Tải bản đầy đủ

việc làm cho lao động nông thôn huyện nam đàn – tỉnh nghệ an

ĐẠI HỌC HUẾ
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
KHOA KINH TẾ CHÍNH TRỊ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Đề tài:
VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
Ở HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
Giáo viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện:
Trần Đức Mạnh
Lớp: K44KTCT
ThS. Lê Văn Sơn Niên khóa: 2010 – 2014
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S Lê Văn Sơn
Huế, tháng 05 năm 2014
SVTH: Trần Đức Mạnh
2
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S Lê Văn Sơn
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp này, trong quá trình nghiên cứu ngoài

sự cố gắng nỗ lực của bản thân, em còn nhận được sự giúp đỡ từ nhiều cá nhân
và tổ chức:
Đầu tiên, em xin chân thành cảm ơn tất cả các thầy cô giáo Trường Đại học
Kinh tế Huế, các thầy cô giáo trong Khoa Kinh Tế Chính Trị đã tận tình dạy dỗ,
trang bị cho em những kiến thức quý báu trong suốt 4 năm học vừa qua.
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến thầy giáo Th.S. Lê Văn
Sơn đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em rất nhiều trong suốt thời gian hoàn
thành khóa luận này.
Em cũng xin chân thành gửi lời cảm ơn đến Ban lãnh đạo cùng toàn thể các
bác, các gì phòng Lao động – Thương binh & Xã hội huyện Nam Đàn, tỉnh
Nghệ An đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi trong việc cung cấp
số liệu, thông tin cần thiết cùng những kinh nghiệm quý báu giúp em hoàn thành
khóa luận này.
Cuối cùng, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè, người
thân đã động viên và giúp đỡ em rất nhiều trong thời gian qua.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do thời gian thực tập chưa nhiều, năng
lực của bản thân còn hạn chế nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót. Rất
mong được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô và bạn bè để đề tài được hoàn
thiện hơn.
Huế, tháng 05 năm 2014
Sinh viên thực hiện
Trần Đức Mạnh
SVTH: Trần Đức Mạnh
3
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S Lê Văn Sơn
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 3
MỤC LỤC 4
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 5
SVTH: Trần Đức Mạnh
4
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S Lê Văn Sơn
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DS – KHHGĐ Dân số - kế hoạch hóa gia đình
CNH – HĐH Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
KH – KT – CN Khoa học – Kỹ thuật – Công nghệ
TTCN Tiểu thủ công nghiệp
CN – XD Công nghiệp – Xây dựng
KT – XH Kinh tế - xã hội
XKLĐ Xuất khẩu lao động
N – L – NN Nông – Lâm – Ngư nghiệp
TM – DV Thương mại – Dịch vụ
GQVL Giải quyết việc làm
LĐ – TB&XH Lao động – Thương binh và Xã hội
UBND Ủy ban nhân dân
HĐKT Hoạt động kinh tế
SXKD Sản xuất kinh doanh
KVNT Khu vực nông thôn
BQ Bình quân
KH Kế hoạch
SVTH: Trần Đức Mạnh
5
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S Lê Văn Sơn
Tính cấp thiết của đề tài.
Việc làm luôn là một hoạt động lao động quan trọng nhất của con người, tạo ra của
cải vật chất và các giá trị tinh thần cho xã hội. Vấn đề việc làm luôn là một trong
những vấn đề thời sự được quan tâm hàng đầu trong các quyết sách phát triển Kinh tế -
Xã hội của mỗi quốc gia nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước. Người
lao động có việc làm vừa giúp cho bản thân họ có thu nhập ổn định vừa tạo điều kiện
để phát triển nhân cách và làm lành mạnh các mối quan hệ xã hội.
Việt Nam là nước có nguồn lao động dồi dào. Điều đó là thế mạnh trong phát triển
kinh tế - xã hội so với nhiều nước trên thế giới, đồng thời nó cũng luôn tạo ra một sức
ép không nhỏ về việc làm đối với lao động toàn xã hội. Do đó, tạo việc làm, nâng cao
thu nhập cho người lao động luôn được Đảng và Nhà nước ta dành sự quan tâm đặc
biệt.
Trong xu thế hội nhập hiện nay của đất nước với khu vực và thế giới, người lao
động càng có nhiều cơ hội tìm kiếm việc làm, tăng thu nhập góp phần nâng cao mức
sống cho bản thân và xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh cơ hội thì cũng tồn tại, thách thức
đối với nguồn lao động Việt Nam, nhất là lao động nông thôn. Đó là yêu cầu chất
lượng, trình độ tay nghề của nguồn lao động. Hiện nay, chất lượng lao động nông
nghiệp ở nông thôn, lực lượng lao động chưa trải qua đào tạo còn khá phổ biến nên
không tìm được việc làm, hoặc có việc làm nhưng không ổn định, tình trạng dư thừa
lao động thiếu việc làm gia tăng, thêm vào đó quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đã
làm cho một bộ phận nông dân mất đất canh tác nhưng chưa có chính sách giải quyết
việc làm. Vì vậy, vấn đề giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp nông thôn là
vấn đề cấp bách, đồng thời mang chiến lược lâu dài.
Huyện Nam Đàn là một huyện đông dân, thu nhập chủ yếu của người dân là từ
nông nghiệp, lâm nghiệp, còn một phần khác là từ công nghiệp và dịch vụ. Lực lượng
lao động nông thôn của huyện không có việc làm chiếm tỷ lệ cao, thường phải đi làm
ăn xa, công việc không ổn định, theo vụ mùa và thất thường. Chất lượng lao động
thấp, tỷ lệ sử dụng quỹ thời gian của người lao động nông thôn thấp, cơ cấu lao động
của huyện chuyển dịch chậm. Điều này gây ra nhiều khó khăn đối với sự phát triển
kinh tế - xã hội của huyện Nam Đàn nói riêng và tỉnh Nghệ An nói chung.
SVTH: Trần Đức Mạnh
6
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S Lê Văn Sơn
Hiện nay, cũng đã có nhiều bài viết, nhiều đề tài nghiên cứu đề cập đến vấn đề việc
làm và việc làm cho lao động nông thôn. Tuy nhiên cho đến nay chưa có đề tài nào
phân tích thực trạng và và đề ra phương hướng giải quyết việc làm cho lao động nông
thôn ở huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
Xuất phát từ những lý do trên tôi đã chọn đề tài “Việc làm cho lao động nông
thôn huyện Nam Đàn – tỉnh Nghệ An” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.
Nhằm đánh giá đúng thực trạng, nêu lên những khó khăn, từ đó tìm ra phương hướng,
giải pháp hữu hiệu để tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động ở nông thôn
trên địa bàn huyện.
1. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài.
1.1. Mục đích của đề tài.
Đánh giá thực trạng việc làm và đưa ra một số giải pháp nhằm giải quyết việc làm
cho người lao động ở nông thôn ở huyện Nam Đàn – tỉnh Nghệ An trong giai đoạn
hiện nay.
1.2. Nhiệm vụ của đề tài.
Để đạt được mục đích trên, khóa luận tập trung giải quyết các vấn đề sau:
- Nghiên cứu và hệ thống hóa cơ sở lý luận, kinh nghiệm thực tiễn của vấn đề việc
làm và giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn ở nước ta.
- Phân tích, đánh giá thực trạng việc làm cho người lao động ở nông thôn huyện
Nam Đàn – tỉnh Nghệ An trong những năm qua, từ đó rút ra được những thuận lợi,
khó khăn và những vấn đề đặt ra.
- Đề xuất phương hướng, mục tiêu và các giải pháp để giải quyết việc làm cho
người lao động của huyện Nam Đàn trong những năm tới.
2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài.
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Việc làm cho người lao động ở nông thôn.
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
+ Không gian: Huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
+Thời gian: 2010 – 2013
3. Phương pháp nghiên cứu đề tài.
Đề tài này được trình bày dựa trên cơ sở sự dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử để xem xét, phân tích vấn đề
nghiên cứu một cách khoa học và khách quan.
- Phương pháp thu thập thông tin:
+Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: thu thập số liệu báo cáo của phòng Lao
động – Thương binh và Xã hội huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
+Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp:
SVTH: Trần Đức Mạnh
7
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S Lê Văn Sơn
• Chọn điểm điều tra: Điều tra tại 4 xã của huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An và cán
bộ huyện, xã của huyện.
• Chọn mẫu điều tra: Phát phiếu điều tra ngẫu nhiên cho 100 hộ gia đình tại 4 xã
của huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
+Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu: Thiết lập các bảng biểu phản ánh một
cách khoa học các số liệu đã thu thập được để thuận tiện cho việc phân tích, đánh giá,
so sánh.
+Phương pháp sử dụng máy tính: Dùng phần mềm excel để tính toán, so sánh, thể
hiện số liệu.
- Phương pháp thống kê, so sánh, tổng hợp, điều tra phỏng vấn và các phương
pháp khác.
4. Tình hình nghiên cứu đề tài.
Việc làm và GQVL cho người lao động nói chung và lao động khu vực nông thôn
nói riêng luôn là vấn đề mang tính thời sự, do đó đã có nhiều công trình của nhiều tác
giả đề cập, cụ thể như:
- Bùi Văn Quán, (2001) “Thực trạng lao động việc làm ở nông thôn và một số giải
pháp cho giai đoạn phát triển 2001 – 2005”, tạp chí lao động và xã hội.
- TS. Nguyễn Xuân Khoát, (2007) “Lao động, việc làm và phát triển kinh tế xã hội
ở nông thôn Việt Nam”, Nxb Đại học Huế.
- PGS.TS Nguyễn Thị Thơm, (2009) “Giải quyết việc làm cho lao động nông
nghiệp trong quá trình đô thị hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- Võ Ngọc Hạnh, (2008) “Việc làm cho người lao động ở nông thôn huyện Nghi
Lộc, tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiện nay”, Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Kinh tế
Huế.
- Ngoài ra còn có rất nhiều đề tài luận văn tốt nghiệp, đề tài nghiên cứu khoa học,
luận văn thạc sĩ viết về vấn đề việc làm ở nhiều địa phương và các tỉnh, thành khác
nhau nhưng chưa có một đề tài nào nghiên cứu vấn đề việc làm ở huyện Nam Đàn,
tỉnh Nghệ An.
5. Đóng góp của đề tài
- Đề tài làm rõ sự cần thiết phải giải quyết việc làm cho lao động ở nông thôn
huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiện nay.
- Đề tài đánh giá thực trạng việc làm và đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm giải
quyết việc làm cho lao động nông thôn ở huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An trong thời
gian tới.
6. Ý nghĩa của đề tài
SVTH: Trần Đức Mạnh
8
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S Lê Văn Sơn
- Làm cơ sở cho địa phương nghiên cứu và vận dụng để xây dựng các chính sách
nhằm góp phần giải quyết việc làm cho lao động của huyện nói riêng và của tỉnh Nghệ
An nói chung.
- Làm tài liệu tham khảo cho các bạn sinh viên và những ai quan tâm tới vấn đề
này.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục các bảng biểu, biểu đồ, tài
liệu tham khảo, phụ lục thì đề tài được kết cấu làm ba chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về việc làm và giải quyết việc làm cho lao
động nông thôn.
Chương 2: Thực trạng việc làm cho lao động nông thôn ở huyện Nam Đàn, tỉnh
Nghệ An trong giai đoạn hiện nay.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết việc làm cho lao
động nông thôn ở huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiện nay.
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC LÀM, GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
1.1. Vấn đề việc làm và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn.
1.1.1. Quan niệm về việc làm.
1.1.1.1. Khái niệm về việc làm.
Đứng trên các góc độ nghiên cứu khác nhau, người ta đã đưa ra rất nhiều định
nghĩa nhằm làm sáng tỏ: “việc làm là gì?”. Ở các quốc gia khác nhau do ảnh hưởng
của nhiều yếu tố như điều kiện kinh tế, chính trị, luật pháp người ta quan niệm về
việc làm cũng khác nhau. Chính vì thế không có một định nghĩa chung và khái quát
nhất về việc làm.
Theo quan niệm của ILO: Người có việc làm là người làm việc trong các lĩnh vực,
ngành nghề, dạng hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, đem lại thu nhập để
nuôi sống bản thân và gia đình, đồng thời góp một phần cho xã hội.
SVTH: Trần Đức Mạnh
9
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S Lê Văn Sơn
Theo điều 13, Bộ Luật Lao động nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 1994 được
sửa đổi bổ sung năm 2002, 2006, 2007 có quy định rõ: “Mọi hoạt động tạo ra nguồn
thu nhập nhưng không bị pháp luật ngăn cấm đều được thừa nhận là việc làm”. [1;13]
Theo đại từ điển Tiếng Việt thì: “Việc làm là công việc, nghề nghiệp thường ngày
để sinh sống”. [21;1815]
Theo Tiến sĩ khoa học Phạm Đức Chính thì: “Việc làm như là một phạm trù kinh
tế, tồn tại ở tất cả mọi hình thức xã hội, đó là một tập hợp những mối quan hệ kinh tế
giữa con người về việc bảo đảm chỗ làm việc và tham gia của họ vào hoạt động kinh
tế” hay cũng theo ông: “Việc làm cũng là một phạm trù thị trường nó xác định khi
thuê một chỗ làm việc nhất định và chuyển người thất nghiệp thành người lao động”.
[2;311]
Như vậy, mọi hoạt động lao động tạo ra thu nhập không bị pháp luật cấm gọi là
việc làm. Những hoạt động này được thể hiện dưới các hình thức: Làm công việc được
trả công dưới dạng bằng tiền hoặc bằng hiện vật để đổi công. Các công việc tự làm để
thu lợi cho bản thân. Làm công việc nhằm tạo ra thu nhập (bằng tiền hoặc hiện vật)
cho gia đình mình nhưng không hưởng lương hoặc tiền công.
1.1.1.2. Bản chất của việc làm
Việc làm được xác định như một hệ thống quan hệ giữa con người về đảm bảo cho
họ những chỗ làm việc và tham gia vào hoạt động sản xuất.
Theo Hội nghị quốc tế lần thứ 13 của tổ chức Lao động quốc tế - ILO thì “Việc làm
có thể được định nghĩa như một tình trạng trong đó có sự trả công bằng tiền hoặc hiện
vật, do có sự tham gia tích cực, có tính chất cá nhân và trực tiếp vào nỗ lực sản xuất”.
Cơ sở pháp lý về việc làm được ghi trong Điều 13, chương II, Bộ luật Lao động
nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thì khái niệm này bao gồm cả nội dung
kinh tế - xã hội và cả nội dung pháp lý. Việc làm xác định như hoạt động lý thuyết là
không hoàn toàn đúng. Hoạt động của việc làm gắn liền với sản xuất. Bản chất của
việc làm khi thuê mướn làm việc và chuyển người thất nghiệp thành người lao động.
Duy trì việc làm đầy đủ là mục đích quan trọng nhất của chính sách kinh tế - xã hội
của bất kỳ nước nào. Ngày nay với xu hướng chuyển sang nền kinh tế thị trường và
cùng với sự phát triển mạnh mẽ của KH-KT-CN sẽ tạo ra một bộ phận lớn những
người lao động bị thất nghiệp thì vấn đề việc làm có ý nghĩa hàng đầu. Và nó ngày
SVTH: Trần Đức Mạnh
10
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S Lê Văn Sơn
càng thu hút được sự chú ý của các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách và
cả những người kinh doanh.
1.1.2. Khái quát về thất nghiệp và thiếu việc làm.
1.1.2.1. Quan niệm thất nghiệp
- Theo Bộ luật Lao động sửa đổi và bổ sung của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam (năm 2002) quy định: “Thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động
muốn làm việc nhưng chưa tìm được việc làm”.
- Theo quan niệm của tổ chức lao động quốc tế (ILO): Thất nghiệp là tình trạng tồn
tại khi số người trong lực lượng lao động muốn làm việc nhưng không tìm được việc
làm ở mức tiền công đang thịnh hành.
Hiện nay thất nghiệp được phân ra làm các loại sau đây: [20; 175]
- Thất nghiệp cơ cấu là tình trạng thất nghiệp xảy ra do sự mất cân đối giữa cung
và cầu đối với người lao động. Nó xảy ra do cầu về một lao động nào đó tăng lên trong
khi cầu về một loại lao động khác giảm xuống, còn cung không điều chỉnh theo một
cách nhanh chóng.
- Thất nghiệp tạm thời là tình trạng thất nghiệp xảy ra do sự di chuyển của người
lao động giữa các vùng, các công việc. Do sự di chuyển mà một số người tự nguyện
thất nghiệp.
- Thất nghiệp chu kỳ là tình trạng thất nghiệp xảy khi mức cầu chung về lao động
thấp. Nó xảy ra gắn với giai đoạn suy thoái, trì trệ và đóng cửa của chu kỳ kinh doanh
nên người lao động không có việc làm.
Có thể nói, thất nghiệp là hiện tượng kinh tế tất yếu khách quan và bình thường.
Song duy trì tỷ lệ thất nghiệp ở mức độ cho phép tạo sự cạnh tranh lành mạnh về lao
động, từ đó tạo ra động lực kích thích tăng năng suất lao động, sử dụng nguồn lao
động có hiệu quả, góp phần tăng trưởng nền kinh tế và kìm chế lạm phát là một vấn đề
nan giải được hầu hết mọi chính phủ quan tâm.
1.1.2.2. Thiếu việc làm. [7; 10]
Thiếu việc làm có những hình thức và nguyên nhân khác so với thất nghiệp. Thiếu
việc làm hay còn gọi là bán thất nghiệp hay thất nghiệp trá hình là hiện tượng người
lao động có việc làm ít hơn mức mà mình mong muốn. Như vậy, người thiếu việc làm
là người không có đủ việc làm theo thời gian quy định trong tuần, trong tháng hoặc là
làm những công việc quá ít, không đảm bảo cuộc sống nên có nhu cầu làm việc thêm
để có thêm thu nhập.
SVTH: Trần Đức Mạnh
11
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S Lê Văn Sơn
Thiếu việc làm là việc làm không tạo điều kiện cho người lao động sử dụng hết
thời gian lao động và mang lại mức thu nhập thấp cho người lao động dưới mức tối
thiểu.
Thiếu việc làm tồn tại dưới 2 dạng:
- Thứ nhất, thiếu việc làm vô hình tức là tình trạng làm việc đủ hoặc vượt chuẩn
quy định về số giờ làm việc, nhưng có năng suất thu nhập thấp và họ có nhu cầu kiếm
thêm hoặc tìm việc khác.
- Thứ hai, thiếu việc làm hữu hình dùng để chỉ những người lao động có việc làm
nhưng số giờ làm việc ít hơn quy định chuẩn và họ có nhu cầu tìm việc làm thêm.
Người thiếu việc làm gồm: những người trong tuần lễ điều tra có tổng số giờ làm
việc làm thêm nhỏ hơn số giờ quy định, hoặc 40 giờ có nhu cầu làm thêm giờ (trừ
những người làm việc có số giờ làm việc dưới 8 giờ, có nhu cầu làm thêm mà không
tìm được việc).
1.1.3. Lực lượng lao động và việc làm của người lao động ở nông thôn.
1.1.3.1. Đặc điểm của lực lượng lao động ở nông thôn.
- Lực lượng lao động (theo định nghĩa của Tổ chức Lao động quốc tế - ILO) là bộ
phận dân số trong độ tuổi quy định (tùy thuộc vào từng nước) thực tế có thể tham gia
lao động và những người không có việc làm nhưng tích cực tìm việc làm.
Khái niệm trên được nhiều nước trên thế giới áp dụng. Nhưng điều khác chủ yếu ở
mỗi nước là ở độ tuổi quy định. Ở Việt Nam, độ tuổi tối thiểu là 15, tuổi tối đa là 60
đối với nam và 55 đối với nữ.
- Lực lượng lao động ở nông thôn là một bộ phận lao động chung của cả nước sinh
sống và làm việc ở khu vực nông thôn. Cũng như lực lượng lao động chung của cả
nước, lực lượng lao động ở nông thôn là bộ phận dân số có độ tuổi từ 15 trở lên có
việc làm hay không có việc làm và đang tìm kiếm việc làm.
Lực lượng lao động ở nông thôn có một số đặc điểm sau:
- Nguồn lao động ở nông thôn chiếm tỷ trọng lớn và tăng nhanh:
Đặc điểm này cho thấy, nước ta có nguồn lao động ở nông thôn rất dồi dào. Mỗi
năm chúng ta có thêm trên 1 triệu người bước vào độ tuổi lao động, trong đó chiếm
phần lớn là lực lượng lao động ở nông thôn. Điều này chứng tỏ Việt Nam có một thị
trường lao động ở nông thôn ngày càng rộng lớn. Tuy nhiên, việc tăng nhanh về số
lượng lao động ở nông thôn đã gây ra những sức ép lớn về tạo việc làm, nảy sinh
những mâu thuẫn trong quá trình giải quyết việc làm.
- Nguồn lao động ở nông thôn phân bổ không đồng đều giữa các ngành, các vùng:
SVTH: Trần Đức Mạnh
12
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S Lê Văn Sơn
Hiện nay, cơ cấu nguồn lao động ở nông thôn nước ta còn gặp nhiều bất cập. Phần
lớn lao động nông nghiệp chỉ trồng trọt và chăn nuôi, còn các ngành nghề, dịch vụ
khác chiếm tỷ trọng rất ít. Điều này cho thấy, nước ta có lực lượng lao động ở nông
thôn phân bổ chưa hợp lý, phần lớn tùy thuộc vào trạng thái tự nhiên, do đó chưa hình
thành được các vùng chuyên canh lớn. Bên cạnh đó, xảy ra tình trạng di dân ngày một
đông từ nơi có điều kiện sản xuất không thuận lợi đến nơi có điều kiện sản xuất thuận
lợi. Qúa trình này kéo theo sự chuyển dịch cơ cấu lao động.
- Nguồn lao động ở nông thôn còn thiếu việc làm, thu nhập thấp. Phần lớn lực
lượng lao động ở nông thôn chủ yếu sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp. Do vậy, đa
số lực lượng lao động này là lao động giản đơn nên năng suất lao động thấp, lại thiếu
việc làm dẫn đến thu nhập thấp.
- Chất lượng lao động ở nông thôn có nhiều đặc tính phù hợp với sự phát triển
nhưng cũng còn nhiều hạn chế sau:
+ Trình độ văn hóa của người lao động ở nông thôn còn quá thấp;
+ Chất lượng cuộc sống còn thấp, đời sống ở nông thôn dần được cải thiện nhưng
còn chậm.
+ Trình độ chuyên môn và tay nghề của người lao động ở nông thôn ở mức thấp.
[9, 59]
1.1.3.2. Việc làm của người lao động ở nông thôn.
Việc làm của người lao động ở nông thôn là những hoạt động lao động mang lại
thu nhập cho người lao động nông thôn mà không bị pháp luật ngăn cấm. Việc làm của
người lao động ở nông thôn gắn liền với môi trường, điều kiện sinh sống và làm việc
của người lao động. Và chính môi trường điều kiện đó đã ảnh hưởng đến việc làm của
họ. Người lao động ở nông thôn thường làm việc trong những N - L - NN – những
việc làm có thể khai thác tự nhiên chính nơi họ sống. Việc làm của họ phần nhiều phụ
thuộc vào điều kiện tự nhiên và sức lao động của chính mình. Có thể thấy một thực tế
hiện nay ở khu vực nông thôn, việc làm của người lao động mang nặng tính thủ công,
chủ yếu dựa vào sức lao động chân tay là chính. Vì vậy năng suất lao động không cao,
không ổn định, dẫn đến thu nhập tương đối thấp, không đều trong năm.
Việc làm ở khu vực nông thôn thường mang tính thời vụ cao, do vậy vào những
thời điểm mùa vụ khối lượng công việc nhiều tăng đột biến. Tuy nhiên, có những thời
điểm nhàn rỗi khối lượng công việc giảm đột ngột, thậm chí có những thời điểm người
SVTH: Trần Đức Mạnh
13
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S Lê Văn Sơn
lao động ở khu vực nông thôn hầu như không có việc làm, đây chính là thời điểm nông
nhàn. Vào thời điểm này lao động ở khu vực nông thôn thường di chuyển ra các đô thị,
khu công nghiệp do đó thường làm nảy sinh nhiều hiện tượng xã hội, thậm chí tệ nạn
xã hội cũng vì thế gia tăng. Chính vì thế GQVL cho lao động ở khu vực nông thôn thời
điểm nông nhàn đang là đòi hỏi bức thiết ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
1.1.3.3. Giải quyết việc làm cho lao động ở nông thôn
GQVL là tạo ra các cơ hội để người lao động ở khu vực nông thôn có việc làm và
tăng thu nhập, phù hợp với lợi ích của bản thân, gia đình, cộng đồng và xã hội. Là tổng
thể những biện pháp, chính sách KT - XH của nhà nước, cộng đồng và bản thân người
lao động tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội tạo điều kiện thuận lợi để đảm bảo
cho mọi người có khả năng lao động có việc làm.
Từ đó có thể rút ra, GQVL cho lao động nông thôn bao gồm những nội dung sau:
Thứ nhất, tạo ra số lượng và chất lượng tư liệu sản xuất để phục vụ cho sản xuất,
tức là tăng cầu về việc làm cho nền kinh tế.
Thứ hai, tạo ra số lượng và chất lượng sức lao động, tức là tạo sức cung lao động
cho thị trường.
Thứ ba, các giải pháp để duy trì việc làm ổn định và đạt hiệu quả cao, các giải pháp
về quản lý thị trường, kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả của việc làm. Tức là các giải
pháp để tạo sự gặp nhau giữa cung – cầu sức lao động trên thị trường.
1.1.4. Những nhân tố ảnh hưởng đến việc làm và thu nhập của lao động nông
thôn.
1.1.4.1. Ruộng đất ở nông thôn.
Nông nghiệp nông thôn là vấn đề có vị trí hàng đầu cần quan tâm ở nông thôn. Còn
đất đai là mối quan tâm hàng đầu, là tư liệu sản xuất chủ yếu trong nông nghiệp.
Người lao động ở nông thôn gắn bó mật thiết với đất đai như Wiliam Petty: “Lao
động là cha, đất đai là mẹ của mọi của cải”. Vai trò của đất đối với lao động nông thôn
là rất quan trọng. Cùng với quá trình CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn và sự áp
dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật vào nông nghiệp, người lao động ở nông thôn
ngày càng tạo ra nhiều việc làm và đưa lại hiệu quả thu nhập cao trên cùng một diện
tích đất như trước.
Nhưng lực lượng lao động ở nông thôn đang tăng lên càng mâu thuẫn với quỹ đất
có hạn theo đầu người. Có thể khẳng định rằng, quỹ đất trong nông nghiệp có hạn bên
cạnh đó lại có một phần diện tích đất đang được chuyển sang đất chuyên dùng, thổ cư.
SVTH: Trần Đức Mạnh
14
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S Lê Văn Sơn
Mặt khác, nguồn lao động ở nông thôn ngày càng tăng gây ra hiện tượng dư thừa lao
động. Điều này đã gây ra nhiều mâu thuẫn gay gắt giữa cung – cầu lao động ở nông
thôn dẫn đến sức ép rất lớn về việc làm.
1.1.4.2. Khí hậu thời tiết.
Trong sản xuất nông nghiệp, đối tượng sản xuất là cây trồng, vật nuôi. Ngoài tác
động của người nông dân, cây trồng vật nuôi còn chịu tác động của quy luật sinh học,
của khí hậu, thời tiết. Quá trình sản xuất trong nông nghiệp được ví như xí nghiệp
ngoài trời, chịu tác động rất nhiều của thiên nhiên. Do vị trí địa lý nên nước ta luôn
phải gánh chịu các trận lũ lụt, hạn hán, bão lốc làm cho sản xuất nông nghiệp gặp
nhiều khó khăn. Vì thế, tổ chức tạo việc làm cho người lao động ở nông thôn mỗi
vùng, mỗi địa phương cần phải căn cứ vào những yếu tố tự nhiên của địa hình mình
cho có hiệu quả.
1.1.4.3. Dân số và chất lượng lao động.
Dân số ở khu vực nông thôn nước ta có xu hướng tăng lên, nguyên nhân do trình
độ dân trí thấp, thiếu thông tin và lạc hậu. Bên cạnh đó, quỹ đất đai ở khu vực nông
thôn lại có hạn. Hiện nay, nhờ có chủ trương của Đảng và Nhà nước bộ mặt nông thôn
đã có nhiều thay đổi. Tuy nhiên, thu nhập từ hoạt động nông nghiệp rất thấp, trong khi
ngành nghề dịch vụ ở nông thôn lại chưa phát triển nên đời sống của người dân vẫn
còn gặp nhiều khó khăn. Nạn thiếu việc làm diễn ra gay gắt, gây ra hiện tượng di tản
lao động từ nông thôn ra thành thị. Tình trạng này đã làm nảy sinh một số vấn đề xấu
về KT – XH, làm cho tình hình đô thị ngày càng phức tạp thêm, mặt khác điều kiện
sống và làm việc của bộ phận lực lượng lao động này không được đảm bảo. Vì vậy,
GQVL cho người lao động ở nông thôn gắn với hạn chế tốc độ phát triển dân số ở
nông thôn, đây là vấn đề cấp thiết nhất hiện nay.
Về chất lượng lao động, đây là vấn đề trở ngại nhất trong chuyển dịch cơ cấu lao
động ở nông thôn. Theo số liệu qúy III năm 2013 của Tổng cục Thống kê cho thấy, tỷ
lệ lao động ở nông thôn chiếm tới gần 70%, nhưng chỉ khoảng 13,4% trong số này
được đào tạo chuyên môn kỹ thuật. Điều này đã hạn chế việc phát triển ngành nghề và
do đó hạn chế quỹ thời gian lao động được sử dụng. Vì vậy, vấn đề đào tạo nghề để
tạo điều kiện phát triển các ngành phi nông nghiệp ở nông thôn là vấn đề bức thiết. [9]
SVTH: Trần Đức Mạnh
15
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S Lê Văn Sơn
1.1.4.4. Vốn của người dân nông thôn.
Vốn là nhân tố quan trọng để đầu tư mở rộng sản xuất. Trong nông thôn vốn bình
quân trên đầu người không cao nhưng nếu tính toàn bộ khu vực nông thôn nước ta thì
tổng tiết kiệm là rất lớn. Ngoài ra phần lớn các hộ đều có vay thêm từ các nguồn khác
như tư nhân, tập thể, hệ thống ngân hàng, các đoàn thể xã hội… Vốn được đầu tư vào
sản xuất và dung vào mục đích khác như nhu cầu sinh sống trước mắt. Nếu vốn được
sử dụng có hiệu quả sẽ thu hút được nhiều lao động, tạo nhiều việc làm và tăng thu
nhập cho người dân
1.1.4.5. Cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động ở nông thôn.
Cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động ở nông thôn lạc hậu, quá trình chuyển dịch cơ
cấu lao động ở nông thôn diễn ra chậm chạp. Đây là trở ngại lớn trong quá trình giải
quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho dân cư nông thôn. Về cơ bản quá trình sản
xuất ở vùng nông thôn Việt Nam vẫn còn mang tính tự cung, tự cấp. Lao động chủ yếu
tập trung ở lĩnh vực nông nghiệp, hệ số sử dụng đất không cao, thu nhập từ nông
nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu nhập của hộ. Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý
để xây dụng cơ cấu phân công lao động mới có ý nghĩa quyết định sử dụng hợp lý
nguồn lao động xã hội trong đó có lao động nông nghiệp.
Chuyển dịch cơ cấu lao động để giải quyết việc làm chủ yếu chuyển một bộ phận
lao động sang dịch vụ, mở rộng ngành nghề phi nông nghiệp. Tập trung sản xuất hàng
hóa, tạo điều kiện thuận lợi về tín dụng cho những người thiếu vốn và người nghèo,
đưa tiến bộ khoa học – kỹ thuật, chuyển giao công nghệ vào nông thôn nhằm trang bị
cho người lao động ở nông thôn những tư liệu sản xuất cần thiết đảm bảo năng suất lao
động, giảm nhẹ cường độ lao động từ đó làm tăng thu nhập.
1.1.4.6. Mức độ ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất
Mức độ ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất ở nông thôn nước ta còn rất hạn
chế cả về số lượng và chất lượng. Biểu hiện rõ nhất là việc vẫn còn đó hiện trạng con
trâu đi trước cái cày theo sau ở nông thôn Việt Nam. Trong những năm gần đây, nhờ
sự quan tâm của Đảng và Nhà nước thì đã có một số những thành tựu về kỹ thuật,
công nghệ được ứng dụng vào sản xuất nhưng ở mức độ còn hạn chế và phạm vi còn
rất hẹp, chỉ xuất hiện rải rác những máy gặt, máy cày còn việc thực hiện công nghiệp
hóa nông nghiệp và mức độ ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp còn
rất hạn chế. Vì thế cần nâng cao mức độ ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất
SVTH: Trần Đức Mạnh
16
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S Lê Văn Sơn
nông nghiệp để tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, đồng thời làm giảm đi cường độ
cho lao động nông nghiệp, chuyển một bộ phận lao động nông nghiệp sang các ngành
phi nông nghiệp góp phần vào GQVL cho lao động nông thôn.
1.1.4.7. Chính sách của Đảng và Nhà nước về giải quyết việc làm cho người lao
động.
Thực tiễn trong quá trình đổi mới cho thấy, giải quyết việc làm cho người lao động
nói chung và cho người lao động ở nông thôn nói riêng không chỉ là nhiệm vụ của xã
hội mà còn là nhiệm vụ kinh tế - chính trị quan trọng, là mối quan tâm hàng đầu của
Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành và toàn thể nhân dân.
Chủ trương tạo việc làm đã được chỉ rõ trong Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ
VIII: “Khuyến khích mọi thành phần kinh tế, mọi công dân, mọi nhà đầu tư mở mang
ngành nghề, tạo nhiều việc làm cho người lao động. Mọi công dân đều được tự do
hành nghề, thuê mướn nhân công theo pháp luật, phát triển dịch vụ việc làm ” [3;
114].
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX nhận định: “Giải quyết việc làm là yếu tố
quyết định để phát huy nhân tố con người, ổn định và phát triển kinh tế, làm lành
mạnh xã hội đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc của nhân dân …”
[4; 110].
1.2. Vai trò của việc giải quyết việc làm cho lao động nông thôn đối với sự phát
triển kinh tế – xã hội ở nông thôn.
Như chúng ta đã biết, mục tiêu của GQVL là tạo việc làm đầy đủ, qua đó để nâng
cao thu nhập cho người lao động nông thôn. Quá trình này có ý nghĩa quan trọng đối
với quá trình phát triển KT – XH ở khu vực này. Điều đó được thể hiện ở những mặt
cơ bản sau:
Thứ nhất, giải quyết tốt vấn đề việc làm cho người lao động nông thôn là nhằm giải
phóng tiềm năng sức lao động xã hội để tận dụng, khai thác các nguồn lực tự nhiên và
xã hội; biến các nguồn lực còn ở dạng tiềm năng đó thành của cải vật chất phục vụ cho
quá trình phát triển.
Thứ hai, GQVL cho người lao động nông thôn là cơ sở để phát triển kinh tế, văn
hóa, xã hội; góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH,
HĐH nông nghiệp nông thôn. Hiện nay, ở nước ta vẫn còn 70,4% dân số sống ở nông
thôn với nguồn thu nhập chính từ nông nghiệp. Nhìn chung, trình độ canh tác của khu
SVTH: Trần Đức Mạnh
17
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S Lê Văn Sơn
vực này còn lạc hậu, sản xuất manh mún, nhỏ lẽ, năng suất lao động thấp, khoảng cách
về trình độ phát triển và mức sống so với thành thị ngày càng lớn. Vì vậy, GQVL cho
người lao động ở khu vực này chính là tạo nguồn thu nhập, nâng cao mức sống nông
dân, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa nông thôn và thành thị; góp phần chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.
Thứ ba, giải quyết tốt vấn đề việc làm cho người lao động một mặt là tạo ra thu
nhập nâng cao đời sống cho bản thân và gia đình họ; đồng thời là giải pháp mang tính
chiến lược để đảm bảo an ninh, trật tự, lành mạnh hóa các quan hệ xã hội ở khu vực
nông thôn. Bởi khi thất nghiệp, thiếu việc làm gia tăng sẽ dẫn đến hai hệ quả. Về mặt
kinh tế, hiện tượng này sẽ gây lãng phí sức lao động xã hội, mất đi nguồn thu nhập cho
bản thân người lao động và gia đình của họ, nhưng mặt khác nhà nước cũng mất đi
một số khoản thu lớn về thuế và bỏ ra một khoản lớn cho trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp
xã hội và hàng loạt các khoản chi khác. Về mặt xã hội, nó sẽ làm gia tăng hàng loạt
các vấn đề như tệ nạn xã hội, tình trạng di dân tự do, ô nhiễm môi trường
Từ những lí do trên có thể thấy, GQVL cho người lao động có ý nghĩa to lớn trên
tất cả các mặt từ kinh tế đến lĩnh vực văn hóa xã hội; từ việc tăng thu nhập, cải thiện
đời sống bản thân người lao động đến sự phồn vinh của mỗi khu vực, quốc gia từ vấn
đề có tính cấp thiết trước mắt đến chiến lược phát triển bền vững lâu dài.
1.3. Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho lao động nông thôn của một số tỉnh,
huyện ở Việt Nam và bài học rút ra cho huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
1.3.1. Kinh nghiệm của tỉnh Bắc Ninh.
Bắc Ninh là một tỉnh đất chật người đông, có tới 80% dân số sống ở khu vực nông
thôn và gần 50% lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp. Đặc biệt trong những
năm gần đây Bắc Ninh là một trong những địa phương có quá trình CNH – HĐH diễn
ra khá nhanh, đi liền với những quyết định thu hồi đất để xây dựng các khu công
nghiệp, các trung tâm thương mại, khu đô thị hóa làm một số lượng lớn lao động nông
nghiệp bị thiếu hoặc bị mất việc làm do mất đất. Vì vậy, giải quyết việc làm cho lao
động nông nghiệp bị mất đất luôn là những thách thức cho các cấp các ngành tỉnh Bắc
Ninh.
Tỉnh Bắc Ninh đã thực hiện một số biện pháp dưới đây:
Thứ nhất: Đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm cho lao động ở những nơi
chuyển đổi mục đích sử dụng đất.
SVTH: Trần Đức Mạnh
18
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S Lê Văn Sơn
Những năm qua công tác đào tạo nghề đã được tỉnh quan tâm đúng mức, như đầu
tư nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật, mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng đào tạo, đa
dạng hóa các hình thức đào tạo cũng như các ngành nghề đào tạo. Tỉnh đã xây dựng
mạng lưới cơ sở dạy nghề giai đoạn 2001 – 2010 và bước đầu triển khai công tác dạy
nghề cho nông dân trong tỉnh. Các cơ sở dạy nghề được củng cố về quy mô, trang thiết
bị và đội ngũ giáo viên. Đào tạo nghề cho lao động là một trong những thành công của
Bắc Ninh trong giải quyết việc làm cho lao động trong quá trình đô thị hóa.
Thứ hai: Phát triển các làng nghề truyền thống thu hút lao động, cấp đất dãn dân,
đất khu dân cư dịch vụ để người nông dân “ly nông” nhưng không “ly hương”.
Bắc Ninh có ưu thế là các làng nghề truyền thống. Hiện nay tỉnh có trên 100 làng
nghề truyền thống như đồ gỗ Đồng Kỵ, Hưng Mạc (Từ Sơn); Đúc đồng Đại Bái (Gia
Bình); Giấy gió Phong Khê (Yên Phong)…Làng nghề Bắc Ninh đã thu hút hàng ngàn
lao động, phần lớn là nông dân. Đây là kênh giải quyết việc làm tương đối hiệu quả
đối với nông dân vùng đất bị thu hồi, các làng nghề trong tỉnh phát triển đã tạo việc
làm cho hàng chục nghìn lao động ở địa phương và các vùng lân cận trong đó có lao
động bị thu hồi đất.
Thứ ba: Đẩy mạnh xuất khẩu lao động.
Để khuyến khích và tạo điều kiện cho lao động trong các vùng thực hiện dự án thu
hồi đất đi xuất khẩu lao động. Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh đã có nghị
quyết hỗ trợ xuất khẩu lao động giai đoạn 2006 – 2010 đối với các đối tượng chính
sách trong đó có lao động trong các dự án thu hồi đất thực hiện quá trình đô thị hóa
của tỉnh. Sauk hi phân loại những lao động có thể tham gia xuất khẩu lao động được,
tập trung học nghề, học tiếng. Để tạo điều kiện cho những lao động bị thu hồi đất tham
gia xuất khẩu lao động.
Thứ tư: Thực hiện chương trình hỗ trợ trực tiếp cho người lao động.
Nhằm tạo điều kiện cho lao động cũng như các hộ trong các vùng thực hiện dự án
chuyển đổi nghề nghiệp, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội đã chỉ đạo cho các đối
tượng này được vay vốn từ Qũy quốc gia giải quyết việc làm. Các dự án vay vốn được
thẩm định chính xác, công tác kiểm tra đánh giá sau khiến cho vay được thực hiện
thường xuyên. Do đó, đa số các dự án cho vay đều đạt hiệu quả kinh tế, giải quyết việc
làm cho người lao động.
1.3.2. Kinh nghiệm của huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.
SVTH: Trần Đức Mạnh
19
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S Lê Văn Sơn
Nghi Lộc là một huyện nghèo của tỉnh Nghệ An, kinh tế chủ yếu là dựa vào nền
sản xuất nông nghiệp lạc hậu, công nghiệp nhỏ bé, dịch vụ chậm phát triển, đa số dân
cư sống ở nông thôn và phần lớn làm nông nghiệp. Trong những năm qua, thực hiện
đường lối đổi mới của Đảng và các nghị quyết của tỉnh, huyện đã triển khai từng bước
phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm cho nhân dân nên đã đạt
được một số thành tựu cụ thể. Huyện Nghi Lộc đã thực hiện một số giải pháp sau:
Thứ nhất: Đẩy mạnh công tác đào tạo nghề.
Được sự quan tâm của Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân đã xây
dựng đề án thành lập trung tâm hướng nghiệp – dạy nghề huyện; Đề án đào tạo nghề
giải quyết việc làm cho người lao động nông thôn giai đoạn 2006 – 2010. Công tác
đào tạo nghề nhận được sự quan tâm của các cấp, các ngành, thu hút được nhiều
chương trình dự án và đang từng bước phát triển vững chắc. Hàng năm xây dựng kế
hoạch tổ chức đào tạo nhiều ngành nghề khác nhau. Bình quân hàng năm đào tạo được
500 – 700 lao động, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển đổi nghề nghiệp, tạo việc
làm tại chỗ cho người lao động ở nông thôn.
Thứ hai: Phát triển các làng nghề.
Các làng nghề ở huyện Nghi Lộc đã khơi dậy ngành nghề thống, bước đầu đã thích
nghi về cơ chế thị trường, đã tạo ra một số sản phẩm mới, tạo ra việc làm cho lao động
dôi dư, làm tăng giá trị nông – lâm sản, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu
kinh tế của huyện theo hướng CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.
Thứ ba: Xuất khẩu lao động.
Nghi Lộc là một huyện có dân số đông, lực lượng lao động dồi dào, sản xuất nông
nghiệp là chủ yếu, các ngành nghề và dịch vụ phát triển còn chậm. Do vậy, số lao
động chưa có việc làm và thiếu việc làm chiếm tỷ lệ lớn. Trong những năm qua, các
cấp ủy Đảng, chính quyền đã dành sự quan tâm cao đến công tác giải quyết việc làm.
Trong đó huyện đã triển khai nhiều biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu lao động nhằm tạo
bước đột phá lớn trong chuyển dịch cơ cấu lao động, giải quyết việc làm cho lao động
nông thôn và xóa đói giảm nghèo.
1.3.3. Kinh nghiệm của huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình.
Huyện Lạc Sơn có diện tích 58.218,11 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp 9468
ha, đất lâm nghiệp là 36440 ha, còn lại đất phi nông nghiệp và đất khác. Dân số năm
2009 là 134.324 người, số người trong độ tuổi lao động 75.316 người, trong đó có
SVTH: Trần Đức Mạnh
20
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S Lê Văn Sơn
nhiều dân tộc sinh sống. Phần lớn lực lượng lao động tập trung ở khu vực nông thôn
với trình độ kỹ thuật thấp.
- Xác định đào tạo nghề là một trong những nội dung chủ yếu để GQVL gắn với
nâng cao chất lượng nguồn lao động. Hàng năm, huyện tổ chức khảo sát nắm chắc
thực trạng lao động, việc làm tại các xã và thực trạng sử dụng lao động, nhu cầu nguồn
nhân lực theo cơ chế nghề của các doanh nghiệp trong và ngoài huyện.
- Thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, khuyến khích các hộ mở rộng
quy mô sản xuất để tạo việc làm cho chính mình cũng như nhiều lao động khác.
1.3.4. Kinh nghiệm rút ra cho huyện Nam Đàn trong giải quyết việc làm cho lao
động nông thôn.
Từ kinh nghiệm về GQVL của các nước và các địa phương trên, có thể rút ra một
số bài học có thể vận dụng để GQVL cho người lao động nông thôn huyện Nam Đàn
như sau:
Một là, cần tập trung đẩy mạnh công tác đào tạo nghề cho người lao động, tiến
hành liên doanh, liên kết với các cơ sở dạy nghề, các cơ sở sản xuất, doanh nghiệp để
nâng cao tay nghề cho người lao động gắn với việc tổ chức giới thiệu việc làm cho
người lao động. Thực hiện đào tạo nghề phù hợp sự phát triển KT – XH của địa
phương và có tác dụng phục vụ trực tiếp công cuộc xây dựng nông thôn mới.
Hai là, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động để tạo nhiều việc
làm và bảo đảm việc làm ổn định cho người lao động nông thôn. Thực hiện chuyển đổi
cơ cấu kinh tế trong nội bộ ngành nông nghiệp, cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp, mở
rộng quy mô sản xuất đồng bộ. Tập trung sản xuất những loại cây trồng có giá trị cao
làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu tạo nhiều việc làm, tăng thu
nhập cho người lao động.
Ba là, phát triển sản xuất kinh doanh và đa dạng hóa ngành nghề, từng bước hợp lý
hóa cơ cấu kinh tế, tăng nhanh quá trình thương phẩm hóa trong nông nghiệp, phát
triển nền nông nghiệp có tính chất hàng hóa.
Bốn là, có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, chú trọng công tác đầu tư, thu hút
nguồn vốn trong và ngoài nước, tập trung phát triển công nghiệp, TTCN, dịch vụ và
các ngành nghề khác ở nông thôn.
Năm là, sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia
đối với nông thôn nhất là quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm cho người lao động, các
chương trình dự án cho người dân nông thôn. Thực hiện tốt các chương trình hỗ trợ
SVTH: Trần Đức Mạnh
21
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S Lê Văn Sơn
trực tiếp cho người dân, hỗ trợ vốn, tạo điều kiện cho người dân vay vốn phát triển
kinh tế, tạo ra nhiều việc làm.
Sáu là, tích cực tuyên truyền các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về
dạy nghề, GQVL, lồng ghép với tập huấn, chuyển giao khoa học, kỹ thuật cho người
dân. Quản lý, bố trí và sử dụng hợp lý và có hiệu quả lực lượng lao động đã được đào
tạo.
SVTH: Trần Đức Mạnh
22
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S Lê Văn Sơn
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN HUYỆN NAM
ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
2.1.1. Điều kiện tự nhiên.
2.1.1.1. Vị trí địa lý, địa hình.
Nam Đàn là huyện nửa đồng bằng, nửa đồi
núi, nằm ở hạ lưu sông Lam. Kéo dài từ 18
o
34’
đến 18
o
47’ vĩ bắc và trải rộng từ 105
o
24’ đến
105
o
37’ kinh đông. Huyện Nam Đàn có phía
bắc giáp huyện Đô Lương (tỉnh Nghệ An), phía
nam giáp huyện Hương Sơn và huyện Đức Thọ
(tỉnh Hà Tĩnh), phía đông giáp huyện Hưng
Nguyên và huyện Nghi Lộc (tỉnh Nghệ An),
phía tây giáp huyện Thanh Chương (tỉnh Nghệ
An).
Huyện Nam Đàn nằm giữa hai dãy núi, Đại Huệ ở phía Bắc và Thiên Nhẫn ở phía
Tây, tạo ra thung lũng, đồng bằng hình tam giác, có sông Lam chảy dọc theo hướng
Bắc Nam, chia huyện thành 2 vùng, đó là tả ngạn và hữu ngạn sông Lam. Với diện tích
tự nhiên là 293, 9 km
2
, Nam Đàn có 24 đơn vị hành chính bao gồm 23 xã và 1 thị trấn.
Huyện lỵ đóng ở Thị Trấn Nam Đàn - nằm trên đường quốc lộ 46 (Nối Vinh đi Đô
Lương) cách Thành Phố Vinh 21 km về phía Tây.
2.1.1.2. Đặc điểm khí hậu, thủy văn.
- Đặc điểm khí hậu:
+ Chế độ nhiệt và độ ẩm: Nam Đàn nằm trong vùng khí hậu chuyển tiếp, vừa mang
đặc tính mùa đông lạnh của khí hậu miền Bắc, vừa mang đặc tính nắng nóng của khí
hậu miền Nam. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,9
0
C, được chia thành hai mùa rõ
rệt: Mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 9, nhiệt độ bình quân 26
0
C; mùa lạnh từ tháng 10
đến tháng 3 năm sau, nhiệt độ bình quân 19
0
C.
+ Chế độ mưa: Lượng mưa trung bình năm 1944,3 mm, phân bố không đồng đều,
mưa từ trung tuần tháng 9 đến đầu tháng 10 gây úng ngập cục bộ ở các xã vùng thấp.
Từ tháng 1 đến tháng 4 lượng mưa chiếm khoảng 10% lượng mưa cả năm, gây khô
hạn cho các khu đất chân cao.
SVTH: Trần Đức Mạnh
23
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S Lê Văn Sơn
- Thủy văn: Nguồn cung cấp nước trên địa bàn huyện gồm hệ thống sông ngòi và
hồ đập. Trong đó, nguồn cung cấp từ sông Lam (sông Cả) là quan trọng nhất. Sông
Lam đoạn chảy qua địa phận Nam Đàn có chiều dài 16 km. Ngoài ra trong huyện còn
có 2 con kênh lớn là kênh thấp (sông Đào) và kênh Lam Trà và có trên 40 hồ đập lớn,
nhỏ với trữ lượng hơn 19 triệu m3, trong đó có những hồ có trữ lượng khá lớn như:
Tràng Đen, Thủng Pheo (Nam Hưng); Cửa Ông (Nam Nghĩa); Thanh Thủy (Vân
Diên); Ba Khe (Nam Lộc); Các hồ, đập này ngoài giá trị cao về mặt kinh tế (nuôi
trồng thủy sản, cấp nước cho sinh hoạt và tưới tiêu) còn có vai trò cực kỳ quan trọng
trong việc điều hòa khí hậu và là điều kiện tiên quyết cho việc xây dựng các khu nghỉ
mát và điều dưỡng.
2.1.1.3. Địa hình, tài nguyên thiên nhiên.
a) Tài nguyên khoáng sản.
Tài nguyên khoáng sản của huyện tuy không nhiều về chủng loại nhưng trữ lượng
khá lớn, gồm các loại như: đất sét làm vật liệu xây dựng (ở Nam Thái, Nam Kim, Nam
Giang, Nam Lĩnh), cát vàng (dọc sông Lam với trữ lượng lớn), đá xây dựng, các loại
quặng (mỏ mangan ở Nam Tân, Nam Lộc, Khánh Sơn) và mỏ sắt non (Nam Kim,
Khánh Sơn).
b) Tài nguyên đất:
Huyện Nam Đàn hiện nay có tổng diện tích đất tự nhiên là 29429.89 ha, trong đó
tổng diện tích đất nông nghiệp là 18697.57 ha (chiếm 63,53%), tổng diện tích đất phi
nông nghiệp là 7924.13 ha (chiếm 26,92%), tổng diện tích chưa sử dụng là 2808.19 ha
(chiếm 9,55%), mật độ dân cư là 516 người/km
2
. Nhìn chung, trong cơ cấu sử dụng đất
đai của huyện Nam Đàn thì diện tích đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ lớn nhất với cơ cấu
trên 60%, tiếp đến là đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng. Tuy nhiên trong thời
gian gần đây diện tích đất nông nghiệp đang có xu hướng giảm dần và diện tích đất phi
nông nghiệp tăng là vì cũng như các địa phương khác trong cả nước thì Nam Đàn đang
chuyển mình trong quá trình CNH – HĐH trong đó giảm tỷ trọng sản xuất nông
nghiệp và tăng tỷ trọng ngành công nghiệp – dịch vụ.
SVTH: Trần Đức Mạnh
24
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S Lê Văn Sơn
Biểu đồ 2.1. Cơ cấu đất đai của huyện Nam Đàn năm 2012
c) Tài nguyên du lịch
Là quê hương của chủ tịch Hồ Chí Minh, nói cụ thể hơn là huyện có nhiều di tích
lịch sử văn hóa và cách mạng, có nhiều danh lam thắng cảnh đẹp, Nam Đàn được xác
định là vùng trọng điểm phát triển du lịch, cùng với thành phố Vinh và Thị xã Cửa Lò
tạo thành tam giác phát triển du lịch của Nghệ An ở Bắc Trung Bộ. Các hoạt động du
lịch đầu năm, lễ hội Vua Mai,… vẫn luôn là một điểm đến hấp dẫn đối với du khách.
2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội.
2.1.2.1. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội của huyện.
Trong những năm qua, phát huy thuận lợi và từng bước khắc phục khó khăn với sự
nỗ lực phấn đấu, tập trung nâng cao trong lãnh đạo, chỉ đạo và sự chủ động của nhân
dân cả huyện nên tình hình kinh tế huyện Nam Đàn có bước phát triển khá. Tốc độ
tăng trưởng năm 2013 là 6,43% đạt 90,1%KH. Tổng giá trị sản xuất (Giá so sánh năm
2010) ước đạt 4.647.457trđ đạt 96,56% KH, tăng 6,39% so với năm 2012. Trong đó:
Giá trị sản xuất ngành nông lâm thủy sản 1.663.520 trđ đạt 102,34% KH, tăng 7% so
với năm 2012; Giá trị sản xuất ngành công nghiệp – xây dựng 2.023.651 trđ, đạt
92,21% KH, tăng 4,88% so với năm 2012; Giá trị sản xuất ngành dịch vụ 960.286 trđ,
đạt 96,7% KH, tăng 8,59% so với năm 2012.
Bảng 2.1: Cơ cấu kinh tế huyện Nam Đàn.
SVTH: Trần Đức Mạnh
25

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×