Tải bản đầy đủ

Nghiên cứu đề xuất các giải pháp, chính sách thúc đẩy ứng dụng tự động hóa trong các ngành công nghiệp mũi nhọn của việt nam giai đoạn đến năm 2020



BỘ CÔNG THƯƠNG
VIỆN NGHIÊN CỨU ĐIỆN TỬ, TIN HỌC, TỰ ĐỘNG HÓA




˜

&













BÁO CÁO KẾT QUẢ THỰC HIỆN
ĐỀ TÀI NCKH&PTCN CẤP BỘ NĂM 2010

Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP,

CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY ỨNG DỤNG TỰ ĐỘNG HÓA
TRONG CÁC NGÀNH CÔNG NGHIỆP MŨI NHỌN CỦA
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN ĐẾN NĂM 2020




Cơ quan chủ trì:
Chủ nhiệm đề tài:








VIỆN NGHIÊN CỨU ĐIỆN TỬ, TIN HỌC, TỰ ĐỘNG HÓA

TH.S. TRẦN THANH THỦY


HÀ NỘI – 2010


BỘ CÔNG THƯƠNG
VIỆN NGHIÊN CỨU ĐIỆN TỬ, TIN HỌC, TỰ ĐỘNG HÓA




˜

&











BÁO CÁO KẾT QUẢ THỰC HIỆN
ĐỀ TÀI NCKH&PTCN CẤP BỘ NĂM 2010

Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP,
CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY ỨNG DỤNG TỰ ĐỘNG HÓA
TRONG CÁC NGÀNH CÔNG NGHIỆP MŨI NHỌN
CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN ĐẾN NĂM 2020





CƠ QUAN CHỦ TRÌ
VIỆN TRƯỞNG







Nguyễn Thế Truyện

CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI








Trần Thanh Thủy

DANH SÁCH CÁN BỘ THAM GIA THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
STT

Họ và tên Học hàm, học vị,
chuyên môn
Cơ quan công tác

1.
Trần Thanh Thuỷ KS. Cơ khí,
Ths. Quản trị kinh doanh
VIELINA
2.
Trịnh Hải Thái Ths. Tự động hóa, KS.
CNTT
VIELINA
3.
Nguyễn Công Hoàn CN. CNTT VIELINA
4
. Nguyễn Công Nghĩa CN. CNTT VIELINA
5
. Nguyễn Nam Hải KS. Tự động hoá VIELINA
6
. Nguyễn Bích Thủy CN. Kinh tế VIELINA
CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT

KH&CN Khoa học và công nghệ

SXKD
Sản xuất kinh doanh
TSCĐ
Tài sản cố định
NC&PT
Nghiên cứu và Phát triển
NCKH&PTCN

Nghiên cứu khoa học và Phát triển công nghệ
SXTN
Sản xuất thử nghiệm
DNV&N Doanh nghiệp nhỏ và vừa
CNPT
Công nghiệp phụ trợ
QCKT
Quy chuẩn kỹ thuật
TCVN
Tiêu chuẩn Việt Nam
R&D Research and Development
Nghiên cứu và phát triển
GDP
Gross Domestic Product
Tổng sản phẩm quốc nội
GNI
Gross National Income
Tổng thu nhập quốc gia
CAD
Computer Aided Design
Thiết kế có sự trợ giúp của máy tính
CAM
Computer Added Manufacturing
Sản xuất có sự trợ giúp của máy tính
EPC
Engineering, Procurement, Construction
Thiết kế kĩ thuật, cung cấp vật tư, thiết bị, thi công xây lắp,
chạy thử và bàn giao
CAE
Computer Aided Engineering
Thực hiện phân tích, mô phỏng,…có sự trợ giúp của máy tính
RPT
Rapid Prototyping Technology
Công nghệ tạo mẫu nhanh
NC
Numerical Control
Điều khiển số
CNC
Computer Nomerical Control
Điều khiển số bằng máy tính
CC-Link
Control and Communication Link
Đường dẫn kết nối điều khiển và truyền thông
FL-net
(OPCN-2)
Open Controller Level Network
Mạng điều khiển mở
UEM
Unified Enterprise Model
Mô hình doanh nghiệp hợp nhất
FMS
Flexible Manufacturing Systems
Hệ thống sản xuất linh hoạt
MRP
Manufacturing Resource Planning
Hệ thống lập kế hoạch sản xuất
MES
Manufacturing Execution System
Hệ thống thừa hành sản xuất
CIM
Computer Integrated Manufacturing
Hệ thống sản xuất tích hợp với máy tính
WTO
World Trade Organization
Tổ chức Thương mại Thế giới
UNIDO
United Nations Industrial Development Organization
Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên hợp quốc
NICs
Newly Industrialized Country
Các nước công nghiệp mới
FDI
Foreign Direct Investment
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
APEC
Asia - Pacific Economic Cooperation
Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương
AFTA
ASEAN Free Trade Area
Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN
GVC
Global Value Chain
Chuỗi giá trị toàn cầu
CPLD
Complex Programmable Logic Device
Mạch Logic khả trình phức hợp
FPGA
Field Programmable Gate Array
Mạch Logic khả trình trực tuyến
SCADA

Supervisory Control and Data Acquisition
Thu thập số liệu và điều khiển giám sát
SMT
Surface Mount Technology
Công nghệ lắp ráp mặt phẳng
PLC
Programmable Logic Controller
bộ điều khiển logic lập trình
DCS
Distributed Control System
Hệ thống điều khiển phân tán
TCP/IP
Transmission Control Protocol/Internet Protocol
Bộ giao thức liên mạng
CAS
Complex Adaptive Systems
Hệ tự thích nghi phức hợp

MỤC LỤC


Trang


MỞ ĐẦU

7

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI THÚC ĐẨY ỨNG
DỤNG TỰ ĐỘNG HÓA TRONG CÁC NGÀNH
CÔNG NGHIỆP MŨI NHỌN




1.1 Khái quát chung về quá trình

phát triển công nghiệp 11

1.2 Các ngành công nghiệp mũi nhọn ở Việt Nam. Định hướng và
mục tiêu phát triển đến năm 2020

17

1.3 Các thành phần chủ yếu của công nghệ tự động hoá và

vai trò của
tự động hoá đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung và các
ngành công nghiệp mũi nhọn nói riêng


21

1.3.1

Các thành phần chủ yếu của công nghệ tự động hoá 21

1.3.2

Vai trò của tự động hoá đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nói
chung và các ngành công nghiệp mũi nhọn nói riêng

22

1.4 Sự cần thiết phải thúc đẩy ứng dụng tự động hóa vào các ngành
công nghiệp mũi nhọn


29

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN
TỰ ĐỘNG HÓA TRONG CÁC NGÀNH CÔNG
NGHIỆP MŨI NHỌN




2.1

2.1.1

2.1.2

2.1.3

2.1.4

Nhận diện một số chính sách của Nhà nước đã ban hành liên quan
đến thúc đẩy ứng dụng và phát triển tự động hoá
Chính sách về nghiên cứu và phát triển
Chính sách đầu tư đổi mới công nghệ
Chính sách thuế
Chính sách phát triển nguồn nhân lực

34

34

36

37

40

2.2 Thực trạng ứng dụng và phát triển tự động hóa trong các ngành
công nghiệp mũi nhọn ở Việt Nam

41

2.2.1

Về NCKH&PTCN tự động hóa 41

2.2.2

Về đầu tư ứng dụng và phát triển tự động hóa để đổi mới công
nghệ

43

2.2.3

Về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật và phát triển nguồn
nhân lực cho ứng dụng và phát triển tự động hóa

52

2.2.4

Về hình thành và phát triển các doanh nghiệp SXKD trong lĩnh
vực tự động hóa

54

2.3 Một số nhận xét chung về thực trạng ứng dụng và phát triển tự
động hóa trong các ngành công nghiệp mũi nhọn ở Việt Nam


56

CHƯƠNG III: TÌNH HÌNH, KINH NGHIỆM ỨNG DỤNG VÀ
PHÁT TRIỂN TỰ ĐỘNG HÓA TRONG CÁC
NGÀNH CÔNG NGHIỆP CỦA MỘT SỐ NƯỚC
TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG KHU VỰC




3.1 Tình hình và xu thế ứng dụng và phát triển tự động hóa trong các
ngành công nghiệp trên thế giới

59

3.1.1

Tình hình chung 59

3.1.2

Xu thế ứng dụng và phát triển tự động hóa trên thế giới 62

3.2

Tình hình, kinh nghiệm ứng dụng và phát triển tự động hóa trong
các ngành công nghiệp của một số nước trên thế giới và trong khu
vực


65

3.2.1

Các nước thuộc liên minh châu Âu (EU) 65

3.2.2

Mỹ 67

3.2.3

Nhật Bản 68

3.2.4

Hàn Quốc 71

3.2.5

Trung Quốc 73

3.2.6

Singapore 74

3.2.7

Malaysia 75

3.3 Một số nhận xét chung và bài học đối với Việt Nam về ứng dụng
và phát triển tự động hóa giai đoạn đến năm 2020


76

CHƯƠNG IV: CÁC GIẢI PHÁP, CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY
ỨNG DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN TỰ ĐỘNG
HÓA TRONG CÁC NGÀNH CÔNG NGHIỆP
MŨI NHỌN GIAI ĐOẠN ĐẾN NĂM 2020




4.1 Những thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức đối với ứng dụng
và phát triển tự động hóa. Phân tích Ma trận SWOT

80

4.2 Nhu cầu và nội dung ứng dụng và phát triển tự động hóa trong các
ngành công nghiệp mũi nhọn giai đoạn đến năm 2020

86

4.3 Quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ về ứng dụng và phát triển tự động
hóa trong các ngành công nghiệp mũi nhọn giai đoạn đến 2020

91

4.4 Các giải pháp và chính sách 97

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 114

TÀI LIỆU THAM KHẢO 117

CÁC PHỤ LỤC 120




7
MỞ ĐẦU

Nhân loại đang bước sang một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của nền văn minh
dựa trên những thành tựu kỳ diệu của nền công nghiệp trí tuệ và hậu công nghiệp.
Nói cách khác, nhân loại đang chứng kiến một bước ngoặt vĩ đại chưa từng thấy
nhờ cuộc cách mạng KH&CN mà sự ra đời và phát triển của công nghệ tự động
hoá đóng vai trò chủ chốt đang diễn ra vô cùng mạnh mẽ với một quy mô rộng
lớn. Từ một tiềm năng trí tuệ, công nghệ tự động hoá đã trở thành một tài nguyên
thực sự và việc khai thác, ứng dụng, phát triển tài nguyên này đã tạo nên những
biến đổi sâu sắc trong lực lượng sản xuất, cơ sở hạ tầng, cấu trúc kinh tế, tính chất
lao động và cả cách thức quản lý kinh tế - xã hội. Với cuộc cách mạng KH&CN
hiện nay, chắc chắn rằng:

- Con người sẽ được trang bị những công cụ và điều kiện tuyệt vời để lao động
sáng tạo, nhưng nếu không chuẩn bị để tiếp cận và làm chủ chúng thì con người
sẽ rơi vào tình trạng nô lệ mà không có cách nào thoát ra được;
- Nền kinh tế cả cộng đồng thế giới sẽ phát triển không ngừng với tính toàn cầu
hoá ngày càng được tăng cường, tính hợp tác có điều kiện ngày càng cao, các
hàng rào thương mại ngày càng bị đẩy lùi, các luồng đầu tư trực tiếp nước
ngoài ngày càng gia tăng và do đó xuất hiện ngày càng nhiều các đối thủ tham
gia vào cuộc cạnh tranh ngày càng quyết liệt và thường xuyên;
- Tiềm năng phát triển kinh tế của một quốc gia có tính quyết định không phải ở
tài nguyên thiên nhiên, ở lịch sử tồn tại và phát triển, ở số lượng lao động nhiều
hay ít mà là ở kho tàng thông tin và chất xám. Nguồn lực trí tuệ là nguồn tài
nguyên thực sự quyết định của quốc gia đó.

Đây là một thách thức nhưng cũng là một cơ hội để các dân tộc đi sau với nền
kinh tế đang phát triển có thể phát huy nội lực của mình vươn lên thành những
nước tiên tiến trong thế kỷ XXI này. Việt Nam với nền kinh tế được đặc trưng
bằng sự chiếm ưu thế của sản phẩm nông nghiệp và lao động nông thôn cũng
không thể tách rời khỏi những quy luật khách quan đó, vì thế Đảng và Nhà nước ta
trong nhiều thập kỷ gần đây đã lựa chọn công nghệ tự động hoá như một công
nghệ mũi nhọn ưu tiên, bạn đồng hành với công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu
và công nghệ sinh học trong tiến trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước.
Đặc biệt, tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XII ngày 13/11/2008, Luật Công nghệ
cao đã được thông qua và có hiệu lực từ ngày 01/7/2009, trong đó nêu rõ công
nghệ tự động hóa là một trong bốn lĩnh vực công nghệ cao được ưu tiên tập trung
đầu tư phát triển.

1. Tính cấp thiết và mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Công nghệ tự động hóa là công cụ quan trọng để thực hiện mục tiêu hoàn
thành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và “đến năm 2020 đưa
nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”.


8
Dự thảo Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XI của Đảng tiếp tục khẳng định mục tiêu quan trọng đó và chỉ rõ
một trong những nhiệm vụ cơ bản trong phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 -
2015 là “đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu kinh tế từ chủ yếu dựa vào tăng
vốn đầu tư, khai thác tài nguyên và sử dụng lao động giá rẻ sang tăng cường áp
dụng tiến bộ KH&CN, nguồn nhân lực chất lượng cao, nâng cao năng suất lao
động và chất lượng sản phẩm; từ chủ yếu là công nghiệp gia công, lắp ráp sang
đẩy mạnh phát triển công nghiệp chế tạo, chế biến, công nghiệp phụ trợ; từ chủ
yếu xuất khẩu tài nguyên khoáng sản, nguyên liệu, sản phẩm thô sang tăng tỷ
trọng xuất khẩu sản phẩm chế tạo, chế biến”.

Trong điều kiện phức tạp của một trật tự kinh tế thế giới mới đang được hình
thành trên cơ sở phát triển thương mại quốc tế, thực hiện được những nhiệm vụ
nêu trên là hết sức khó khăn. Làm gì và làm như thế nào để hàng hóa Việt Nam có
thể cạnh tranh được cả về chất lượng, cả về giá đối với hàng hoá cùng loại của các
nước ASEAN và các nước khác trên thế giới trong nền kinh tế toàn cầu? Đây là
bài toán chiến lược, có tầm sống còn đối với nền kinh tế cả nước, mà lời giải phải
tìm đòi hỏi cả ở tầm vĩ mô, cả ở từng doanh nghiệp khả năng đáp ứng đồng thời
các yêu cầu cơ bản sau đây:

- Nâng cao chất lượng sản phẩm
- Tăng năng suất lao động
- Hạ giá thành sản phẩm
- Linh hoạt hoá nền sản xuất và đa dạng hoá sản phẩm
- Cải thiện và bảo vệ môi trường

Thực tiễn phát triển trong những năm qua cho thấy, để hóa giải những yêu cầu
nêu trên, không còn con đường nào khác là các doanh nghiệp trong các ngành
công nghiệp, đặc biệt là các ngành công nghiệp mũi nhọn phải mạnh dạn đổi mới
công nghệ, hiện đại hóa trang thiết bị theo hướng áp dụng tự động hóa.

Với mục tiêu tạo lập một bức tranh tương đối đầy đủ về thực trạng ứng dụng và
phát triển tự động hóa trong các ngành công nghiệp mũi nhọn, đề xuất một số giải
pháp, chính sách tạo cơ sở pháp lý cho các doanh nghiệp đẩy mạnh đổi mới công
nghệ, thiết bị theo hướng áp dụng tự động hóa, đồng thời xây dựng một số luận cứ
khoa học làm cơ sở tham khảo cho các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách
khi tiến hành xây dựng chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam giai đoạn đến
năm 2020, trong kế hoạch KH&CN năm 2010, Viện Nghiên cứu Điện tử, Tin học,
Tự động hoá đã đăng ký và đã được Bộ Công Thương giao chủ trì thực hiện đề tài
“Nghiên cứu, xây dựng các giải pháp, chính sách thúc đẩy ứng dụng tự động hóa
trong các ngành công nghiệp mũi nhọn của Việt Nam giai đoạn đến năm 2020”.





9
2. Nội dung nghiên cứu

Với mục tiêu nghiên cứu nêu trên, nhóm thực hiện đề tài tiến hành các nội dung
sau đây:

- Phân tích lý do lựa chọn các ngành công nghiệp mũi nhọn để xây dựng các giải
pháp, chính sách thúc đẩy ứng dụng và phát triển tự động hóa.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng ứng dụng và phát triển tự động hóa trong các
ngành công nghiệp mũi nhọn của Việt Nam trong thời gian qua.
- Nghiên cứu tình hình và kinh nghiệm ứng dụng và phát triển tự động hóa trong
các ngành công nghiệp ở một số nước trong khu vực và trên thế giới.
- Xây dựng và đề xuất các giải pháp chính sách thúc đẩy ứng dụng và phát triển
tự động hóa trong các ngành công nghiệp mũi nhọn của Việt Nam giai đoạn
đến năm 2020.

Các nội dung này được bố cục trong Báo cáo tổng kết kết quả nghiên cứu của
đề tài theo các chương, mục sau đây:

q Chương I: Tổng quan về công nghiệp Việt Nam và sự cần thiết phải thúc đẩy
ứng dụng tự động hóa trong các ngành công nghiệp mũi nhọn
q Chương II: Thực trạng ứng dụng và phát triển tự động hóa trong các ngành
công nghiệp mũi nhọn
q Chương III: Tình hình, kinh nghiệm ứng dụng và phát triển tự động hóa trong
các ngành công nghiệp của một số nước trên thế giới và trong khu vực.
q Chương IV: Các giải pháp, chính sách thúc đẩy ứng dụng và phát triển tự động
hóa trong các ngành công nghiệp mũi nhọn giai đoạn đến năm 2020.

3. Phạm vi và phương pháp nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn trong việc xem xét thực trạng ứng
dụng và phát triển tự động hóa trong 10 năm trở lại đây tại một số tổ chức nghiên
cứu triển khai, một số doanh nghiệp SXKD hoạt động trong lĩnh vực tự động hóa
và các doanh nghiệp thuộc các ngành công nghiệp mũi nhọn, cũng như công tác
đào tạo nguồn nhân lực chuyên ngành tự động hóa tại các trường đại học, cao
đẳng, đồng thời đề xuất một số giải pháp, chính sách cụ thể thúc đẩy ứng dụng và
phát triển tự động hóa trong các ngành công nghiệp mũi nhọn giai đoạn đến năm
2020.

Trong quá trình nghiên cứu, để đảm bảo độ tin cậy, tính khoa học và giá trị ứng
dụng, phù hợp với các Chiến lược, Quy hoạch, Kế hoạch phát triển trong các lĩnh
vực liên quan đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, nhóm thực hiện đề tài áp
dụng một hoặc phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau đây:



10
- Phương pháp kế thừa (tổng hợp, phân tích các công trình nghiên cứu thực hiện
trước đây, kế thừa những kết quả điều tra, đánh giá, nghiên cứu đã có cả trong
và ngoài nước).
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế thông qua trao đổi, phỏng vấn trực tiếp.
- Phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp tài liệu.
- Phương pháp chuyên gia.
- Tham khảo bài học kinh nghiệm nước ngoài (thông qua tham khảo tài liệu, trao
đổi và hợp tác với các tổ chức, cá nhân chuyên ngành…)

Sau khi xây dựng xong bản thảo Báo cáo tổng kết khoa học, nhóm nghiên cứu
tiến hành lấy ý kiến chuyên gia và tổ chức hội thảo khoa học để trao đổi, thảo luận
về các kết quả nghiên cứu của đề tài. Trên cơ sở ý kiến đóng góp của các chuyên
gia, nhóm nghiên cứu tiến hành sửa đổi, điều chỉnh và hoàn thiện nhằm tăng độ tin
cậy, tính khả thi của các kết quả nghiên cứu.



11

CHƯƠNG I

TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM VÀ SỰ CẦN THIẾT
PHẢI THÚC ĐẨY ỨNG DỤNG TỰ ĐỘNG HÓA TRONG
CÁC NGÀNH CÔNG NGHIỆP MŨI NHỌN

1.1. Khái quát chung về quá trình phát triển công nghiệp

Quá trình phát triển công nghiệp ở nước ta trong những thập niên qua đã trải
qua nhiều giai đoạn khác nhau. Sự phân chia giai đoạn theo những biến cố lịch sử
đã có tác động nhiều đến phương hướng phát triển và phân bố cũng như cơ cấu
ngành công nghiệp của đất nước.

Trước năm 1954

Công nghiệp Việt Nam hầu như chưa có gì, chủ yếu là các làng nghề thủ công
truyền thống, thị trường tiêu thụ nhỏ hẹp. Dưới chế độ thực dân Pháp xâm lược, cơ
cấu công nghiệp nước ta đã nhỏ bé lại càng què quặt và phụ thuộc nặng nề vào
công nghiệp chính quốc. Máy móc thiết bị nhập khẩu chủ yếu phục vụ cho việc
khai thác tài nguyên và hầu như không có công nghệ chế biến các loại tài nguyên
này. Một số mỏ hình thành nhưng không trở thành khu công nghiệp vì trình độ
trang bị kỹ thuật lạc hậu, mức độ cơ giới hoá thấp.

Giai đoạn từ 1954 đến năm 1985

Sau thắng lợi lịch sử Điện Biên Phủ, Việt Nam bước vào giai đoạn vừa xây
dựng vừa bảo vệ miền Bắc XHCN, vừa tiếp tục cách mạng giải phóng dân tộc ở
miền Nam, tiến tới hoà bình thống nhất tổ quốc. Thời kỳ này ngành công nghiệp
Việt Nam được hình thành chủ yếu dựa vào trợ giúp của các nước XHCN. Với ý
tưởng tự lực tự cường nên cơ cấu ngành đã được hình thành nhưng là "cân đối
tĩnh", cụ thể là đã có 19 tiểu ngành công nghiệp, khá toàn diện, ít thua kém về số
lượng các tiểu ngành so với một số nền công nghiệp phát triển lúc đó trong khi
tiềm lực còn non yếu, cơ cấu lại được xây dựng trên một hệ trục là cơ chế kế
hoạch hoá tập trung với công cụ cân đối tĩnh mang tính chất tản mạn, thiếu mũi
nhọn, thiếu động lực phát triển. Đại hội lần thứ IV của Đảng (12/1976) có phương
hướng: "Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển
nông nghiệp và công nghiệp nhẹ ". Thực hiện phương hướng đó trong kế hoạch
1976 - 1980 đã bố trí nhiều công trình công nghiệp nặng then chốt, sau đó cho
công nghiệp cơ bản và công nghiệp cho xuất khẩu. Tuy nhiên việc điều chỉnh cơ
cấu trong giai đoạn này vẫn được quyết định hoàn toàn bởi Chính phủ theo kiểu kế
hoạch hoá tập trung, đối tác quốc tế chủ yếu ở thời kỳ này là các nước XHCN.
Đến cuối những năm 1980, sự đổ vỡ và chuyển đổi nền kinh tế các nước XHCN
đã tác động trực tiếp đến công nghiệp Việt Nam khi phải tham gia trong một môi
trường kinh tế quốc tế mới. Cơ cấu ngành, tiến trình phát triển và trật tự cũ đã
12

không cho phép doanh nghiệp có các sản phẩm cạnh tranh trên thị trường mới
trong các quan hệ hội nhập hoàn toàn mới mẻ.

Giai đoạn từ 1986 - nay

Sau gần 25 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ VI của Đảng đề ra là chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang
nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự
quản lý của Nhà nước và theo định hướng XHCN, ngành công nghiệp đã có bước
phát triển vượt bậc, cơ sở vật chất kỹ thuật và năng lực sản xuất được tăng cường,
nhiều ngành công nghiệp mới có kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, hiện đại ra đời, môi
trường đầu tư cởi mở, nhiều thành phần kinh tế cùng phát triển. Nhịp độ sản xuất
công nghiệp đạt tốc độ tăng cao và ổn định. Có thể điểm qua một số kết quả quan
trọng của quá trình phát triển công nghiệp trong gần 25 năm đổi mới như sau:

1. Cơ sở vật chất kỹ thuật được tăng cường, năng lực sản xuất của ngành công
nghiệp ngày càng lớn mạnh.

Tổng vốn đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài cho ngành công nghiệp
trong những năm gần đây đã tăng mạnh, nhờ đó cơ sở vật chất kỹ thuật của các
doanh nghiệp đã được tăng cường, các doanh nghiệp có điều kiện phát triển, mở
rộng năng lực sản xuất và tăng nhanh trình độ kỹ thuật, công nghệ. Trên Hình 1.1
là Biểu đồ về kết quả đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài vào ngành công
nghiệp trong 03 năm gần đây.

97,43
137,3
145,23
129,137
537,072
71,229
2007 2008 2009
Đầu tư trong nước (Nghìn tỷ đồng)
Đầu tư nước ngoài (nghìn tỷ đồng)


Hình 1.1. Biểu đồ về kết quả đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài vào
ngành công nghiệp trong các năm 2007, 2008 và 2009
13

Theo Biểu đồ này:
Năm 2007:

- Kết quả thực hiện vốn đầu tư xây dựng trong nước đạt khoảng 97.432,8 tỷ
đồng, tăng 32,6% so với năm 2006;
- Trong tổng số 1.445 dự án được cấp phép đầu tư có 823 dự án đầu tư nước
ngoài vào ngành công nghiệp (bằng 57% tổng số dự án đầu tư nước ngoài cả
nước) với tổng vốn đăng ký là 8,06 tỷ USD (tương đương 129,137 ngàn tỷ
đồng, bằng 45,2% tổng vốn đăng ký cả nước);

Năm 2008:

- Kết quả thực hiện vốn đầu tư xây dựng trong nước đạt khoảng 137,3 nghìn tỷ
đồng, bằng 85% kế hoạch năm, tăng 43% so với năm 2007 về giá trị tuyệt đối
vốn đầu tư;
- Trong tổng số 1.059 dự án được cấp phép đầu tư có 440 dự án đầu tư nước
ngoài vào ngành công nghiệp (bằng 42% tổng số dự án đầu tư nước ngoài cả
nước) với tổng vốn đăng ký là 32,16 tỷ USD (tương đương 537,027 ngàn tỷ
đồng, bằng 55,0% tổng vốn đăng ký cả nước).

Năm 2009:

- Kết quả thực hiện vốn đầu tư xây dựng trong nước đạt khoảng 145.225,4 tỷ
đồng, tăng 29,8% so với thực hiện năm 2008;
- Tổng vốn đầu tư nước ngoài đạt khoảng 21,482 tỷ USD, giảm mạnh so với
mức 71,7 tỷ USD trong năm 2008 do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài
chính toàn cầu và chủ yếu do sự suy giảm trong lĩnh vực bất động sản. Vốn
đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp chiếm khoảng 19% (đạt 4,08 tỷ USD, tương
đương 71,229 ngàn tỷ đồng), đứng thứ ba sau dịch vụ ăn uống, lưu trú và dịch
vụ bất động sản.

Số lượng doanh nghiệp Việt Nam tiếp tục tăng trưởng với nhịp độ cao. Đến
thời điểm 31/12/2007, cả nước có 155.771 doanh nghiệp thực tế đang hoạt động
(năm 2000 là 42.100 doanh nghiệp), trong đó doanh nghiệp Nhà nước là 3.494,
chiếm 2,2% tổng số lượng doanh nghiệp; doanh nghiệp ngoài Nhà nước là
147.316, chiếm 95,0% và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 4.961, chiếm
2,8%. Số lượng doanh nghiệp Nhà nước tuy có giảm (năm 2000, là 5.768 doanh
nghiệp, chiếm 13,6%) do tiến trình cổ phần hóa, sắp xếp lại doanh nghiệp, nhưng
quy mô ngày càng lớn. Nếu như năm 2000, số lao động bình quân 1 doanh nghiệp
là 363 người thì đến năm 2007, con số này lên tới 505 người; nguồn vốn bình quân
1 doanh nghiệp năm 2000 là 130 tỷ đồng/doanh nghiệp, năm 2005 là 354 tỷ đồng
nhưng đến năm 2007 đã lên tới 626 tỷ đồng; doanh thu thuần bình quân 1 lao động
năm 2000 là 213 triệu đồng, năm 2005 là 421 triệu đồng, đến năm 2007 là 640
triệu đồng/1 lao động, tăng gấp 3 lần so với năm 2000. Riêng ngành công nghiệp
14

chiếm 22,8% số doanh nghiệp, 55,4% số lao động, 28,5% vốn SXKD, 39,7%
doanh thu và 51,1% nộp ngân sách.

2. Giá trị sản xuất công nghiệp tăng trưởng cao và ổn định

Giá trị sản xuất công nghiệp thời kỳ 1986 - nay có tốc độ tăng trưởng bình
quân cao, đặc biệt là thời kỳ 1986 - 2005 đạt cao nhất trong vòng 50 năm lại đây,
toàn ngành tăng bình quân 12,3%/năm, 20 năm trước đó (1966 - 1985) chỉ tăng
7,2%/năm. Trong những năm gần đây, mặc dù bị ảnh hưởng nặng nề của khủng
hoảng tài chính toàn cầu nhưng mức tăng trưởng này vẫn đạt cao, năm 2006 là
16,8%, năm 2007 là 16,7%, năm 2008 là 13,9%, năm 2009 là 7,6% và năm 2010
ước đạt 14,0%. Trên Hình 1.2 trình bày Biểu đồ tăng trưởng giá trị sản xuất công
nghiệp phân theo thành phần kinh tế giai đoạn 2005 - 2009.
0
50.000
100.000
150.000
200.000
250.000
300.000
2005 2006 2007 2008 Ước 2009
Nghìn tỷ VNĐ
Khu vực nhà nước Khu vực ngoài nhà nước Khu vực có vốn ĐTNN

Hình 1.2. Biểu đồ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp phân theo thành
phần kinh tế giai đoạn 2005 - 2009

Theo Biểu đồ này có thể thấy:

- Khu vực doanh nghiệp Nhà nước có mức tăng trưởng thấp nhất và đang có xu
hướng nới rộng khoảng cách về mức độ gia tăng kể từ năm 2006 đến nay so với
các thành phần kinh tế khác, cụ thể năm 2006 là 5,9%, năm 2007 là 5,0%, năm
2008 là 2,7% và năm 2009 là 1,6%;
- Khu vực công nghiệp ngoài quốc doanh là khu vực luôn đạt tốc độ tăng trưởng
cao nhất so với các khu vực khác, năm 2005 là 25,5%, năm 2006 là 25,7%,
năm 2007 là 24,7%, năm 2008 là 19,8% và năm 2009 là 10,1%;
- Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài mới chính thức có trong cơ cấu công nghiệp
Việt Nam từ năm 1989, nhưng phát triển khá nhanh cả về quy mô và tốc độ sản
xuất, 20 năm liên tục tăng, năm cao nhất tăng 45,6% (năm 1991), năm thấp
2009
15

nhất 8,8% (năm 1995), bình quân 20 năm (1989 - 2009) tăng xấp xỉ
20,0%/năm.

3. Chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp theo hướng tích cực

Cơ cấu ngành công nghiệp trong GDP (tính theo giá thực tế) tăng nhanh, năm
1985 chiếm 28,2%, năm 2000 là 31,4%, năm 2005 lên 34,1% và năm 2009, mặc
dù bị ảnh hưởng nặng nề của khủng hoảng tài chính toàn cầu nhưng vẫn đạt
33,5%. Kết quả này đã góp phần đáng kể vào việc chuyển dịch cơ cấu trong nền
kinh tế quốc dân theo hướng tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ và giảm tỷ
trọng nông, lâm nghiệp và thủy sản. Năm 2009, tỷ trọng nông nghiệp - công
nghiệp và xây dựng - dịch vụ đã đạt mức 23% - 41,1% - 35,9%.

4. Hiệu quả sản xuất có tiến bộ

Cùng với tăng trưởng cao về sản xuất, thì hiệu quả kinh tế của ngành công
nghiệp tuy còn nhiều hạn chế nhưng đã có những tiến bộ. Trong Bảng 1.1 là các số
liệu về tổng doanh thu và thu nhập bình quân của người lao động của các doanh
nghiệp ngành công nghiệp trong 03 năm 2007, 2008 và 2009.


2007 2008 2009


Các chỉ tiêu
Giá trị Tăng
so với
2006
Giá trị Tăng
so với
2007
Giá
trị
Giảm
so với
2008
1

Tổng doanh thu
(Tỷ đồng)
329.699,4

11,0%

382.585

26,6%

341,8

10,2%

2

Thu nhập bình
quân của người lao
động (triệu
đồng/người/tháng)
2,8

10,3%

3,4

21,4%

3,92

15,3%


Bảng 1.1. Tổng doanh thu và thu nhập bình quân của người lao động của các
doanh nghiệp ngành công nghiệp trong 03 năm 2007, 2008 và 2009

Chất lượng của nhiều sản phẩm công nghiệp được nâng lên rõ rệt, mặt hàng
phong phú, đa dạng, đáp ứng cơ bản nhu cầu tiêu dùng. Những năm gần đây có
nhiều sản phẩm đã chiếm lĩnh được thị trường trong nước, đồng thời nâng dần số
lượng mặt hàng xuất khẩu mới ra thị trường ngoài nước, nhờ đó kim ngạch xuất
khẩu sản phẩm công nghiệp đã tăng lên đáng kể. Kết quả xuất khẩu trong 03 năm
2007, 2008 và 2009 được trình bày trong Bảng 1.2.

16

2007 2008 2009


Các chỉ tiêu
Giá
trị
Tăng so
với
2006
Giá
trị
Tăng so
với 2007

Giá
trị
Giảm
so với
2008
1

Tổng kim ngạch
xuất khẩu hàng hóa
(Tỷ USD), trong
đó:
Khu vực có vốn
đầu tư nước ngoài
Khu vực 100% vốn
trong nước
48,387



27,8

20,6

21,5%

21,0%
22,2%
63,00



34,87



28,02

29,5%


25,5%


34,9%
56,60



29,85

26,70

9,7%


13,5%
5,1%
2

Kim ngạch xuất
khẩu hàng hóa
công nghiệp (Tỷ
USD)
36,910

21,5% 44,98

21,86%

29,37

53,15%

Bảng 1.2. Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và kim ngạch xuất khẩu hàng
hóa công nghiệp trong 03 năm 2007, 2008 và 2009

Trên Hình 1.3 là Biểu đồ kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành công nghiệp
giai đoạn 2005 - 2009.















Hình 1.3. Biểu đồ kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành công nghiệp giai đoạn
2005 - 2009
0,0

10,0

20,0

30,0

40,0

50,0

60,0

Tỷ USD

Năm 2005

Năm2006

Năm 2007

Năm 2008

Năm 2009

17

Ngoài việc tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu hàng hóa nói chung, hàng hóa
công nghiệp nói riêng, thị trường xuất khẩu cũng đã được mở rộng ra nhiều khu
vực trên thế giới. Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa vào một số thị trường lớn trong
03 năm 2007, 2008 và 2009 được trình bày trên Hình 1.4.



Hình 1.4. Biểu đồ kim ngạch xuất khẩu sang một số thị trường lớn
trong 03 năm 2007, 2008 và 2009

Phát huy những thành tựu thu được sau gần 25 năm đổi mới và phát triển, đồng
thời tích cực rà soát, sửa đổi, bổ sung và sớm ban hành các cơ chế, chính sách linh
hoạt, phù hợp, với phương châm: “Lấy phát triển kinh tế công nghiệp nhà nước
làm nền tảng, công nghiệp tư nhân và đầu tư nước ngoài làm động lực phát triển
toàn ngành và coi đầu tư nước ngoài là chìa khóa để công nghiệp Việt Nam cất
cánh và hội nhập với thế giới”, trong giai đoạn đến năm 2020 công nghiệp Việt
Nam kỳ vọng sẽ có những bước đột phá, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển hài
hoà, có chọn lọc và hiệu quả.

1.2. Các ngành công nghiệp mũi nhọn ở Việt Nam. Định hướng và mục tiêu
phát triển đến năm 2020

Trong quá trình phát triển kinh tế, ở mỗi giai đoạn khác nhau, Đảng và Nhà
nước ta đều đã xác định các ngành công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn để
đề ra các cơ chế, chính sách thích hợp. Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ IX và X của Đảng, trong Chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam
đến năm 2020 đã nêu rõ “Công nghiệp tiếp tục giữ vai trò động lực, quyết định
trong phát triển nền kinh tế, đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành nước công
nghiệp theo hướng hiện đại với một số ngành công nghiệp chế tác tham gia vào
nhóm nước đứng đầu trong khu vực”. Trên cơ sở các quan điểm và mục tiêu đó,
trong giai đoạn 2005 - 2010 và tiếp tục đến năm 2020, Chính phủ đã và đang tập
trung mọi nguồn lực cho phát triển ba nhóm ngành công nghiệp, đó là:
0

2.00
0
4.000
6.000
8.000
10.000
12.000
14.000
ASEAN EU Trung QuốcNhật Bản Hoa Kỳ

2007
2008
2009
18

- Nhóm ngành công nghiệp có lợi thế cạnh tranh như chế biến nông - lâm - thuỷ
hải sản và thực phẩm, công nghiệp tiêu dùng như may mặc, giày dép, đồ gỗ,
công nghiệp nặng như cơ khí đóng tàu, máy động lực và máy nông nghiệp, chế
tạo thiết bị, lắp ráp cơ điện tử, xe máy, ngành tiểu thủ công nghiệp ;
- Nhóm ngành công nghiệp nền tảng (hay còn gọi là trọng yếu) bao gồm các
ngành công nghiệp cơ bản sản xuất tư liệu sản xuất như các ngành hạ tầng và
năng lượng; một số ngành cơ khí, hoá chất cơ bản; hoá dầu, hoá dược, phân
bón để đảm bảo đáp ứng nhu cầu an ninh, an sinh, bảo đảm tự chủ trong điều
kiện có biến động lớn trên thị trường thế giới và đồng thời làm nền tảng cho
các ngành công nghiệp khác phát triển;
- Nhóm ngành công nghiệp có tiềm năng bao gồm các ngành công nghiệp sử
dụng hàm lượng tri thức và công nghệ cao như điện tử, viễn thông và công
nghệ thông tin, cơ khí chế tạo, hoá chất là nhóm các ngành công nghiệp tuy
hiện nay giá trị sản xuất còn khiêm tốn nhưng có lợi thế so sánh động sẽ xuất
hiện và chuyển thành sức cạnh tranh hiện thực khi các điều kiện về công nghệ,
về nguồn nhân lực và khả năng tích luỹ tư bản cho phép.

Ba vấn đề lớn, trọng tâm trong Chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam
giai đoạn 2011 - 2020 được đề cập đến là khẳng định một số ngành công nghiệp
mũi nhọn, rà soát lại phân bố phát triển công nghiệp và thúc đẩy phát triển công
nghiệp phụ trợ, đặc biệt là trong sản xuất các linh kiện cơ khí. Riêng về các ngành
công nghiệp mũi nhọn, trong giai đoạn 2011 - 2020, Chính phủ khẳng định tiếp tục
lựa chọn các ngành thuộc Danh mục các ngành công nghiệp mũi nhọn giai đoạn
2007 - 2010, tầm nhìn đến năm 2020 trong Quyết định số 55/2007/QĐ - TTg ngày
23/4/2007 của Thủ tướng Chính phủ, bao gồm:

- Cơ khí chế tạo (ô tô, đóng tầu, thiết bị toàn bộ, máy nông nghiệp, cơ điện tử);
- Thiết bị điện tử, viễn thông và công nghệ thông tin;
- Các ngành sản xuất các sản phẩm từ công nghệ mới (năng lượng mới, năng
lượng tái tạo, công nghiệp phần mềm, nội dung số).

Đây là những ngành có khả năng cạnh tranh, chiếm tỷ trọng đáng kể tại thị
trường trong nước và quốc tế, có khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa, dẫn dắt và kéo
theo sự phát triển của các ngành công nghiệp khác, của các ngành công nghiệp phụ
trợ và cũng là những ngành công nghiệp đi vào các mũi nhọn của tiến bộ KH&CN
thế giới và có xu hướng phát triển mạnh trong tương lai, sử dụng nguồn nhân lực
KH&CN chất lượng cao, có điều kiện hội nhập và tham gia vào chuỗi sản xuất
quốc tế. Định hướng và mục tiêu phát triển của các ngành công nghiệp mũi nhọn
đến năm 2020 như sau:

Ngành công nghiệp cơ khí chế tạo

Ngành công nghiệp cơ khí chế tạo là ngành công nghiệp nền tảng có vai trò đặc
biệt quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Phát triển
19

ngành công nghiệp cơ khí chế tạo là cơ sở để phát triển công nghiệp Việt Nam một
cách bền vững, tạo thế mạnh trong cạnh tranh và đạt hiệu quả cao cho nền kinh tế.
Đây là nhóm ngành gắn với quy trình sản xuất sử dụng công nghệ cao, vì vậy cần
tập trung thu hút các dự án đầu tư nước ngoài tham gia vào các quy trình sản xuất
công nghệ cao, sản xuất các chi tiết quy chuẩn chất lượng cao; khuyến khích
chuyển giao công nghệ tiến tiến, cung cấp trang thiết bị hiện đại, có trình độ tự
động hóa và cấp độ chính xác cao. Trong giai đoạn đến năm 2020, để đáp ứng về
cơ bản nhu cầu của nền kinh tế quốc dân, định hướng sản phẩm của ngành công
nghiệp cơ khí chế tạo tập trung vào một số lĩnh vực chính sau đây :

- Sản xuất, lắp ráp thiết bị toàn bộ cho các ngành công nghiệp, máy động lực, cơ
khí phục vụ nông - lâm - ngư nghiệp và công nghiệp chế biến, máy công cụ
CNC, cơ khí xây dựng, cơ khí đóng tàu thủy, thiết bị kỹ thuật điện - điện tử, cơ
khí ôtô - cơ khí giao thông vận tải;
- Sản xuất phụ tùng, linh kiện, cụm chi tiết; gia công cơ khí, đúc, rèn, tạo phôi
lớn, nhiệt luyện, xử lý bề mặt, cung cấp nguyên liệu, bán thành phẩm tiêu
chuẩn để chế tạo chi tiết, phụ tùng cho sản xuất, lắp ráp các chủng loại thiết bị
nêu trên;
- Cơ khí chính xác, khuôn mẫu, vật liệu cắt gọt và gia công áp lực… với mức độ
trang thiết bị có độ chính xác cao, được điều khiển bằng chương trình tự động
hóa.

Mục tiêu đến năm 2020 ngành cơ khí đáp ứng 55 - 60% nhu cầu sản phẩm cơ
khí của cả nước, trong đó khoảng 50% - 55% nhu cầu thiết bị toàn bộ, 25% - 30%
nhu cầu các máy điều khiển số bằng máy tính, 70% - 75% nhu cầu về máy động
lực, 70% các trang thiết bị y tế thiết yếu, đồng thời đảm bảo hoàn thành đúng tiến
độ, chất lượng Chương trình sản xuất các sản phẩm cơ khí trọng điểm và các sản
phẩm trọng điểm quốc gia.

Ngành công nghiệp sản xuất thiết bị điện tử, viễn thông và công nghệ thông tin

Ngành công nghiệp sản xuất thiết bị điện tử, viễn thông và công nghệ thông tin
là một trong những ngành có tiềm năng phát triển lớn và giữ vị trí then chốt trong
nền kinh tế hiện đại. Tiềm năng phát triển của ngành công nghiệp sản xuất thiết bị
điện tử, viễn thông và công nghệ thông tin được thể hiện ở khả năng khai thác lợi
thế so sánh động của Việt Nam là nguồn nhân lực dồi dào, cơ cấu lao động trẻ,
khéo léo, cần cù và tiếp thu nhanh công nghệ, kỹ thuật mới.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, ngành công nghiệp sản xuất thiết bị điện tử, viễn
thông và công nghệ thông tin có xu hướng chia nhỏ quá trình sản xuất thành các
công đoạn và quốc tế hóa từng công đoạn sản xuất. Các công ty đa quốc gia luôn
tìm kiếm những địa điểm thích hợp nhất để tổ chức các cơ sở sản xuất, phân phối
và liên kết với các cơ sở sản xuất khác trên toàn thế giới. Việt Nam được đánh giá
là quốc gia có cơ hội tham gia tích cực vào mạng lưới sản xuất thiết bị điện tử,
20

viễn thông và công nghệ thông tin của Đông Á và là một địa điểm thích hợp để
xây dựng các nhà máy, vì vậy công nghiệp sản xuất thiết bị điện tử, viễn thông và
công nghệ thông tin được lựa chọn là ngành công nghiệp mũi nhọn, định hướng
xuất khẩu và phát triển trở thành một trong các ngành công nghiệp quan trọng của
nền kinh tế, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhiệm
vụ quốc phòng, an ninh của đất nước, có khả năng cạnh tranh trên thị trường khu
vực và thế giới. Các định hướng phát triển cụ thể là:

- Từng bước nâng cao tiềm lực công nghệ để chuyển từ gia công lắp ráp các sản
phẩm phần cứng cho các công ty nước ngoài sang giai đoạn sản xuất linh kiện,
phụ tùng, phát triển CNPT, thay thế dần các chi tiết nhập khẩu, đẩy mạnh nội
địa hóa sản phẩm.
- Tập trung thiết kế, tự sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh cho các lĩnh vực tin học,
viễn thông, điện tử y tế, điện tử công nghiệp, cơ điện tử, đo lường, tự động
hóa;

Mục tiêu đến năm 2020 ngành công nghiệp sản xuất thiết bị điện tử, viễn thông
và công nghệ thông tin trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, đảm bảo tăng trưởng
trên 20%/năm, công nghệ hiện đại và sản xuất được nhiều sản phẩm có hàm lượng
sáng tạo cao mang thương hiệu Việt Nam, trong đó tỷ lệ nội địa hóa các sản phẩm
CNPT trong các sản phẩm điện tử đạt khoảng 55% về giá trị.

Ngành công nghiệp sản xuất các sản phẩm từ công nghệ mới

Ngành công nghiệp sản xuất các sản phẩm từ công nghệ mới bao gồm ngành
sản xuất năng lượng mới, năng lượng tái tạo, ngành công nghiệp phần mềm và
ngành công nghiệp nội dung số. Đây là những ngành công nghiệp giữ vai trò quan
trọng trong phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ ở Việt Nam trong giai đoạn đến
năm 2020 và những năm tiếp theo.

Về các ngành công nghiệp sản xuất năng lượng mới, năng lượng tái tạo, các
đánh giá đều cho rằng, Việt Nam là quốc gia có đầy đủ điều kiện để phát triển
mạnh các dạng năng lượng mới, năng lượng tái tạo và nếu đầu tư khai thác đúng
hướng, trong tương lai nguồn năng lượng này có thể thay thế 100% năng lượng
truyền thống của Việt Nam. Hiện tại, điện hạt nhân là dạng năng lượng được các
nhà chiến lược và công nghệ năng lượng nước ta quan tâm, bởi sự hội tụ những ưu
điểm nội tại về mặt công nghệ và kinh tế, đặc biệt là trong xu thế cả thế giới đang
phải đối phó hiểm họa biến đổi khí hậu toàn cầu. Theo kế hoạch, năm 2014 Việt
Nam sẽ tiến hành khởi công tổ máy đầu tiên theo nghị quyết của Quốc hội, đến
năm 2020 tổ máy điện hạt nhân này sẽ được đưa vào hoạt động và đến năm 2025,
mạng lưới điện quốc gia sẽ được bổ sung 11.000MW công suất điện hạt nhân
(bằng 5,5 lần công suất của nhà máy thủy điện Hòa Bình hiện nay), tăng tỷ trọng
điện hạt nhân trong toàn bộ hệ thống điện quốc gia lên đến con số 20 - 30%. Với vị
trí địa lý thuận lợi, năng lượng gió, năng lượng mặt trời, năng lượng sinh học cũng
21

là những dạng năng lượng có tiềm năng lớn cần được nghiên cứu để sớm khai thác
không những góp phần giảm gánh nặng về cung cầu năng lượng khi các nguồn
năng lượng truyền thống đang dần cạn kiệt mà còn có ý nghĩa to lớn trong việc bảo
vệ môi trường và phát triển bền vững. Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia
của Việt Nam đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2050, được Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt từ cuối năm 2007 đặt mục tiêu đến năm 2020, sản lượng điện từ năng
lượng gió, năng lượng mặt trời, năng lượng sinh học chiếm khoảng 5% tổng năng
lượng thương mại sơ cấp và đến năm 2050 là 11%.

Công nghiệp phần mềm và Công nghiệp nội dung số là những ngành kinh tế tri
thức, công nghệ cao, có nhiều tiềm năng phát triển, đem lại giá trị gia tăng cao, tạo
ra giá trị xuất khẩu cao, góp phần quan trọng vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước. Mục tiêu trong giai đoạn đến năm 2020 là vẫn duy trì được tốc
độ tăng trưởng trung bình khoảng 35 - 40%/năm. Tổng doanh thu từ công nghiệp
phần mềm đạt trên 1 tỷ USD/năm, từ công nghiệp nội dung số đạt khoảng 500 triệu
USD/năm, trong đó giá trị xuất khẩu đạt ít nhất là 40%. Để đạt được các mục tiêu
này Nhà nước đặc biệt khuyến khích và tạo mọi điều kiện thuận lợi để thu hút đầu
tư và phát triển các ngành công nghiệp này trở thành những ngành kinh tế trọng
điểm trong nền kinh tế quốc dân.

1.3. Các thành phần chủ yếu của công nghệ tự động hoá và vai trò của tự
động hoá đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung và các ngành
công nghiệp mũi nhọn nói riêng
1.3.1. Các thành phần chủ yếu của công nghệ tự động hoá

Công nghệ nói chung, công nghệ tự động hoá nói riêng là tập hợp các phương
pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện, hay nói cách khác là sự
kết hợp hài hoà giữa “phần cứng” và “phần mềm” với một tỷ lệ thích hợp để biến
đổi các nguồn lực thành sản phẩm. Cũng như công nghệ nói chung, công nghệ tự
động hoá được cấu thành bởi 4 thành phần có tác động qua lại với nhau, phối hợp
với nhau, đó là:

- Thành phần Kỹ thuật (T - Technoware): bao gồm các công cụ và các phương
tiện sản xuất thực hiện các hoạt động sản xuất để tạo ra các sản phẩm mong
muốn. Thành phần Kỹ thuật là xương sống, là cốt lõi của bất kỳ công nghệ
nào.
- Thành phần Con người (H - Humanware): bao gồm tri thức, kỹ xảo, kiến thức,
khả năng sáng tạo và kinh nghiệm của mỗi cá nhân hoặc một nhóm người và là
yếu tố chìa khoá của hoạt động sản xuất;
- Thành phần Thông tin (I - Inforware): bao gồm các dữ liệu về phần kỹ thuật,
về con người và tổ chức. Các thông số về đặc tính của thiết bị, số liệu về vận
hành thiết bị, để duy trì và bảo dưỡng, dữ liệu để nâng cao và dữ liệu để thiết
kế các bộ phận của phần kỹ thuật. Thành phần thông tin biểu hiện các tri thức
22

được tích luỹ trong công nghệ, nó giúp trả lời câu hỏi "làm cái gì" và "làm như
thế nào".
- Thành phần Tổ chức (O - Orgaware): đề cập tới sự hỗ trợ về nguyên lý, thực
tiễn, và bố trí để vận hành hiệu quả việc sử dụng Technoware bởi Humanware.
Nó có thể được thể hiện thông qua các thuật ngữ như nội quy công việc, tổ
chức công việc, sự thuận tiện trong công việc, đánh giá công việc và giảm nhẹ
công việc.

Bốn thành phần này bổ sung cho nhau và tác động lẫn nhau. Chúng đòi hỏi
phải có mặt đồng thời trong hoạt động sản xuất và không có hoạt động chuyển đổi
nào có thể hoàn thành nếu thiếu một trong bốn thành phần nêu trên.

Khảo sát sự biến đổi của công nghệ tự động hoá cho ta thấy được mức độ gia
tăng bên trong của mỗi thành phần. Khi mức độ phức tạp trong vận hành gia tăng,
nhu cầu về phát triển và sử dụng phần kỹ thuật có các cấp tinh xảo hơn sẽ tăng lên
và do đó cũng đòi hỏi phần năng lực tức là con người phải có sự tinh xảo phù hợp.
Vì cấp tinh xảo của phần kỹ thuật, con người tăng, nên cấp tinh xảo của phần
thông tin cần có để chỉ dẫn sử dụng các phần này cũng tăng theo. Cuối cùng là khi
một hoạt động biến đổi theo cấp gia tăng số lượng và phạm vi hoạt động, các chức
năng quản lý trở nên ngày càng phức tạp và do vậy càng đòi hỏi mức độ tinh xảo
lớn hơn trong phần tổ chức để kết hợp một cách có hiệu quả các phần kỹ thuật, con
người, thông tin.

Như vậy, hiểu và nắm bắt sâu sắc 4 thành phần của công nghệ tự động hoá sẽ
giúp các nhà quản lý, các nhà nghiên cứu, thiết kế, các nhà sản xuất thuận tiện
trong việc phân tích sự mất cân đối, không đồng bộ, chỉ ra chỗ yếu, điểm mạnh
của hệ thống hiện có và từ đó định ra hướng tăng cường, nhằm đáp ứng các nhiệm
vụ do yêu cầu của sản xuất đặt ra với những chi phí ít nhất về nguồn lực.

1.3.2. Vai trò của tự động hoá đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung và
các ngành công nghiệp mũi nhọn nói riêng

Một đặc điểm nổi bật của thế giới ngày nay là sự phân chia giàu nghèo ngày
càng lớn giữa các nước phát triển và đang phát triển. Một số nước đang phát triển
ở Châu Á, đặc biệt là tại các nước Đông Nam Á đã vươn lên rút ngắn thời gian và
đạt được sự tăng trưởng nhanh chóng, giảm khoảng cách giàu nghèo trong khuôn
khổ của phát triển bền vững bằng con đường công nghiệp hoá, trong đó tự động
hóa là công cụ quan trọng thúc đẩy quá trình chuyển đổi các nguồn tài nguyên
thiên nhiên và sức lao động của con người thành sản phẩm hàng hoá và dịch vụ
phục vụ cho nhu cầu kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng.

Trong xã hội hiện đại, vai trò của tự động hóa ngày càng tăng lên. Tự động hóa
đã trở thành một trong những yếu tố quyết định làm nên sự thay đổi xã hội và sự
thịnh vượng hay suy vong của một quốc gia. Những tiến bộ như vũ bão của
23

KH&CN trong hai thập kỷ qua đã làm đảo lộn tư duy và chiến lược của nhiều
nước trên thế giới. Không ai còn có thể hoài nghi về vai trò của tự động hóa trong
phát triển kinh tế toàn cầu và của mỗi quốc gia và bất kỳ quốc gia nào khi xây
dựng chính sách trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh,
quốc phòng cũng phải chú ý tới sự tác động cũng như vai trò đặc biệt của tự động
hóa. Có thể nêu khái quát một số tác động cụ thể như sau:

Thứ nhất, tự động hóa góp phần tăng năng suất lao động, chất lượng và tính ổn
định của sản phẩm. Ở các nước công nghiệp phát triển, sự đóng góp của tự động
hóa vào sự tăng trưởng GDP là rất lớn. Các ngành công nghiệp áp dụng tự động hóa
có năng suất lao động cao hơn hẳn so với các ngành công nghiệp khác. Việc ứng
dụng công nghệ tự động hóa đã tạo ra những thay đổi mang tính cách mạng về lực
lượng sản xuất.

Thứ hai, tự động hóa có tác động đến chất lượng tăng trưởng và điều chỉnh cơ
cấu nền kinh tế. Các ngành công nghiệp áp dụng công nghệ tự động hóa hiện đại,
hiệu quả cao, có ảnh hưởng sâu sắc đến chất lượng tăng trưởng và điều chỉnh cơ
cấu nền kinh tế. Việc hình thành và phát triển với tốc độ cao của các ngành nghề
mới nhờ ứng dụng tự động hóa đã góp phần quan trọng vào việc chuyển dịch cơ
cấu nền kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng các dịch vụ có giá trị gia tăng cao (ở
những nước phát triển, dịch vụ chiếm tỷ trọng trên 70% GDP). Tự động hóa cũng
góp phần tạo ra các ngành nghề, các sản phẩm mới có giá trị gia tăng cao, có khả
năng cạnh tranh và tiềm năng thị trường lớn; hiện đại hóa và có tác động mạnh mẽ
đến sự phát triển của các ngành nghề truyền thống.

Đối với Việt Nam, một nước đang phát triển có quy mô dân số trên 85 triệu
dân, có nhiều tiềm năng về nguồn lực con người, tài nguyên, việc ứng dụng và
phát triển tự động hóa trong các ngành kinh tế nói chung, các ngành công nghiệp
mũi nhọn nói riêng càng là giải pháp quan trọng để thúc đẩy chuyển dịch và thực
hiện tối ưu hóa cơ cấu nền kinh tế cũng như thay đổi phương thức tăng trưởng
kinh tế. Ứng dụng và phát triển tự động hóa sẽ nâng cao được hàm lượng công
nghệ và trình độ phát triển theo chiều sâu nền kinh tế quốc dân, giảm thiểu tỷ trọng
các công nghiệp sơ chế, tiêu hao tài nguyên và áp lực đối với môi trường, thúc đẩy
và nâng cao chất lượng, hiệu quả nền kinh tế. Ngoài ra, ứng dụng và phát triển tự
động hóa còn cho phép cải tạo, nâng cấp các ngành công nghiệp truyền thống trên
cơ sở thực hiện hiện đại hóa, tự động hóa các quá trình sản xuất và thay đổi các thế
hệ công nghiệp truyền thống.

Thứ ba, tự động hóa thúc đẩy đa dạng hoá mặt hàng, linh hoạt hoá quá trình
sản xuất. Tự động hoá có mặt từ khâu thiết kế đến khâu đóng gói sản phẩm trong
một dây chuyền sản xuất. Tự động thiết kế CAD không chỉ cần thiết kế sản phẩm,
mà còn dùng để mô phỏng, tính toán, phân tích, so sánh. Bộ chương trình máy tính
EPC (Engineering, Procurement, Construction - thiết kế kỹ thuật, cung cấp vật tư,
thiết bị, thi công xây lắp, chạy thử và bàn giao), một công cụ đắc lực giúp việc trở
24

thành “tổng thầu”, cũng là một loại chương trình CAD. Ngày nay, người ta rất
quan tâm đến một dạng phát triển nữa của CAD, đó là CAE (Computer Aide
Engineering) dùng để phân tích kĩ thuật và tìm lời giải hợp lí nhất ngay trong giai
đoạn thiết kế. Ví dụ, khi thiết kế khuôn ép nhựa, bên cạnh việc tạo dáng hình học
chính xác, còn cần phải mô phỏng để phân tích quá trình sẽ xẩy ra trong khi phun
ép nhựa nóng, từ đó chọn phương án liên quan đến đầu phun, đến độ co ngót v.v
để sản phẩm sau khi ép xong không bị biến dạng, cong vênh. Một dạng phát triển
nữa của CAD là công nghệ tạo mẫu nhanh RPT (Rapid Prototyping Technology).
Theo công nghệ này, các thông tin về sản phẩm được thiết kế trên máy tính và sẽ
chuyển trực tiếp sang thiết bị RPT để tạo ngay ra mẫu vật 3 chiều. Vì thế, người ta
còn gọi đây là máy in 3D (Three Dimetions Printer).

Như vậy, chỉ riêng một vấn đề nhỏ của kỹ thuật tự động hoá, CAD đã có thể
làm thay đổi nhiều quá trình sản xuất. Khi mới ra đời, CAD đã được một cơ quan
khoa học của Mỹ đánh giá như một công nghệ mới “làm tăng năng suất lên gấp
bội, mà chưa công nghệ nào đạt tới”, đồng thời dẫn ra ví dụ minh hoạ về việc rút
ngắn thời gian thiết kế một chiếc máy bay từ 1,5 năm với hơn 1000 kĩ sư, xuống
còn vài tuần với một nhóm nhỏ kỹ sư. Ngày nay, CAD vẫn trên đà phát triển mới.

Một ứng dụng khác của kỹ thuật tự động hoá là có thể dùng máy tính trực tiếp
điều khiển đến từng thiết bị, từng dây chuyền sản xuất cũng như toàn bộ hệ thống
sản xuất. Bắt đầu từ việc ứng dụng điều khiển số NC (Numerical Control), chuyển
sang điều khiển bằng máy tính CNC (Computer Numerical Control) rồi ứng dụng
các “máy tính nhúng” trong các bộ điều khiển các thiết bị, kỹ thuật tự động hoá đã
bước một bước dài trong quá trình phát triển.

Ngày nay, nhiều người đã thừa nhận rằng, nói đến công nghiệp hoá, hiện đại
hoá không thể không nói đến tự động hoá, mà linh hoạt hoá là một trong những
tiêu chí quan trọng để đánh giá hệ thống tổ chức sản xuất đáp ứng yêu cầu cạnh
tranh khốc liệt trên thị trường. Những bước đi từ số hoá đến máy tính hoá hệ thống
sản xuất ngày càng thực hiện theo con đường mềm hoá, linh hoạt hoá để thích nghi
với thị trường biến động. Hệ thống sản xuất linh hoạt FMS (Flexible
Manufacturing Systems) trở thành biểu tượng cho nền sản xuất hiện đại. Hệ thống
sản xuất tự động này cho phép đáp ứng nhanh với yêu cầu thay đổi mẫu mã và đặc
tính kĩ thuật của sản phẩm trong thị trường cạnh tranh. Hệ thống FMS cũng rất
thích hợp với quy mô sản xuất vừa và nhỏ. Hệ thống sản xuất tích hợp với máy
tính CIM (Computer Integrated Manufacturing) trở thành cốt lõi cho hệ thống
quản lý công nghệ và kinh tế của các doanh nghiệp hiện đại. Như vậy, càng ngày
tự động hoá càng nổi lên với vai trò chủ đạo, dẫn dắt nhiều ngành kinh tế kỹ thuật
phát triển.

Bản thân tự động hoá là một liên ngành, không thuộc một ngành kinh tế - kỹ
thuật riêng biệt nào, nhưng lại có mặt ở hầu hết các ngành kinh tế - kỹ thuật. Nếu
hình ảnh “máy tính nhúng” (embeded) trong từng thiết bị và trong cả doanh nghiệp

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×