Tải bản đầy đủ

Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng và năng suất của cây dong riềng tại huyện ba bể, tỉnh bắc kạn

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CT : Công thức
Đ/C : Đối chứng
HTX : Hợp tác xã
KL : Khối lượng
NS : Năng suất
TL : Tỷ lệ
XDCB : Xây dựng cơ bản

i
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.6: Kết quả hạch toán kinh tế của các mật độ trồng dong riềng
trong thí nghiệm
Bảng 3.6: Kết quả hạch toán kinh tế của các mật độ trồng dong riềng
trong thí nghiệm
3.2.6. Hạch toán hiệu quả kinh tế của các mật độ trồng dong riềng trồng
trên đất ruộng 1 vụ
3.2.6. Hạch toán hiệu quả kinh tế của các mật độ trồng dong riềng trồng
trên đất ruộng 1 vụ
Bảng 3.9: Kết quả hạch toán kinh tế của các mật độ trồng dong riềng
Bảng 3.9: Kết quả hạch toán kinh tế của các mật độ trồng dong riềng

3.3.3. Hạch toán hiệu quả kinh tế của các mức bón phân đạm cho dong
riềng trồng trên đất đồi tại huyện Ba Bể
3.3.3. Hạch toán hiệu quả kinh tế của các mức bón phân đạm cho dong
riềng trồng trên đất đồi tại huyện Ba Bể
Bảng 3.12: Kết quả hạch toán kinh tế của các mức bón phân đạm
Bảng 3.12: Kết quả hạch toán kinh tế của các mức bón phân đạm
3.3.6. Hạch toán hiệu quả kinh tế của các mức bón phân đạm cho dong
riềng trồng trên đất ruộng 1 vụ tại huyện Ba Bể
3.3.6. Hạch toán hiệu quả kinh tế của các mức bón phân đạm cho dong
riềng trồng trên đất ruộng 1 vụ tại huyện Ba Bể
Bảng 3.15: Kết quả hạch toán kinh tế của các mức bón phân đạm trong
thí nghiệm
Bảng 3.15: Kết quả hạch toán kinh tế của các mức bón phân đạm trong
thí nghiệm
ii
3.4.2. Hạch toán hiệu quả kinh tế của các thời điểm thu hoạch dong riềng
trồng trên đất đồi tại huyện Ba Bể
3.4.2. Hạch toán hiệu quả kinh tế của các thời điểm thu hoạch dong riềng
trồng trên đất đồi tại huyện Ba Bể
Bảng 3.17: Kết quả hạch toán kinh tế của các thời điểm thu hoạch trong
thí nghiệm
Bảng 3.17: Kết quả hạch toán kinh tế của các thời điểm thu hoạch trong
thí nghiệm
3.4.4. Hạch toán hiệu quả kinh tế của các thời điểm thu hoạch dong riềng
trồng trên đất ruộng 1 vụ tại huyện Ba Bể
3.4.4. Hạch toán hiệu quả kinh tế của các thời điểm thu hoạch dong riềng
trồng trên đất ruộng 1 vụ tại huyện Ba Bể
Bảng 3.19: Kết quả hạch toán kinh tế của các thời điểm thu hoạch trong
thí nghiệm
Bảng 3.19: Kết quả hạch toán kinh tế của các thời điểm thu hoạch trong
thí nghiệm
iii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Bảng 3.6: Kết quả hạch toán kinh tế của các mật độ trồng dong riềng
trong thí nghiệm
Bảng 3.6: Kết quả hạch toán kinh tế của các mật độ trồng dong riềng
trong thí nghiệm
3.2.6. Hạch toán hiệu quả kinh tế của các mật độ trồng dong riềng trồng
trên đất ruộng 1 vụ
3.2.6. Hạch toán hiệu quả kinh tế của các mật độ trồng dong riềng trồng


trên đất ruộng 1 vụ
Bảng 3.9: Kết quả hạch toán kinh tế của các mật độ trồng dong riềng
Bảng 3.9: Kết quả hạch toán kinh tế của các mật độ trồng dong riềng
3.3.3. Hạch toán hiệu quả kinh tế của các mức bón phân đạm cho dong
riềng trồng trên đất đồi tại huyện Ba Bể
3.3.3. Hạch toán hiệu quả kinh tế của các mức bón phân đạm cho dong
riềng trồng trên đất đồi tại huyện Ba Bể
Bảng 3.12: Kết quả hạch toán kinh tế của các mức bón phân đạm
Bảng 3.12: Kết quả hạch toán kinh tế của các mức bón phân đạm
3.3.6. Hạch toán hiệu quả kinh tế của các mức bón phân đạm cho dong
riềng trồng trên đất ruộng 1 vụ tại huyện Ba Bể
3.3.6. Hạch toán hiệu quả kinh tế của các mức bón phân đạm cho dong
riềng trồng trên đất ruộng 1 vụ tại huyện Ba Bể
Bảng 3.15: Kết quả hạch toán kinh tế của các mức bón phân đạm trong
thí nghiệm
Bảng 3.15: Kết quả hạch toán kinh tế của các mức bón phân đạm trong
thí nghiệm
iv
3.4.2. Hạch toán hiệu quả kinh tế của các thời điểm thu hoạch dong riềng
trồng trên đất đồi tại huyện Ba Bể
3.4.2. Hạch toán hiệu quả kinh tế của các thời điểm thu hoạch dong riềng
trồng trên đất đồi tại huyện Ba Bể
Bảng 3.17: Kết quả hạch toán kinh tế của các thời điểm thu hoạch trong
thí nghiệm
Bảng 3.17: Kết quả hạch toán kinh tế của các thời điểm thu hoạch trong
thí nghiệm
3.4.4. Hạch toán hiệu quả kinh tế của các thời điểm thu hoạch dong riềng
trồng trên đất ruộng 1 vụ tại huyện Ba Bể
3.4.4. Hạch toán hiệu quả kinh tế của các thời điểm thu hoạch dong riềng
trồng trên đất ruộng 1 vụ tại huyện Ba Bể
Bảng 3.19: Kết quả hạch toán kinh tế của các thời điểm thu hoạch trong
thí nghiệm
Bảng 3.19: Kết quả hạch toán kinh tế của các thời điểm thu hoạch trong
thí nghiệm
v
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đảm bảo an ninh lương thực không chỉ là mối quan tâm hàng đầu của
các quốc gia nghèo mà nó đã trở thành vấn đề thời sự mang tính toàn cầu. Đặc
biệt trong điều kiện hiện nay nền sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất
cây lương thực nói riêng đang đứng trước nhiều thử thách, như: Biến đổi khí
hậu; dân số gia tăng; diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do đô thị
hóa, công nghiệp hóa
Ở một nước nông nghiệp như Việt Nam, an ninh lương thực được coi là
mục tiêu hàng đầu. Kể từ khi Việt Nam tiến hành công cuộc cải cách nền
kinh tế, nhờ việc phát triển đúng hướng các ngành kinh tế, trong đó đẩy mạnh
phát triển nông nghiệp và sản xuất lương thực- thực phẩm với mục tiêu đẩy
lùi nạn đói nghèo, mưu sinh bền vững và nâng cao mức sống cho người dân.
An ninh lương thực và mưu sinh bền vững quốc gia đã được thiết lập và đạt
được nhiều thành công. Từ chỗ phải nhập khẩu lương thực, Việt Nam đã tiến
tới đứng hàng thứ hai trên Thế giới về xuất khẩu lúa gạo và đã thoát khỏi
danh sách những quốc gia có mức thu nhập thấp và đứng vào hàng những
quốc gia có mức thu nhập trung bình.
Tuy nhiên, mục tiêu đảm bảo an ninh lương thực và sinh kế bền vững
cho mọi người, cho mọi đối tượng còn nhiều hạn chế. Đặc biệt, một bộ phận
dân cư các dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít người vẫn
còn tình trạng thiếu đói, khoảng cách chênh lệch giàu nghèo so với khu vực
vùng thấp và đô thị không những không được rút ngắn mà có nguy cơ ngày
càng giãn rộng.
Vùng Trung du miền núi phía bắc Việt Nam gồm 14 tỉnh Cao Bằng,
Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang, Yên Bái, Lào
1
Cai, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Hòa Bình, Phú Thọ, Bắc Giang, trung tâm
vùng là thành phố Thái Nguyên. Với tổng diện tích là 95.624,4 km²(chiếm
29% diện tích toàn quốc), tổng dân số năm 2011 là 11.290.500 người (chiếm
12,85% dân số cả nước (trong đó có 40% là người dân tộc thiểu số), mật độ
khoảng 119 người/km².
Đây là vùng địa hình, khí hậu phức tạp và được xác định là vùng có tiềm
năng lớn về phát triển nông lâm nghiệp. Trong những năm qua, nông lâm
nghiệp của vùng này có nhiều thay đổi nhờ các chính sách hỗ trợ phát triển
của của nhà nước và địa phương. Tuy nhiên, do hạn chế về trình độ dân trí,
điều kiện địa lý, giao thông và tập quán canh tác lạc hậu… nên vùng Trung
du, miền núi phía Bắc vẫn là vùng chậm phát triển, tỷ lệ hộ nghèo khá cao
( năm 2011 là 29,5%), thu nhập bình quân/người ở mức thấp so với mức thu
nhập trung bình toàn quốc. Hiện nay, vùng đang phải tập trung giải quyết
nhiều lĩnh vực trong phát triển kinh tế như: Vấn đề an toàn lương thực và xoá
đói giảm nghèo, phủ xanh đất trống đồi trọc, bảo tồn phát triển nguồn tài
nguyên về đa dạng sinh học tiến tới sự phát triển bền vững. Giải quyết vấn
đề trên cần có nhiều giải pháp đồng bộ, trong đó việc phát triển cây trồng có
giá trị kinh tế cao, phù hợp với điều kiện sinh thái và trình độ canh tác của
người dân nhằm chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tăng thu nhập cho người dân là
vấn đề được ưu tiên hàng đầu.
Cây dong riềng có tên khoa học là Canna edulis (Indica), họ Dong riềng
(Cannaceae) có nguồn gốc từ Nam mỹ được người Pháp giới thiệu và trồng ở
nước ta vào đầu thế kỷ 19. Dong riềng là cây trồng sinh trưởng phát
triển mạnh, có khả năng thích ứng rộng, trồng được trên nhiều loại đất kể cả
các vùng đất nghèo dinh dưỡng, có khả năng chống chịu tốt với điều kiện bất
thuận đặc biệt là chịu hạn, năng suất củ tươi có thể đạt từ 45 - 60 tấn/ha, hàm
lượng tinh bột 13,36- 16,4% (Nguyễn Thiếu Hùng và cs., 2010). Trên thực tế
2
cây Dong riềng có thể cho năng suất củ tươi đạt từ 80 đến 150 tấn/ha và hàm
lượng tinh bột đạt từ 19 đến 24%. Do có hàm lượng tinh bột cao nên củ dong
riềng thường được dùng để chế biến tinh bột, chăn nuôi gia súc, đặc biệt là
được sử dụng để làm miến dong, bánh đa, bánh mì, bánh bao, kẹo … Ngoài
ra, thân, lá dong riềng còn dùng cho chăn nuôi gia súc nên góp phần tận dụng
thúc đẩy chăn nuôi phát triển. Theo đánh giá của người dân, dong riềng dễ
trồng, ít tốn công chăm sóc nên trồng dong riềng có hiệu quả kinh tế cao, lãi
xuất có thể đạt 50 – 60 triệu đồng/ha. Trước kia do không thấy được giá trị
của cây dong riềng nên chúng chủ yếu được trồng trên đất cằn cỗi, đất tận
dụng mà các cây khác không phát triển được hoặc trên đất đồi núi. Từ năm
1980 cây dong riềng đã được chú ý phát triển như là cây hàng hóa, có giá trị
kinh tế. Một số địa phương đã chuyển đổi dong riềng thành cây trồng hàng
hóa như Bắc Kạn, Sơn La, Hưng Yên, Hà Nội, Hòa Bình, Quảng Ninh,
Đồng Nai.
Hiện nay dong riềng không được đưa vào danh mục thống kê quốc gia,
tuy vậy một số nhà nghiên cứu cũng đưa ra con số ước đoán về diện tích dong
riềng nước ta những năm gần đây vào khoảng 30 nghìn ha với các giống dong
riềng lấy củ và dong riềng cảnh được trồng phổ biến khắp cả nước, từ vùng
đồng bằng, trung du đến các vùng núi cao như tỉnh Lào Cai, Hà Giang, Tuyên
Quang, Bắc Kạn, Thái Nguyên Trong đó Bắc Kạn có diện tích trồng dong
riềng năm 2012 là 1.800 ha, năm 2013 là 2940ha tập trung ở các huyện Na Rì,
Ba Bể, Chợ Đồn, Bạch Thông; Pác Nặm.
Ở các tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc, dong riềng được trồng chủ
yếu trên đất dốc với phương thức canh tác nương rẫy truyền thống, không sử
dụng biện pháp bảo vệ đất, nguy cơ thoái hoá đất xẩy ra ngày càng nghiêm
trọng. Người dân thường trồng mật độ trồng không đồng đều, có nơi trồng
quá thưa nên lãng phí đất, nơi lại trồng quá dày dẫn đến củ nhỏ, năng suất
3
không cao. Phân bón ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng, phát triển của dong
riềng nhưng nông dân thường không bón phân hoặc bón phân theo hình thức
tự phát, không cân đối giữa đạm, lân, kali, đặc biệt phân hữu cơ hầu như
không được sử dụng làm cho đất bị chai cứng, năng suất giảm nhanh sau 1 – 2
vụ trồng.
Huyện Ba Bể nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Bắc Kạn có tổng diện tích tự
nhiên là 68.412ha (bằng 14,1% diện tích tự nhiên của tỉnh Bắc Kạn). Nằm
trong toạ độ địa lý 22
0
27’ đến 22
0
35’ vĩ độ Bắc và 105
0
44’ đến 105
0
58’ kinh
độ Đông ranh giới hành chính của huyện như sau:
Trong phát triển sản xuất nông nghiệp, bên cạnh việc phát huy lợi thế đất
rừng để phát triển lâm nghiệp, lợi thế về điều kiện tự nhiên để phát triển các
loại cây cao sản, có năng suất, chất lượng và đem lại giá trị kinh tế cao cũng
được chú trọng đầu tư phát triển như cây Dong riềng. Cây Dong riềng là một
trong những cây trồng có tiềm năng, năng suất cao, thích hợp với điều kiện tự
nhiên của huyện Ba Bể, là cây trồng được chọn là cây xoá đói, giảm nghèo và
tiến tới làm giầu cho người dân Ba Bể.
Cây Dong riềng ở Ba Bể đã được người dân trồng từ nhiều năm, nhưng
việc sản xuất Dong riềng hiện nay chủ yếu vẫn là dựa theo kinh nghiệm và
canh tác theo phương thức truyền thống trồng trên đất nương rẫy, không sử
dựng biện pháp bảo vệ đất, nguy cơ thoái hoá đất xẩy ra ngày càng nhiều,
việc áp dụng những biện pháp kỹ thuật thâm canh còn hạn chế đặc biệt là
không sử dụng phân bón và trồng không đảm bảo mật độ dẫn tới năng suất và
chất lượng sản phẩm dong riềng chưa cao. Vì vậy, việc thực hiện đề tài
“Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng và
năng suất của cây dong riềng tại huyện Ba Bể, Tỉnh Bắc Kạn” là cần thiết.
Kết quả của đề tài sẽ là cơ sở xây dựng quy trình kỹ thuật canh tác cây
Dong riềng phù hợp cho người dân huyện Ba Bể để sản xuất dong riềng trên
4
địa bàn huyện đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao tạo được vùng nguyên
liệu phục vụ cho mục tiêu chế biến Dong riềng của huyện và tỉnh phát triển ổn
định, bền vững.
2. Mục tiêu của đề tài
2.1. Mục tiêu tổng quát
Xác định được các biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp nâng cao năng
suất và chất lượng dong riềng trong sản xuất miến dong.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Điều tra xác định được khả năng, chiều hướng phát trển của cây dong
riềng trên địa bàn huyện Ba Bể.
- Xác định được mật độ trồng dong riềng hợp lý.
- Xác định được lượng bón phân đạm phù hợp đối với cây dong riềng
trồng tại huyện Ba Bể.
- Xác định được thời điểm thu hoạch phù hợp.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.
3.1. Ý nghĩa khoa học của đề tài
- Xác định cơ sở khoa học cho việc định hướng khu vực trồng và phát
triển dong riềng theo hướng sản xuất chuyên canh.
- Kết quả của đề tài sẽ bổ sung tài liệu cho công tác nghiên cứu, và
chuyển giao cho sản xuất.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài.
Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng và
năng suất của cây dong riềng tại huyện Ba Bể, Tỉnh Bắc Kạn làm cơ sở xây
dựng các biện pháp kỹ thuật trồng dong riềng, như: mật độ, phân bón thâm
canh tăng năng suất và chất lượng dong riềng để khuyến cáo, phát triển
mở rộng diện tích cây Dong riềng theo hướng sản xuất hàng hoá tập trung
ổn định, bền vững góp phần xoá đói, giảm nghèo nâng cao đời sống cho
người dân.
5
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
- Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật canh tác cho giống dong riềng
địa phương trồng trên đất đồi (nương rẫy) và đất ruộng một vụ tại xã Mỹ
Phương huyện Ba Bể.
- Thời gian thực hiện 12 tháng từ tháng 02 năm 2012 đến tháng 02
năm 2013.
6
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Nguồn gốc, đặc điểm thực vật học và yêu cầu sinh thái của cây
dong riềng
1.1.1. Nguồn gốc
Cây dong riềng có tên khoa học Canna edulis Ker. Dong riềng có nguồn
gốc ở Peru, Nam Mỹ. Ngày nay dong riềng được trồng rộng rãi ở các nước
nhiệt đới và á nhiệt đới trên thế giới. Nam Mỹ là trung tâm đa dạng của dong
riềng nhưng châu Á, châu Úc và châu Phi là những nơi trồng và sử dụng dong
riềng nhiều nhất (Cecil, 1992; Hermann, 1999). Dong riềng được gọi bằng
một số tên khác nhau như Queenland Arrowroot, Canna Indica (L.), Canna
Edulis (Kerr- Gawl) (Cecil,1992).
Dong riềng được chế biến lấy bột để làm lương thực, thực phẩn là chính
(Mai Thạch Hoành và cs, 2011). Hiện nay, người ta đã xác định được 7 loài
dong riềng nguồn gốc phát sinh ở Nam Mỹ và Trung Quốc (Darlington và
Janaki, 1945) đó là:
- Canna discolor ở Tây Ấn nhiệt đới,
- C. Flauca ở Tây Ấn và Mêhico,
- C. flaccida ở Nam Mỹ,
- C. edulis ở châu Mỹ nhiệt đới,
- C. Indica ở châu Mỹ nhiệt đới,
- C.libata ở Braxin,
- C.humilis ở Trung Quốc.
Ngày nay dong riềng được trồng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới có
khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới. Trong đó Nam Mỹ là trung tâm đa dạng di
truyền nguồn gen dong riềng, ngoài ra dong riềng được trồng nhiều ở các
nước châu Á, châu Phi, Châu Úc.
7
1.1.2. Phân loại cây dong riềng
- Tên khoa học: Canna Edulis Ker
- Dong riềng thuộc họ chuối hoa Cannacea
- Bộ: Scitaminales
Số lượng nhiễm sắc thể là 9, có 2 dạng nhị bội 2n = 2X = 18 và tam bội
2n = 2X = 27
1.1.3. Phân bố và các giống dong riềng
Trên thế giới dong riềng được trồng ở quy mô thương mại tại các nước
vùng Nam Mỹ, châu Phi, và một số nước nam Thái Bình Dương. Tại châu Á,
dong riềng được trồng tại Thái Lan, Indonesia, Nam Trung Quốc, Úc và Đài
Loan (Hermann, M. et al. 2007).
1.1.4. Đặc điểm thực vật học của cây dong riềng
Là loại cây thân thảo đứng, cao từ 1,2 – 1,5m, màu tía. Thân ngầm
phình to thành củ, chứa nhiều tinh bột. Củ nằm ngay dưới mặt đất. Lá hình
thuôn, dài 50- 60cm, rộng 25-30cm có gân to chính giữa lá.Thời gian sinh
trưởng 10 - 12 tháng: 1 tháng đầu (từ khi cây mọc) là thời kỳ cây con; 5 tháng
tiếp theo là thời kỳ cây đẻ nhánh phát triển hoàn chỉnh về thân lá; 4 - 5 tháng
cuối là thời kỳ củ phình to, tích luỹ tinh bột. Thời kỳ này được nhận biết từ
khi dong riềng đẻ nhánh đông đặc kín đất và cây bắt đầu ra hoa. Sau 12 tháng
cây sinh trưởng trở lại khi đó củ non nảy mầm, hàm lượng tinh bột trong củ
chính sẽ giảm dần. Cụ thể:
Thân: Thân của cây dong riềng gồm 2 loại là thân khí sinh và thân củ.
Thân khí sinh trung bình cao từ 1,2m đến 1,5m có những giống có thể cao
trên 2,5m. Thân cây thường có mầu xanh hoặc xen tím. Thân gồm những lóng
kéo dài, giữa các lóng là các đốt; Thân khí sinh được tính từ đốt tiếp phần củ.
Giải phẫu thân khí sinh cho thấy bên ngoài thân được cấu tạo bởi lớp biểu bì
gồm những tế bào dẹt, dưới biểu bì có những bó cương mô xếp thành những
8
bó tròn có tác dụng chống đỡ cho cây, tiếp đến là những bó libe và mạch gỗ
và trong cùng là nhu mô.
Củ: Củ cây dong riềng hình thành từ thân rễ phình to, những củ to có thể
đạt chiều dài 60 cm. Thân rễ phân thành nhiều nhánh và chứa nhiều tinh bột,
thân rễ nằm trong đất; Thân rễ gồm nhiều đốt, mỗi đốt có một lá vảy, lúc mới
ra lá vảy có hình chóp nhọn dần dần to ra sẽ bị rách và tiêu dần; Trên mỗi đốt
của thân củ có nhiều mầm có thể phát triển thành nhánh, nhánh có thể phân
chia thành các nhánh cấp 1 hay đến cấp 3. Vỏ của thân có thể có màu trắng,
vàng kem đến màu tía hồng. Kích thước củ biến động khá lớn phụ thuộc vào
giống và điều kiện chăm bón. Giải phẫu thân rễ cho thấy phía ngoài cùng của
củ là biểu bì gồm những tế bào dẹt, tiếp là nhu mô bên trong có những bó
cương mô và những bó mạch dẫn libe và gỗ, tiếp là lớp tế bào nhu mô chứa ít
một số hạt tinh bột, vào trong nữa là lớp trụ bì rất rõ và trong cùng là nhu mô
chứa nhiều hạt tinh bột. So với thân khí sinh thân rễ có ít bó cương mô hơn.
Năng suất cây dong riềng rất cao. Nếu trồng ở nơi đất tốt, một khóm
dong riềng có thể thu được 15 – 20kg củ. Trồng thâm canh trên diện tích lớn
dong riềng cho năng suất 50 – 60 tấn/ha
Lá: Lá dong riềng gồm phiến lá và cuống lá với bẹ lá ở phía gốc, lá của
cây dong riềng thuôn dài, mặt trên của lá có màu xanh hoặc xanh lục xen tím,
mặt dưới màu xanh hoặc màu tím. Lá dài khoảng 35 – 60 cm và có chiều rộng
22 – 25cm; Mép lá nguyên, xung quanh mép lá có viền một đường mỏng mầu
tím đỏ hoặc màu trắng trong; Phiến lá có gân giữa to, gân phụ song song, có
màu xanh hoặc tím đỏ; Cuống lá dạng bẹ ôm lấy thân có chiều dài khoảng 8 –
15 cm.
Rễ: Bộ rễ cây dong riềng thuộc loại rễ chùm, rất phát triển; Rễ mọc từ
các đốt của thân củ, từ lớp tế bào trụ bì ở đốt thân củ phát triển ra thành rễ. Rễ
của cây dong riềng phát triển liên tục phân thành rễ cấp 1, cấp 2 và cấp 3 (tùy
9
thuộc vào giống). Do củ phát triển theo chiều ngang nên rễ chỉ ăn sâu vào đất
khoảng 20 - 30cm.
Hoa: Hoa dong riềng xếp thành cụm, cụm hoa dạng chùm, Hoa mọc ở
ngọn cây. Cây thường mang ít hoa lưỡng tính, không đều. Cụm hoa được bao
bởi một mo chung như hoa chuối. Chùm hoa thiết diện hình tam giác, có từ 6
– 8 đốt, mỗi đốt có 2 hoa, đốt dưới cùng và trên cùng có 1 hoa.
Cấu tạo hoa gồm có 3 lá đài hình cánh rời nhau, 3 cánh hoa dài thon
cuộn theo chiều dài. Hoa có 5 nhị đực, ngoài có 3 nhị thì 2 nhị biến thành bản
hình cánh hoa, 1 nhị biến thành cánh môi cuộn lại phía trước. Vòng trong có 2
nhị, trong đó 1 nhị thì chỉ còn vết, nhị kia thì một nửa cánh mang 1 bao phấn,
nửa còn lại cũng biến thành hình cánh. Tất cả các nhị đều có màu sắc sặc sỡ,
màu cánh biến động từ màu đỏ tươi đến màu vàng điểm đỏ. Bầu hoa có 3 ô,
mỗi ô có từ 6 – 8 noãn, phía trên bầu có tuyến tiết mùi. Thời gian từ nụ đến
nở hoa từ 3 – 5 ngày, hoa nở theo thứ tự từ thấp đến cao, từ trong ra ngoài;
Hoa nở vào buổi sáng, mỗi hoa nở từ 1 - 2 ngày.
Quả: Quả của cây dong riềng thuộc dạng qủa nang, hình trứng ngược,
kích thước khoảng 3cm, trên quả nang có nhiều dai mềm.
Hạt: Hạt của cây dong riềng có màu đen, hình tròn đường kính 3,5 – 5
mm. Khối lượng 1000 hạt khoảng 12 - 13g.
1.1.5. Yêu cầu sinh thái của cây dong riềng
Yêu cầu về nhiệt độ: Cây dong riềng thích hợp từ 25-30
o
C, điều kiện ấm
áp dong riềng sinh trưởng phát triển khỏe hơn, tốc độ đồng hóa cao và đẩy
nhanh quá trình hình thành thân củ, thời tiết hanh và hơi lạnh đẩy nhanh quá
trình vận chuyển tinh bột từ thân lá xuống củ. Tuy nhiên cây dong riềng chịu
được nhiệt độ cao tới 37-38
0
C, gió khô và nóng và dong riềng chịu lạnh khá
nên có khả năng trồng ở vùng núi cao có độ cao trên 2.500m so với mặt nước
biển và nhiệt độ mùa đông có nơi xuống dưới 10
0
C.
10
Yêu cầu ánh sáng: Dong riềng không cần nhiều ánh sáng, nên có thể
trồng dưới tán cây ăn quả, cây sinh trưởng bình thường nơi cớm nắng. Vì vậy
rất thuận lợi cho việc trồng xen với các loại cây khác trong hệ thống canh tác
đất dốc bền vững. Ngày dài có ảnh hưởng lớn đến việc hình thành củ. Điều
kiện ngày ngắn, cường độ ánh sáng mạnh thúc đẩy sự hình thành phát triển
củ, trong khi ngày dài lại thúc đẩy sự phát triển thân lá.
Yêu cầu đất trồng: Dong riềng là cây có yêu cầu về đất không khắt khe
so với cây trồng khác, nên có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau. Tuy
nhiên trồng trên đất cát pha, nhiều mùn, đủ ẩm là tốt nhất để cho năng suất
cao. Dong riềng là loại cây chịu úng kém do vậy đất trồng dong riềng phải là
nơi dễ thoát nước. Đất đọng nước làm cho bộ rễ hô hấp kém có thể dẫn đến
thối củ. Là cây có độ che phủ rất lớn trong suốt mùa mưa nên có thể trồng
trên đất dốc núi cao.
Yêu cầu nước: Dong riềng có đặc điểm chịu hạn tốt, có thể bố trí trên đất
có độ dốc trên 15
o
, ít ẩm, nhưng dong riềng không chịu được ngập úng, nếu bị
ngập úng cây thường bị vàng lá, thối củ. Vùng trồng dong riềng ở vùng có
lượng mưa thích hợp 900- 1200 mm.
Chất dinh dưỡng: Cũng như các cây có củ khác, dong riềng yêu cầu có
đầy đủ các nguyên tố dinh dưỡng NPK, trong đó K có ý nghĩa trong việc tăng
khối lượng củ. Cây dong riềng yêu cầu đất tốt giàu mùn để cho năng suất cao.
Những nơi đất quá cằn cỗi cần bón thêm phân hữu cơ. Phân bón rất có ý
nghĩa trong việc tăng năng suất củ của cây dong riềng.
1.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ dong riềng
1.2.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ dong riềng trên thế giới
Trên thế giới dong riềng được trồng ở quy mô thương mại tại các nước
vùng nam Mỹ, châu Phi, châu Á và một số nước nam Thái Bình Dương. Diện
tích dong riềng trên thế giới khoảng 3.000.000 ha. Năng suất trung bình đạt
30 tấn/ha. Châu Phi là châu lục có diện tích trồng dong riềng lớn nhất thế
11
giới.
Tại châu Á, dong riềng được trồng tại Thái Lan, Indonesia, nam Trung
Quốc, Úc, và Đài Loan (Hermann, M. et al. 2007). Trung Quốc là nước có
diện tích dong riềng lớn nhất châu Á.
1.2.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ dong riềng tại Việt Nam
Cây dong riềng chưa được đưa vào các báo cáo số liệu chính thức của
ngành Thống Kê, tuy nhiên trong những năm gần đây dong riềng đang được
phát triển mạnh ở nhiều địa phương, như: Trảng Bom, Đồng Nai; Hướng Hóa,
Quảng Trị; Tam Đường, Sơn La; Bình Liêu, Quảng Ninh; Nguyên Bình, Cao
Bằng; Bắc Kạn; Tuyên Quang; Hà Giang; Hòa Bình; Cây dong riềng đã
thực sự trở thành cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao, được người nông
dân lựa chọn để làm cây trồng xóa đói giảm nghèo. Không chỉ diện tích trồng
dong riềng phát triển mở rộng ra nhiều địa bàn mà các sản phẩm chế biến từ
tinh bột dong riềng cũng đã được nhiều địa phương quan tâm đầu tư, như
Quảng Ninh, Bắc Kạn đã xây dựng thương hiệu cho sản phẩm miến dong và
được Cục Sở hữu trí tuệ, Bộ Khoa Học công nhận.
Diện tích dong riềng của Việt Nam đạt khoảng 30.000 ha/năm. Sản
lượng hàng năm đạt khoảng 450.000 tấn củ tươi. Dong riềng được trồng ở
những chân đất khô hạn, trên đất dốc. Các tỉnh trồng nhiều dong riềng để sử
dụng làm miến là Hà Nội, Hưng Yên, Hòa Bình và Đồng Nai. Tại những
vùng có diện tích trồng đáng kể, dong riềng hầu hết được chế biến thành tinh
bột, sau đó làm miến (N. K. Quỳnh và T. V. Hộ, 1996). Tuy nhiên, các quy
trình chế biến miến dong ở nước ta hiện nay vẫn mang tính thủ công chưa
đảm bảo chất lượng và chỉ có một số ít nhà máy sử dụng tinh bột dong để sản
xuất miến ăn liền. Dong riềng hiện nay được chế biến với khối lượng lớn chủ
yếu tại một số làng nghề tại Quốc Oai, Hoài Đức, Ba Vì (Hà Nội), Trảng Bom
(Đồng Nai), Yên Mỹ, Khoái Châu (Hưng Yên). Nhu cầu sử dụng miến ngày
12
càng tăng, trong khi đó nguồn nguyên liệu cho chế biến lại chưa đủ nên hàng
năm nước ta vẫn phải nhập hàng ngàn tấn tinh bột dong ẩm từ tỉnh Vân Nam,
Trung Quốc.
1.2.3. Tình hình sản xuất và tiêu thụ dong riềng tại Bắc Kạn
Nằm trong khu vực Trung du miền núi phía bắc, Bắc Kạn là tỉnh có địa
hình phức tạp, độ dốc cao, đất sản xuất nông nghiệp ít và manh mún, chủ yếu
đất lâm nghiệp và đất đồi núi. Trong những năm qua tỉnh Bắc Kạn đã ban
hành nhiều chính sách tập trung phát triển nông nghiệp. Tại Nghị quyết Đại
hội Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn lần thứ X, nhiệm kỳ 2010 – 2015 xác định: “Tiếp
tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 7 ( khóa X) về nông nghiệp,
nông dân, nông thôn, từng bước xây dựng nông thôn mới theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động tạo sự
chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức của người dân, nhất là việc chuyển dịch
cơ cấu sản xuất nông – lâm nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao
giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích canh tác. Xây dựng và nhân rộng các
mô hình sản xuất nông – lâm nghiệp hàng hóa đạt giá trị thu nhập 50 – 70
triệu đồng/ha … phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng từng vùng và nhu
cầu thị trường” [ trích Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn lần
thứ X, trang 96- 97]. Thực hiện hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh, các
Nghị quyết của Ban chấp hành Đảng bộ năm 2011, 2012 đều xác định mục
tiêu và giao nhiệm vụ, chỉ tiêu cụ thể phát triển cây dong riềng trở thành cây
trồng hàng hóa trong sản xuất nông – lâm nghiệp của tỉnh. Hội đồng nhân dân
tỉnh ban hành Nghị quyết số 22/2011 về các chính sách hỗ trợ phát triển sản
xuất cây dong riềng. Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo nhiều biện pháp để phát
triển sản xuất và chế biến đối với cây dong riềng như, lồng ghép vốn các
chương trình dự án, vốn ngân sách của tỉnh để hỗ trợ giống, lãi suất vay phân
13
bón trả chậm, hỗ trợ các hợp tác xã các doanh nghiệp đầu tư xây dựng cơ sở
chế biến; tập huấn chuyển giao khoa học công nghệ cho sản xuất và chế biến;
xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu sản phẩm trí tuệ tập thể đối với sản phẩm
miến dong Bắc Kạn; Tham gia các hội chợ thương mại quảng bá giới thiệu
sản phẩm dong riềng đến các thành phố lớn
Cây dong riềng là cây trồng phù hợp và có khả năng phát triển ở Bắc
Kạn và cho hiệu quả kinh tế cao. Thực hiện các biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo
quyết liệt, sản xuất dong riềng đã tăng cả về diện tích trồng và quy mô chế
biến: năm 2010, toàn tỉnh trồng được 270 ha, năng suất 100 tấn/ha, năm 2011
trồng được 551 ha (tăng 2 lần so với 2010), sản lượng đạt 51.000 tấn củ, năm
2012, diện tích trồng dong riềng của tỉnh tăng lên 1.800 ha (tăng 2,4 lần so
với 2011), năm 2013 diện tích dong riềng toàn tỉnh là 2.940ha.
Để cây dong riềng phát triển bền vững, tỉnh Bắc Kạn tiếp tục tiến hành
đồng loạt nhiều giải pháp, như: quy hoạch vùng trồng dong riềng, thực hiện
các đề tài nghiên cứu để xây dựng quy trình kỹ thuật phù hợp với từng vùng,
từng loại đất đưa vào áp dụng trong sản xuất, đặc biệt giải quyết đầu ra cho
sản phẩm dong riềng, phát triển các cơ sở chế biến dong riềng luôn được tỉnh
chú trọng. Đến hết năm 2013 trên địa bàn tỉnh với gần 90 cơ sở chế biến, tiêu
thụ sản phẩm dong riềng với quy mô từ 5 đến 150 tấn dong riềng/ngày. Tuy
nhiên với diện tích trồng gần 3000ha năm 2013, khả năng chế biến của toàn
bộ các cơ sở trên địa bàn tỉnh chỉ đáp ứng được 70-80% sản lượng củ thu
hoạch. Hiện nay tỉnh đang tập trung thực hiện chính sách hỗ trợ để khuyến
khích một số cơ sở nghiền tinh bột và chế biến miến thành lập mới, các cơ sở
mở rộng quy mô sản xuất để đảm bảo tiêu thụ được hết sản lượng củ dong
riềng cho người dân.
Trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn đến nay đã có một số cơ sở chế biến tinh bột
và miến dong riềng ở quy mô khá và hiện đại, như: Cơ sở Nhất Thiện tại xã
14
Mỹ Phương, huyện Ba Bể sản xuất 60 tấn củ và 1,5- 1,8 tấn miến/ ngày; Công
ty trách nhiệm hữu hạn Hoàng Giang tại xã Phúc Lộc, huyện Ba Bể sản xuất
150 tấn củ và 2,5 – 3 tấn miến/ngày; Cơ sở sản xuất miến dong Tân Sơn,
Thác Riềng sản xuất 0,5 – 0,6 tấn miến/ngày; HTX miến dong Côn Minh,
Kim Lư, Cư Lễ, Lạng San huyện Na Rì sản xuất khoảng 1,2 – 1,5 tấn
miến/ngày; ngoài ra còn nhiều cơ sở sản xuất nhỏ khác.
Sản phẩm miến dong tỉnh Bắc Kạn, đã được bảo hộ nhãn hiệu sản phẩm
trí tuệ tập thể, là một loại hàng hóa có giá trị, có uy tín trên thị trường không
chỉ được thị trường trong nước ưa chuộng, tin dùng vì chất lượng đặc biệt mà
đã bước đầu vươn ra xuất khẩu ra thị trường ngoài nước (cơ sở miến dong
Nhất Thiện cung cấp cho 2 doanh nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh 15
tấn/tháng để cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu).
Với kết quả đạt được là nhãn hiệu sản phẩm trí tuệ tập thể sẽ là cơ hội tốt
để bảo vệ quyền lợi của người sản xuất và người tiêu dùng, cũng như quảng
bá sản phẩm để có thương hiệu và thị trường tiêu thụ ngày càng lớn hơn. Từ
đó, tạo điều kiện cho sản xuất phát triển, tạo việc làm và tăng thu nhập cho
nhiều lao động tại địa phương, tăng nguồn thu ngân sách nhà nước, góp phần
vào công cuộc xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế và thực hiện chương
trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới. Đồng thời cũng đặt ra
yêu cầu để bảo vệ được thương hiệu sản phẩm, tỉnh Bắc Kạn cần tăng cường
mạnh công tác tuyên truyền và các giải pháp quản lý, kỹ thuật để gắn kết giữa
nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và người dân cùng xây dựng, bảo vệ
và phát triển nhãn hiệu tập thể cho sản phẩm đặc thù của địa phương.
1.2.4. Tình hình sản xuất Dong riềng tại Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
Người dân Ba Bể đã trồng cây dong riềng từ khá lâu, khoảng từ những
năm 1985. Ban đầu cây dong riềng chỉ được trồng ở hai thôn người dân tộc
kinh ở Thái Bình lên khai hoang, đó là thôn Bản Lạ, xã Yến Dương và thôn
15
Tiền Phong, xã Địa Linh. Mục đích những năm đầu người dân trồng giống
dong đỏ địa phương trong vườn nhà để ăn củ, sau đó đã tìm được đầu mối tiêu
thụ tinh bột người dân đã mở rộng diện tích, trồng chủ yếu trên nương rẫy và
chế biến tinh bột theo phương pháp thủ công để cung cấp tinh bột cho khu
vực làng nghề chế biến miến xã Dương Liễu, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây
cũ và xã Phú Cường, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
Đến năm 2003 diện tích cây dong riềng toàn huyện là 534ha, nhưng do
người dân đã canh tác liên tục nhiều năm mà không có biện pháp bón phân và
phòng trừ sâu bệnh nên năng suất giảm rất nhiều thậm trí nhiều diện tích mất
trắng. Vì vậy diện tích trồng cây trồng này trên địa bàn huyện đã giảm hẳn chỉ
còn giao động trong khoảng từ 30 đến 50ha/năm.
Từ năm 2008, trên địa bàn huyện đã hình thành một số cơ sở sản xuất miến
quy mô hộ gia đình, trong đó điển hình là cơ sở miến Nhất Thiện với công xuất
1,5 – 1,8 tấn miến/ ngày, có chất lượng tốt được thị trường ưa chuộng.
Từ năm 2010 tỉnh Bắc Kạn xác định phát triển cây dong riềng là cây
trồng hàng hóa để giảm nghèo trên địa bàn toàn tỉnh, diện tích cây Dong riềng
đã tăng dần. Đến năm 2011 huyện Ba Bể đã trồng 105ha. Năm 2012 diện tích
trồng là 470ha ( Yến Dương 134ha, Mỹ Phương 118ha). Năm 2013 diện tích
trồng là 870 ha.
- Về diện tích, năng suất và sản lượng: Theo kết quả điều tra diện tích
thống kê trồng Dong riềng của huyện Ba Bể trong ba năm gần đây (từ năm
2011 đến năm 2013) như sau:
Diện tích, năng suất, sản lượng dong riềng huyện Ba Bể năm 2011 – 2013.
Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 năm 2013
Diện tích (ha) 105 470 870
Năng suất (tạ/ha) 555 650 650
Sản lượng (tấn) 10.555 30.550 56.550
16
Diện tích trồng Dong riềng chủ yếu trên đất nương rẫy, canh tác theo
phức thức truyền thống chiếm trên 90%. Trên đất ruộng, soi bãi, vườn nhà có
khoảng 10% có được đầu tư phân bón. Tuy nhiên lượng phân bón đầu tư còn
thấp và phụ thuộc vào từng hộ gia đình.
Hiện nay trên địa bàn tỉnh chưa có công bố kết quả của chương trình
nghiên cứu nào về cây Dong riềng đối với các biện pháp kỹ thuật canh tác
phù hợp với điều kiện sản xuất tỉnh Bắc Kạn.
1.3. Các kết quả nghiên cứu về cây dong riềng trên thế
giới và ở Việt Nam
1.3.1. Các kết quả nghiên cứu về cây dong riềng trên thế giới.
Nghiên cứu về dong riềng ở các nước còn nhiều hạn chế. Theo Hermann
và CS (năm 2007) cây dong riềng là loài cây triển vọng cho hệ thống nông
lâm kết hợp vì nó có những đặc điểm quí như chịu bóng râm, trồng được
những nơi khó khăn như thiếu nước, thời tiết lạnh. Củ dong riềng có nhiều
công dụng: Luộc để ăn, làm bột, nấu rượu. Bột dong riềng dễ tiêu hoá nên có
thể làm nguồn thức ăn rất tốt cho trẻ nhỏ và người ốm. Bột dong riềng có thể
dùng làm hạt trân châu, miến, bánh đa, bánh mì, bánh bao, mì sợi, kẹo và thức
ăn chăn nuôi. Đối với miền núi, những nơi kinh tế còn khó khăn, dong riềng
cũng là cây có thể đảm bảo an ninh lương thực. Trong thân cây dong riềng có
sợi màu trắng, có thể được sử dụng để chế biến thành sợi dệt thành các loại
bao bì nhỏ. Củ dong riềng có thể dùng làm thức ăn chăn nuôi, tuy nhiên cả củ,
thân, lá đều dùng được vào mục đích này.
Những vùng có truyền thống trồng dong riềng chế biến thành bột thì bã
có thể dùng để nấu rượu, nấu rượu xong có thể dùng bã rượu (hèm) phục vụ
chăn nuôi. Bã thải của chế biến tinh bột cũng có thể ủ làm phân bón cho cây
trồng và làm giá thể trồng nấm ăn. Ngoài ra, hoa dong riềng có màu sắc sặc sỡ
, bộ lá đẹp nên cũng có thể sử dụng dong riềng làm cây cảnh trong vườn nhà.
17
Ở Ecuador, dong riềng được trồng trên đất cát pha, ở độ cao 2340m trên
mực nước biển, trong điều kiện nhiệt độ bình quân 15-17
0
C. Trong 6 tháng
đầu người ta trồng xen với khoai tây, sau 12 tháng thu hoạch cho năng suất củ
trung bình 56 tấn/ha, chỉ số thu hoạch 56+8%.
Nghiên cứu đánh giá 26 mẫu giống dong riềng từ ngân hàng gen dong
riềng quốc tế của CIP tại Ecuador, trong nhà lưới ở độ cao 2400m, biên độ 12-
27
o
C với mật độ 2cây/m2, trên nền đất cát pha, không bón phân, Hermann và
CS đã thu được kết quả rất thú vị. Năng suất củ tươi đạt từ 17-96 tấn/ha, hàm
lượng tinh bột trong củ tươi đạt 4-22% và đạt 12-31% qui về chất khô, hàm
lượng đường hòa tan trong củ tươi là 5-11 độ Brix.
Nhóm tác giả trong công bố của mình đã kết luận, mặc dù hàm lượng
tinh bột trong củ dong riềng thấp nhưng do năng suất củ rất cao nên vẫn có
năng suất tinh bột đạt 2,8-14,3 tấn/ha và chỉ số thu hoạch cao nên dong riềng
là cây tăng thu nhập của nông dân nghèo ở các vùng cao nhiệt đới. Tuy nhiên
cho đến nay, tại các nước có trồng dong riềng thì vẫn chưa được quan tâm
nghiên cứu. Ở châu Á, Trung Quốc và Việt Nam là những nước trồng và sử
dụng dong riềng hiệu quả nhất (Hermann, M. et al. 2007).
Hiện nay trên thế giới chọn tạo giống dong riềng chủ yếu chọn lọc từ
nguồn gen hoang dại, sau đó tiến hành cải tiến nguồn gen để chọn lọc giống
mới. Nhưng cũng có một số ít công trình đã nghiên cứu chọn giống dong
riềng bằng chỉ thị phân tử.
1.3.2. Các kết quả nghiên cứu về cây dong riềng ở Việt Nam
Dong riềng có nhiều tên địa phương khác nhau như khoai chuối, khoai
lào, dong tây, củ đao, khoai riềng, củ đót, chuối nước.
Dong riềng được nhập vào Việt Nam đầu thế kỷ 19. Năm 1898, người
Pháp đã trồng thử dong riềng ở nước ta nhưng công việc đã bị dừng lại vì thời
đó chưa biết cách chế biến tinh bột dong riềng (Lý Ban, 1963). Từ năm 1961
18
đến 1965 một số nghiên cứu về nông học với cây dong riềng đã được thực
hiện tại Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp (INSA) nhằm mục đích mở rộng
diện tích dong riềng, tuy nhiên vấn đề trồng dong riềng vẫn không được quan
tâm vì thiếu công nghệ chế biến và tiêu thụ thấp. Từ năm 1986 do nhu cầu sản
xuất miến từ bột dong riềng ngày càng tăng nên diện tích loại cây này đã
được người dân tự phát mở rộng. Những địa phương trồng dong riềng với
diện tích lớn là Hoà Bình, Ngoại thành Hà Nội, Sơn La, Lai Châu, Thanh
Hoá, Hưng Yên, Bắc Kạn, Thái Nguyên và Đồng Nai.
Dong riềng có sức sống rất mạnh, có khả năng thích nghi cao với điều
kiện ngoại cảnh, có sức chống chịu tốt với sâu bệnh. Cây không có nhu cầu
nhiều về ánh sáng nên có thể sinh trưởng bình thường nơi cớm nắng. Cây
dong riềng có khả năng chống chịu tốt nhiệt độ thấp, có thể trồng ở những nơi
mà khoai lang, sắn không trồng được. Hơn nữa, dong riềng còn là cây trồng
dễ tính, yêu cầu đất không nghiêm khắc nên có thể trồng trên nhiều loại đất
khác nhau như: đồi, sườn núi dốc trên 15
0
, vườn nhà và bãi cao ven sông vẫn
cho năng suất củ cao. Nếu trồng ở nơi đất tốt, một khóm có thể thu được 15-
20 kg. Trồng trên diện tích lớn dong riềng có thể cho năng suất đạt tới 45-75
tấn củ/ha nếu thâm canh. Với những đặc điểm này, dong riềng đã trở thành
một loại mặt hàng có nhiều triển vọng phát triển ở vùng miền núi nước ta, có
thể phát triển cây dong riềng trên một phạm vi rộng lớn ở nhiều vùng để tăng
nguồn vật liệu cho sản xuất ngành hàng miến, tinh bột và các sản phẩm khác
(Nguyễn Ngọc Huệ, Đinh Thế Lộc, 2005) .
Dong riềng có nhiều đặc tính sinh học quý như kích thước hạt tinh bột
lớn nhất trong nhóm cây có củ, tới 150 micron (tinh bột sắn là 35 micron).
Điều này giúp cho việc tách chiết tinh bột dong riềng dễ dàng hơn so với một
số cây có củ khác. Hàm lượng amiloza trong tinh bột dong riềng cao đạt từ
19
38% - 41%, gần bằng hàm lượng amiloza trong tinh bột đậu đỗ (46% - 54%)
(Lê Ngọc Tú và cs., 1994). Điều này làm cho sợi miến dong riềng dai và giòn
tương tự miến đỗ xanh, trong khi giá thành miến dong chỉ bằng một nửa so
với miến đậu xanh. Đây là lợi thế canh tranh của miến dong so với miến đậu
xanh. Dong riềng chế biến thành bột lãi gấp 2-3 lần trồng lúa trong điều kiện
khó khăn.
Dong riềng đã và đang đóng một vai trò quan trọng trong việc xoá đói,
giảm nghèo, giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn miền núi.
Trong những năm qua, sản xuất dong riềng và các sản phẩm chế biến đã thu
hút nhiều ngày công lao động của nông dân, thợ thủ công, góp phần tạo việc
làm cho nhiều người lao động, đồng thời đã góp một phần quan trọng trong
việc nâng cao nguồn thu cho người sản xuất.
Dong riềng là cây tăng thu nhập cho nông dân tại một số vùng sinh thái
đặc thù như nơi đất khô hạn (vùng đồi núi của Huế, Sơn Tây), đất dốc, khí
hậu lạnh như Mộc Châu, Sơn la, Hòa Bình Tuy nhiên trong những năm gần
đây do không có sự đầu tư về chọn lọc, phục tráng giống cũng như các kỹ
thuật canh tác phù hợp, các giống dong riềng có tiềm năng và chất lượng cao
đang bị suy giảm. Bên cạnh đó, quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng làm
cho diện tích trồng dong riềng đang có xu hướng giảm khiến cho nguồn cung
cấp nguyên liệu ngày càng bị cạn kiệt trong khi nhu cầu tiêu dùng các sản
phẩm của nó vẫn không ngừng tăng lên ở Việt Nam cũng như trên thế giới.
Tại Việt Nam trong những năm 60 cây dong riềng đã được một số tác giả
nghiên cứu về đặc điểm thực vật học, giải phẫu lá và một số biện pháp kỹ
thuật trồng (Bùi Công Trừng, Nguyễn Hữu Bình, 1963; Tổ nghiên cứu cây có
củ., 1969). Theo Mai Thạch Hoành (2003), nước ta thường trồng 3 nhóm
giống: Nhóm dong đỏ, nếu thâm canh tốt năng suất đạt 40 tấn/ha, bột ướt
chiếm 27% củ tươi, thời gian sinh trưởng 8,5 – 10 tháng; Nhóm dong xanh
20

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×