Tải bản đầy đủ

Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá gan (fasciolosis) ở trâu, bò tại tỉnh bắc kạn và đề xuất biện pháp phòng chống hiệu quả

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
cs : Cộng sự
F. : Fasciola
g : Gam
L. : Lymnaea
mm : Milimet
n : Dung lượng mẫu
NXB : Nhà xuất bản
pp : Page
SLG : Sán lá gan
tr : Trang
TT : Thể trọng
% : Tỷ lệ phần trăm

i
DANH MỤC CÁC BẢNG
Ký chủ 39
Ký chủ 39
Vị trí ký sinh và 39
Vị trí ký sinh và 39
số sán định loại 39

số sán định loại 39
Loài sán 39
Loài sán 39
lá gan 39
lá gan 39
Phân bố 39
Phân bố 39
Tỷ lệ 39
Tỷ lệ 39
xuất hiện 39
xuất hiện 39
(%) 39
(%) 39
Chợ Mới 39
Chợ Mới 39
Bạch Thông 39
Bạch Thông 39
Ngân Sơn 39
Ngân Sơn 39
+ 39
+ 39
ii
+ 39
+ 39
+ 39
+ 39
+ 39
+ 39
+ 39
+ 39
+ 39
+ 39
1 39
1 39
1 39
1 39
1 39
1 39
iii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ VÀ ĐỒ THỊ


Ký chủ 39
Ký chủ 39
Vị trí ký sinh và 39
Vị trí ký sinh và 39
số sán định loại 39
số sán định loại 39
Loài sán 39
Loài sán 39
lá gan 39
lá gan 39
Phân bố 39
Phân bố 39
Tỷ lệ 39
Tỷ lệ 39
xuất hiện 39
xuất hiện 39
(%) 39
(%) 39
Chợ Mới 39
Chợ Mới 39
Bạch Thông 39
Bạch Thông 39
Ngân Sơn 39
Ngân Sơn 39
+ 39
iv
+ 39
+ 39
+ 39
+ 39
+ 39
+ 39
+ 39
+ 39
+ 39
+ 39
+ 39
1 39
1 39
1 39
1 39
1 39
1 39
v
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây ngành chăn nuôi nước ta đã và đang chiếm
một vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp nói riêng và trong cơ cấu nền
kinh tế nói chung của đất nước. Đặc biệt chăn nuôi trâu, bò đã đóng vai trò
quan trọng trong việc cải thiện kinh tế, góp phần nâng cao đời sống của người
lao động. Tuy nhiên hiện nay, ở các tỉnh miền núi việc chăn nuôi trâu, bò chủ
yếu là thả rông, vấn đề vệ sinh thú y trong quá trình chăn nuôi chưa được coi
trọng, do đó dịch bệnh thường xuyên xảy ra, gây thiệt hại lớn về kinh tế.
Bệnh sán lá gan lớn (Fasciolosis) là một bệnh ký sinh trùng xảy ra khá
phổ biến ở trâu, bò. Bệnh thường ở thể mãn tính làm cho con vật gầy yếu,
thiếu máu, còi cọc và giảm sức đề kháng với các bệnh khác. Trong khi người
chăn nuôi thường ít quan tâm đến việc phòng trị bệnh sán lá gan cho trâu, bò.
Bệnh sán lá gan do các loài sán thuộc giống Fasciola gây ra, từ lâu đã
được coi là bệnh ký sinh trùng gây tác hại lớn cho ngành chăn nuôi trâu, bò ở
Việt Nam và nhiều nước trên thế giới. Cho đến nay, bệnh sán lá gan vẫn là
một trong những bệnh ký sinh trùng nguy hiểm không những cho gia súc mà
cả cho con người. Ở nước ta, bệnh sán lá gan ở trâu, bò được phát hiện ở khắp
các tỉnh từ Bắc đến Nam. Tỷ lệ trâu, bò nhiễm sán lá gan thường cao và nhiều
con nhiễm ở cường độ nặng. Bệnh thường tiến triển chậm với biểu hiện
không rõ ràng, không gây chết hàng loạt nhưng làm giảm quá trình sinh
trưởng và sinh sản của trâu, bò, tác động xấu đến chất lượng và sản lượng
thịt, gan và sữa, làm giảm sức đề kháng của con vật, khiến cho một số bệnh
khác dễ bùng phát. Sán lá gan ký sinh ở ống dẫn mật hút máu ký chủ, làm ký
chủ thiếu máu nặng, đồng thời sán thường xuyên tiết độc tố, độc tố hấp thu vào
máu gây huỷ hoại máu. Khi trâu, bò nhiễm nặng có rất nhiều buồng gan không
1
sử dụng được do sán gây viêm, cứng gan (Phan Địch Lân, 1985) [14]. Nhiều tác
giả cho biết, tác hại của sán lá gan ở trâu, bò rất lớn, biểu hiện rõ nhất là
thiếu máu, viêm và xơ gan khi gia súc bị nhiễm sán lá gan ở mức độ nặng.
Trong những năm gần đây, bệnh sán lá gan lớn trên người đã được phát hiện
ở nhiều tỉnh, thành trong cả nước. Thực trạng này càng làm cho vấn đề
phòng chống bệnh sán lá gan cho người và vật nuôi trở nên cấp thiết hơn.
Theo đánh giá của các nhà khoa học trong những năm qua, điều kiện tự
nhiên và xã hội ở Việt Nam nói chung và ở tỉnh Bắc Kạn nói riêng có nhiều
thay đổi. Sự thay đổi rõ nét về điều kiện thời tiết khí hậu và đời sống xã hội
đã dẫn đến hậu quả là sự phát sinh và phát triển của bệnh sán lá gan thay đổi.
Vì vậy, việc nghiên cứu về đặc điểm dịch tễ, từ đó có biện pháp phòng chống
bệnh sán lá gan cho trâu, bò ở tỉnh Bắc Kạn là vấn đề cần thiết.
Từ yêu cầu cấp bách của thực tiễn chăn nuôi trâu bò ở tỉnh Bắc Kạn,
chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá
gan (Fasciolosis) ở trâu, bò tại tỉnh Bắc Kạn và đề xuất biện pháp phòng
chống hiệu quả”.
2. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
2.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học có giá trị về đặc điểm
dịch tễ, về quy trình phòng chống bệnh sán lá gan trâu, bò, có một số đóng
góp mới cho khoa học.
2.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi áp
dụng quy trình phòng, chống bệnh sán lá gan cho trâu, bò, nhằm hạn chế tỷ lệ
và cường độ nhiễm sán lá gan, hạn chế thiệt hại do sán lá gan gây ra, góp
phần nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy ngành chăn nuôi trâu, bò ở tỉnh
Bắc Kạn phát triển.
2
3. Những đóng góp mới của đề tài
- Là công trình đầu tiên nghiên cứu có hệ thống về đặc điểm dịch tễ và
biện pháp phòng trị bệnh sán lá gan cho trâu, bò ở một số huyện trên địa bàn
tỉnh Bắc Kạn.
- Xây dựng quy trình phòng trị bệnh sán lá gan cho trâu, bò có hiệu
quả, khuyến cáo và áp dụng rộng rãi tại các nông hộ, trang trại chăn nuôi trâu,
bò tập thể và gia đình.
3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1. Vị trí của sán lá Fasciola trong hệ thống phân loại động vật học
Theo Skrjabin và cs (1977) [35] sán lá gan ký sinh và gây bệnh cho gia
súc nhai lại được xếp trong hệ thống phân loại động vật như sau:
Ngành Plathelminthes Schneider, 1873
Phân ngành Platodes Leuckart, 1854
Lớp Trematoda Rudolphi, 1808
Phân lớp Prosostomadidea Skrjabin và Guschanskaja, 1962
Bộ Fasciolida Skrjabin et Schulz, 1937
Phân bộ Fasciolata Skrjabin et Schulz, 1937
Họ Fasciolidae Railliet, 1895
Phân họ Fasciolinae Stiles et Hassall, 1898
Giống Fasciola Linnaeus, 1758
Loài Fasciola hepatica (Linnaeus, 1758)
Loài Fasciola gigantica (Cobbold, 1885)
1.1.2. Đặc điểm hình thái của sán lá Fasciola
Cũng như nhiều loài sán lá khác, sán lá gan lưỡng tính, có thể thụ tinh
chéo hoặc tự thụ tinh. Sán có giác miệng và giác bụng, giác bụng không nối
với cơ quan tiêu hoá. Sán không có hệ hô hấp, tuần hoàn và cơ quan thị giác
(ở giai đoạn mao ấu có dấu vết sắc tố mắt). Hệ sinh dục rất phát triển với cả
bộ phận sinh dục đực và cái trong cùng một sán. Tử cung sán chứa đầy trứng.
Có thể phân biệt hai loài sán lá gan thuộc giống Fasciola như sau:
* F. gigantica : Có chiều dài thân gấp 3 lần chiều rộng, “vai” không có
hoặc nhìn không rõ rệt, nhánh ruột chia toả ra nhiều nhánh ngang.
4
F. gigantica (nghĩa là sán lá “khổng lồ”) dài 25 - 75 mm, rộng 3 - 12 mm, u
lồi hình nón của đầu là phần tiếp theo của thân, vì vậy nó không có “vai” như loài
khác của giống Fasciola. Hai rìa bên thân sán song song với nhau, đầu cuối của
thân tù. Giác bụng tròn lồi ra. Ruột, tuyến noãn hoàng, buồng trứng và tinh hoàn
đều phân nhánh. Trứng hình bầu dục, màu vàng nâu, phôi bào to đều và xếp kín
vỏ. Kích thước trứng: 0,125 - 0,170 x 0,06 - 0,10 mm.
* F. hepatica: Trái với loài trên, loài này thân rộng, đầu lồi và nhô ra phía
trước làm cho sán có “vai”, nhánh ruột chia ít nhánh ngang hơn.
F. hepatica (nghĩa là sán lá ở gan) dài 18 - 51 mm, rộng 4 - 13 mm,
phần trước thân nhô ra, tạo cho sán có vai bè ra hai bên. Hai rìa bên thân sán
không song song với nhau mà phình ra ở chỗ vai rồi thót lại ở đoạn cuối thân.
Những ống dẫn tuyến noãn hoàng chạy ngang, chia vùng giữa của sán thành
phần trước và phần sau thân. Phần sau thân có tinh hoàn và bộ phận sinh dục
đực. Tinh hoàn phân nhiều nhánh xếp phía sau thân. Tử cung ở giữa phần
thân trước tạo nên một mạng lưới dày đặc. Buồng trứng phân nhánh nằm ở
sau tử cung.
Trứng sán có hình thái, màu sắc tương tự trứng của loài F. gigantica,
kích thước 0,13 - 0,145 x 0,07 - 0,09 mm.
Bệnh sán lá gan ở trâu, bò do hai loài sán lá ký sinh ở ống dẫn mật và
gan gây ra (Fasciola hepatica và Fasciola gigantica). Ngoài trâu, bò, hai loài
sán này còn gây bệnh cho các động vật nhai lại khác, đôi khi thấy cả ở người.
F. hepatica và F. giantica là hai loài sán lá phổ biến ở các vùng thuộc
châu Á và châu Phi. Tác hại của sán lá gan đối với gia súc nhai lại rất lớn,
biểu hiện rõ nhất là gây thiếu máu, viêm và xơ gan khi gia súc bị nhiễm sán lá
gan ở mức độ nặng.
1.1.3. Vòng đời của sán lá Fasciola
Trong vòng đời phát triển, sán lá gan cần trải qua 5 giai đoạn để trở
thành sán trưởng thành. Fasciola trưởng thành ký sinh trong ống dẫn mật của
trâu, bò. Sau khi thụ tinh, mỗi sán đẻ hàng chục vạn trứng. Những trứng này
5
cùng dịch mật vào ruột, sau đó theo phân ra ngoài. Nếu gặp điều kiện thuận
lợi (được nước mưa cuốn trôi xuống các vũng nước, hồ, ao, suối, ruộng
nước nhiệt độ 15 - 30
o
C, pH = 5 - 7,7, có ánh sáng thích hợp) sau 10 - 25
ngày trứng nở thành Miracidium bơi tự do trong nước. Nếu thiếu ánh sáng,
Miracidium không có khả năng thoát vỏ nhưng vẫn tồn tại đến 8 tháng trong
vỏ, Miracidium có hình tam giác, xung quanh thân có lông và di chuyển được
trong nước. Khi gặp vật chủ trung gian thích hợp (ốc Lymnaea), Miracidium
xâm nhập cơ thể ốc và phát triển thành bào ấu (Sporocyst). Những
Miracidium không gặp vật chủ trung gian thì rụng lông, rữa dần và chết.
Bào ấu (Sporocyst) hình túi, màu sáng, được bao bọc bởi lớp màng
mỏng, các tế bào ngọn lửa hoạt động hình thành hầu, ống ruột và các đám
phôi. Trong 1 ốc có thể có 1 - 2 ấu trùng. Khoảng 3 - 7 ngày, bào ấu sinh sản
vô tính cho ra nhiều Redia (lôi ấu). Một bào ấu sinh ra 5 - 15 lôi ấu.
Redia hình suốt chỉ, ít hoạt động, có miệng, hầu, ruột, hình túi đơn
giản, có hai hệ: Redia thế hệ I và Redia thế hệ II cùng phát triển trong ốc - vật
chủ trung gian. Ở nhiệt độ phù hợp (20 - 30
0
C), sau 29 - 35 ngày, lôi ấu biến
thành vĩ ấu (Cercaria). Một Redia có thể sinh ra 12 - 20 Cercaria.
Cercaria (vĩ ấu) là ấu trùng ở pha sống tự do của sán lá gan, có cấu tạo
thân hình tròn lệch, đuôi dài hơn thân giúp vĩ ấu vận chuyển được dễ dàng
trong nước. Cấu tạo của vĩ ấu gồm giác miệng, giác bụng, hầu, thực quản và
ruột phân thành hai nhánh.
Theo Ginyecisz - Kaija (1960), trong cơ thể Cercaria còn có những hạt
Glycogen cung cấp năng lượng cho hoạt động sống của ấu trùng, đặc biệt là
cho sự vận động không ngừng của đuôi. Đuôi là cơ quan vận động của vĩ ấu.
Theo một số tác giả, đuôi làm nhiệm vụ thay đổi vị trí của ấu trùng trong môi
trường nước. Nhờ sự hoạt động tích cực của đuôi mà vĩ ấu tiếp cận để bám
vào các cây thuỷ sinh, tạo thành kén (Adolescaria).
6
Từ khi Miracidium chui vào ốc đến khi phát triển thành Cercaria cần
khoảng 50 - 80 ngày. Sau khi thành thục, Cercaria thoát khỏi ốc, ra môi trường
ngoài, bơi tự do trong nước, có kích thước 0,28 - 0,30 mm chiều dài và 0,23 mm
chiều rộng. Sau vài giờ bơi trong nước, Cercaria rụng đuôi, tiết chất nhầy xung
quanh thân, chất nhầy gặp không khí khô rất nhanh. Lúc này Cercaria đã biến
thành Adolescaria.
Adolescaria hình khối tròn, bên trong chứa phôi hoạt động. Phôi có
giác miệng, giác bụng, ruột phân nhánh và túi bài tiết. Adolescaria thường ở
trong nước hoặc bám vào cây cỏ thuỷ sinh. Nếu trâu, bò, dê nuốt phải
Adolescaria, vào đến dạ dày và ruột, lớp vỏ ngoài bị phân huỷ, ấu trùng được
giải phóng và di chuyển đến ống mật bằng 3 con đường:
- Một số ấu trùng dùng tuyến xuyên chui qua niêm mạc ruột, vào tĩnh
mạch ruột, qua tĩnh mạch cửa vào gan, xuyên qua nhu mô vào ống mật.
- Một số ấu trùng khác cũng dùng tuyến xuyên chui qua thành ruột vào
xoang bụng, đến gan, xuyên qua vỏ gan vào ống mật.
- Một số ấu trùng từ tá tràng ngược dòng dịch mật để lên ống dẫn mật.
Sau khi vào ống dẫn mật, ấu trùng ký sinh ở đó và phát triển thành sán
lá gan trưởng thành, thời gian hoàn thành vòng đời là 92 - 117 ngày. Fasciola
trưởng thành có thể ký sinh trong ống dẫn mật của súc vật nhai lại 3 - 5 năm,
có khi tới 11 năm.
Theo Phan Địch Lân (1994, 2004) [15], khoa học thú y nước ta đã
nghiên cứu thành công vòng đời của sán lá gan. Trong điều kiện nhiệt độ
thích hợp (28 - 30
0
C), có ốc vật chủ trung gian (Lymnae swinhoei và Lymnae
viridis), có vật chủ cuối cùng (trâu, bò, dê, cừu) thì vòng đời của sán lá gan ở
nước ta được xác định với các mức thời gian sau:
- Ở ngoài thiên nhiên: Trứng sán lá gan nở thành mao ấu (Miracidium)
trong khoảng 14 - 16 ngày.
7
- Ở trong ốc vật chủ trung gian:
Mao ấu (Miracidium) phát triển thành bào ấu (Sporocyst) cần 7 ngày.
Bào ấu (Sporocyst) phát triển thành lôi ấu (Redia) cần 8 - 21 ngày.
Lôi ấu (Redia) phát triển thành vĩ ấu (Cercaria) non cần 7 - 14 ngày,
thành vĩ ấu trưởng thành cần 13 - 14 ngày.
- Ở ngoài ốc vật chủ trung gian: Vĩ ấu phát triển thành kén
(Adolescaria) sau 2 giờ.
- Ở trâu, bò: Khi trâu, bò, bê, nghé nuốt phải Adolescaria, sau 79 - 88
ngày trong ống dẫn mật của trâu, bò đã có sán lá gan trưởng thành đẻ trứng
theo phân ra ngoài.
Điều kiện nhiệt độ và ẩm độ của nước ta rất thuận lợi cho sự nhiễm và
gây bệnh của sán lá gan (kể cả gây nhiễm và nhiễm tự nhiên). Ở những vùng có
mầm bệnh tồn tại, cứ trung bình 3 tháng sán lá gan lại hoàn thành vòng đời trong
cơ thể trâu, bò, nghĩa là trong trâu, bò lại tạo ra một đời sán mới. Con vật trong khi
đã có sán lá gan ký sinh lại tiếp tục nhiễm thêm mầm bệnh mới, gây tình trạng bội
nhiễm sán lá gan, vì vậy cường độ nhiễm tăng lên theo tuổi trâu, bò.
Tóm tắt sơ đồ vòng đời của sán lá Fasciola
Fasciola
(ống dẫn mật)
Phân Trứng As, t
o
, pH
Mao ấu
Ốc
nước
ngọt
Trâu

nuốt
phải
nang
ấu
Môi trường nước

7 ngày
Bào ấu
8-21 ngày
Lôi ấu
Nang ấu
Rời KCTG
sau 2giờ
20-28 ngày
Vĩ ấu
(lơ lửng trong nước hoặc bám vào
cây cỏ thuỷ sinh)
Sơ đồ vòng đời của sán lá gan
8
1.1.4. Đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá Fasciola
Bệnh sán lá gan phổ biến ở khắp các châu lục và nhiều nước trên thế
giới. Ở Việt Nam, bệnh thấy ở khắp các tỉnh thành trong cả nước.
Trịnh Văn Thịnh (1978) [28] cho biết, trâu trưởng thành mắc bệnh sán
lá gan do F. gigantica, tỷ lệ nhiễm tới 50 - 70%. Theo Phan Địch Lân (1980),
mổ khám 1.043 trâu ở Thái Nguyên, số trâu nhiễm sán lá gan là 57%, trong
đó có nhiều gan phải huỷ bỏ do số lượng sán quá nhiều. Kết quả điều tra ở
huyện Bình Lục - Nam Hà, tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở trâu là 51,2 - 57,5%.
Đoàn Văn Phúc (1980) [19] đã kiểm tra 64 bò tại trại bò sữa Hà Nội,
thấy tỷ lệ nhiễm sán Fasciola là 73,43%. Tác giả còn cho biết, bệnh sán lá
gan đã ảnh hưởng rõ rệt đến sức khoẻ và sản lượng sữa của đàn bò.
Đoàn Văn Phúc và cs (1995) [21] cho biết, trâu bò thuộc khu vực Hà
Nội nhiễm sán lá gan tỷ lệ 53,41%.
Kết quả kiểm tra trâu, bò ở một số địa phương xung quanh Hà Nội, Bắc
Giang, Thái Nguyên, Hoà Bình, tỷ lệ nhiễm sán lá gan là 44,53%. Trong đó, trâu
nhiễm 33,92%, bò nhiễm 54,21% (Lương Tố Thu và cs, 1996 [29]).
Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan ở gia súc nhai lại phụ thuộc vào
những yếu tố sau:
- Yếu tố thời tiết, khí hậu và mùa vụ:
Thời tiết, khí hậu của một vùng, một khu vực có liên quan trực tiếp đến
sự tồn tại và phát triển của ốc - vật chủ trung gian của sán lá gan. Điều kiện
ẩm ướt, mưa nhiều tạo ra môi trường nước, giúp ốc nước ngọt sống và sinh
sản thuận lợi.
Trịnh Văn Thịnh (1963) [27], Trịnh Văn Thịnh và cs (1978) [28] Phạm
Văn Khuê và cs (1996) [4], Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [8] đều cho
biết, gia súc nhai lại nhiễm sán lá gan thường tăng lên vào mùa vật chủ trung
gian phát triển. Những năm mưa nhiều, tỷ lệ nhiễm sán lá gan tăng lên so với
9
những năm nắng ráo và khô hạn. Mùa vụ gắn liền với sự thay đổi thời tiết khí
hậu. Mùa Hè - Thu, số gia súc bị nhiễm sán lá gan tăng cao hơn các mùa khác
trong năm. Cuối mùa thu và mùa đông bệnh thường phát ra.
- Yếu tố vùng và địa hình:
Vùng và địa hình là hai khái niệm khác nhau, song có liên quan chặt
chẽ với nhau. Các vùng khác nhau có địa hình không giống nhau. Địa hình là
yếu tố quan trọng quyết định sự khác nhau giữa các vùng.
Các vùng khác nhau trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng
đều thuộc bốn loại địa hình: ven biển, đồng bằng, trung du và miền núi.
Hầu hết các nhà ký sinh trùng học thống nhất rằng, gia súc nhai lại ở
vùng đồng bằng nhiễm sán lá gan nhiều nhất, tỷ lệ và cường độ nhiễm giảm
dần đối với đàn gia súc nhai lại ở vùng ven biển, vùng trung du và vùng núi.
Về nguyên nhân dẫn đến quy luật này, các tác giả Trịnh Văn Thịnh (1963)
[27]; Phạm Văn Khuê và cs (1996) [4]; Kaufmann (1996) [45] ) đều giải
thích: vùng đồng bằng có nhiều hồ, ao, kênh, rạch, có điều kiện cho ốc - vật
chủ trung gian sống và sinh sản. Các kiểu địa hình khác thì vấn đề này hạn
chế hơn so với đồng bằng.
Phan Địch Lân (1994, 2004) [15] đã điều tra 7.359 trâu, bò ở 26 tỉnh
miền Bắc Việt Nam, kết quả thấy: Trâu, bò ở vùng đồng bằng nhiễm sán lá
gan cao nhất, sau đó đến vùng trung du, vùng ven biển và miền núi (bình
quân tỷ lệ nhiễm sán ở các vùng điều tra như sau: vùng đồng bằng từ 19,6%
đến 61,3%, vùng trung du từ 16,4% đến 50,2%, vùng ven biển từ 13,7% đến
39,6%, vùng núi từ 14,7% đến 44,0%). Theo Lương Tố Thu (2000), tỷ lệ
nhiễm sán lá gan ở trâu, bò vùng đồng bằng qua mổ khám là 88%, vùng trung
du là 77,6%.
- Yếu tố loài và tuổi vật chủ cuối cùng:
Súc vật nhai lại đã được thuần hoá như trâu, bò, dê, cừu đều nhiễm sán
lá gan Fasciola. Ngoài ra, súc vật hoang dã cũng nhiễm sán lá này (hươu, nai,
10
hoẵng ). Cũng có những trường hợp thỏ, ngựa, lợn nhiễm Fasciola, ngay cả
người cũng có thể nhiễm sán.
Ở nước ta, theo Trịnh Văn Thịnh và cs (1978) [28], Phạm Văn Khuê và
cs (1996) [4], loài súc vật nhiễm sán lá Fasciola nhiều nhất là trâu (79,6%), bò ít
hơn (36%), dê ít nhất (20%). Sở dĩ trâu nhiễm sán lá gan nhiều là do đặc tính ưa
nước của chúng (thích ăn gần chỗ có nước, đằm tắm trong nước và uống nước ở
vũng, ao, kênh rạch), trong khi đặc điểm của bò và dê ít ưa nước hơn.
Về mối liên quan giữa tỷ lệ, cường độ nhiễm sán lá gan và tuổi vật chủ,
các tác giả đều thống nhất rằng, tuổi súc vật càng cao thì tỷ lệ và cường độ
nhiễm càng tăng lên. Một điều dễ nhận thấy là, súc vật tuổi càng tăng lên
(thời gian sống càng dài) thì sự tiếp xúc với môi trường ngoại cảnh càng
nhiều, cơ hội gặp và nuốt phải nang ấu (Adolescaria) càng cao. Mặt khác, sán
Fasciola trưởng thành có thời gian ký sinh ở súc vật nhai lại tương đối dài (3
- 5 năm, thậm chí tới 11 năm). Đó chính là cơ sở khoa học giải thích cho quy
luật nhiễm theo tuổi vật chủ của sán lá Fasciola spp
Phan Địch Lân (1994, 2004) [15] cho biết, trâu dưới 3 năm tuổi chỉ
nhiễm sán lá gan 17,2 - 22,0%; trâu 3 - 5 năm tuổi nhiễm sán lá gan 31,2 -
40,2%, trâu 5 - 8 năm tuổi nhiễm 42,4 - 57,5%, trâu trên 8 năm tuổi nhiễm
56,8 - 66,3%, trâu ở độ tuổi phế canh (loại thải) khi mổ khám thấy tỷ lệ nhiễm
cao tới 84,6% (những trâu này bị bệnh rất nặng, gan phải huỷ bỏ toàn bộ do
có quá nhiều sán ký sinh). Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2000) [9], tỷ lệ và
cường độ nhiễm sán lá gan cũng tăng lên theo tuổi dê.
Nguồn gieo rắc bệnh chủ yếu là súc vật nuôi (trâu, bò, dê, cừu ) và
những dã thú mang Fasciola. Trứng sán lá gan theo phân của súc vật ra ngoài
tự nhiên. Hàng năm, mỗi sán lá gan ký sinh đẻ khoảng 6000 trứng. Vì vậy,
mỗi súc vật mang sán hàng năm thải khối lượng trứng khá lớn ra đồng cỏ và
các bãi chăn thả. Những đồng cỏ ẩm thấp, lầy lội là những nơi cần thiết để mầm
bệnh phát triển và xâm nhập vào súc vật, đồng thời thuận lợi cho trứng
11
nở thành Miracidium và thuận lợi cho vật chủ trung gian của Fasciola
tồn tại và phát triển.
- Vật chủ trung gian của Fasciola spp.
Sự phân bố các loài ốc - vật chủ trung gian của sán lá gan phụ thuộc
vào các vùng địa lý khác nhau. Theo Phạm Văn Khuê và cs (1996) [4],
Kaufmann (1996) [45], vật chủ trung gian của sán lá Fasciola là các loài ốc
nước ngọt họ Lymnaea: L. auricularia, L. swinhoei, L. viridis, Galba
truncatula, Radix ovata
Phan Địch Lân (1985) [14], đã tổng hợp và cho biết: Loài ốc - vật chủ
trung gian của F. gigantica ở Ấn Độ là L. acuminata, ở châu Phi là L.
natalensis, ở Pakistan là L. permisca, ở Apganixtan là L. luteola, ở Malaixia là
L. auricularia, ở Nhật Bản là L . pervia, ở Indonexia và Philippine là L. viridis,
ở Hungari là G. truncatula
Theo Jorgen Hansen và cs (1994) [44], nhiệt độ thích hợp nhất cho sự
phát triển của ốc là 15 - 26
0
C, khi ở nhiệt độ này chúng đẻ số lượng trứng rất
lớn. Trứng nở trong vòng 2 tuần và sau 1 tháng thành ốc trưởng thành. Một
con ốc trong vòng 10 - 12 tuần có thể sinh sản ra hàng ngàn con ốc. Ở dưới
10
0
C, ốc không phát triển và ngừng hoạt động. Tuy nhiên, ốc có thể chui vào
bùn và sống trong điều kiện bất lợi nhiều tháng.
Phan Địch Lân và cs (1985) [14] đã khảo sát đặc điểm sinh học của ốc -
vật chủ trung gian của F. gigantica ở miền Bắc Việt Nam. Tác giả cho biết,
vật chủ trung gian của sán lá Fasciola là hai loài ốc nước ngọt thuộc giống
Lymnae với tên gọi là ốc vành tai (L. swinhoei) và ốc chanh (L. viridis). Loài
L. swinhoei có vỏ mỏng, dễ vỡ, không có nắp miệng, kích thước 20 mm, vòng
xoắn cuối cùng rất lớn, chiếm gần hết phần thân, vỏ loe ra như vành tai. Loài
L. viridis cũng có vỏ mỏng, không có nắp miệng, dài 10 mm, vỏ dễ vỡ, có 4 -
5 vòng xoắn, vòng xoắn cuối cùng lớn. Năm 2009,Viện sinh thái và Tài
nguyên sinh vật đã tìm thấy 3 loài ốc sau:
12
Ốc L. viridis thường sống ở những nơi nước xâm xấp, đẻ trứng thành ổ
7 - 10 trứng, sau 7 ngày nở thành ốc con. Ốc L. swinhoei thường sống trôi nổi
ở cống rãnh, ao, hồ, đẻ trứng quanh năm, mỗi ổ có 60 - 150 trứng. Trong điều
kiện nhiệt độ ở nước ta, ốc đẻ quanh năm và quanh năm có ốc con được nở ra.
Phan Địch Lân (1994, 2004) [15] cho biết: ốc L. swinhoei phân bố nhiều
hơn ở vùng đồng bằng, trong khi ốc L. viridis phân bố nhiều hơn ở vùng núi,
trung du và ven biển. Theo kết quả nghiên cứu của tác giả thì hai loài ốc này đều
xuất hiện trong cả 12 tháng của năm, nhưng mật độ (tính trên 1 m
2
) khác nhau
theo vùng: vùng đồng bằng, mật độ ốc L. swinhoei cao hơn và phân bố đều trong
năm, còn ốc L. viridis thì xuất hiện với mật độ cao hơn ở các vùng núi, trung du,
ven biển. Từ đó, tác giả nhận xét rằng, L. swinhoei chịu nước hơn, còn L. viridis
chịu cạn hơn.
Sự tồn tại và phát triển quanh năm ở tất cả các vùng của ốc - vật chủ
trung gian là điều kiện quan trọng nhất làm cho tỷ lệ nhiễm sán lá gan của súc
vật nhai lại ở nước ta cao và phổ biến ở tất cả các vùng. Phan Địch Lân (1994,
2004) [15] đã tổng hợp và cho biết, nước ta được xếp vào một trong 5 nước ở
Châu Á trồng lúa nước có đàn trâu, bò nhiễm bệnh sán lá gan với tỷ lệ cao
nhất. Kết quả điều tra ở một số vùng cho thấy:
Ở 11 tỉnh miền núi, tỷ lệ nhiễm sán lá gan của trâu bò là 39%.
Ở 4 tỉnh trung du, tỷ lệ nhiễm sán lá gan của trâu bò là 42,2%.
Ở 5 tỉnh thuộc vùng đồng bằng, tỷ lệ nhiễm sán lá gan là 57,5%.
Ở 6 tỉnh thuộc vùng ven biển, tỷ lệ nhiễm sán lá gan là 36,7%.
Theo Nguyễn Trọng Kim (1997) [5], giữa tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán lá
gan của ốc - vật chủ trung gian với tỷ lệ nhiễm sán lá gan của trâu, bò có mối
tương quan thuận, nghĩa là, nếu tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán lá gan ở ốc nước
ngọt cao thì tỷ lệ nhiễm sán lá gan của trâu, bò ở khu vực đó cũng cao.
13
- Sức đề kháng của trứng và ấu trùng sán lá gan:
Trứng sán lá gan được thải theo phân súc vật nhai lại ra môi trường
ngoại cảnh. Trứng sán rất nhậy cảm với điều kiện khô hạn và tác động trực tiếp
của ánh sáng mặt trời. Ở trong phân khô, phôi ngừng phát triển, trứng bị chết sau
8 - 9 ngày.
Trong điều kiện khô hạn, vỏ trứng bị nhăn nheo, biến đổi hình dạng,
Miracidium bị chết trong vỏ trứng sau 1 - 1,5 ngày. Ở môi trường ẩm ướt, trứng
có khả năng sống khá lâu (trong phân hơi ẩm, trứng tồn tại đến 8 tháng). Dưới ánh
nắng chiếu trực tiếp, trứng chết nhanh. Phôi bị chết sau 2 ngày ở nhiệt độ
thấp (-5
0
C → - 15
0
C). Nhiệt độ 10 - 20
0
C, trứng ngừng phát triển. Nhiệt độ
40 - 50
0
C, phôi chết sau vài phút (Phạm Văn Khuê và cs 1996 [4]).
Khi phát triển đến giai đoạn nang ấu (Adolescaria), sức đề kháng của
chúng tăng lên rõ rệt. Adolescaria có khả năng tồn tại ở nhiệt độ -4
0
C → -6
0
C.
Ở điều kiện nhiệt độ bình thường, những Adolescaria có trong cỏ khô bị ẩm và
trong môi trường nước có thể tồn tại đến trên 5 tháng (Kaufmann (1996) [45]).
1.1.5. Bệnh lý và lâm sàng bệnh sán lá gan ở trâu, bò
* Bệnh lý của bệnh sán lá gan trâu, bò:
Theo các nhà ký sinh trùng học, sán lá gan gây bệnh ở vật chủ bằng các
tác động cơ học, tác động của độc tố, sự chiếm đoạt dinh dưỡng và tác động
mang trùng. Khi súc vật mới nhiễm bệnh, sán non di hành trong cơ thể làm
tổn thương ở ruột, thành mạch máu, nhu mô gan. Một số ấu trùng có thể theo
máu di chuyển “lạc chỗ” đến phổi, lách, cơ hoành, tuyến tuỵ gây tổn thương
và xuất huyết nặng hoặc nhẹ. Sán non xuyên qua các nhu mô gan, làm tổ chức
gan bị phá hoại, tạo ra những đường di hành đầy máu và mảnh tổ chức gan bị
phá huỷ. Gan bị viêm từ nhẹ đến nặng tuỳ theo số lượng ấu trùng nhiễm vào
cơ thể. Súc vật bị thiếu máu do xuất huyết, có thể chết do mất máu.
14
Tác động cơ giới của sán còn tiếp tục khi sán đã vào ống dẫn mật, tiếp
tục tăng lên về kích thước và phát triển thành sán trưởng thành. Sán trưởng
thành thường xuyên kích thích niêm mạc ống dẫn mật bằng các gai cutin trên
cơ thể, gây viêm ống mật. Số lượng sán nhiều có thể làm tắc ống mật, mật ứ
lại không xuống ruột được sẽ tràn vào máu, gây hiện tượng hoàng đản.
Trong quá trình ký sinh sán thường tiết độc tố. Độc tố tác động vào
thành ống dẫn mật và mô gan, gây biến đổi đại thể và vi thể, làm tăng quá
trình viêm. Đồng thời, độc tố của sán còn hấp thu vào máu, gây hiện tượng
trúng độc toàn thân, gây huỷ hoại máu, làm biến chất protein trong máu, làm
Albumin giảm, globulin tăng. Độc tố của sán còn làm tăng nhiệt độ cơ thể,
tăng bạch cầu (đặc biệt là bạch cầu ái toan). Độc tố của sán còn tác động vào
thần kinh, làm cho con vật có triệu chứng thần kinh (run rẩy, đi xiêu vẹo…).
Độc tố của sán lá gan tác động vào thành mạch máu, làm tăng tính thấm của
thành mạch, gây hiện tượng thuỷ thũng, làm cho máu đặc lại. Cũng do tác
động của độc tố nên giữa những tiểu thuỳ gan có hiện tượng thấm nhiễm
huyết thanh và tế bào, hình thành nên các mô liên kết mới dọc theo các vách
ngăn của tiểu thuỳ gan và quanh ống mật, vì vậy những ống mật này cũng dày
lên. Quá trình viêm kéo dài làm cho các tế bào tổ chức tăng sinh, thay thế
những tế bào nhu mô gan, gây hiện tượng xơ gan và teo gan. Khi súc vật
nhiễm sán lá gan nặng, hiện tượng xơ gan chiếm diện tích lớn của gan, làm
cho chức năng của gan bị phá huỷ. Từ đó dẫn đến hàng loạt rối loạn khác
như: rối loạn cơ năng dạ dày - ruột, thiếu máu, suy nhược, gầy dần, cổ
chướng, xoang phúc mạc tích nước.
Một tác động quan trọng của Fasciola khi ký sinh ở vật chủ là chiếm
đoạt dinh dưỡng. Dinh dưỡng của sán lá gan là máu súc vật mà nó ký sinh.
Bằng phương pháp phóng xạ người ta đã thấy mỗi sán ký sinh ở ống dẫn mật
lấy 0,2 ml máu mỗi ngày. Như vậy, nếu súc vật nhiễm ít sán thì vai trò chiếm
15
đoạt chất dinh dưỡng không rõ, nhưng nếu súc vật có hàng trăm, hàng nghìn
sán ký sinh thì lượng máu mất đi rất nhiều.
Ngoài các tác động gây bệnh trên, trong khi di hành, sán non còn mang
theo các loại vi trùng từ bên ngoài vào máu, gan và những cơ quan khác, gây
những bọc mủ hoặc gây bệnh truyền nhiễm khác.
Tất cả những tác động trên của sán lá Fasciola làm cho sức đề kháng
của cơ thể trâu, bò giảm sút nghiêm trọng, dễ mắc các bệnh khác, hoặc làm
cho các bệnh đang có trong cơ thể súc vật nặng thêm lên.
Daves (1958) nhận xét rằng, gia súc bị suy nhược và thiếu máu là do
độc tố của F. gigantica, độc tố của sán còn tác động gây hiện tượng protein
trong huyết thanh biến chất, lượng Albumin giảm và Globulin tăng. Quá trình
dị ứng của cơ thể súc vật là kết quả tác động của các kháng nguyên sinh ra từ
sán với kháng thể xuất hiện trong tổ chức gan, và các chất sinh ra từ tổ chức
khác bị huỷ hoại. Quá trình dị ứng dẫn đến những rối loạn đầu tiên, biểu hiện
bằng hiện tượng suy dinh dưỡng, thiếu vitamin A, bằng sự tăng quá nhiều
bạch cầu ái toan trong cơ thể.
* Triệu chứng bệnh sán lá gan ở trâu, bò:
Triệu chứng lâm sàng là biểu hiện ra bên ngoài bởi các tác động gây
bệnh của sán Fasciola. Triệu chứng ở trâu, bò biểu hiện nặng hay nhẹ còn phụ
thuộc vào cường độ nhiễm sán, tình trạng sức khoẻ và tuổi của súc vật, tình
trạng chăm sóc quản lý…
- Thể cấp tính thường gặp ở trâu, bò 1,5 - 2 năm tuổi (Phạm Văn Khuê
và cs, 1996) [4], trong giai đoạn sán non di hành hoặc khi nuôi dưỡng, chăm
sóc kém.
Súc vật biểu hiện: Ăn uống sút kém, suy nhược, chướng bụng, ỉa chảy,
miệng hôi, sốt, gan sưng to và đau, thiếu máu, vàng da, đôi khi có triệu chứng
thần kinh (lảo đảo, xiêu vẹo). Súc vật có thể chết do xuất huyết nặng, trúng
độc và suy nhược cơ thể.
16
- Thể mãn tính thấy phổ biến ở trâu, bò trưởng thành, khi súc vật được
nuôi dưỡng tốt và sán đã ở giai đoạn trưởng thành, ký sinh trong ống dẫn mật
với số lượng ít. Thể mãn tính thường xuất hiện sau thể cấp tính 1 - 2 tháng.
Súc vật biểu hiện: Ăn uống kém, suy nhược, niêm mạc nhợt nhạt, lông
xù và dễ rụng (nhất là lông ở vùng dọc hai bên sườn và dọc xương ức). Xuất
hiện thuỷ thũng ở mí mắt, yếm, ngực, bộ phận sinh dục. Thuỷ thũng ban đầu
lúc thấy, lúc không, về sau thấy liên tục. Con vật nhai lại yếu, khát nước, ỉa
chảy xen kẽ táo bón, gày yếu dần. Giai đoạn sau đi tháo nhiều hơn và gầy rất
nhanh. Kiểm tra lâm sàng thấy gan sưng to và đau. Có thể thấy hiện tượng sảy
thai ở bò cái bị bệnh, lượng sữa có thể giảm 30 - 50%. Triệu chứng thần kinh
cũng có thể gặp song rất hiếm. Bệnh kéo dài nhiều tháng, con vật có thể chết do
suy nhược toàn thân.
Phan Địch Lân (1994, 2004) [15] đã theo dõi 37 trâu bị bệnh sán lá gan
nặng, thấy các triệu chứng thường lặp đi lặp lại như: gày rạc, suy nhược cơ
thể (37/ 37); phân nhão không thành khuôn, có lúc ỉa lỏng (32/ 37); niêm mạc
mắt nhợt nhạt, thiếu máu kéo dài (27/ 37); lông xù, da mốc, lông dễ rụng (26/
37); phân đen, thối khắm (22/ 37); mắt sâu, có dử (18/ 37); bụng ỏng, ỉa chảy
kéo dài (13/ 37); thuỷ thũng ở nách, hai chân trước, gan to (11/ 37); thuỷ
thũng ở ngực, ức liên tục (9/ 37).
Nhìn chung, khi súc vật bị bệnh sán lá gan kéo dài, cơ thể suy nhược
nặng, nếu không được điều trị kịp thời thì súc vật thường chết.
* Bệnh tích của trâu, bò mắc bệnh sán lá gan:
Tuỳ theo mức độ nhiễm sán mà bệnh tích có sự khác nhau.
Đối với trâu bò nhiễm sán nặng, bệnh tích thấy rõ là viêm gan cấp tính,
gan sưng to, màu nâu sẫm, sung huyết. Trên mặt gan có thể thấy những đường
di hành của sán non tạo thành những vệt đỏ thẫm, dài 2 - 4 mm, trong có sán
non với số lượng nhiều. Lớp thanh mạc xuất huyết nhẹ, đôi khi có tơ huyết.
17
Khi nhiễm nặng thấy viêm phúc mạc, gan xuất huyết nhiều, niêm mạc mắt
nhợt nhạt.
Ở những súc vật nhiễm sán lá gan đã lâu, gan viêm mãn tính, những
chỗ mô gan bị phá huỷ có sẹo mầu vàng xám. Gan xơ cứng, niêm mạc ống
dẫn mật dầy, có hiện tượng canxi hoá mặt trong thành ống. Lòng ống dẫn mật
giãn rộng, chứa đầy dịch màu nâu và sán Fasciola. Khi ống mật bị canxi hoá
nhiều, sán ở chỗ đó thường bị chết hoặc chuyển đến chỗ ít biến đổi hơn.
Ngoài gan và ống mật, đôi khi còn thấy sán ở phổi trâu, bò. Trường hợp
này sán ở trong những bọc bằng quả trứng gà hoặc nhỏ hơn, trong chứa dịch
màu nâu.
Quan sát biến đổi vi thể dưới kính hiển vi thấy: Nhu mô gan mất màu,
liên bào ống mật thoái hoá, niêm mạc tăng sinh thành những u, trong u chứa
nhiều bạch cầu, lâm ba cầu, bạch cầu ái toan, đại thực bào chứa đầy sắc tố mật
và máu. Quá trình viêm tăng sinh lan xuống lớp sâu hơn của ống mật: Tổ chức
liên kết tăng sinh, lan vào các thuỳ gan làm tan biến tổ chức gan, Phạm Văn
Khuê và cs (1996) [4] .
Nghiên cứu bệnh sán lá gan ở trâu, bò, Phan Địch Lân (1994 - 2004)
[15], cho biết: Khi mổ khám trâu, bò bị bệnh sán lá gan thấy có bệnh tích đặc
biệt là gan to hơn nhiều so với bình thường (gấp 2 - 3 lần). Gan màu đỏ sẫm,
biểu hiện sung huyết. Dưới vỏ gan thấy ứa nước, trên mặt gan còn giữ lại
những đường ngoằn ngoèo do sán di hành. Tổ chức liên kết phát triển tạo nên
những sẹo đặc biệt. Trong gan còn thấy những sán non không đến được ống
dẫn mật, đóng kén và chết trong kén to bằng hạt đậu. Cắt tổ chức gan thấy lạo
xạo do biến chất thoái hoá. Do tăng sinh tổ chức liên kết nên gan cứng và xơ
gan. Trường hợp viêm phúc mạc xoang bụng chứa nhiều nước (cổ chướng).
Nguyễn Thị Kim Thành và cs (1996) [25], đã nghiên cứu một số chỉ
tiêu sinh lý máu của trâu bị bệnh sán lá gan, kết quả thấy: Số lượng hồng cầu
18
giảm, hàm lượng huyết sắc tố giảm, số lượng bạch cầu tăng, công thức bạch
cầu thay đổi nghiêng về bạch cầu ái toan.
1.1.6. Chẩn đoán bệnh do sán lá Fasciola gây ra
Việc chẩn đoán có thể tiến hành trên súc vật còn sống hoặc đã chết.
Tuỳ điều kiện thực tế mà áp dụng biện pháp phù hợp.
* Đối với súc vật còn sống:
Để chẩn đoán bệnh do Fasciola gây ra, thường áp dụng các biện pháp
như: chẩn đoán lâm sàng, kết hợp đặc điểm dịch tễ học, xét nghiệm phân con
vật nghi bệnh và chẩn đoán miễn dịch học.
Triệu chứng lâm sàng của bệnh sán lá gan thường thấy nhất là: Kiệt
sức, suy nhược, rụng lông, phù thũng ở ngực, ức Tuy nhiên, các biểu hiện
trên không chỉ thấy ở bệnh do Fasciola gây nên. Vì vậy, triệu chứng lâm sàng
không phải là căn cứ duy nhất để kết luận bệnh.
Những dẫn liệu dịch tễ học của bệnh cần xem xét là: Yếu tố mùa vụ,
vùng và tuổi súc vật bệnh. Song, những dẫn liệu này cũng chỉ là những thông
tin cần xem xét trong chẩn đoán chứ không phải là sở cứ quan trọng nhất để
kết luận về bệnh.
Việc xét nghiệm phân tìm trứng Fasciola là biện pháp có tính quyết
định trong chẩn đoán. Thường dùng phương pháp gạn rửa nhiều lần. Theo
Phạm Văn Khuê và cs (1996) [4], phương pháp này phổ biến nhưng chưa phát
hiện được tất cả mọi gia súc nhiễm sán Fasciola, nhất là ở những súc vật
nhiễm ít hoặc ở giai đoạn sán còn non. Khi xét nghiệm phân, cần phân biệt
trứng Fasciola với trứng Paramphistomum ký sinh ở dạ cỏ (phân biệt về màu
sắc, hình dạng, tế bào noãn hoàng và kích thước).
Phương pháp miễn dịch học để phát hiện súc vật nhiễm Fasciola đã
được sử dụng là: Dùng kháng nguyên tiêm nội bì, căn cứ vào phản ứng ở nơi
tiêm để kết luận. Các phương pháp khác như: Phương pháp miễn dịch men
ELISA, phương pháp miễn dịch huỳnh quang có thể áp dụng trong chẩn
19
đoán bệnh sán lá gan. Tuy nhiên, do khó khăn về nguyên liệu và việc chế
kháng nguyên chuẩn nên các phương pháp này còn ít được dùng để chẩn đoán
bệnh ký sinh trùng nói chung và bệnh sán lá gan nói riêng.
* Đối với súc vật chết:
Khi súc vật chết, mổ khám tìm sán Fasciola ở giai đoạn ấu trùng và
trưởng thành trong ống dẫn mật, gan, xoang bụng Phương pháp này chính
xác hơn cả, vì tìm thấy cả sán non ở giai đoạn di hành
1.1.7. Phòng và trị bệnh
* Điều trị bệnh:
Hiện nay, có thể tẩy sán lá gan cho gia súc nhai lại bằng một trong các
loại thuốc sau:
- Thuốc Dertil: Dertil là thuốc có tác dụng đặc hiệu với sán lá gan
Fasciola. Dertil được bào chế thành viên to, màu xanh lá cây đậm. Viên
Dertil “O” có chứa 100 mg hoạt chất, viên Dertil “B” chứa 300 mg hoạt chất.
Dertil có tác dụng diệt sán lá gan trưởng thành ở gia súc nhai lại, với
liều cao còn diệt được cả sán non đang di hành trong nhu mô gan. Thuốc chỉ
cần dùng một lần, không cần điều trị lặp lại. Thuốc Dertil được chỉ định điều
trị bệnh sán lá gan cấp tính và mãn tính cho gia súc nhai lại.
Liều lượng:
Bò: 5 - 6 mg/ kg TT.
Trâu: 8 - 9 mg/ kg TT
Cho từng cá thể uống thuốc, hoặc gói thuốc vào lá chuối non, đưa sâu
vào miệng cho con vật nuốt.
- Thuốc Fasciolid (tên khác: Fasciolidum):
Thuốc được bào chế dưới dạng dung dịch màu vàng nâu, chứa 25%
hoạt chất là Nitroxinil. Fasciolid có tác dụng tẩy sán lá gan Fasciola dạng
trưởng thành, được chỉ định tẩy sán lá gan cho gia súc nhai lại.
20

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×