Tải bản đầy đủ

Đánh giá hiện trạng và định hướng sử dụng đất nông nghiệp huyện võ nhai, tỉnh thái nguyên đến năm 2020

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
TT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
1. BMP Quy trình quản lý tốt
2. BVTV Bảo vệ thực vật
3. CNH - HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
4. CCNNN Cây công nghiệp ngắn ngày
5. CPTG Chi phí trung gian
6. FAO Tổ chức nông lương thế giới
7. GAP Quy trình nông nghiệp tốt hay hoàn hảo
8. GDP Tổng sản phẩm quốc nội
9. GTGT Giá tri gia tăng
10. GTSX Giá trị sản xuất
11. HQĐV Hiệu quả đồng vốn đầu tư
12. IPM Quy trình phòng trừ sâu bệnh tổng hợp
13. LĐ Lao động
14. LUT Loại hình sử dụng đất
15. LX - LM Lúa xuân - Lúa mùa
16. NN & PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
17. NNBV Nông nghiệp bền vững
18. NTTS Nuôi trồng thuỷ sản
19. PTBV Phát triển bền vững

20. SARD Phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững
21. UNEP Chương trình môi trường liên hợp quốc
22. VSV Vi sinh vật
i
DANH MỤC CÁC BẢNG
STT Tên bảng Trang
2. Mục đích nghiên cứu 2
3. Yêu cầu nghiên cứu 2
1.1. Một số vấn đề lý luận về sử dụng đất và phát triển bền vững 3
1.2. Những vấn đề về hiệu quả sử dụng đất và đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 20
1.3. Cơ sở thực tiễn về sử dụng đất nông nghiệp 27
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 34
2.2. Nội dung nghiên cứu 34
2.3. Phương pháp nghiên cứu 34
3.1.1.5. Các loại tài nguyên khác 41
3.1.2.1. Tăng trưởng kinh tế 47
Bảng 3.2:Một số chỉ tiêu phát triển kinh tế của huyện Võ Nhai qua các năm 47
(Nguồn : Niên giám thống kê huyện Võ Nhai) 48
Bảng 3.4. Diện tích - Năng suất - Sản lượng một số cây trồng chính 50
(Nguồn : Niên giám thống kê huyện Võ Nhai năm 2011) 51
Bảng 3.5: Cơ cấu giá trị ngành trồng trọt qua 3 năm ( 2009- 2011) 52
(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Võ Nhai năm 2011) 52
(Nguồn: phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Võ Nhai) 53
(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Võ Nhai năm 2011) 56
Bảng 3.8: Biến động dân số, lao động qua một số năm 57
(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Võ Nhai năm 2011) 57
Bảng 3.9: Hiện trạng sử dụng đất huyện Võ Nhai năm 2011 63
Biểu đồ 3.1: Hiện trạng sử dụng đất huyện Võ Nhai năm 2011 64
Bảng 3.10: Hiện trạng sử dụng đất theo đơn vị hành chính 64
ĐVT: ha 64
Bảng 3.11: Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp của huyện 65
Bảng 3.12: Các loại hình sử dụng đất trên địa bàn huyện Võ Nhai 67
Bảng 3.13: Hiệu quả sử dụng đất của các loại cây trồng chính 73
Bảng 3.17: Hiện trạng và định hướng sử dụng đất nông nghiệp huyện Võ Nhai 91
Bảng 3.18: Dự kiến chu chuyển các loại hình sử dụng đất trong tương lai 93
Bảng 3.19: Dự kiến năng suất, sản lượng của các cây trồng chính huyện Võ Nhai, tỉnh Thái
Nguyên 94
Bảng 3.20: So sánh giá trị sản lượng một số cây trồng chính huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên
năm 2011 - 2020 95
ii


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là nguồn lực quan trọng của bất cứ một nền sản xuất nào. Với sản
xuất nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất không thể thay thế được, không có
đất thì không có sản xuất nông nghiệp. Vì vậy sử dụng đất là một hợp phần quan
trọng của chiến lược nông nghiệp sinh thái phát triển bền vững. Việt Nam là
nước có diện tích đất bình quân thấp cho nên sự phát triển của Việt Nam phụ
thuộc rất nhiều vào hiệu quả của việc sử dụng đất. Việc sử dụng thích hợp đất
nông nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh
tế đất nước.
Nông nghiệp Việt Nam đã đạt được không ít những thành tựu sau hơn 20
năm đổi mới. Thắng lợi rõ rệt nhất của nông nghiệp là tạo ra và duy trì quá trình
tăng trưởng sản xuất với tốc độ nhanh trong thời gian dài. Từ năm 1986 - 2005,
giá trị sản xuất nông nghiệp tăng bình quân 5,5%/năm. Thắng lợi lớn thứ hai là
đã cơ bản đảm bảo an ninh lương thực. Năm 1989 ở miền Bắc, khoảng 39,7% số
hộ nông nghiệp của 21 tỉnh thành bị đói. Chính sách đổi mới đã tạo nên sự thần
kỳ: sản lượng lương thực bình quân đầu người tăng liên tục, giải quyết được vấn
đề an ninh lương thực. Nông nghiệp đã tạo nhiều việc làm, xoá đói giảm nghèo
(tỷ lệ hộ đói nghèo giảm 2%/năm). Trước đổi mới, số người sống dưới mức đói
nghèo là 60%, năm 2003 giảm xuống còn 29% và năm 2006 còn 19%. Mức giảm
đói nghèo ấn tượng này chủ yếu là nhờ thành tựu to lớn trong lĩnh vực nông
nghiệp, phát triển nông thôn. Trong khi công nghiệp và dịch vụ còn đang lấy đà
thì nông nghiệp và kinh tế nông thôn vẫn là nơi tạo việc làm chính cho dân cư
nông thôn.
Cùng với việc tạo ra động lực thúc đẩy sản xuất phát triển nông nghiệp Việt
1
Nam đang đối đầu với nhiều khó khăn của sự phát triển kinh tế như: qui mô sản
xuất nhỏ lẻ, công nghệ lạc hậu, năng suất, độ đồng đều, chất lượng sản phẩm còn
thấp, khả năng hợp tác liên kết của nông dân Việt Nam nói chung còn rất yếu .
Võ Nhai là một huyện nông nghiệp, chính vì vậy nông nghiệp là một nguồn
thu nhập chính của nhân dân trên địa bàn huyện.
Để có các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn
huyện Võ Nhai thì tiến hành đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp hiện
nay là cần thiết. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiện
trạng và định hướng sử dụng đất nông nghiệp huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
đến năm 2020”.
2. Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá được hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp nhằm lựa chọn phương
thức sử dụng phù hợp trong điều kiện cụ thể của huyện.
- Định hướng và đề xuất được các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử
dụng đất nông nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp bền vững.
3. Yêu cầu nghiên cứu
- Điều tra, đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Võ Nhai
phát hiện những tiềm năng và tồn tại trong sử dụng đất nông nghiệp.
- Điều tra, xác định các loại hình sử dụng đất hiện tại và đánh giá tiềm
năng các loại hình sử dụng đất chính, phát hiện các yếu tố hạn chế của các các
loại hình sử dụng đất hiện tại.
- Trên cơ sở đánh giá yêu cầu sử dụng đất và hiệu quả của các loại hình sử
dụng đất, định hướng sử dụng đất nông nghiệp hợp lý đến năm 2020 của huyện
Võ Nhai.
2
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1. Một số vấn đề lý luận về sử dụng đất và phát triển bền vững
1.1.1. Đất nông nghiệp
Đất được hình thành trong hàng triệu năm và là một trong những yếu tố
không thể thiếu cấu thành môi trường sống. Đất là nơi chứa đựng không gian
sống của con người và các loài sinh vật, là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết
cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người. Với đặc thù vô cùng quý
giá là có độ phì nhiêu, đất làm nhiệm vụ của một bà mẹ nuôi sống muôn loài
trên trái đất.
Đất đai là tư liệu sản xuất không thể thay thế trong sản xuất nông nghiệp
nếu biết sử dụng hợp lý thì sức sản xuất của đất đai sẽ ngày càng tăng lên [4].
Sản xuất nông nghiệp cung cấp lương thực, thực phẩm cho con người, đảm bảo
nguồn nguyên liệu cho các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và công
nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm. Hiện tại cũng như trong tương lai, nông
nghiệp vẫn đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội loài người,
không ngành nào có thể thay thế được. Các Mác đã từng nói “Đất là mẹ, sức lao
động là cha sản sinh ra của cải vật chất”.
Luật đất đai năm 2003, đất nông nghiệp được chia ra làm các nhóm đất
chính sau: đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất
làm muối và đất nông nghiệp khác .
1.1.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng đất nông nghiệp và phát triển nông nghiệp bền
vững.
1.1.2.1 Nhóm yếu tố về điều kiện tự nhiên
Các yếu tố tự nhiên là tiền đề cơ bản nhất, là nền móng để phát triển và
phân bố nông nghiệp. Mỗi một loại cây trồng, vật nuôi chỉ có thể sinh trưởng và
phát triển trong những điều kiện tự nhiên nhất định nào đó, ngoài điều kiện đó
3
cây trồng và vật nuôi sẽ không thể tồn tại hoặc kém phát triển. Các điều kiện tự
nhiên quan trọng nhất là đất, nước và khí hậu. Chúng quyết định khả năng nuôi
trồng các loại cây trồng, vật nuôi cụ thể trên từng điều kiện đất, nước và khí hậu
khác nhau, cũng như việc áp dụng các quy trình sản xuất nông nghiệp trong các
điều kiện tự nhiên khác nhau, đồng thời có ảnh hưởng lớn đền năng suất cây
trồng, vật nuôi.
Điều kiện tự nhiên (đất, nước, khí hậu, thời tiết ) là các yếu tố đầu vào
có ý nghĩa quyết định, tác động trực tiếp đến quá trình sản xuất nông nghiệp và
ảnh hưởng tới sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng, khả năng đầu tư trong
quá trình sản xuất nông nghiệp cũng phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên.
Một trong những yếu tố hạn chế năng suất cây trồng chính là điều kiện về
độ phì của đất, điều kiện nước tưới, điều kiện khí hậu.
1.1.2.2 Nhóm các yếu tố kỹ thuật canh tác
Biện pháp kỹ thuật canh tác là tác động của con người vào đất đai, cây
trồng, vật nuôi, nhằm tạo nên sự hài hoà giữa các yếu tố của quá trình sản xuất
để hình thành, phân bố và tích luỹ năng suất kinh tế. Đây là những vấn đề thể
hiện sự hiểu biết về đối tượng sản xuất, về thời tiết, về điều kiện môi trường và
thể hiện những dự báo thông minh của người sản xuất. Lựa chọn các tác động kỹ
thuật, lựa chọn chủng loại và cách sử dụng các đầu vào phù hợp với các quy luật
tự nhiên của sinh vật nhằm đạt được các mục tiêu đề ra là cơ sở để phát triển sản
xuất nông nghiệp hàng hoá. Theo Frank Ellis và Douglass C.North, ở các nước
phát triển, khi có tác động tích cực của kỹ thuật, giống mới, thuỷ lợi, phân bón
tới hiệu quả thì cũng đặt ra yêu cầu mới đối với tổ chức sử dụng đất. Có nghĩa là
ứng dụng công nghệ sản xuất tiến bộ là một đảm bảo vật chất cho kinh tế nông
nghiệp tăng trưởng nhanh dựa trên việc chuyển đổi sử dụng đất. Cho đến giữa
4
thế kỷ 21, trong nông nghiệp nước ta, quy trình kỹ thuật có thể góp phần đến
30% của năng suất kinh tế. Như vậy, nhóm các biện pháp kỹ thuật đặc biệt có ý
nghĩa quan trọng trong quá trình khai thác đất theo chiều sâu và nâng cao hiệu
quả sử dụng đất nông nghiệp [17].
1.1.2.3 Nhóm các yếu tố kinh tế tổ chức
+ Công tác quy hoạch và bố trí sản xuất
Phát triển sản xuất hàng hoá phải gắn với công tác quy hoạch và phân
vùng sinh thái nông nghiệp. Cơ sở để tiến hành quy hoạch dựa vào điều kiện tự
nhiên, kinh tế - xã hội đặc trưng cho từng vùng. Việc phát triển sản xuất nông
nghiệp phải đánh giá, phân tích thị trường tiêu thụ và gắn với quy hoạch công
nghiệp chế biến. Đó sẽ là cơ sở để phát triển sản xuất, khai thác các tiềm năng
của đất đai, nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và phát triển sản xuất
hàng hoá.
+ Hình thức tổ chức sản xuất: Các hình thức tổ chức sản xuất ảnh hưởng
trực tiếp đến việc khai thác, nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp. Vì vậy,
cần phải thực hiện đa dạng hoá các hình thức hợp tác trong nông nghiệp, xác lập
một hệ thống tổ chức sản xuất, kinh doanh phù hợp và giải quyết tốt mối quan hệ
giữa sản xuất, dịch vụ và tiêu thụ nông sản hàng hoá. Tổ chức có tác động lớn
đến hàng hoá của hộ nông dân là: Tổ chức dịch vụ đầu vào và đầu ra.
+ Dịch vụ kỹ thuật: Sản xuất hàng hoá của hộ nông dân không thể tách rời
những tiến bộ kỹ thuật và việc ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản
xuất. Vì sản xuất nông nghiệp hàng hoá phát triển đòi hỏi phải không ngừng
nâng cao chất lượng nông sản và hạ giá thành nông sản phẩm [17].
1.1.2.4. Nhóm các yếu tố kinh tế - xã hội
Các nhân tố kinh tế - xã hội có ảnh hưởng quan trọng tới phát triển và
5
phân bố nông nghiệp:
+ Thị trường tiêu thụ có tác động mạnh mẽ đến sản xuất nông nghiệp và
giá cả nông sản. Cung, cầu trên thị trường có tác dụng điều tiết đối với sự hình
thành và phát triển đối với các hàng hoá nông nghiệp. Theo Nguyễn Duy Tính
(1995) [20], ba yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
là năng suất cây trồng, hệ số quay vòng đất và thị trường cung ứng đầu vào và
tiêu thụ đầu ra. Trong cơ chế thị trường, các nông hộ hoàn toàn tự do lựa chọn
hàng hoá họ có khả năng sản xuất, đồng thời họ có xu hướng hợp tác, liên doanh,
liên kết để sản xuất ra những nông sản hàng hoá mà nhu cầu thị trường cần với
chất lượng cao đáp ứng nhu cầu thị hiếu của khách hàng. Muốn mở rộng thị
trường phải phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng, hệ thống thông tin, dự báo, mở
rộng các dịch vụ tư vấn Đồng thời, quy hoạch các vùng trọng điểm sản xuất
hàng hoá để người sản xuất biết nên sản xuất cái gì? bán ở đâu? mua tư liệu sản
xuất và áp dụng khoa học công nghệ gì? Sản phẩm hàng hoá của Việt Nam đa
dạng, phong phú về chủng loại, chất lượng, giá rẻ và đang được lưu thông trên
thị trường là điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất
hàng hoá có hiệu quả [5].
+ Hệ thống chính sách, pháp luật về phát triển nông nghiệp, đất đai, có
vai trò quan trọng trong phát triển nông nghiệp và sản xuất nông nghiệp. Hệ
thống chính sách pháp luật tác động rất lớn tới sự phát triển của nông nghiệp và
cách thức tổ chức, sắp xếp, cơ cấu sản xuất nông nghiệp. Mỗi một sự thay đổi của
chính sách, pháp luật thường tạo ra sự thay đổi lớn, sự thay đổi đó có thể thúc đẩy
sản xuất nông nghiệp phát triển hoặc giới hạn, hạn chế một khuynh hướng phát
triển nhằm mục đích can thiệp và phát triển theo định hướng của nhà nước.
Phát triển nông nghiệp nước ta thực sự khởi sắc sau sự kiện đổi mới của
6
pháp luật và một loạt chính sách về đất đai bắt đầu là Nghị quyết 10 của Bộ
chính trị vào tháng 4 năm 1988, người nông dân được giao đất nông nghiệp sử
dụng ổn định, lâu dài, được thừa nhận như một đơn vị kinh tế và được tự chủ
trong sản xuất nông nghiệp. Sự ra đời của Luật đất đai 1993, sau đó là luật sửa
đổi bổ sung luật đất đai năm 1998 và năm 2001; Luật đất đai năm 2003; Nghị
định 64/CP năm 1993 về giao đất nông nghiệp và Nghị định 02/CP năm 1994 về
giao đất rừng và một loạt các văn bản liên quan khác đã đem lại luồng gió mới cho
sản xuất nông nghiệp. Nước ta từ chỗ phải nhập khẩu lương thực nay đã có thể tự
túc lương thực và trở thành một nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới.
+ Sự ổn định chính trị - xã hội và các chính sách của Nhà nước: ổn định
chính trị là yếu tố then chốt để tạo nên sự khác biệt giữa Việt Nam và các nước
khác trong khu vực. Đầu tư vào một nước có nền chính trị ổn định tạo tâm lý yên
tâm về khả năng tìm kiếm lợi nhuận và thu hồi vốn, giúp các nhà đầu tư có thể
tính toán chiến lược đầu tư lớn và dài hạn. Vai trò của ổn định chính sách cũng
tương tự như vậy, môi trường cởi mở và rõ ràng thu hút, hấp dẫn các nhà đầu tư
ngoại quốc.
1.1.3. Nguyên tắc và quan điểm sử dụng đất nông nghiệp bền vững
1.1.3.1 Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp
Đất đai là nguồn tài nguyên có hạn, trong khi nhu cầu của con người về
các sản phẩm lấy từ đất ngày càng tăng. Mặt khác, đất nông nghiệp ngày càng
thu hẹp do bị trưng dụng sang các mục đích khác. Vì vậy, mục tiêu sử dụng đất
nông nghiệp ở nước ta là nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội trên cơ sở đảm bảo an
ninh lương thực, thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp và hướng
tới xuất khẩu. Sử dụng đất nông nghiệp trong sản xuất trên cơ sở cân nhắc các
mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, tận dụng tối đa lợi thế so sánh về điều kiện
7
sinh thái và không làm ảnh hưởng xấu đến môi trường là những nguyên tắc cơ
bản và cần thiết để đảm bảo cho khai thác sử dụng bền vững tài nguyên đất đai.
Do đó, đất nông nghiệp cần được sử dụng theo nguyên tắc “đầy đủ, hợp lý và
hiệu quả”, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh cụ thể của từng vùng [17].
1.1.3.2 Quan điểm phát triển nông nghiệp bền vững
Mục đích của nông nghiệp bền vững là kiến tạo một hệ thống bền vững về
sinh thái, có tiềm lực về kinh tế, có khả năng thoả mãn những nhu cầu của con
người mà không huỷ diệt đất đai, không làm ô nhiễm môi trường. Hội nghị
thượng đỉnh về PTBV năm 2002 tại Johannesburg đã khẳng định phát triển Nông
nghiệp và Nông thôn Bền vững (SARD) là quá trình đa chiều bao gồm: (i) tính
bền vững của chuỗi lương thực (từ người sản xuất đến tiêu thụ, liên quan trực
tiếp đến cung cấp đầu vào, chế biến và thị trường); (ii) tính bền vững trong sử
dụng tài nguyên đất và nước về không gian và thời gian; (iii) khả năng tương tác
thương mại trong tiến trình phát triển nông nghiệp và nông thôn để đảm bảo
cuộc sống đủ, an ninh lương thực trong vùng và giữa các vùng [2].
Hệ thống nông nghiệp bền vững là hệ thống quản lý thành công các nguồn
lợi phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, để thỏa mãn những nhu cầu của con
người, trong khi duy trì và nâng cao chất lượng môi trường và bảo vệ các nguồn
lợi thiên nhiên. Hệ thống đó phải bao gồm sự quản lý, bảo vệ các nguồn lợi thiên
nhiên một cách hợp lý nhất và phải có phương hướng thay đổi công nghệ và thể
chế để đảm bảo duy trì và thỏa mãn liên tục những nhu cầu của con người ở hiện
tại và trong tương lai. Sự phát triển như vậy phải gắn liền với việc bảo vệ đất,
nước, các nguồn gen cây trồng vật nuôi và bảo đảm lợi ích kinh tế và sự chấp
nhận xã hội [19].
Một nhà khoa học đã từng nói "sự bền vững là để lại cho các thế hệ tương
8
lai ít nhất là những cơ hội mà chúng ta đang có”. Đây là quan điểm rất thực tiễn,
đảm bảo rằng tổng tài sản ở bốn dạng (tài sản thiên nhiên, tài sản do con người
làm ra, bản thân con người và xã hội) luôn được bảo toàn trong suốt quá trình
phát triển.
Phát triển nông nghiệp bền vững sẽ vừa đáp ứng nhu cầu của hiện tại, vừa
đảm bảo được nhu cầu của các thế hệ tương lai [5]. Một quan điểm khác lại cho
rằng: Phát triển nông nghiệp bền vững là sự quản lý và bảo tồn sự thay đổi về tổ
chức và kỹ thuật nhằm đảm bảo thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người
cả hiện tại và mai sau [23].
1.1.4. Những xu hướng sử dụng đất nông nghiệp bền vững
Thời gian gần đây, nhiều phương thức sản xuất nông nghiệp gắn với
những khái niệm như: nền nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sinh thái, nông
nghiệp sạch, nông nghiệp đầu vào thấp và trong mỗi phương thức đều có vai trò
gắn với sự phát triển bền vững.
1.1.4.1 Nông nghiệp hữu cơ
Định nghĩa bởi nhóm nghiên cứu của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA). ‘Canh
tác hữu cơ là một hệ thống sản xuất hoặc là không sử dụng hoặc loại trừ số lớn
phân hoá học tổng hợp, thuốc trừ sâu, chất điều hoà sinh trưởng và các chất phụ
gia trong thức ăn gia súc. Để mở phạm vi có thể thực hiện được lớn nhất, hệ
thống canh tác hữu cơ phải dựa trên việc luân canh cây trồng, sử dụng tàn dư
thực vật, trồng cây họ đậu, sử dụng cây phân xanh, các chất thải hữu cơ, phòng
trừ sinh học để duy trì sức sản xuất của đất và lớp đất canh tác nhằm cung cấp
dinh dưỡng và bảo vệ cây khỏi côn trùng, dịch bệnh, cỏ dại’.
Tháng 4/1995, Ban tiêu chuẩn hữu cơ quốc gia (NOSB) của USDA khẳng
9
định ‘Nông nghiệp hữu cơ là hệ thống quản lý sản xuất sinh thái nhằm thúc đẩy
và nâng cao đa dạng sinh học, các chu kỳ sinh học và hoạt động sinh học của đất.
Nó dựa trên cơ sở sử dụng tối thiểu đầu vào vô cơ và các phương thức nhằm
phục hồi, duy trì và tăng cường sự hài hoà sinh học’.
Các nguyên tắc của nông nghiệp hữu cơ nhằm tăng cường sự cân bằng
sinh thái của các hệ thống tự nhiên và gắn hệ thống canh tác vào hệ sinh thái
chung. Tuy nhiên, các biện pháp thâm canh hữu cơ cũng không thể đảm bảo
chắc chắn rằng sản phẩm hoàn toàn không còn có dư lượng, song những phương
pháp đã sử dụng sẽ giảm thiểu sự ô nhiễm không khí, đất và nước. Mục tiêu cơ
bản của nông nghiệp hữu cơ là tối ưu hoá sức khoẻ, sức sản xuất của các cộng
đồng sống phụ thuộc lẫn nhau trong đất, cây trồng, động vật và con người. Hiện
nay, theo quan điểm của nhiều nhà khoa học, nông nghiệp hữu cơ là một hệ
thống gắn liền với sự phát triển nông nghiệp bền vững. Phương thức sản xuất mà
nông dân nông nghiệp hữu cơ lựa chọn phụ thuộc không chỉ vào các điều kiện
môi trường nông nghiệp mà còn phụ thuộc vào hoàn cảnh kinh tế xã hội như: lao
động, khả năng đầu tư và thị trường mục tiêu. Nông dân nông nghiệp hữu cơ cố
gắng tìm kiếm sự phát triển phù hợp, thích ứng với điều kiện trang trại, khảo sát
và xâm nhập thị trường, nhằm tạo nên một hệ thống bền vững trong chuỗi cung
cấp nông sản. Mục đích tổng thể là cây trồng, vật nuôi cho năng suất cao nhất,
mà vẫn bảo vệ tốt không khí, đất và nguồn nước [2; 24].
1.1.4.2 Nền nông nghiệp đầu vào thấp [2]
Hệ thống canh tác đầu vào thấp là ‘tìm kiếm sự tối ưu hoá việc sử dụng
đầu vào từ bên trong (nghĩa là tài nguyên của đồng ruộng) và giảm tối thiểu sử
dụng đầu vào (các nguồn không phải từ trang trại) như phân hoá học, thuốc trừ
sâu vào bất cứ thời điểm nào ở đâu có thể thực hiện được nhằm hạ thấp chi phí
10
sản xuất, giảm dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong sản phẩm và giảm rủi ro
chung cho nông dân, tăng lợi nhuận trong trại cả ngắn và dài hạn.
1.1.4.3 Canh tác sinh học/canh tác sinh thái [2]
Canh tác sinh học và sinh thái là khái niệm phổ biến được sử dụng ở
châu Âu và các nước phát triển. Canh tác sinh học là hệ thống trồng trọt mà
người sản xuất cố gắng giảm tối thiểu việc sử dụng hoá chất trừ sâu để bảo vệ
cây trồng. Khái niệm canh tác sinh học và sinh thái được hiểu theo nghĩa rộng
hơn, bao hàm các kỹ thuật và quy trình canh tác đặc biệt hơn đối với tính bền
vững của hệ canh tác, chẳng hạn như canh tác hữu cơ, chức năng sinh học,
chính thống và tự nhiên…
1.1.4.4 Canh tác tự nhiên
Canh tác tự nhiên phản ánh những kinh nghiệm và triết lý của nông dân
Nhật bản, ông Masanobu Fukuoka. Trong cuốn sách của ông ‘Sự quay vòng của
một cọng rơm: giới thiệu về hệ thống canh tác tự nhiên và Phương thức tự nhiên
của canh tác: lý thuyết và thực tế’ . Phương pháp canh tác của ông đề xuất là
không cày bừa, không sử dụng phân bón hoá học, thuốc trừ sâu, không làm cỏ,
đốn tỉa cành và điều quan trọng là sử dụng ít lao động. Hoàn thành tất cả khâu
trên bằng điều chỉnh kỹ lưỡng thời gian gieo hợp và phối hợp hệ thống cây trồng
(đa canh). Nói tóm lại, ông sử dụng nghệ thuật làm việc cùng tự nhiên để đạt
được mức độ cao của sự tinh tế [25; 26; 27; 28].
Theo khái niệm canh tác tự nhiên Kyusei của tác giả Teruo Higa, Nhật
Bản vào những năm 1980, "Canh tác tự nhiên Kyusei là cứu cánh nhân loại
thông qua phương pháp canh tác hữu cơ hay tự nhiên. Điểm bổ sung trong khái
niệm này là phương thức Kyusei thường khai thác kỹ thuật liên quan đến các vi
sinh vật có lợi như việc nhiễm vi sinh vật để tăng sự đa dạng sinh học của hệ vi
11
sinh vật đất trồng trọt và như vậy sẽ tạo nhân tố tăng sự sinh trưởng của cây
trồng, tăng năng suất và sản lượng [29].
1.1.4.5 Nông nghiệp/phương thức canh tác chính xác
Nông nghiệp chính xác là ‘chiến lược quản lý sử dụng thông tin chi tiết, ở
địa điểm đặc trưng để quản lý chính xác đầu vào. Khái niệm này nhiều khi gọi là
nông nghiệp chính xác, canh tác chính xác hay quản lý chính xác theo vị trí đặc
trưng. ý tưởng phải biết được đặc trưng của đất và cây đến từng mảnh ruộng để
tối ưu hoá đầu vào phù hợp từng vị trí. Đầu vào là phân bón, hạt giống, hoá chất
trừ sâu bệnh chỉ nên sử dụng vào đúng thời điểm, đúng nhu cầu để có hiệu quả
kinh tế cao nhất. Kỹ thuật này yêu cầu sử dụng một số thiết bị như máy tính cá
nhân, thiết bị viễn thông, viễn thám, hệ thống định vị toàn cầu (GPS), hệ thống
thông tin địa lý (GIS), người giám sát/kiểm tra, theo dõi. Phương thức canh tác
chính xác hứa hẹn một nền sản xuất nông nghiệp giảm sử dụng hoá chất đầu vào
tối ưu nhất, đảm bảo năng suất tính theo hiệu quả kinh tế, tuy nhiên vẫn còn
nhiều tranh cãi về tính bền vững vì phải đầu tư kinh phí lớn và yêu cầu sử dụng
kỹ thuật tiến bộ. Xu hướng này hiện đang rất phổ biến trong phát triển nông
nghiệp ở Nhật Bản [2].
1.1.5. Xây dựng nền nông nghiệp phát triển bền vững
1.1.5.1 Sự cần thiết sử dụng đất tiết kiệm, có hiệu quả và bền vững
Ngày nay, sử dụng đất bền vững, tiết kiệm và có hiệu quả đã trở thành
chiến lược quan trọng có tính toàn cầu, bởi 5 lý do:
Một là, tài nguyên đất vô cùng quý giá. Bất kỳ nước nào, đất đều là tư liệu
sản xuất nông - lâm nghiệp chủ yếu, cơ sở lãnh thổ để phân bố các ngành kinh tế
quốc dân. UNEP khẳng định “Mặc cho những tiến bộ khoa học - kỹ thuật vĩ đại,
con người hiện đại vẫn phải sống dựa vào đất”.
Hai là, tài nguyên đất có hạn, đất có khả năng canh tác càng ít ỏi. Toàn lục
12
địa trừ diện tích đóng băng vĩnh cửu (1.360 triệu héc-ta) chỉ có 13.340 triệu héc-
ta. Diện tích đất có khả năng canh tác của lục địa chỉ có 3.030 triệu héc-ta. Hiện
nhân loại mới khai thác được 1.500 triệu héc-ta đất canh tác.
Ba là, diện tích tự nhiên và đất canh tác trên đầu người ngày càng giảm do
áp lực tăng dân số, sự phát triển đô thị hóa, công nghiệp hóa và các hạ tầng kỹ
thuât. Bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người của thế giới hiện nay chỉ
còn 0,23 ha, ở Việt Nam chỉ còn 0,11 ha. Theo tính toán của Tổ chức Lương
thực thế giới (FAO), với trình độ sản xuất trung bình hiện nay trên thế giới, để có
đủ lương thực, thực phẩm, mỗi người cần có 0,4 ha đất canh tác.
Bốn là, do điều kiện tự nhiên, hoạt động tiêu cực của con người nên diện
tích đáng kể của lục địa đã, đang và sẽ còn bị thoái hóa, hoặc ô nhiễm dẫn tới
tình trạng giảm, mất khả năng sản xuất và nhiều hậu quả nghiêm trọng khác.
Trên thế giới hiện có 2.000 triệu héc-ta đất đã và đang bị thoái hóa, trong đó
1.260 triệu héc-ta tập trung ở châu á, Thái Bình Dương. ở Việt Nam hiện có 16,7
triệu héc-ta bị xói mòn, rửa trôi mạnh, chua nhiều, 9 triệu héc-ta đất có tầng
mỏng và độ phì thấp, 3 triệu héc-ta đất thường bị khô hạn và sa mạc hóa, 1,9
triệu héc-ta đất bị phèn hóa, mặn hóa mạnh. Ngoài ra tình trạng ô nhiễm do phân
bón, hóa chất bảo vệ thực vật, chất thải, nước thải đô thị, khu công nghiệp, làng
nghề, sản xuất, dịch vụ và chất độc hóa học để lại sau chiến tranh cũng đáng báo
động. Hoạt động canh tác và đời sống còn bị đe dọa bởi tình trạng ngập úng,
ngập lũ, lũ quét, đất trượt, sạt lở đất, thoái hóa lý, hóa học đất
Năm là, lịch sử đã chứng minh sản xuất nông nghiệp phải được tiến hành
trên đất tốt mới có hiệu quả. Tuy nhiên, để hình thành đất với độ phì nhiêu cần thiết
cho canh tác nông nghiệp phải trải qua hàng nghìn năm, thậm chí hàng vạn năm [1].
1.1.5.2 Cách thức tiến tới một hệ thống nông nghiệp bền vững
13
* Từ các hệ thống canh tác đến quy trình nông nghiệp hoàn hảo (GAPs)
Khái niệm ‘quy trình nông nghiệp tốt hay hoàn hảo-GAP’ sẽ đạt được mục
tiêu giảm sự thoái hoá của đất đang là điều kiện tiên quyết đối với việc tăng
cường tính bền vững của những hệ thống sản xuất tổng hợp. Nền nông nghiệp
bảo tồn, nông nghiệp hữu cơ và quản lý sinh học đất tổng hợp là 3 mô hình đang
được Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc thúc đẩy. Vấn đề cơ bản là tìm ra
phương thức tối ưu hoá các hệ thống cây trồng-chăn nuôi-các thành phần khác
để tạo thu nhập và cải thiện độ phì đất, sử dụng nông nghiệp bảo tồn và phòng
trừ sâu bệnh tổng hợp (IPM), gắn những kinh nghiệm của nông dân với kiến thức
mới như nguyên lý cơ bản của tính bền vững [2].
* Những nguyên lý của canh tác bền vững:
Canh tác bền vững có nghĩa là việc trồng cấy và chăn nuôi phải đồng thời
đáp ứng 3 mục tiêu: Bền vững về sinh thái (quản lý tài nguyên đất, nước, bảo vệ
đa dạng sinh học, và các phương thức canh tác bền vững). Lợi ích về kinh tế .
Lợi ích xã hội đối với nông dân và cộng đồng
+ Quản lý đất bền vững:
Quản lý đất bền vững tuỳ thuộc vào từng loại đất cụ thể. ở những nơi đất
ổn định, phì nhiêu thì việc trồng cấy và quản lý canh tác sẽ theo phương thức bền
vững, bù đủ lượng dinh dưỡng trong các sản phẩm thu hoạch và cây trồng mang
theo. Còn những vùng đất xấu cần xác định những phương thức quản lý và sản
xuất thích hợp. Biện pháp quản lý đất bền vững nhằm tránh sự thoái hoá đất, duy
trì độ phì chính dựa vào Quy trình quản lý tốt nhất (Best Management Practice -
BMP). Quy trình này bao hàm cả quy trình quản lý đất và các kỹ thuật canh tác
khác nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và sử dụng, tránh thoái hoá đất bao gồm:
Bảo vệ cấu trúc và hàm lượng chất hữu cơ trong đất; Quản lý dinh dưỡng; Dùng
14
cây phủ đất ; Duy trì độ phì nhiêu của đất; Sử dụng những phương thức canh tác
tiến bộ; Sử dụng các phương pháp trồng trọt thích hợp; Ngăn chặn hoang mạc
hoá và hạn hán; Quản lý đất dốc và phát triển bền vững miền núi [2].
+ Quản lý sâu bệnh bền vững:
Quản lý sâu bệnh bền vững và nông nghiệp bền vững cùng chung mục tiêu
là phát triển hệ thống nông nghiệp hoàn thiện về sinh thái và kinh tế. Quy trình
phòng trừ sâu bệnh tổng hợp (IPM) có thể coi như cấu thành chủ đạo trong hệ
thống phát triển nông nghiệp bền vững. Nguyên lý chung là bảo đảm tài nguyên
đất tốt và tính đa dạng được kiểm soát.
Quy trình phòng trừ dịch hại tổng hợp (IPM) là phương pháp dựa trên cơ
sở sinh thái về mối quan hệ cây trồng/dịch hại để kiểm soát côn trùng, cỏ dại;
xây dựng ngưỡng chấp nhận kinh tế về quần thể gây hại và hệ thống quan trắc ổn
định để phát hiện dự báo dịch hại. Chương trình này gồm nhiều kỹ thuật như: sử
dụng các giống kháng/chống chịu; luân canh; các kỹ thuật trồng trọt; tối ưu việc
sử dụng phòng trừ sinh học; sử dụng hạt giống công nhận; xử lý hạt giống; sử
dụng hạt giống/vật liệu nhân giống sạch bệnh; điều chỉnh thời vụ gieo trồng; hợp
lý về thời gian sử dụng thuốc bảo vệ thực vật; làm vệ sinh đồng ruộng khi bị
nhiễm sâu bệnh
Bước đầu tiên trong việc phòng trừ dịch hại bền vững cần phải xem xét hệ
sinh thái nông nghiệp, những điều kiện để áp dụng phương thức quản lý phù hợp
để phòng trừ sâu bệnh hiệu quả nhất, bảo vệ thiên địch, những động vật ký sinh.
Phương thức Biointensive IPM (tạm gọi là IPM tăng cường sinh học - IPM-B) là
xu hướng kết hợp cả các yếu tố sinh thái và kinh tế vào hệ nông nghiệp, chú
trọng vào những quan tâm chung về chất lượng môi trường và an toàn thực
phẩm. Lợi ích của việc sử dụng IPM-B có thể giảm chi phí cho các chất hoá học
15
đầu vào, giảm tác động đến môi trường, phòng trừ sâu bệnh hiệu quả và bền
vững hơn. IPM dựa trên cơ sở sinh thái có tiềm năng giảm đầu vào của nhiên
liệu máy sử dụng và hoá chất tổng hợp, tất cả làm tăng chi phí và tác động môi
trường và đó cũng là hiệu quả đối với người trồng trọt và xã hội. IPM-B tập
trung vào phạm vi các phương pháp ngăn ngừa, sử dụng biện pháp sinh học để
khống chế quần thể côn trùng ở ngưỡng có thể chấp nhận được [2].
Nếu tất cả đều sử dụng rộng rãi thuốc trừ sâu tổng hợp để bảo vệ cây trồng
thì sẽ gây hậu quả không tốt với môi trường, khả năng hồi phục của công trùng,
tính kháng thuốc, tác động có tính gây chết và nửa chết đối với sinh vật, kể cả tác
động đến con người. Những tác động này đang là mối quan tâm của công chúng,
mặt khác với nhu cầu ngày càng tăng của môi sinh sạch (không khí sạch, nước
sạch, các tập tính sống của động vật hoang dã) và thiên nhiên đẹp. Rõ ràng xu
hướng giảm sự phụ thuộc vào hoá chất trong sản xuất nông nghiệp đang được
xem là chiến lược đối với nông dân.
Một số biện pháp khác:
- Trồng nhiều vụ (sản xuất kế tiếp nhau); trồng xen, trồng gối là những
phương phức bù và bổ sung tối ưu giữa các cây trồng và cũng là điều kiện bất
thuận cho sự phát triển liên tục của sâu bệnh. (Intercropping: Principles and
Production Practices).
- Gieo trồng hạt giống hoặc cây giống sạch bệnh để ngăn chặn các nguồn
bệnh lây lan
- Sử dụng giống kháng bệnh
- Hệ thống xử lý vệ sinh đồng ruộng, tiêu huỷ và cách ly nguồn bệnh
- Thay đổi ngày gieo/vụ gieo trồng để tránh những đợt dịch nặng theo
quy luật.
- Tối thích các điều kiện gieo trồng luôn là yếu tố quan trọng nhằm giúp
16
cây sinh trưởng phát triển tốt nhất, khoẻ mạnh nhất và sức chống đỡ với côn
trùng bệnh hại cũng tốt hơn.
- Sử dụng phương pháp che phủ tránh cỏ dại, côn trùng và một số bệnh
hại. Phương pháp này còn giúp giảm thiểu sự lan truyền nguồn bệnh nhất là các
bệnh từ đất
- Sử dụng cây trồng tạo từ phương pháp công nghệ sinh học, những kết
quả thu được từ một số công ty với giống cây kháng côn trùng, bệnh và thuốc
trừ cỏ
- Phòng trừ sinh học: Đây là phương pháp sử dụng sinh vật sống (các loại
sinh vật ký sinh, các loại ăn thịt hoặc các nguồn bệnh để duy trì quần thể côn
trùng dưới mức thiệt hại về kinh tế.
Phòng trừ sinh học tự nhiên: duy trì hệ thiên địch tự nhiên để khống chế
quần thể sâu hại dưới ngưỡng thiệt hại kinh tế.
- Phòng trừ bằng phương pháp cơ học và vật lý: xử lý nhiệt (nóng hoặc
lạnh), điều chỉnh ẩm độ, sử dụng một số biện pháp cơ học.
Mấu chốt của bất kỳ biện pháp IPM nào cũng là việc xác định rõ tác nhân
gây hại với những khía cạnh (i) loại cây chủ và không ký chủ của loại côn trùng
này; (ii)thời điểm côn trùng xuất hiện; (iii) chu kỳ sinh học của chúng và liệu
điều khiển cây trồng thế nào để làm cho sự sống của chúng hết sức bất lợi và như
vậy sẽ dễ dàng áp dụng các biện pháp tự nhiên.
- Sử dụng thuốc trừ sâu thường là giải pháp cuối cùng trong các chương
trình IPM vì những tác hại tiềm năng đến môi trường, đây cũng là biện pháp hỗ
trợ khi các phương pháp như phòng trừ sinh học, sử dụng hệ thống cây trồng…
không khống chế nổi quần thể sâu hại dưới ngưỡng thiệt hại về kinh tế.
- Sử dụng các thuốc trừ sâu thảo dược, ít gây hại môi trường và nhiễm độc
17
sản phẩm [2].
+ Hệ thống phòng trừ cỏ tổng hợp:
Phòng trừ cỏ dại là một trong cấu thành quan trọng của hệ canh tác bền
vững. Một số nguyên tắc chính bao gồm:
- Ngăn chặn sự phát triển, sinh tồn, ngăn chặn sự lan truyền hạt cỏ vào
nguồn nước, phân bón…
-Luân canh cây trồng cũng là một trong những biện pháp phòng trừ cỏ
hữu hiệu.
- Sử dụng các biện pháp nhằm giảm thiểu việc sử dụng thuốc trừ cỏ. Có
thể gieo chậm lại để cỏ nảy mầm và diệt trước sau đó sẽ gieo hạt sau.
Tăng cường xu hướng phòng trừ cỏ tổng hợp, đặc biệt đối với cây trồng
nông nghiệp. Vấn đề trừ cỏ gắn chặt với bảo tồn và cải thiện tài nguyên đất [2].
+ Bảo vệ đa dạng sinh học:
Điều được bàn luận nhiều trong phương thức sản xuất nông nghiệp hiện
đại đang là nguy cơ giảm đa dạng sinh học. Sự phá huỷ các môi trường sinh
sống, sự khai thác quá mức, sự ô nhiễm và việc đưa vào nuôi trồng các loài động
và thực vật nhập ngoại một cách không thích hợp là nguyên nhân gây tổn thất về
đa dạng sinh học của thế giới. Sự suy giảm về đa dạng sinh học này xẩy ra phần
lớn là do cách đối xử của con người với tự nhiên.
Những tiến bộ gần đây trong công nghệ sinh học cho thấy rằng, vật chất
gien trong các loài động vật, thực vật và vi sinh vật có tiềm năng phục vụ cho
nông nghiệp, y tế và phúc lợi của nhân dân và cho việc bảo vệ môi trường.
Đẩy mạnh việc phục hồi các hệ sinh thái đã bị phá huỷ, và phục hồi các
loài bị đe doạ nguy hiểm. Phát triển các cách sử dụng lâu bền về công nghệ sinh
học, và các cách chuyển giao công nghệ này một cách an toàn hợp lý [2].
+ Quản lý công nghệ sinh học:
18
Công nghệ sinh học là quá trình sử dụng các kiến thức truyền thống và
công nghệ hiện đại nhằm làm thay đổi vật chất gien trong thực vật, động vật, vi
sinh vật và tạo ra các sản phẩm mới.
Công nghệ sinh học cần phải được phát triển nhằm nâng cao năng suất và
chất lượng lương thực thực phẩm. Nâng cao sức chống chịu trong các điều kiện
bất thuận, áp dụng các kết quả của công nghệ sinh học để giảm thiểu nhu cầu sử
dụng hoá chất trong nông nghiệp. Đóng góp làm màu mỡ cho đất và làm tăng
thêm hiệu suất cho những loài thực vật sử dụng các chất dinh dưỡng của đất, để
làm sao cho nền sản xuất nông nghiệp không tháo đi mất các chất dinh dưỡng
khỏi địa bàn hoạt động. Khai thác tài nguyên khoáng sản theo cách ít gây ra sự
phá huỷ về môi trường [2].
+ Phát triển nông thôn bền vững:
Thực tế là số dân nghèo trên thế giới hiện sống tập trung hầu hết ở vùng
nông thôn và phương kế sinh nhai của họ thường gắn với nông nghiệp. Thúc
đẩy sự phát triển nông thôn thông qua nông nghiêp được thể hiện qua chính sách
phát triển của nhiều quốc gia. Nhìn chung, những chính sách đều thể hiện yêu
cầu phải đảm bảo an ninh lương thực cho nông dân, tạo cơ hội cho họ vượt qua
đói nghèo và cân bằng giữa các mục tiêu môi trường, xã hội và kinh tế.
Như vậy phát triển nông thôn là lĩnh vực đa ngành, đặt trong mối quan hệ
phức tạp giữa xã hội - tài nguyên thiên nhiên - môi trường bền vững. Không giải
quyết được tận gốc vấn đề an ninh lương thực thì không thể bảo tồn được tài nguyên
đất, bảo vệ được rừng, không thể có những hệ canh tác bền vững vì đó là những kế
sinh nhai của người dân gắn với rừng, với đồng ruộng. Vì thế, phương thức thực hiện
trong phát triển nông thôn của Tổ chức Phát triển Canada (CIDA) đặt ra theo 2
hướng: bền vững về phương kế sinh sống và sự lành mạnh của hệ sinh thái [2].
19
1.2. Những vấn đề về hiệu quả sử dụng đất và đánh giá hiệu quả sử
dụng đất nông nghiệp
1.2.1. Khái quát về hiệu quả sử dụng đất
Có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả. Trước đây, người ta thường
quan niệm kết quả chính là hiệu quả. Sau này, người ta nhận thấy rõ sự khác
nhau giữa hiệu quả và kết quả. Nói một cách chung nhất thì hiệu quả chính là kết
quả như yêu cầu của công việc mang lại [21].
Hiệu quả là kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả mà con người chờ đợi
hướng tới; nó có những nội dung khác nhau. Trong sản xuất, hiệu quả có nghĩa
là hiệu suất, là năng suất. Trong kinh doanh, hiệu quả là lãi suất, lợi nhuận.
Trong lao động nói chung, hiệu quả là năng suất lao động được đánh giá bằng số
lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, hoặc bằng số lượng
sản phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian [30].
Kết quả, mà là kết quả hữu ích là một đại lượng vật chất tạo ra do mục
đích của con người, được biểu hiện bằng những chỉ tiêu cụ thể, xác định. Do tính
chất mâu thuẫn giữa nguồn tài nguyên hữu hạn với nhu cầu tăng lên của con
người mà ta phải xem xét kết quả đó được tạo ra như thế nào? Chi phí bỏ ra bao
nhiêu? Có đưa lại kết quả hữu ích hay không? Chính vì vậy khi đánh giá kết quả
hoạt động sản xuất kinh doanh không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà
phải đánh giá chất lượng hoạt động tạo ra sản phẩm đó. Đánh giá chất lượng hoạt
động sản xuất kinh doanh là nội dung của đánh giá hiệu quả [16].
Từ những khái niệm chung về hiệu quả, ta xem xét trong lĩnh vực sử dụng
đất thì hiệu quả là chỉ tiêu chất lượng đánh giá kết quả sử dụng đất trong hoạt
động kinh tế, thể hiện qua lượng sản phẩm, lượng giá trị thu được bằng tiền.
Đồng thời về mặt hiệu quả xã hội là thể hiện mức thu hút lao động trong quá
20
trình hoạt động kinh tế để khai thác sử dụng đất. Riêng đối với ngành nông
nghiệp, cùng với hiệu quả kinh tế về giá trị và hiệu quả về mặt sử dụng lao động
trong nhiều trường hợp phải coi trọng hiệu quả về mặt hiện vật là sản lượng nông
sản thu hoạch được, nhất là các loại nông sản cơ bản có ý nghĩa chiến lược
(lương thực, sản phẩm xuất khẩu …) để đảm bảo sự ổn định về kinh tế - xã hội
đất nước [30].
Như vậy, hiệu quả sử dụng đất là kết quả của cả một hệ thống các biện
pháp tổ chức sản xuất, khoa học, kỹ thuật, quản lý kinh tế và phát huy các lợi
thế, khắc phục các khó khăn khách quan của điều kiện tự nhiên, trong những
hoàn cảnh cụ thể còn gắn sản xuất nông nghiệp với các ngành khác của nền kinh
tế quốc dân, gắn sản xuất trong nước với thị trường quốc tế [30].
Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây
trồng vật nuôi là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết các nước
trên thế giới. Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà
hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn là mong muốn
của nông dân - những người trực tiếp tham gia sản xuất nông nghiệp [22].
Hiện nay, các nhà khoa học đều cho rằng, vấn đề đánh giá hiệu quả sử
dụng đất không chỉ xem xét đơn thuần ở một mặt hay một khía cạnh nào đó mà
phải xem xét trên tổng thể các mặt bao gồm: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và
hiệu quả môi trường.
1.2.1.1 Hiệu quả kinh tế
Theo Các Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là
quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối có kế hoạch thời gian lao động theo các
ngành sản xuất khác nhau. Theo nhà kinh tế Samuel - Nordhuas thì “Hiệu quả là
không lãng phí”. Theo các nhà khoa học Đức (Stienier, Hanau, Rusteruyer,
21
Simmerman) hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong
một đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất
vật chất trong một thời kỳ, góp phần làm tăng thêm lợi ích cho xã hội [16].
Hiệu quả kinh tế là phạm trù chung nhất, nó liên quan trực tiếp tới nền sản
xuất hàng hoá với tất cả các phạm trù và các quy luật kinh tế khác nhau. Vì thế,
hiệu quả kinh tế phải đáp ứng được 3 vấn đề:
- Một là mọi hoạt động của con người đều phải quan tâm và tuân theo quy
luật “tiết kiệm thời gian”;
- Hai là hiệu quả kinh tế phải được xem xét trên quan điểm của lý thuyết
hệ thống;
- Ba là hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các
hoạt động kinh tế bằng quá trình tăng cường các nguồn lực sẵn có phục vụ các
lợi ích của con người.
Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết
quảđạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Kết quả
đạt được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là
phần giá trị của nguồn lực đầu vào. Mối tương quan đó cần xem xét cả về phần
so sánh tuyệt đối và tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai
đại lượng đó.
Từ những vấn đề trên có thể kết luận rằng: Bản chất của phạm trù kinh tế
sử dụng đất là “với một diện tích đất đai nhất định sản xuất ra một khối lượng
của cải vật chất nhiều nhất với một lượng chi phí về vật chất và lao động thấp
nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội" [16] .
22
1.2.1.2 Hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xét về mặt xã hội
và tổng chi phí bỏ ra. Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ mật
thiết với nhau và là một phạm trù thống nhất. Theo Nguyễn Duy Tính [20], hiệu
quả về mặt xã hội của sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác định bằng khả
năng tạo việc làm trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp.
Hiệu quả xã hội được thể hiện thông qua mức thu hút lao động, thu nhập
của nhân dân Hiệu quả xã hội cao góp phần thúc đẩy xã hội phát triển, phát
huy được nguồn lực của địa phương, nâng cao mức sống của nhân dân. Sử dụng
đất phải phù hợp với tập quán, nền văn hoá của địa phương thì việc sử dụng đất
bền vững hơn.
1.2.1.3 Hiệu quả môi trường
Hiệu quả môi trường được thể hiện ở chỗ: Loại hình sử dụng đất phải bảo
vệ được độ màu mỡ của đất đai, ngăn chặn được sự thoái hoá đất bảo vệ môi
trường sinh thái. Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%)
đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài [8].
Hiệu quả môi trường được phân ra theo nguyên nhân gây nên, gồm: hiệu
quả hoá học, hiệu quả vật lý và hiệu quả sinh học môi trường [17].
Trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả hoá học môi trường được đánh giá
thông qua mức độ sử dụng các chất hoá học trong nông nghiệp. Đó là việc sử
dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong quá trình sản xuất đảm bảo cho
cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt, cho năng suất cao và không gây ô nhiễm
môi trường.
Hiệu quả sinh học môi trường được thể hiện qua mối tác động qua lại giữa
cây trồng với đất, giữa cây trồng với các loại dịch hại nhằm giảm thiểu việc sử
dụng hoá chất trong nông nghiệp mà vẫn đạt được mục tiêu đề ra.
23

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×