong chương trình tiểu học, môn Tiếng Việt là một trong hai môn chính
có vai trò rất quan trọng. Dạy tiếng Việt ở tiểu học tạo cho học sinh (HS) kỹ
năng sử dụng tiếng Việt thành thạo để sử dụng trong học tập, giao tiếp; cung cấp
cho HS những hiểu biết phong phú về tiếng Việt, mở mang kiến thức về tự
nhiên, xã hội, văn hóa của dân tộc Việt Nam và nước ngoài. Môn Tiếng Việt

2
gồm có bảy phân môn, mỗi phân môn có một vai trò và nhiệm vụ khác nhau
nhưng có mối quan hệ chặt chẽ, tích hợp với nhau.
Phân môn Tập Làm Văn (TLV) có nhiệm vụ rèn cho HS các kỹ năng sản
sinh ngôn bản; sử dụng và hoàn thiện một cách tổng hợp các kiến thức và kĩ
năng tiếng Việt mà các phân môn Tiếng Việt khác đã hình thành. Đây là phân
môn mang tính chất tổng hợp, sáng tạo, thực hành, thể hiện đậm dấu ấn cá nhân.
TLV, viết văn, hành văn là cái đích cuối cùng cao nhất của việc học môn Tiếng
Việt. Đối với HS tiểu học, biết nói đúng, viết đúng, diễn đạt mạch lạc đã khó.
Để nói, viết hay, có cảm xúc, giàu hình ảnh lại khó hơn nhiều. Cái khó ấy chính
là cái đích của phân môn TLV đòi hỏi người học cần diễn đạt tới. Từ đó, các em
được mở rộng vốn sống, rèn luyện tư duy, bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc, thẩm
mỹ, hình thành nhân cách.
Chương trình TLV ở tiểu học chủ yếu là dạy văn miêu tả. Ngay từ lớp 2 -3,
các em đã được làm quen với loại văn này khi được tập quan sát và trả lời câu
hỏi. Lên lớp 4, 5 các em phải hiểu thế nào là văn miêu tả, biết quan sát, tìm ý,
lập dàn ý, viết đoạn văn và liên kết đoạn văn thành một bài văn với các loại văn
như: miêu tả đồ vật, cây cối, con vật, tả người, tả cảnh - những đối tượng gần
gũi và thân thiết của các em.
Để hoàn thành bài văn miêu tả, đối với HS lớp 4, 5 thường rất khó khăn.
Do đặc điểm tâm lý chưa ổn định, hơn nữa các em còn ham chơi, khả năng tập
trung chú ý quan sát chưa tinh tế, năng lực sử dụng ngôn ngữ chưa phát triển
tốt… Dẫn đến khi viết văn, HS còn thiếu hiểu biết về đối tượng miêu tả hoặc
không biết cách diễn đạt điều muốn tả.
Đối với giáo viên (GV) đây cũng là loại bài khó dạy. GV còn thiếu linh
hoạt trong vận dụng phương pháp và chưa sáng tạo trong việc tổ chức các hoạt
động học tập của HS. Vì vậy, không phải dạy loại văn nào cũng đạt hiệu quả
như mong muốn và không phải GV nào cũng dạy tốt văn miêu tả. Việc tìm ra
các phương pháp để hướng dẫn HS quan sát, tìm ý, lập dàn ý, tưởng tượng…của
GV cũng còn nhiều hạn chế.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài “Một số
biện pháp rèn kỹ năng làm văn miêu tả cho học sinh lớp 4, 5 Trường Tiểu học
Tường Hạ - Huyện Phù Yên - Tỉnh Sơn La”
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Phân môn TLV được chia thành nhiều kiểu bài khác nhau, mỗi kiểu bài có vị
trí và vai trò nhất định trong việc cung cấp kiến thức cho các em. Đối với phân

3
môn TLV ở tiểu học, văn miêu tả có vị trí đặc biệt quan trọng. Thực tế, hiện nay
có rất nhiều nhà giáo dục đã tiến hành các công trình nghiên cứu rèn kĩ năng làm
văn trong đó có văn miêu tả, để nâng cao chất lượng bài văn cho HS.
Trong các tài liệu “Bồi dưỡng giáo viên” (NXB GD – 2004, 2005, 2006),
đã đề cập đến một số yêu cầu cơ cơ bản về kiến thức, kĩ năng mà HS cần phải
nắm được trong phân môn TLV. Qua đó đề xuất các biện pháp dạy học TLV
theo nội dung khá đa dạng và phong phú cho GV tiểu học.
Cuốn “Rèn kĩ năng sử dụng tiếng Việt” (giáo trình đào tạo giáo viên tiểu
học hệ cao đẳng sư phạm và sư phạm 12/2) của Tác giả Đào Ngọc – Nguyễn
Đăng Ninh đã đưa ra cách cảm thụ văn bản cho HS.
Cuốn “Phương pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu học” (tài liệu đào tạo giáo
viên - 2007 của Bộ GD và ĐT), dự án phát triển GV tiểu học đã tổ chức biên
soạn các môđun đào tạo giáo dục trong đó có nêu ra các phương pháp dạy học
cũng như quy trình dạy học phân môn TLV theo chương trình sách giáo khoa ở
tiểu học.
Cuốn “Dạy văn cho học sinh tiểu học” (NXB GD-1997), tác giả Hoàng
Bình đã có những đề xuất giúp GV tiểu học để hướng dẫn HS cảm nhận được
cái hay, cái đẹp của tác phẩm văn học.
Cuốn Văn miêu tả và phương pháp dạy học văn miêu tả ở tiểu học (Nhà
xuất bản Giáo dục - 1996) , tác giả Nguyễn Trí đã đề cập đến cách dạy văn miêu
tả trong chương trình Tiểu học.
Trong các tài liệu trên đây, các tác giả đã đề cập đến vấn đề dạy học phân
môn TLV trên phương diện vị trí, nhiệm vụ, nội dung chương trình, phương
pháp dạy học nói chung và văn miêu tả nói riêng nhưng chưa đề đi sâu nghiên
cứu việc rèn kỹ năng viết văn miêu tả ở một khối lớp cụ thể.
Những công trình nghiên cứu trên là những tiền đề lí luận quan trọng để
chúng tôi lựa chọn đề tài: “Một số biện pháp rèn kĩ năng làm văn miêu tả cho
học sinh lớp 4, 5 Trường Tiểu học Tường Hạ - Huyện Phù Yên - Tỉnh Sơn
La” làm vấn đề nghiên cứu.
3. Mục đích nghiên cứu
Phân môn TLV là phân môn đặc biệt quan trọng trong chương trình tiểu
học, song chất lượng dạy – học văn chưa cao, biểu hiện cụ thể đó là tình trạng
viết văn khô khan, kém hấp dẫn. Nhất là ở trường tiểu học vùng sâu, vùng xa,
vùng khó khăn, miền núi.

4
Thực hiện đề tài, chúng tôi mong đề xuất được các biện pháp rèn kỹ năng
viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4, 5 tại Trường Tiểu học Tường Hạ - Huyện
Phù Yên – Tỉnh Sơn La.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: quá trình dạy học văn miêu tả ở lớp 4, 5.
- Đối tượng nghiên cứu: một số biện pháp rèn kỹ năng làm văn miêu tả cho
HS lớp 4 ,5.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ đề tài hướng tới là:
- Tìm hiểu mục tiêu, nội dung dạy - học văn miêu tả lớp 4, 5
- Thực trạng dạy - học văn miêu tả ở lớp 4, 5
- Một số biện pháp dạy học văn miêu tả lớp 4, 5
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận: Về việc nghiên cứu nội dung viết
văn miêu tả ở một số tài liệu có liên quan.
6.2. Phương pháp điều tra: Được tiến hành dưới các hình thức:
+ Dùng phiếu điều tra.
+ Trao đổi trực tiếp với GV và HS.
+ Dự giờ tiết dạy văn ở trường tiểu học để tìm hiểu các hình thức và
phương pháp dạy học của GV.
6.3. Phương pháp phân tích thống kê: Tổng hợp các số liệu điều tra từ
thực tế để phân tích, làm cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất biện pháp rèn kỹ năng
viết văn miêu tả cho HS lớp 4, 5
6.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Từ các biện pháp đã đề xuất
tiến hành thể nghiệm tại Trường Tiểu học Tường Hạ - Huyện Phù Yên –
Tỉnh Sơn La.
7. Phạm vi nghiên cứu
- Các dạng văn miêu tả ở lớp 4: miêu tả đồ vật, miêu tả cây cối, miêu tả
con vật.
- Các dạng văn miêu tả lớp 5: tả cảnh và tả người



5
8. Giả thiết khoa học
Tìm hiểu biện pháp rèn kỹ năng làm văn miêu tả cho HS lớp 4, 5 là một
vấn đề còn nhiều khó khăn được GV tiểu học quan tâm. Nếu các biện pháp
chúng tôi đề xuất chứng minh được tính khả thi sẽ góp phần rèn luyện kỹ năng
làm văn miêu tả cho HS lớp 4, 5 nói riêng và góp phần nâng cao hiệu quả dạy
học môn Tiếng Việt nói chung. Đề tài mong muốn sẽ là tài liệu cho sinh viên
khoa Tiểu học - Mầm non trong quá trình học tập, nghiên cứu, rèn luyện nghiệp
vụ sư phạm.
9. Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, phần nội
dung của đề tài gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn.
Chương II: Đề xuất biện pháp rèn kỹ năng làm văn miêu tả cho học
sinh lớp 4, 5 Trường Tiểu học Tường Hạ - Huyện Phù Yên – Tỉnh Sơn La.
Chương III: Thể nghiệm sư phạm








6
NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ
NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Một số khái niệm cần xác định
1.1.1.1. Văn miêu tả
Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên định nghĩa: “Miêu tả là dùng
ngôn ngữ hoặc một phương tiện nghệ thuật nào đó làm cho người khác có thể
hình dung được cụ thể sự vật, sự việc hoặc thế giới nội tâm của con người.”
Nhà văn Phạm Hổ:" Miêu tả là khi đọc những gì chúng ta biết, người đọc
như thấy cái đó hiện ra trước mắt mình: một con người, con vật, một dòng sông,
người đọc có thể nghe được cả tiếng nói, tiếng kêu, tiếng nước chảy, thậm chí
còn ngửi thấy mùi hôi, mùi sữa, mùi nước hoa hay mùi rêu, mùi ẩm mốc
Nhưng đó chỉ là miêu tả bên ngoài, còn sự miêu tả bên trong nữa là miêu tả tâm
trạng vui, buồn, yêu, ghét của con người, con vật và cả cây cỏ."
Như vậy, miêu tả là thể loại văn dùng lời nói có hình ảnh và có cảm xúc
làm cho người nghe, người đọc hình dung một cách rõ nét, cụ thể về người, vật,
cảnh vật, sự việc như nó vốn có trong đời sống. Một bài văn miêu tả hay không
những phải thể hiện rõ nét, chính xác, sinh động đối tượng miêu tả mà còn thể
hiện được trí tưởng tượng, cảm xúc và đánh giá của người viết với đối tượng
được miêu tả. Bởi vì trong thực tế, không ai tả mà để tả, mà thường tả để gửi
gắm suy nghĩ, cảm xúc, sự đánh giá, những tình cảm yêu ghét cụ thể của mình.
Các bài văn miêu tả ở tiểu học chỉ yêu cầu tả những đối tượng mà học sinh yêu
mến, thích thú. Vì vậy, qua bài làm của mình, các em phải gửi gắm tình yêu
thương với những gì mình miêu tả.
1.1.1.2. Phương pháp dạy học
Phương pháp là tổ hợp các cách thức hoạt động của cả thầy và trò trong
quá trình dạy học, được tiến hành dưới vai trò của người thầy thực hiện các
nhiệm vụ dạy học. (Giáo dục tiểu học 1 - NXB Giáo dục - 1997)
Phương pháp dạy học là bao gồm phương pháp dạy và phương pháp học:
+ Phương pháp dạy: Phương pháp tổ chức nhận thức, phương pháp điều
khiển hoạt động trí tuệ và thực hành, phương pháp giáo dục thái độ và hình
thành ý thức đúng đắn cho học sinh

7
+ Phương pháp học: Phương pháp nhận thức và rèn luyện để hình thành
hệ thống tri thức và kỹ năng thực hành, hình thành nhân cách cho người học.
Khi sử dụng đúng phương pháp sẽ dẫn đến kết quả theo dự định. Nếu mục
đích không đạt được thì có nghĩa là phương pháp không phù hợp với mục đích
hoặc nó không được sử dụng đúng.
Bất kì phương pháp nào, dù là phương pháp nhận thức hay phương pháp
thực hành - luyện tập, để thực hiện có kết quả vào đối tượng nào đó thì cũng
phải biết được tính chất của đối tượng, tiến trình biến đổi của nó dưới tác động
của phương pháp đó. Nghĩa là phải nhận thức những quy luật khách quan của
đối tượng mà chủ thể định tác động vào thì mới đề ra những biện pháp hoặc hệ
thống những thao tác cùng với những phương tiện tương ứng để nhận thức và để
hành động thực tiễn.
1.1.1.3. Kỹ năng làm văn
Kỹ năng là một khái niệm phức tạp, xung quanh khái niệm này có nhiều
định nghĩa khác nhau. Tác giả Nguyễn Sinh Huy cho rằng: “Kỹ năng là khả năng
của con người thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách lựa chọn, vận
dụng tri thức, những kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo phù hợp với mục tiêu, điều kiện
thưc tế.” (Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm – NXB sư phạm)
Kỹ năng làm văn là kỹ năng thông qua hệ thống kiến thức đã có, HS cảm
nhận bằng sự tinh tế của bản thân mà có được những bài văn hay.
Các kỹ năng làm văn bao gồm:
- Kỹ năng định hướng hoạt động giao tiếp
+ Nhận diện loại văn bản
+ Phân tích đề bài
- Kỹ năng lập chương trình hoạt động giao tiếp
+ Xác định dàn ý của bài văn miêu tả đã cho
+ Quan sát đối tượng tìm và xắp xếp ý thành dàn ý trong bài văn miêu tả
- Kỹ năng thực hiện hoá hoạt động giao tiếp
+ Xây dựng đọan văn
+ Liên kết các đoạn văn thành bài văn
- Kỹ năng kiểm tra, đánh giá hoạt động giao tiếp

8
+ Đối chiếu văn bản nói, viết của bản thân với mục đích giao tiếp và yêu
cầu diễn đạt.
+ Sửa lỗi về nội dung và hình thức diễn đạt
1.1.2. Cơ sở khoa học của việc dạy học tập làm văn
Tập làm văn là môn học mang tính tổng hợp. Nó dựa trên kết quả nghiên
cứu của nhiều khoa học khác nhau như: Tâm lý học, ngôn ngữ học, lý luận văn
học Sau đây, chúng tôi đi vào phân tích một số cơ sở khoa học chi phối một
cách trực tiếp đến dạy học TLV.
1.1.2.1. Cơ sở tâm lý học
* Dạy tập làm văn là dạy một hoạt động
Thành tựu to lớn của Tâm lý học Xô Viết đã xác định bản chất của tâm lý
là hoạt động và chỉ ra năng lực của con người chỉ được hình thành và phát triển
trong hoạt động. Nói năng cũng là một hoạt động, hoạt động lời nói. Hoạt động
nói năng còn có tên gọi khác là hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ. Cũng như
các hoạt động tâm lý khác, hoạt động lời nói chỉ nảy sinh khi có động cơ nói
năng, bởi vì: “Chúng ta nói không phải để nói mà để bảo vệ một cái gì đó, tác
động đển một người nào đó” (A.N.Lê-ôn-chép). Chính vì vậy, công việc đầu
tiên của dạy học TLV - dạy sản sinh lời nói - là tạo được động cơ, nhu cầu nói
năng, kích thích học sinh tham gia giao tiếp.
Khi nghiên cứu hoạt động lời nói, người ta thấy rằng cái kích thích hành vi
nói là cái gì đó nằm ngoài ngôn ngữ. Chính vì vậy, xét đến tận cùng, dạy TLV
không phải bắt đầu từ hoạt động ngôn ngữ, từ sự tổ chức hoạt động ngôn ngữ
mà phải bắt đầu từ sự hoạt động khác của HS. Nói cách khác, những kích thích
nói năng không thể tách rời những ký năng sống khác.
Vì vậy, để dạy tốt TLV trước hết phải trau dồi vốn sống của HS, phải dạy
cho các em biết suy nghĩ, tạo cho các em cảm xúc, tình cảm rồi mới dạy cho các
em cách thể hiện những suy nghĩ, tình cảm đó bằng ngôn ngữ nói và viết.
* Các giai đoạn của hoạt động lời nói và kỹ năng làm văn
Theo trường phái tâm lý học hoạt động thì nhận thức của trẻ em được phát
triển qua hoạt động thực tiễn. Các nhà bác học Xô Viết như: L.X.Vu-gôt-xki,
A.N.Lê-ôn-chép…đã góp phần xây dựng và phát triển tâm lý học hoạt động.
Trong tâm lý học, hoạt động được coi là sự vận động của chủ thể, của con
người. Hoạt động quy định nguồn gốc, nội dung và vận hành của tâm lý. Chúng
tôi nêu sơ đồ của tâm lý hoạt động như sau:

9
Hoạt động cụ thể ↔ Động cơ mục đích chung
Hành động ↔ Mục đích cụ thể
Thao tác ↔ Điều kiện phương tiện
Lý thuyết hoạt động lời nói, vận dụng thành tựu của tâm lý học hành động,
đi sâu nghiên cứu các mối quan hệ qua lại, các giai đoạn của hoạt động lời nói.
Theo A.N.Lê-ôn-chép “để giao tiếp được trọn vẹn về mặt nguyên tắc thì
con người phải nắm được hàng loạt các kỹ năng:
Một là: phải định hướng nhanh chóng và đúng đắn trong các điều kiện giao tiếp.
Hai là: phải biết lập đúng chương trình lời nói của mình, lựa chọn nội
dung giao tiếp một cách đúng đắn.
Ba là: phải tìm được phương tiện hợp lý để truyền đạt những nội dung đó.
Bốn là: phải đảm bảo mối liên hệ qua lại.
Nếu như một mắt xích của hoạt động giao tiếp bị phá huỷ thì người nói không
thể đạt được kết quả giao tiếp như mong đợi, kết quả đó sẽ không hiệu quả”
Như vậy, theo A.N.Lê-ôn-chép, cấu trúc bao gồm 4 giai đoạn kế tiếp nhau:
định hướng, lập chương trình, thực hiện hoá chương trình và kiểm tra. Mỗi giai
đoạn này sử dụng các kỹ năng cụ thể như sau:
+ Ứng với giai đoạn định hướng là kỹ năng xác định đề bài, giới hạn đề bài
và kỹ năng xác định tư tưởng cơ bản của bài viết.
+ Ứng với giai đoạn lập chương trình là kỹ năng lập ý, tìm ý, xây dựng dàn
ý. Việc làm này sẽ giúp học sinh trình bày bài nói (viết) một cách đầy đủ, mạch
lạc, có lôgic. Khi lập dàn ý, phải sắp xếp được ý chủ đạo và sắp sếp ý theo một
trình tự nhất định.
+ Ứng với giai đoạn hiện thực hoá chương trình là kỹ năng nói (viết)
thành bài, bao gồm các kỹ năng bộ phận như: dùng từ, đặt câu, viết đoạn,
viết bài.
+ Ứng với giai đoạn kiểm tra kết quả là nhóm kỹ năng phát hiện lỗi - lỗi
chính tả, lỗi dùng từ, lỗi dựng câu và kỹ năng chữa lỗi.
* Các nhân tố của hoạt động lời nói và dạy học tập làm văn
Việc chỉ ra các nhân tố tham gia vào hoạt động giao tiếp có ý nghĩa lớn
trong việc dạy học TLV. Hoạt động nói năng không thể có hiệu quả nếu không
tính đến những nhân tố này. Đây là những căn cứ để đánh giá chất lượng một

10
ngôn bản: Có lựa chọn với vai nói không? Có lựa chọn đúng phương tiện giao
tiếp không? Có đạt được mục đích giao tiếp không…?
Sự hiểu biết về hoạt động lời nói đòi hỏi chúng ta phải xây dựng được các
đề bài gắn với tình huống giao tiếp, tổ chức các giờ học TLV làm sao để cho học
sinh có nhu cầu giao tiếp.
1.1.2.2. Cơ sở ngôn ngữ học
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp cơ bản và quan trọng nhất của các thành
viên trong cộng đồng người, đồng thời cũng là phương tiện để phát triển tư duy.
Khi có ngôn ngữ phong phú thì lời văn khi viết mới hay. Nói cách khác, muốn
viêt đúng, viết hay thì cần phải nói đúng, nói hay. Do vậy, trong quá trình dạy
học, GV phải coi ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng trong quá trình
giáo dục trẻ thơ thành con người phát triển toàn diện.
Trong giao tiếp, diễn ra hoạt động trau dồi các ngôn bản, sự trau dồi này
bao gồm hai loại hành động luôn gắn bó vào nhau: hành động sản sinh ngôn bản
(bao gồm hành động nói ra hoặc viết ra các nội dung giao tiếp) và hành động
lĩnh hội văn bản tiếp nhận được (bao gồm hành động hiểu ngôn bản, đọc được,
nghe được). Các hành động sản sinh và lĩnh hội ngôn bản đó được coi là hành
động ngôn ngữ.
Ngôn ngữ ở dạng nói là ngôn ngữ của âm thanh nên khả năng truyền cảm
lớn. Điểm khó khăn khi “nói” là phải đáp ứng lập tức, người nói không được
chuẩn bị trước, không có thời gian suy nghĩ để lập ý, chọn từ. Người nói phải
ứng xử nhanh, sử dụng cú pháp đơn giản hơn khi viết. Ngoài ra, người nói
không thể diễn đạt hết ý mà nhờ ngữ cảnh cảnh hoặc những yếu tố ngoài lời để
làm cho người nghe hiểu được.
Lời nói miệng có hai dạng: hội thoại và độc thoại. Vì vậy, các dạng bài tập
luyện nói trong giờ TLV lại sẽ được chia ra: nói trong hội thoại và độc thoại.
Sự phát triển mạnh mẽ của ngữ dụng học trong những năm gần đây đã đặt
hội thoại vào một vị thế mới. Trong những kết quả nghiên cứu về hội thoại có
nhiều ứng dụng thực tế trong dạy học luyện nói. Các quy tắc hội thoại thường
gặp như: quy tắc thương lượng, quy tắc luôn phiên lượt lời, quy tắc tôn trọng,
quy tắc khiêm tốn của người nói, quy tắc cộng tác Đó trở thành những chỉ dẫn
quan trọng để tổ chức các bài tập hội thoại và trở thành căn cứ để đánh giá HS.
Kỹ năng viết là sản phẩm của quá trình học tập. Nó là một phương tiện học tập
và giao tiếp có hiệu quả, năng lực viết chính tỏ trình độ văn hoá, văn minh của
từng người.

11
Trong văn bản, các câu hỏi thường đầy đủ và phức tạp hơn trong khẩu ngữ,
dùng nhiều từ ngữ sách vở hơn, văn bản có khối lượng lớn hơn so với một bài
nói miệng cùng đề tài. Trong khi viết, không có sự hỗ trợ của các yếu tố phi
ngôn ngữ như trong khi nói người ta nên phải sử dụng các dấu câu, phân chia
văn bản thành từng đoạn, dùng các kiểu chữ khác nhau. Kỹ năng viết ngày càng
phát triển ở các lớp trên.
1.1.2.3. Cơ sở văn học
Các kiến thức về loại thể văn học, đặc biệt là kiến thức về kể chuyện và
miêu tả thực sự cần thiết để dạy hai kiểu bài viết văn bản nghệ thuật: kể chuyện,
miêu tả. Để có thể dạy tốt các bài TLV ở tiểu học, GV cần vận dụng các tri thức
về miêu tả và kể chuyện, trong đó có các hiểu biết về cốt truyện, chi tiết, nhân
vật, về ngôn ngữ, về đề tài, tư tưởng. Các tri thức này góp phần chỉ ra nội dung
luyện tập của các kỹ năng làm văn. Nói cách khác, có các hiểu biết về loại thể
văn học, GV mới hiểu rõ tính đặc thù của từng kỹ năng trong từng kiểu văn. Để
“vẽ được bằng lời”, GV phải dạy HS tìm ý trong bài văn miêu tả bằng cách dạy
quan sát và ghi chép các nhận xét. GV phải hướng dẫn HS biết vận dụng các
giác quan để quan sát, biết lựa chọn vị trí và thời gian quan sát, biết liên tưởng,
tưởng tượng khi nhận xét sự vật và diễn đạt điều quan sát được một cách gợi
cảm, gợi tả, tức là có hình ảnh và cảm xúc.
1.1.3. Mục tiêu và nội dung chương trình Tập làm văn miêu tả lớp 4, 5
1.1.3.1. Mục tiêu
a. Kiến thức
- HS nắm được cấu tạo các dạng văn miêu tả.
- Trang bị kiến thức và rèn luyện các kỹ năng làm văn.
- Góp phần cùng với các môn học khác cung cấp cho HS các kiến thức tổng
hợp về văn hóa, tự nhiên và xã hội.
b. Kỹ năng
- Rèn luyện kỹ năng làm văn làm văn cho HS.
- Rèn kỹ năng quan sát, óc tưởng tượng, tư duy, sáng tạo cho HS.
- Kỹ năng tổng hợp, phân tích các sự vật, sự việc.
c. Thái độ
- Góp phần bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc thẩm mĩ, hình thành nhân cách
cho HS.

12
- Bồi dưỡng cho HS thêm yêu thích môn học.
1.1.3.2. Nội dung chương trình TLV lớp 4, 5
* Chương trình tập làm văn lớp 4 được thiết kế tổng cộng là 62 tiết/ năm.
Trong đó, văn miêu tả (gồm tả con vật, tả đồ vật, tả cây cối) có 30 tiết được
phân bố như sau:
HỆ THỐNG NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH TLV MIÊU TẢ LỚP 4
(học kỳ I và học kỳ II)
TUẦN
TÊN BÀI
Tuần 14

1. Thế nào là văn miêu tả
2. Cấu tạo bài văn miêu tả đồ vật
Tuần 15
1. Luyện tập miêu tả đồ vật
2. Quan sát đồ vật
Tuần 16
Luyện tập miêu tả đồ vật
Tuần 17
1. Đoạn văn trong bài văn miêu tả đồ vật.
2. Luyện tập xây dựng đoạn văn miêu tả đồ vật

Tuần 19
1. Luyện tập xây dựng mở bài trong bài văn miêu tả đồ vật
2. Luyện tập xây dựng kết bài trong bài văn miêu tả đồ vật
Tuần 20
Miêu tả đồ vật (Kiểm tra viết)
Tuần 21
1. Trả bài văn miêu tả đồ vật
2. Cấu tạo bài văn miêu tả cây cối
Tuần 22
1. Luyện tập qua sát cây cối
2. Luyện tập miêu tả các bộ phận của cây cối
Tuần 23
1. Luyện tập miêu tả các bộ phận của cây cối
2. Đoạn văn trong bài văn miêu tả cây cối
Tuần 24
Luyện tập xây dựng đoạn văn miêutả cây cối
Tuần 25
Luyện tập xây dựng mở bài trong bài văn miêu tả cây cối
Tuần 26

1. Luyện tập xây dựng mở bài trong bài văn miêu tả cây cối
2. Luyện tập miêu tả cây cối
Tuần 27
1. Miêu tả cây cối (Kiểm tra viết)
2. Trả bài văn miêu tả cây cối

13
Tuần 29
Cấu tạo của bài văn miêu tả con vật
Tuần 30
Luyện tập quan sát con vật
Tuần 31
1. Luyện tập miêu tả các bộ phận của con vật
2. Luyện tập xây dựng đoạn văn miêu tả con vật
Tuần 32
1. Luyện tập xây dựng đoạn văn miêu tả con vật.
* Chương trình TLV lớp 5 được thiết kế tổng cộng 62 tiết/ năm. Trong đó,
văn miêu tả (gồm tả cảnh, tả người) có 35 tiết (ôn tập cả tả cây cối,con vật,đổ
vật ở lớp 4) được phân bố như sau:
HỆ THỐNG NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH TLV MIÊU TẢ LỚP 5
(học kỳ I và học kỳ II)
TUẦN
TÊN BÀI
Tuần 1
1. Cấu tạo của bài văn tả cảnh
2. Luyện tập tả cảnh (một buổi trong ngày)
Tuần 2
Luyện tập tả cảnh (một buổi trong ngày)
Tuần 3
Luyện tập tả cảnh (2 tiết)
Tuần 4
1. Luyện tập về tả cảnh (trường học)
2. Kiểm tra viết (tả cảnh)
Tuần 5
Trả bài văn tả cảnh
Tuần 6
Luyện tập tả cảnh (sông nước)
Tuần 7
Luyện tập tả cảnh (sông nước – 2 tiết)
Tuần 8
Luyện tả cảnh địa phương
Tuần 11
Trả bài văn tả cảnh
Tuần 14
Luyện tập tả người
Tuần 15
Luyện tập tả người (tả hoạt động – 2 tiết)
Tuần 16
Kiểm tra viết (tả người)
Tuần 17
Trả bài văn tả người
Tuần 19
Luyện tập tả người (2 tiết)
Tuần 20
Viết bài văn tả người
Tuần 21
Trả bài văn tả người
Tuần 24
Ôn tập về tả đồ vật (2 tiết)
Tuần 25
Viết bài văn tả đồ vật
Tuần 16
Trả bài văn tả đồ vật
Tuần 27
1. Ôn tập về tả cây cối
2. Viết bài văn tả cây cối
Tuần 29
Trả bài văn tả cây cối
Tuần 30
1. Ôn tập về tả con vật

14
2. Viết bài tả con vật
Tuần 31
Ôn tập về tả cảnh (2 tiết)
Tuần 32
Trả bài văn tả con vật và viết bài văn tả cảnh
1. Viết bài văn về tả cảnh
Tuần 33
1. Ôn tập về tả người
2. Viết bài văn tả người
Tuần 34
1. Trả bài văn tả cảnh
2. Trả bài văn tả người
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Thực trạng dạy học TLV miêu tả cho học sinh lớp 4, 5 Trường Tiểu học
Tường Hạ - Huyện Phù Yên – Tỉnh Sơn La
1.2.1.1. Mục đích khảo sát
Chúng tôi tiến hành khảo sát về vấn đề dạy và học phân môn TLV dạng
văn miêu tả lớp 4, 5 theo chương trình mới, việc áp dụng phương pháp dạy học
theo định hướng của GV. Từ đó xác định những khó khăn mà GV gặp phải khi
dạy văn miêu tả và các biện pháp khắc phục.
Mặt khác chúng tôi tìm hiểu tâm lý của học sinh lớp 4, 5 và khảo sát thực
trạng học tập để thấy được những hạn chế còn tồn tại. Trên cơ sở đó, chúng tôi
đưa ra một số biện pháp góp phần nâng cao chất lượng dạy học văn miêu tả cho
học sinh lớp 4, 5
1.2.1.2. Nội dung khảo sát
Đề tài tiến hành khảo sát trên những nội dung sau:
- Tìm hiểu SGK, SGV và các đồ dùng dạy học phân môn TLV dạng văn
miêu tả.
- Hoạt động dạy và học văn miêu tả của học sinh lớp 4, 5.
- Thái độ của học sinh khi tham gia học phân môn TLV.
1.2.1.3. Phương pháp khảo sát
- Phương pháp dự giờ trực tiếp.
- Phương pháp phỏng vấn trực tiếp giáo viên và học sinh.
- Phương pháp trắc nghiệm.
1.2.1.4. Thời gian và địa bàn khảo sát
- Thời gian tiến hành khảo sát: từ 18 tháng 2 năm 2013 đến 22 tháng 3 năm
2013

15
- Địa bàn khảo sát tại: Trường Tiểu học Tường Hạ - Huyện Phù Yên - Tỉnh
Sơn La
1.2.1.5. Kết quả khảo sát
Sau khi khảo sát thực tế tại trường chúng tôi thu được kết quả như sau:
* Kết quả khảo sát số liệu thống kê tại Trường Tiểu học Tường Hạ - Phù
Yên - Sơn La. Trường có tất cả 20 lớp tập trung tại một điểm trường với tổng số
323 HS, 100% em đi học đúng độ tuổi với 22 GV đều đạt chuẩn GV tiểu học.
Trong đó, có 2 GV trình độ trung cấp, có 15 GV trình độ cao đẳng, 3 GV trình
độ đại học. Hầu hết GV đều đạt GV dạy giỏi cấp trường trở lên.
Trường có 2 lớp 4 với tổng số 67 em và 2 lớp 5 với tổng số 56 em
* Kết quả khảo sát phiếu điều tra như sau:
Qua khảo sát 15 GV trong trường bao gồm các GV đã và đang dạy lớp 4,
5. Chúng tôi thu được kết quả như sau:
Bảng 1:Mức độ quan trọng của phân môn TLV
Mức độ
Rất quan trọng
Bình thường
Không quan trọng
Số lượng
13/15
2/15
0
Tỷ lệ
86,6%
13,3%
0%

Bảng 2: Mức độ sử dụng các đồ dùng dạy học
Đồ dùng
Thường xuyên
Thỉnh thoảng
Không sử dụng
Tranh ảnh
5/15
10/15
0/15
Biểu bảng
3/15
12/15
0/15
Vật thật
6/15
8/15
2/15
Các đồ dùng dạy
học khác
7/15
3/15
5/15




16
Bảng 3: Mức độ sử dụng các biện pháp dạy học khi dạy TLV
Biện pháp
Có sử dụng
Không sử dụng
Rèn luyện kỹ năng quan sát
15/15
0/15
Trau dồi vốn từ
10/15
5/15
Tạo động cơ, hứng thú học tập
cho học sinh
8/15
7/15
Bảng 4: Mức độ đặt những đề văn gây hứng thú cho học sinh
Mức độ

Thỉnh thoảng
Không bao giờ
Số lượng
12/15
3/15
0
Tỉ lệ
80%
20%
0%

- Qua khảo sát học sinh 116 HS lớp 4, 5 chúng tôi thu được kết quả như sau:

Bảng 1: Mức độ yêu thích phân môn TLV
Mức độ

Bình thường
Không
Số lượng
50/ 116
50/116
17/ 116
Tỷ lệ
43,1%
43,1%
13,7%

Bảng 2: Tài liệu khi học phân môn TLV
Các tài liệu
Số lượng
Tỷ lệ
Sách giáo khoa
116/ 116
100%
Vở bài tập tiếng Việt
110/ 116
94,8%
Các tài liệu tham khảo khác
(những bài văn mẫu…)
67/ 116
57,7%


17
Câu 3: Mức độ thích học các loại văn
Dạng văn
Văn miêu tả
Văn kể chuyện
Các văn bản khác
Số lượng
50/ 116
44/ 116
22/ 116
Tỷ lệ
43,1%
37,9%
18,9%
Câu 4: Mức độ luyện viết văn ở nhà
Mức độ

Thỉnh thoảng
Không
Số lượng
43/ 116
54/ 116
19/ 116
Tỷ lệ
37%
46,5%
16,3%
Câu 5:Mức độ tham khảo các tài liệu văn mẫu vào bài viết của mình
Mức độ
Thường xuyên
Thỉnh thoảng
Không
Số lượng
24/67
34/67
8/67
Tỷ lệ
35,8%
50,7%
11,9%
1.2.1.6. Kết luận
a. Về phía giáo viên
Để nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt nói chung và phân môn
TLV nói riêng, GV là người giữ vai trò quan trọng khi hướng dẫn HS trong quá
trình học tập. Qua khảo sát thực tế ở Trường Tiểu học Tường Hạ - Phù Yên -
Sơn La. Chúng tôi thấy rằng các GV tham gia dạy học khối lớp 4 - 5, hầu hết
đều có quá trình giảng dạy lâu năm nên tích lũy được kiến thức và kinh nghiệm
tương đối vững chắc. Tuy vậy, để dạy tốt phân môn TLV hay bất cứ phân môn
nào, việc nhận thức được tầm quan trọng của phân môn đó là cần thiết. Vì vậy,
chúng tôi đã đưa ra câu hỏi: “Theo thầy cô Tập làm văn là phân môn có vai trò
như thế nào?” và đã được 86,6% GV trả lời là rất quan trọng, còn 13,3% GV trả
lời là bình thường. Điều này cho thấy mỗi GV có nhận thức khác nhau về phân
môn TLV. Tuy nhiên, chúng ta phải khẳng định rằng, phân môn TLV giúp các
em rèn khả năng quan sát, miêu tả, tư duy trừu tượng. Vì vậy, GV không thể
xem nhẹ hay lơ là quá trình dạy học.
Đối với HS, việc học TLV đôi khi không dễ dàng. Bên cạnh những thuận
lợi các em vẫn gặp không ít những khó khăn. Tư duy của các em còn mang

18
tính cụ thể, những gì các em nhìn thấy sẽ giúp các em ghi nhớ tốt hơn và
hứng thú hơn.
Do đó, đồ dùng trực quan là yếu tố quan trọng không thể thiếu trong giờ
học. Để biết các thầy cô sử dụng đồ dùng trực quan thế nào trong giờ TLV
chúng tôi có câu hỏi: “Khi dạy Tập làm văn thầy cô thường sử dụng đồ dùng
trực quan nào?” thì thu được mức độ sử dụng đồ dùng dạy học thường xuyên là
thấp. Như vậy việc đầu tư thiết bị, phương tiện dạy học còn rất hạn chế.
Việc sử dụng các biện pháp dạy học sao cho có hiệu quả cũng là một vấn
đề cần quan tâm. Với câu hỏi: “ Khi dạy tập làm văn thầy (cô) thường sử dụng
các biện pháp dạy học nào ?” thì đa số các GV đều đưa ra các biện pháp tạo
hứng thú ở HS như: Trau dồi vốn từ, rèn kỹ năng quan sát, luyện viết câu văn,
đoạn văn sao cho liên kết được các ý, đoạn…
Tuy vậy, việc vận dụng nó như thế nào trong giờ dạy mới mang lại hiệu quả
cao là điều GV còn lúng túng. Chúng tôi đã đặt câu hỏi như sau: “Để rèn luyện kỹ
năng làm văn cho các em, thầy cô thường xây dựng đề văn gắn với đời sống để các
em luyện tập không?”. Tất cả các GV mà chúng tôi điều tra đều trả lời là “có”.
Hầu hết các GV mà chúng tôi điều tra, phỏng vấn đều có quá trình công tác lâu
năm, có rất nhiều kinh nghiệm giảng dạy phân môn này. Do vậy, khi chúng tôi đưa
ra câu hỏi: “Thầy cô hãy cho biết những thuận lợi và khó khăn trong quá trình
giảng dạy phân môn Tập làm văn là gì?”. Thì chúng tôi thu được là:
- Thuận lợi:
+ Nhà trường luôn quan tâm chỉ đạo thực hiện công tác chuyên môn nhằm
nâng cao tay nghề cho GV.
+ Tổ chuyên môn đã tổ chức chuyên đề dạy học TLV lớp 4 - 5.
+ GV đều được trang bị đầy đủ SGK, SGV, sách tham khảo…
+ Đối tượng miêu tả khá gần gũi với HS nông thôn (cây bàng, con gà…)
+ Đặc điểm tâm lý của HS có tâm hồn trong sáng, thơ ngây, giàu cảm xúc
và sức sáng tạo. Thế giới của các em là thế giới cổ tích. Những đồ vật, con vật,
cây cối, cảnh vật là những người người bạn thân thiết gần gũi mà các em có thể
tâm tư, chia sẻ tình cảm của mình. Đặc điểm tâm lý này rất thuận lợi cho việc
khơi gợi cho các em những cảm xúc miêu tả thú vị, bất ngờ…
- Khó khăn:
+ Lên lớp 4 - 5, HS mới bắt đầu học cách lập dàn ý, dựng đoạn và viết
thành bài văn hoàn chỉnh. Hơn nữa, khả năng ngôn ngữ của các em còn hạn chế.

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×