Tải bản đầy đủ

Quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh viên trường cao đẳng sư phạm theo yêu cầu đổi mới giáo dục đại học việt nam

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
ĐẶNG LỘC THỌ
QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM TRUNG ƯƠNG
THEO YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
ĐẶNG LỘC THỌ
QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM TRUNG ƯƠNG
THEO YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ NGÀNH: 62.14.01.14
LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TSKH. Nguyễn Kế Hào
TS. Nguyễn Vũ Bích Hiền
HÀ NỘI - 2014
3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu là của riêng tôi. Các
số liệu khảo sát và thực nghiệm là kết quả nghiên cứu trung thực,
chưa công bố ở các tài liệu khác. Nếu có gì sai, tác giả xin hoàn toàn
chịu trách nhiệm!
Tác giả luận án
Đặng Lộc Thọ
3
4
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
4
5
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
CB: Cán bộ
CĐ: Cao đẳng
CĐSP: Cao đẳng Sư phạm
CNH-HĐH: Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá
GD: Giáo dục
GDĐH: Giáo dục Đại học
GDĐT: Giáo dục và Đào tạo
GV: Giảng viên
ĐG: Đánh giá
ĐGGD: Đánh giá Giáo dục
ĐGKQHT: Đánh giá Kết quả học tập
ĐH: Đại học
ĐTB: Điểm trung bình
KH&CN: Khoa học và Công nghệ
KQHT: Kết quả học tập
KT: Kiểm tra
KTĐG: Kiểm tra Đánh giá
KT&KĐCLGD: Khảo thí và Kiểm định chất lượng Giáo dục
QL: Quản lí
QLGD: Quản lí Giáo dục
SV: Sinh viên


TNKQ: Trắc nghiệm khách quan
5
6
DANH MỤC CÁC BẢNG
6
7
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
1. Giáo dục đại học (GDĐH) Việt Nam có vai trò quan trọng trong đào tạo
nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu công cuộc CNH – HĐH đất nước
trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Vai trò này của GDĐH chỉ có thể được khẳng định
bởi việc đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo của các cơ sở GDĐH. Vì lẽ đó, bài
toán về chất lượng GDĐH đã và đang là một thách thức đối với QL phát triển
GDĐH ở nước ta hiện nay, nhất là khi Việt Nam đang thực hiện đổi mới căn bản,
toàn diện nền GD Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân
chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó đổi mới cơ chế QLGD, phát triển đội ngũ GV
và cán bộ QLGD là khâu then chốt [22].
Nhận định về chất lượng GD, trong đó có chất lượng của GDĐH, Chiến lược
phát triển GD giai đoạn 2011 – 2020 đã chỉ rõ: “Chất lượng GD còn thấp so với yêu
cầu phát triển đất nước trong thời kỳ mới và so với trình độ của các nước có nền
GD tiên tiến trong khu vực, trên thế giới. Chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát
triển số lượng với yêu cầu nâng cao chất lượng; năng lực nghề nghiệp của SV, SV
tốt nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu công việc, có biểu hiện lệch lạc về hành vi,
lối sống trong một bộ phận học sinh, SV” [15].
Có một tổ hợp các nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên, trong đó có những
nguyên nhân về phương diện QLGD cả ở tầm vĩ mô và vi mô. Ở tầm vĩ mô, Chiến
lược phát triển GD 2011 – 2020 đã chỉ rõ: “Tư duy về GD chậm đổi mới. Một số vấn
đề lý luận mới về phát triển GD trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa và hội nhập quốc tế chưa được nghiên cứu đầy đủ. Chưa nhận thức đúng
vai trò quyết định của đội ngũ nhà giáo và sự cần thiết phải tập trung đổi mới QL nhà
nước về GD. Chưa nhận thức đầy đủ và thiếu chiến lược, quy hoạch phát triển nhân
lực của cả nước, của các bộ ngành, địa phương, thiếu qui hoạch mạng lưới các cơ sở
GD nghề nghiệp. Các chính sách tuyển và sử dụng nhân lực sau đào tạo còn nhiều bất
cập” [15]. Ở từng cơ sở GDĐH, QL chất lượng đào tạo chưa được coi trọng đúng
mức, hệ thống đảm bảo chất lượng của nhiều cơ sở GDĐH yếu kém dẫn đến những
bất cập về phương diện chất lượng cả ở đầu vào, quá trình đào tạo và ở đầu ra. Vì
7
8
vậy, chiến lược phát triển GD 2011 – 2020 đã xác định giải pháp: “Đổi mới QLGD”
là giải pháp đột phá, trong đó chú trọng “Tập trung vào QL chất lượng GD, chuẩn
hóa đầu ra và các điều kiện đảm bảo chất lượng trên cơ sở ứng dụng các thành tựu
mới về khoa học GD, khoa học công nghệ và khoa học QL, từng bước vận dụng
chuẩn của GD, thực hiện giám sát xã hội đối với chất lượng và hiệu quả GD, xây
dựng hệ thống kiểm định độc lập về chất lượng GD, thực hiện kiểm định chất lượng
cơ sở GD của các cấp học, trình độ đào tạo và kiểm định các chương trình GD nghề
nghiệp, ĐH”[15].
2. Trong hệ thống GDĐH nước ta hiện nay có 133 cơ sở đào tạo, bồi dưỡng
nhà giáo và CB QLGD với 14 trường đại học sư phạm, 39 trường CĐSP (sau đây
trong khuôn khổ luận án gọi chung là các trường sư phạm). Đây là lực lượng đóng
vai trò quyết định để thực hiện mục tiêu: “Phát triển ngành sư phạm Việt Nam tiên
tiến, hiện đại, đủ năng lực đáp ứng nhu cầu phát triển đội ngũ giáo viên, CB QLGD
của hệ thống GD mầm non, GD phổ thông, GD thường xuyên và trung cấp chuyên
nghiệp giai đoạn 2011 – 2020” [3]. Tuy nhiên, chất lượng đào tạo của nhiều trường sư
phạm, trong đó có các trường CĐSP còn thấp so với yêu cầu phát triển đất nước trong
thời kỳ mới và so với trình độ của các nước có nền GD tiên tiến trong khu vực và trên
thế giới. Điều này cho thấy, đã xuất hiện mâu thuẫn giữa năng lực đáp ứng của các
trường sư phạm và kỳ vọng của xã hội đối với các trường sư phạm. Theo đó, vấn đề
tìm kiếm các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo của các trường sư phạm cần phải
được đặt ra và giải quyết một cách cấp bách và nghiêm túc.
3. QL đào tạo dựa vào chuẩn là một trong những tiếp cận và xu hướng của
QL hiện đại trong lĩnh vực QLGD, nhất là đào tạo ĐH. Đào tạo dựa vào chuẩn đòi
hỏi phải thiết lập được chuẩn đào tạo. Chuẩn đào tạo là chuẩn bao quát có chức
năng QL cả 3 khâu của quá trình đào tạo, tức là bao gồm chuẩn đầu vào, chuẩn
nguồn lực tác động và được sử dụng trong quá trình đào tạo và chuẩn đầu ra. Tuy
nhiên trình tự phát triển chuẩn phải ngược lại, theo logic sau: chuẩn đầu ra, chuẩn
nguồn lực đào tạo, chuẩn đầu vào. Cả 3 chuẩn kết hợp với nhau và nhập làm một thì
được gọi là chuẩn đào tạo, là một công cụ để QL quá trình đào tạo. Như vậy, để QL
chất lượng đào tạo ĐH, cần thiết phải thiết lập được chuẩn đào tạo, trong đó thiết
lập chuẩn đầu ra có ý nghĩa rất quan trọng. Trong chuẩn đầu ra, kết quả học tập của
8
9
người học lại là một trong những thành tố cấu trúc trung tâm. Đây là lý do khiến
cho vấn đề ĐGKQHT của người học được sự quan tâm đặc biệt trong những nghiên
cứu lý luận và thực tiễn tổ chức đào tạo ở các cơ sở GDĐH.
Trong lý luận dạy học ĐH, ĐGKQHT của SV được xem xét đồng thời ở hai
phương diện, vừa là một phương pháp dạy học vừa là một khâu của quá trình dạy
học. Cho dù ở phương diện nào thì ĐGKQHT cũng vừa thể hiện rõ chức năng QL
của nó. Ở bình diện phương pháp dạy học, ĐGKQHT là phương pháp thực hiện
nhiệm vụ QL dạy học của GV; ở bình diện quá trình, ĐGKQHT thực hiện chức
năng QL với tư cách là một khâu cuối cùng của quá trình dạy học.
ĐGKQHT là một khâu có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình đào tạo
nói chung và trong việc đảm bảo nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập nói riêng,
nâng cao chất lượng hoạt động ĐGKQHT là nâng cao chất lượng đào tạo. Thông
qua ĐGKQHT trong quá trình đào tạo, nhà QLGD biết được nhà trường đã làm tốt
điều nào, những điều nào cần thay đổi để có thể đào tạo tốt hơn góp phần đánh giá
kết quả hoạt động giảng dạy của GV, giúp SV biết được họ tiếp thu được cái gì, cái
gì chưa tiếp thu được, mức độ đã đạt được. Đây là lí do khiến các nhà lí luận và
thực tiễn trong lĩnh vực quản lí GDĐH đặc biệt quan tâm đến vấn đề QL hoạt động
ĐGKQHT của SV.
4. Thực tiễn QL đào tạo ở các cơ sở GDĐH, các trường sư phạm nói chung
và các trường CĐSP nói riêng cho thấy, QL hoạt động ĐGKQHT của SV hiện nay
còn nhiều điểm bất cập với những biểu hiện cụ thể như: hệ thống văn bản qui phạm
pháp luật về KT, ĐGKQHT còn thiếu đồng bộ, chậm đổi mới, năng lực của bộ máy
và nhân lực thực hiện ĐGKQHT ở các trường CĐSP chưa có tính hệ thống và chưa
tạo thiết lập được những cơ sở khoa học thực sự vững chắc cho những thay đổi
trong QL hoạt động ĐGKQHT ở các trường CĐSP.
Những phân tích trên là lí do của việc chọn đề tài nghiên cứu luận án “Quản
lí hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm
Trung ương theo yêu cầu đổi mới giáo dục đại học Việt Nam”.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động ĐGKQHT của SV và QL hoạt động
ĐGKQHT của SV theo yêu cầu đổi mới GDĐH để đề xuất một số giải pháp QL hoạt động ĐGKQHT
9
10
của SV nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của các trường CĐSP đáp ứng mục tiêu
“Chương trình phát triển ngành sư phạm và các trường sư phạm từ năm 2011 –
2020” của Bộ GDĐT theo yêu cầu đổi mới GDĐH Việt Nam.
3. KHÁCH THỂ, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3.1. Khách thể nghiên cứu: Nội dungQL đào tạo, nội dung hoạt động ĐGKQHT
và nội dung QL hoạt động ĐGKQHT của SV.
3.2. Đối tượng nghiên cứu: Giải pháp QL hoạt động ĐGKQHT của SV ở các
trường CĐSP Trung ương.
4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Trên cơ sở nghiên cứu phát hiện những bất cập về quan điểm, nội dung và
phương pháp QL hoạt động ĐGKQHT của SV các trường CĐSP Trung ương, nếu
xây dựng và áp dụng được các giải pháp hữu hiệu QL hoạt động ĐGKQHT theo
hướng đảm bảo tính pháp chế của các qui định về ĐGKQHT, tổ chức tốt bộ máy và
nhân lực, hướng tới mục tiêu ĐG chính xác KQHT của người học, hoạt động ĐGKQHT
thì sẽ góp phần giảm thiểu các hạn chế hiện nay, nâng cao độ tin cậy và giá trị của hoạt
động ĐGKQHT, nâng cao chất lượng đào tạo của các trường CĐSP Trung ương
theo yêu cầu đổi mới GDĐH Việt Nam.
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
5.1. Hệ thống hoá cơ sở lý luận về ĐGKQHT và QL hoạt động ĐGKQHT ở các trường ĐH, CĐ
trên cơ sở tìm hiểu kinh nghiệm QL hoạt động ĐGKQHTSV trong và ngoài nước.
5.2. Đánh giá thực trạng hoạt động ĐGKQHT và QL hoạt động ĐGKQHT ở các trường CĐSP
Trung ương theo yêu cầu đổi mới GDĐH Việt Nam.
5.3. Đề xuất một số giải pháp QL hoạt động ĐGKQHTvà đánh giá tính hiệu quả, tính khả thi của các giải
pháp QL hoạt động ĐGKQHT ở các trường CĐSP Trung ương theo yêu cầu đổi mới GDĐH Việt Nam.
6. GIỚI HẠN VỀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
6.1. Giới hạn về đối tượng nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu các giải pháp tương ứng với nội dung của QL
ĐGKQHT để vận dụng trong QL hoạt động ĐGKQHTSV ở các trường CĐSP.
6.2. Giới hạn về địa bàn khảo sát
Khảo sát ở 3 trường CĐSP: CĐSP Trung ương (ở Hà Nội), CĐSP Trung
ương Nha Trang, CĐSP Trung ương TP Hồ Chí Minh.
6.3. Giới hạn về đối tượng khảo sát
10
11
- Khảo sát thử để xây dựng và chuẩn hoá phiếu điều tra 33 CBQL trường,
khoa, phòng ở ba trường CĐSP Trung ương.
- Khảo sát thực trạng QL hoạt động ĐGKQHT 33 CBQL (trường, khoa,
phòng), 69 GV và 316 SV ở ba trường CĐSP Trung ương
- Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các giải pháp QL hoạt động
ĐGKQHT ở ba trường CĐSP Trung ương của 17 chuyên gia về QLGD, 33 CBQL
và 69 GV.
- Thử nghiệm tác động và thực nghiệm đối chứng một số giải pháp QL hoạt
động ĐGKQHT tại trường CĐSP Trung ương.
7. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
7.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá các nguồn tài liệu có liên quan về GDĐT
và công tác QLGD. Nghiên cứu chỉ thị, nghị quyết của Đảng, các văn bản pháp quy
của Nhà nước và của ngành; các tài liệu, sách, tạp chí và báo cáo khoa học có liên
quan đến QL hoạt động ĐGKQHT.
7.2. Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
- Mẫu 1 và 2: Phiếu xin ý kiến CBQL và GV 03 trường CĐSP Trung ương về
thực trạng hoạt động ĐGKQHT; thực trạng QL hoạt động ĐGKQHT và các yếu tố
ảnh hưởng đến QL hoạt động ĐGKQHT ở các trường CĐSP.
- Mẫu 3: Phiếu khảo sát SV 03 trường CĐSP Trung ương về thực trạng hoạt động
ĐGKQHT và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động ĐGKQHT ở các trường CĐSP.
- Mẫu 4 (Dành cho chuyên gia): Khảo nghiệm giá trị khoa học của các giải
pháp QL hoạt động ĐGKQHT ở các trường CĐSP theo yêu cầu đổi mới GDĐH.
- Mẫu 5: Thực nghiệm một số giải pháp QL hoạt động ĐGKQHT ở các
trường CĐSP theo yêu cầu đổi mới GDĐH.
7.3. Tham khảo ý kiến chuyên gia
Tham khảo ý kiến của một số nhà khoa học thuộc lĩnh vực QLGD về các giải
pháp QL hoạt động ĐGKQHT của SV ở ba trường CĐSP Trung ương theo yêu cầu
đổi mới GDĐH và một số vấn đề có liên quan đến đề tài nghiên cứu.
7.4. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Thông qua các hình thức như tổ chức hội thảo, trao đổi về kinh nghiệm và các
11
12
giải pháp QL hoạt động ĐGKQHT của SV ở các trường CĐSP Trung ương.
7.5. Phương pháp thực nghiệm tác động
Thực nghiệm một số giải pháp QL hoạt động ĐGKQHT của SV ở Trường
CĐSP Trung ương.
7.6. Phương pháp xử lý số liệu
Sử dụng các công thức toán thống kê như tính giá trị trung bình, hệ số tương
quan, kiểm định độ tin cậy của các con số %, với sự hỗ trợ của phần mềm tin học
SPSS… để xử lý, định lượng các số liệu và kết quả nghiên cứu nhằm xác định mức
độ tin cậy của việc điều tra và phân tích kết quả nghiên cứu của đề tài.
8. NHỮNG LUẬN ĐIỂM BẢO VỆ
- Luận điểm 1: QL hoạt động ĐGKQHT là yêu cầu tất yếu và cấp bách trong giai đoạn hiện nay
nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của các trường CĐSP.
- Luận điểm 2: QL hoạt động ĐGKQHT ở các trường CĐSP tuy đã có nhiều chuyển biến
tích cực trong quá trình triển khai đồng bộ các tác động nhằm đảm bảo tính pháp chế của các qui
định về ĐGKQHT của SV, phù hợp với thực tiễn đào tạo nhưng vẫn còn nhiều bất cập.
- Luận điểm 3: Nếu áp dụng đồng bộ các giải pháp QL hoạt động ĐGKQHT của SV
do luận án đề xuất sẽ góp phần giảm thiểu các hạn chế hiện nay, nâng cao độ tin cậy và
giá trị của hoạt động ĐGKQHT ở các trường CĐSP, đáp ứng được yêu cầu đổi mới
GDĐH.
9. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
9.1. Về lí luận
- Lý giải, làm rõ một số khái niệm, một số nội dung và thuật ngữ về QL hoạt
động ĐGKQHT của SV các trường CĐSP
- Hệ thống hoá, lý giải có tính định hướng lý luận về quan điểm, nội dung,
phương pháp và qui trình hoạt động ĐGKQHT của SV và QL hoạt động ĐGKQHT
của SV theo chức năng.
9.2. Về thực tiễn
- Phát hiện những hạn chế, bất cập trong công tác QL hoạt động ĐGKQHT
của SV ở các trường CĐSP Trung ương về quan điểm, nội dung, phương pháp đánh giá
và quản lí đánh giá, chỉ ra những yêu cầu đổi mới và các yếu tố ảnh hưởng đến QL hoạt
động ĐGKQHT của SV.
12
13
- Đề xuất một số giải pháp có tính khả thi và có hiệu lực QL hoạt động
ĐGKQHT của SV ở các trường CĐSP Trung ương để góp phần nâng cao chất
lượng đào tạo đáp ứng yêu cầu đổi mới GDĐH.
10. CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN
Ngoài phần mở đầu, luận án gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về QL hoạt động ĐGKQHT của SV.
Chương 2: Thực trạng QL hoạt động ĐGKQHT của SV các trường CĐSP
Trung ương.
Chương 3: Giải pháp QL hoạt động ĐGKQHT của SV các trường CĐSP Trung
ương theo yêu cầu đổi mới GDĐH.
Kết luận và khuyến nghị.
Danh mục tài liệu tham khảo.
Phụ lục.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN
13
14
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Một số nghiên cứu về quản lí hoạt động ĐGKQHT của SV ở nước ngoài
- Những nghiên cứu về hoạt động ĐGKQHT
+ Nghiên cứu lý thuyết chung về kiểm tra - đánh giá trong lớp học như công trình
của C.A. Paloma và những người khác [82].Những tài liệu viết về lĩnh vực này được
biết đến như: cuốn "Measuring Educational Achievement" (Đo lường thành tích
giáo dục) của Robert L. Ebel [116] mô tả rất chi tiết phương pháp đo lường đánh giá
định lượng kết quả học tập của học sinh; cuốn "Measurement and Evaluation in
Teaching" (Đo lường và đánh giá trong dạy học) của Norman E. Gronlund giới
thiệu tới giáo viên và những người đang theo học nghiệp vụ sư phạm về những
nguyên tắc và quy trình đánh giá cần thiết cho việc dạy học hiệu quả [105]; cuốn "A
Teacher's Guide to Assessment" (Hướng dẫn giáo viên đánh giá) do D.S. Frith và
H.G.Macintosh viết rất cụ thể, chuyên sâu về những lý luận cơ bản của đánh giá
trong lớp học, cách lập kế hoạch đánh giá, cách đánh giá, cho điểm,… [91].
+ Nghiên cứu ứng dụng các kỹ thuật KT, ĐGKQHT được trình bày trong
cuốn "Classroom Assessment - Techiniques" của Thomas A. Agelo, K.Patricia Cross
[124l] giới thiệu cho GV biết cần sử dụng các phương pháp cụ thể nào trong đánh
giá trên lớp học và việc ra các quyết định khi sử dụng các kết quả đánh giá. Rick
Stiggins (và các đồng nghiệp) đã nghiên cứu về đánh giá trên lớp học với các
phương pháp, kỹ thuật cụ thể và đã cho xuất bản 3 cuốn sách nghiên cứu về lĩnh
vực này là: "Student- Centered Classrom Assessment" (1994) [112], "Classrom
Assessment for Student Learning" (2004) [113] và cuốn "Student- Involved
Assessment for Learning" (2008) [114].
+Nghiên cứu mô hình ĐG, trong đó có ĐGKQHT trong phạm vi các trường
ĐH, CĐ như: mô hình của ĐH Oxford [106], mô hình CLEP của Mỹ [83, 85, 86].
+ Nghiên cứu xu hướng ĐGKQHT như cuốn tài liệu thể hiện xu hướng đánh
giá hiện đại đang thịnh hành của GS. TS Anthony J.Nitko, Đại học Arizôna (Mỹ)
mang tên "Educational Assessment of Students" (Đánh giá học sinh) đề cập đến rất
nhiều nội dung của ĐGKQHT, bao gồm: Phát triển các kế hoạch giảng dạy kết hợp
với đánh giá; các đánh giá về mục tiêu, hiệu quả; đánh giá học sinh…[77].
14
15
+ Nghiên cứu về vai trò, tác động của đánh giá trong GD và GD ĐH như các
nghiên cứu của Dun, K.E & Mulvenson, S.W (2009) “A Critical Review of Research
on Formative Assessment: The Limited Scientific Evidence of the Impact of
Forrmative Assessment in Education” [90]; Tarasa, M. (2009) “Summative
Assessment: The Missing Link for Forrmative Assessment” [120]; Fook, C. Y., Sidhu,
G. K. (2010) “Authentic Assessment and Pedagogical Strategies in Higher Education”
[95]
- Những nghiên cứu về QL hoạt động ĐGKQHT
Có nhiều tài liệu bàn về QL hoạt động ĐGGD như: cuốn Monitering
Educational Achivement của N.Postlethwaite (2004); cuốn Monitering Evaluation:
Some Tools, Methods and Approches do Worbank phát hành (2004); cuốn
Managing Evaluation in Educational của Kath Aspinwall, Tim Simkins, John F.
Wilkinson and M. John Mc Auley (1992); cuốn “Mười bước tiến tới hệ thống giám
sát và đánh giá dựa trên kết quả” của Jody Zall Kusek, Ray C.Rist (2005), Ngân
hàng Thế giới [38]… Các cuốn tài liệu này đã chỉ cho người đọc thấy các nghiệp vụ
QL cần thực hiện để QL hoạt động ĐGGD như thế nào cho hiệu quả.
Đặc biệt, cuốn tài liệu của UNESCO có bàn đến công tác ĐGKQHT của học
sinh tại Việt Nam "Monitoring Educational Achievement" (Giám sát thành tích giáo
dục) đã giải thích ý nghĩa của khái niệm "giám sát thành tích giáo dục", chỉ ra các
nhóm tiêu chí được đánh giá và một số vấn đề đặt ra đối với các nhà QLGD [128].
- Kinh nghiệm về QL hoạt động ĐGKQHT ở một số nước trên thế giới:
* QL hoạt động ĐGKQHTSV trong GDĐH ở Anh
Cơ quan kiểm định chất lượng GDĐH của Anh được thành lập từ năm 1977
viết tắt là QAA (Quality Assurance Agency for Higher Education). Theo QAA,
ĐGKQHT nhằm mục đích: cung cấp thông tin phản hồi về sự tiến bộ trong học tập
của SV để thúc đẩy SV học tập; cung cấp thông tin cho xã hội và các nhà QLGD về
mức độ đạt được về kiến thức, khả năng và kỹ năng của SV theo tiêu chuẩn đã đặt
ra (của Trường và của Quốc gia).
Cơ quan kiểm định chất lượng GDĐH của Anh đã xây dựng bộ chỉ số gồm
15 quy tắc nhằm đảm bảo chất lượng đào tạo thông qua ĐGKQHT, phù hợp với
những tiêu chuẩn về đảm bảo chất lượng đào tạo của châu Âu trong lĩnh vực
15
16
GDĐH, liên quan đến các khía cạnh như: quy định, quy trình; quyền hạn, trách
nhiệm của các bộ phận và cá nhân liên quan; phương pháp ĐGKQHT; cơ chế chấm
điểm, xử lí điểm; việc công bố điểm, lưu giữ thông tin, dữ liệu Bộ chỉ số này đảm
bảo cho việc ĐGKQHT của SV được chính xác, công bằng, minh bạch, giúp cho
việc khuyến khích được SV nâng cao thành tích của mình. Đây là cơ sở để QAA
kiểm định chất lượng đào tạo của các trường ĐH. Việc QL hoạt động ĐGKQHT của
SV được tiến hành trên cơ sở QL các nội dung các công việc này, đảm bảo cho việc
ĐGKQHT đúng theo các quy tắc đã đặt ra [106, 108, 109].
* QL hoạt động ĐGKQHT của SV trong GDĐH ở Mỹ
Đặc trưng của GDĐH của Mỹ là tính đa dạng, phức tạp nên kiểm định chất
lượng ở Mỹ đã được quan tâm từ rất sớm. Với hệ thống tín chỉ được áp dụng từ rất
sớm nhằm tạo cơ hội cho SV có thể chuyển tiếp giữa các trường, SV sẽ dễ dàng
được tiếp nhận học chuyển tiếp, nếu các tín chỉ mà SV đã tích luỹ trước đó là của
một trường hay một chương trình đã được công nhận chất lượng; cho phép SV học
bán thời gian và có thể tạm thời nghỉ học trong một khoảng thời gian và sau đó
mang tín chỉ đã tích luỹ để xin học tiếp và lấy bằng tốt nghiệp. Kiểm định chất
lượng ở Mỹ nhằm những mục đích: Thể hiện chất lượng, khẳng định chất lượng của
các trường, tạo sự thuận lợi cho quá trình chuyển tiếp của SV từ trường này sang
trường khác, tạo sự tin tưởng cho nhà tuyển dụng. Vì vậy, tình trạng được kiểm định
công nhận là một tín hiệu cho công chúng về chất lượng của một trường hoặc một
chương trình ĐT (SV tốt nghiệp một trường hay một chương trình đã được công
nhận chất lượng thì đó là một lợi thế cho họ khi xin việc); là điều kiện để các trường
ĐH được cấp các nguồn tài trợ của Chính phủ liên bang dựa vào sự ĐG của các cơ
quan kiểm định. Trong 11 tiêu chuẩn đánh giá trường ĐH được cơ quan giáo dục Mỹ
chấp nhận thì thành quả học tập của SV được xem như là một chỉ số quyết định chất
lượng. [13, 66]
Để chứng nhận kiểm định chất lượng tại các trường ĐH Mỹ có thể tự kiểm
tra tại website của Ủy ban Kiểm định chất lượng GDĐH (CHEA) tại địa chỉ
http://www.chea.org/. Trang web của CHEA cung cấp thông tin về các trường ĐH
và các chương trình đào tạo được kiểm định chất lượng bởi các tổ chức kiểm định
16
17
của Hoa Kỳ. Có chứng nhận kiểm định chất lượng là tiêu chí bảo đảm các trường
ĐH đáp ứng yêu cầu tối thiểu về chất lượng giáo dục. Việc tiến hành kiểm định chất
lượng diễn ra định kỳ thường từ 3 đến 10 năm một lần. Có 3 tổ chức có thẩm quyền
kiểm định chất lượng cho các trường ĐH bao gồm: các tổ chức kiểm định vùng
chứng nhận chất lượng cho các cơ sở đào tạo cấp bằng và phi lợi nhuận; các tổ chức
nghề nghiệp tư nhân chứng nhận cho các cơ sở đào tạo nghề không cấp bằng và thu
lợi nhuận; cuối cùng là các tổ chức tín ngưỡng chứng nhận chất lượng cho những cơ
sở đào tạo cấp bằng mang tính tôn giáo và phi lợi nhuận. Hầu hết những tổ chức này
được công nhận bởi CHEA và Bộ Giáo dục Hoa Kỳ (USDE: www.ed.gov). Nhiều
tổ chức cũng chứng nhận chất lượng cho những trường ĐH và cơ sở đào tạo nằm
ngoài Hoa Kỳ. Ví dụ, IIE Việt Nam chỉ đại diện cho những trường được các tổ chức
kiểm định chất lượng cấp vùng, có sáu cơ quan kiểm định chất lượng cấp vùng có
tên và địa chỉ trang web như sau: Middle States Commission on Higher Education:
www.msche.org; New England Association of Schools and Colleges:
www.neasc.org; North Central Association of Colleges and Schools:
www.ncacihe.org; Northwest Commission on Colleges and Universities:
www.nwccu.org; Southern Association of Colleges and Schools: www.sacs.org;
Western Association of Schools and Colleges: www.wascweb.org.
* QL hoạt động ĐGKQHT trong GDĐH ở Australia
Hội đồng giảng dạy các trường ĐH Australia (Australian Universities
Teaching Commitee) đã xây dựng những nguyên tắc cơ bản liên quan việc QL hoạt
động ĐGKHT của SV ở các trường ĐH như sau [78]:
+ Xác định hoạt động ĐGKQHT là nhiệm vụ trung tâm trong toàn bộ quá
trình dạy học, chứ không phải là khâu cuối cùng trong quá trình dạy học.
+ Hoạt động ĐGKQHT phải bám theo mục tiêu học tập (nội dung dạy học
và kiến thức thức kỹ năng nào sẽ được ĐG) nhằm tránh việc tạo nên sức ép đối
với SV; phải ĐG được khả năng phân tích, tổng hợp thông tin của SV, chứ không
chỉ đơn giản là ĐG khả năng nhớ thông tin đã học và những kỹ năng đơn giản.
+ Có sự cân bằng giữa ĐG trong quá trình và ĐG tổng kết để có được những
thông tin phản hồi có hiệu quả giúp SV tiến bộ trong học tập; có quy định rõ ràng
và có sự giám sát chặt chẽ hoạt động ĐGKQHT nhằm đảm bảo tính công bằng,
17
18
khách quan; ĐG đúng chất lượng đào tạo
+ Đơn vị QL phải có văn bản hướng dẫn hoạt động ĐGKQHT, phải làm cho
SV nhận thức được tác động tích cực của việc ĐGKQHT và việc ĐGKQHT phải
được thiết kế nhằm thúc đẩy việc học của SV.
* QL hoạt động ĐGKQHT của SV ở một số nước Đông Nam Á
Mạng lưới các trường ĐH Đông Nam Á – Asean University Network (AUN)
đã đưa ra các tiêu chí để QL hoạt động ĐGKQHT, gồm các vấn đề sau [101]:
- Quy trình ĐGKQHT nhằm đảm bảo độ giá trị, độ tin cậy và công bằng; có
quy định hợp lí về thủ tục khiếu nại kết quả đã được đánh giá.
- Sử dụng nhiều hình thức ĐGKQHT mềm dẻo, phù hợp với nội dung và
theo đúng mục tiêu, mục đích đặt ra; thường xuyên thẩm định độ tin cậy và tính giá
trị của các phương pháp ĐGKQHT, đồng thời thường xuyên phát triển và thử
nghiệm các phương pháp ĐGKQHT mới; các tiêu chí ĐGKQHT được phổ biến rõ
ràng cho SV trên nguyên tắc minh bạch, nhất quán.
QL hoạt động ĐGKQHT của trường ĐH Công nghệ Naynang (Singapor):
Mỗi môn học hoặc một số môn học cùng chuyên môn có một Hội đồng phụ
trách, GV chịu trách nhiệm tổ chức các hoạt động ĐGKQHT thường xuyên trong
quá trình dạy học, GV dạy lớp nào chấm bài lớp đó, sau đó nộp kết quả chấm cùng
bài KT cho nhà trường. Các thành viên của Hội đồng chấm lại toàn bộ các bài KT,
khi có sai sót Hội đồng đối thoại trực tiếp với GV chấm. Nếu GV chấp nhận kết quả
của Hội đồng tức là thừa nhận mình sai, sai sót của GV được ghi nhận để làm căn
cứ để đánh giá GV đó. Trường ĐH tổ chức ĐGKQHT kết thúc môn học.
Như vậy, QLhoạt động ĐGKQHT là một vấn đề đã được các nước có nền GDĐH
phát triển trên thế giới quan tâm nghiên cứu, những nghiên cứu này đã làm rõ những vấn
đề của QLhoạt động ĐGKQHT ở những nội dung sau: Thông qua QLhoạt
độngĐGKQHT để nhà QL (đứng đầu nhà trường đào tạo hoặc nhóm nhà QL phải chịu
trách nhiệm trước hội đồng nhà trường) biết được chất lượng đào tạo của nhà trường
thông qua kết quả học tập của SV được đào tạo có đáp ứng được với yêu cầu thực tiễn
của xã hội không; đồng thời, thông qua QL hoạt động ĐGKQHT để nắm bắt được chất
lượng giảng dạy của đội ngũ nhà giáo và thực trạng ĐGKQHT đã đảm bảo các tiêu chí
18
19
của hoạt động ĐGKQHT của SV chưa, như: tính công bằng, tính khách quan, độ tin cậy
và giá trị của những công cụ đánh giá. Hơn hết, thông qua QLhoạt độngĐGKQHT của
nhà QL sẽ cho biết chất lượng học tập của SV tại cơ sở đào tạo.
Những nghiên cứu này đã chỉ ra ý nghĩa, vai trò của QLhoạt động ĐGKQHT
của SV đối với sự phát triển của mỗi nhà trường gắn với nhu cầu xã hội và sự tiến
bộ trong học tập của cá nhân mỗi SV, cũng như trách nhiệm của người GV trong
việc ĐGKQHT để mang lại hiệu quả cao nhất.Nhưng điểm hạn chế của các nghiên
cứu trên thể hiện ở chỗ chưa chỉ ra được cụ thể việc ĐGKQHT phải làm như thế
nào? Có những biện pháp và tiêu chí nào cho thấy sự ĐG sẽ bao phủ được hết các
yêu cầu của ĐG (như: sự công bằng, khách quan, giá trị, tin cậy ) để hoạt động ĐG
sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo.
1.1.2. Một số nghiên cứu về QLhoạt động ĐGKQHT của SV ở Việt Nam
- Những nghiên cứu về hoạt động ĐGKQHT của SV
+ Nghiên cứu về lý luận và ứng dụng các kỹ thuật đo lường - đánh giá thành quả
học tập của người học qua các loại hình, công cụ KT, ĐGKQHT vào các môn học cụ thể
như: Lưu Bản Cố (2001) [19], Nguyễn Đức Chính (2002) [14], Đặng Bá Lãm (2003)
[44], Lê Đức Ngọc (2004, 2005) [53, 54], Trần Thị Tuyết Oanh (2007) [56], Vũ Văn Dụ
(2008) [20], Nguyễn Phương Nga và Nguyễn Quí Thanh (2007, 2010) [50, 51] ;
+ Nghiên cứu đề xuất tiêu chuẩn, nguyên tắc, cải tiến phương thức, quy trình, kỹ
thuật trong các môn học, các ngành học hoặc trong phạm vi các cơ sở đào tạo nhằm
góp phần nâng cao độ tin cậy và tính giá trị của các kết quả KT, ĐGKQHTcủa Cấn Thị
Thanh Hương và Vương Thị Phương Thảo (2008, 2009) [35];
+ Tài liệu về ĐGKQHT của SV có: Phương pháp trắc nghiệm trong kiểm tra
và đánh giá thành quả học tập của tác giả Võ Ngọc Lan và Nguyễn Phụng Hoàng
(sách gồm 15 chương viết về đại cương về đo lường, đánh giá, các phương pháp đo,
cách soạn một bài trắc nghiệm khách quan) [46]; ”Trắc nghiệm và đo lường cơ bản
trong giáo dục” do tác giả Nghiêm Xuân Nùng biên dịch (đề cập về 4 mảng nội
dung lớn: 1. Trắc nghiệm dùng trong lớp học, 2. Lí thuyết về đo lường, 3. Các bài
trắc nghiệm tiêu chuẩn hóa và 4. Ứng dụng của trắc nghiệm) [58]; cuốn “Vắn tắt về
19
20
đo lường và đánh giá thành quả học tập” của tác giả Lê Đức Ngọc viết (năm 2001)
đề cập đến các phương pháp đo lường, các loại câu hỏi trắc nghiệm, cấu trúc đề thi
[53]; cuốn ”Cơ sở đánh giá giáo dục hiện đại” của Ngô Cương[18].
Khoa Sư phạm Đại học Quốc gia Hà Nội đã xuất bản cuốn Giáo dục học Đại
học (2003), trong phần 1 - chương 4, tác giả Lâm Quang Thiệp đã có bài viết về
’’Đo lường và đánh giá thành quả học tập”, đề cập đến các nội dung sau: Đánh giá
và đánh giá giáo dục; Các phương pháp trắc nghiệm; Chất lượng của các câu trắc
nghiệm và của đề thi trắc nghiệm; Đánh giá thành quả học tập ở trường đại học;
Việc áp dụng khoa học đo lường trong giáo dục trên thế giới và ở Việt Nam [25].
Cuốn Đánh giá và đo lường trong khoa học xã hội do tác giả Nguyễn Công
Khanh viết (năm 2004) trình bày phương pháp luận, quy trình, các nguyên tắc và
thiết kế công cụ đo lường; các phương pháp phân tích item, chọn mẫu, đánh giá độ
tin cậy, độ hiệu lực; thiết kế công cụ đo cũng như các bước cơ bản thực hành các kĩ
năng thu thập, xử lí, thích nghi hóa dữ liệu đó; phần phụ lục còn đưa ra các mô hình
xử lí số liệu và bảng hỏi để cho người đọc tham khảo [39].
Năm 2005, Trung tâm Đảm bảo Chất lượng và Nghiên cứu Phát triển Giáo
dục, Đại học Quốc Gia Hà Nội đã xuất bản hai cuốn:“Giáo dục đại học, chất lượng
và đánh giá” (sách gồm có 3 phần: Phần 1: Đánh giá hoạt động giảng dạy và nghiên
cứu khoa học của GV; Phần 2: Đánh giá hoạt động học tập và nghiên cứu khoa học
của SV và học viên cao học; Phần 3: Đánh giá chương trình đào tạo và chương trình
giảng dạy) [73] và cuốn “Giáo dục Đại học - Một số thành tố của chất lượng” (với 6
phần được sắp xếp theo tiến trình của quá trình đào tạo một cách logic, trong đó:
Phần 4 viết về vấn đề “Sinh viên đánh giá - thử nghiệm công cụ và mô hình” do tác
giả Nguyễn Phương Nga viết; Phần 6 đề cập đến KQHTSV do tác giả Mai Quỳnh
Lan và Nguyễn Quý Thanh viết [26]).
- Những nghiên cứu về QL hoạt động ĐGKQHT của SV
Hiện nay có một số ít các công trình như: “Xây dựng và quản lí qui trình KTĐG
thành tích học tập của SV hệ chính qui, phù hợp với phương thức đào tạo theo tín
chỉ” của tác giả Mai Danh Huấn (2007) [34];“Các biện pháp QL hoạt động kiểm tra
20
21
tại trường Đại học dân lập Văn Lang” của Võ Văn Tuấn (2008) [75]; “Biện pháp QL
công tác ĐGKQHT của HV trong đào tạo trực tuyến ở các trường ĐH, CĐ của Ngô
Quang Sơn (2009) [61]; ”Cải tiến công tác KTĐG – Một biện pháp quan trọng góp
phần nâng cao chất lượng đào tạo đại học” của Nguyễn Thị Thu Hằng [30]; “Nghiên
cứu cải tiến QL hoạt động kiểm tra ĐGKQHT trong GDĐH ở Việt Nam” của tác giả
Cấn Thị Thanh Hương (Năm 2010) với 5 giải pháp đề xuất là: Nâng cao nhận thức
cho những đội ngũ liên quan (1), hoàn thiện chính sách (2), đào tạo và bồi dưỡng
nghiệp vụ (3), tăng cường công tác thanh kiểm tra (4), đổi mới mô hình kiểm tra đánh
giá (5) theo mô hình quản lí vĩ mô từ Bộ Giáo dục và Đào tạo đến các trường và các
trung tâm ĐGKQHT [36].
Từ tổng quan trên cho thấy:
1. Các công trình nghiên cứu chủ yếu đi sâu vào nghiên cứu về ĐGKQHT,
ĐG chương trình nghiên cứu về QL chất lượng, QL hoạt động dạy học của GV và
hoạt động học tập của SV;
2. Các công trình nghiên cứu về QL hoạt động ĐGKQHT của SV còn chưa
nhiều, các công trình nghiên cứu về QL hoạt động ĐGKQHT ở các trường cao đẳng
chưa có. Mặt khác, mỗi nghiên cứu lại tiếp cận theo một khía cạnh khác nhau,
không thể áp dụng hoàn toàn cho khối các trường sư phạm có những đặc thù riêng.
Trên cơ sở những thành quả nghiên cứu trên của các nước trên thế giới và
trong nước, tác giả luận án sẽ kế thừađể nghiên cứu lí luận về QL hoạt động
ĐGKQHT của SV làm cơ sở nghiên cứu thực tiễn và vận dụng để xây dựng các biện
pháp QLhoạt động ĐGKQHT của SV ở các trường CĐSP Trung ương nhằm đáp
ứng được yêu cầu đổi mới GDĐH.
1.2. Hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh viên
1.2.1. Khái niệm về đánh giá kết quả học tập
1.2.1.1. Học tập
Có nhiều quan điểm khác nhau về học tập, theo Từ điển Giáo dục học:
Học theo nghĩa chung nhất là sự tương tác giữa cá thể với đối tượng làm thay
đổi nhận thức, thái độ hay hành vi của cá thể; học đối với con người là sự thu
thập tri thức, rèn luyện kĩ năng bằng các cách thức và phương pháp khác nhau;
21
22
học có thể thông qua trải nghiệm (qua sai lầm và qua làm), có thể theo phương
pháp nhà trường, có thể bằng tự học.Ở quan niệm về học tập như trên, thực chất của
sự học là hoạt động chiếm lĩnh hay lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo có chủ ý, có
mục tiêu để thỏa mãn nhu cầu nhất định. Trong quá trình học, cá nhân tự làm thay đổi
chính mình (phát triển nhận thức, phẩm chất ). Nếu hoạt động học được thực hiện
bằng phương pháp nhà trường, có nội dung, chương trình, có sách giáo khoa hay tài
liệu học tập, được những người có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ dẫn dắt, được kiểm
tra, đánh giá gọi là học tập.
Trong luận án này, tác giả sử dụng quan niệm: học tập là quá trình tiếp thu
kiến thức và rèn luyện kĩ năng dưới sự hướng dẫn và dạy bảo của nhà giáo; học tập
luôn gắn liền với hoạt động giảng dạy của thầy.
1.2.1.2. Đánh giá
Đánh giá (Evaluation) là vấn đề được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu và
đưa ra nhiều định nghĩa, quan niệm khác nhau.
Ralf Tyler, nhà giáo dục và tâm lí học nổi tiếng của Mĩ, được coi là một trong
những người đầu tiên đưa ra khái niệm ĐGGD (dẫn theo [95]), ông sử dụng thuật ngữ
ĐG để biểu thị quy trình ĐG sự tiến bộ của người học theo các mục tiêu đạt được.
Theo Woodhouse: Đánh giá (evaluation) là sự lượng giá (assessment) mà
kết quả là điểm, có thể cho bằng số (phần trăm hoặc một thang điểm ngắn hơn từ 1
đến 4), bằng chữ (từ A đến F) hay là sự miêu tả (Xuất sắc, giỏi, khá, đạt, không
đạt). Điểm cũng có thể là “qua” (Pass) hay “trượt” (Fail). Câu hỏi đánh giá “Kết
quả của bạn như thế nào ?” (Dẫn theo [76]).
Theo tác giả Trần Bá Hoành: ĐG là quá trình hình thành những nhận định,
phán đoán về kết quả công việc, dựa vào sự phân tích các thông tin thu được, đối
chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp
để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc [33].
Tác giả Lưu Xuân Mới quan niệm: “ĐG trong giáo dục là một quá trình hoạt
động được tiến hành có hệ thống nhằm xác định mức độ đạt được của đối tượng giáo
dục so với mục tiêu đã định. Nó bao gồm sự mô tả định tính và định lượng kết quả đạt
được thông qua những nhận xét, so sánh với những mục tiêu” [48].
22
23
Trong luận án, tác giả sử dụng ba chức năng rõ rệt của ĐG: chức năng xã hội,
chức năng giải trình và chức năng sư phạm. Việc ĐG người học có ý nghĩa nhiều mặt:
để chứng nhận năng lực, hướng dẫn, điều chỉnh (nhận định thực trạng, định hướng và
điều chỉnh hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của SV); để thúc đẩy, kích thích
(là cơ sở để các cấp QL hoạch định chính sách, chỉ đạo, ra quyết định QL ); đảm bảo
đúng mục đích, yêu cầu của chương trình, đảm bảo tính chính xác, khách quan của các
nhận xét và điểm số. Kết quả ĐG cần được công bố công khai, nếu có khiếu nại cần
được xem xét nghiêm túc và xử lý hợp với qui định của Bộ GDĐT.
1.2.1.3. Kết quả học tập
Kết quả học tập "là bằng chứng sự thành công của người học về kiến thức, kĩ
năng, năng lực, thái độ đã được đặt ra trong mục tiêu giáo dục" (James Madison
Univesity, 2003; James O.Nichols 2002); "là kết quả của một môn học, một chuyên
ngành hay của cả một khóa đào tạo" bao gồm các kiến thức, kĩ năng, thái độ mà họ
tích lũy được và phát triển trong suốt khóa học (theo quan niệm của Trường
Cabrillo, nguồn: Assessment Essentials, Palomba & Banta).
Như vậy, kết quả học tập thể hiện mức độ người học đạt được so với mục
tiêu đã xác định, mức độ người học đạt được trong tương quan chung với những
người cùng học khác.KQHT là hệ thống tri thức, thái độ, kĩ năng, kĩ xảo mà SV thu
được trong một quá trình học tập được lượng hóa bằng các điểm số hay con chữ
thể hiện cụ thể qua ĐG quá trình (điểm KT điều kiện, điểm KT kết thúc môn) và ĐG
tổng kết (kết quả thi tốt nghiệp, điểm bảo vệ đồ án, khóa luận tốt nghiệp).
1.2.1.4. ĐG kết quả học tập của SV (Evaluation of Students' Learrning Outcomes)
Theo tác giả Ralf Tyler, nhà giáo dục và tâm lí học nổi tiếng của Mĩ: “Quá
trình ĐGKQHT chủ yếu là quá trình xác định mức độ thực hiện các mục tiêu trong
quá trình dạy học” (Dẫn theo [97]).
Theo tác giả Dương Thiệu Tống: “ĐGKQHT là quá trình thu thập, phân tích
và giải thích thông tin một cách có hệ thống nhằm xác định mức độ đạt đến các mục
tiêu giảng huấn về phía học sinh. ĐG có thể thực hiện bằng phương pháp định
lượng (đo lường) hay định tính (phỏng vấn, quan sát)” [69].
Theo Tổ chức đảm bảo chất lượng GDĐH của Anh (QAA): ĐGKQHT là việc
23
24
thiết lập một quá trình đo kết quả học tập của SV về các mặt kiến thức đạt được. Nó có
một số mục đích. ĐG cung cấp phương pháp, phương tiện để xếp hạng SV. ĐG giúp
đưa ra quyết định về việc SV đã sẵn sàng học tiếp hay không, họ có xứng đáng nhận
học bổng hay phần thưởng không, hoặc chứng minh năng lực hành nghề của người
học. ĐGKQHT còn cung cấp cho SV sự phản hồi về việc học của họ và giúp họ nâng
cao thành tích của mình. Nó cũng giúp đánh giá hữu hiệu việc dạy của GV. (Dẫn theo
[109]). Theo Walvoord và Anderson: ĐGKQHT là hệ thống tổng hợp, phân tích
thông tin để hoàn thiện việc học tập của SV (Dẫn theo [76]); theo Vlasceanuet al:
ĐGKQHTSV là một hoạt động tổng hợp, phân tích và sử dụng những bằng chứng
về số lượng và chất lượng của kết quả dạy và học, để kiểm tra sự phù hợp của
chúng với mục tiêu, mục đích đề ra và cung cấp những phản hồi nhằm khuyến
khích sự tiến bộ (Dẫn theo [68]).
ĐGKQHT trong nghiên cứu này bao gồm: những kết quả học tập hàng ngày,
kết quả phản ánh trong các kỳ KT định kì và KT tổng kết các mặt kiến thức, kỹ
năng, kỹ xảo từng môn.
Trong khuôn khổ của luận án, tác giả thống nhất sử dụng quan niệm theo
Từ điển GDH và coi đây như là một trong những khái niệm công cụ của đề tài:
ĐGKQHT là xác định mức độ nắm được kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của người
học so với yêu cầu của chương trình đề ra. Yêu cầu ĐG là chú trọng xem xét mức
độ nắm được, thông hiểu và bền vững của kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo so với chuẩn
của chương trình. Kết quả của việc ĐG được thể hiện chủ yếu bằng điểm số theo
thang điểm quy định (có thể theo thang 10 điểm hay thang chữ, thang 4 điểm theo tín
chỉ), ngoài ra có thể được thể hiện bằng lời nhận xét của GV. Việc ĐGKQHT có tác
dụng quy định đối với quá trình dạy học vì nó khẳng định và công nhận những thành
quả đã đạt được và định hướng mục tiêu cần phấn đấu trong tương lai.
Như vậy, ĐGKQHT của SV là một quá trình được tiến hành có hệ thống
nhằm xác định mức độ đạt được của người học về mục tiêu đào tạo, tạo điều kiện
thúc đẩy quá trình học tập; quá trình này diễn ra có lúc song hành, có lúc đan xen và
lồng ghép với quá trình dạy - học bằng những hình thức tổ chức khác nhau. Nó có
thể bao gồm những sự mô tả, liệt kê về mặt định tính hay định lượng những hành vi
24
25
(kiến thức, kĩ năng, thái độ) của người học ở thời điểm hiện tại đang xét đối chiếu
với những tiêu chí của mục đích dự kiến trong mong muốn, nhằm có quyết định
thích hợp để nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc dạy và học, nhằm chứng
nhận KQHT của người học theo mục tiêu đề ra. ĐGKQHT của SV phải gắn liền với
KT, dựa vào số liệu của KT để tránh những ĐG mang tính ngẫu nhiên dễ dẫn đến
những hậu quả không tốt về mặt tâm lý, giáo dục.Trong GDĐH, ĐGKQHT có vai
trò quan trọng là: định hướng, xác nhận, tạo động lực, phản hồi - điều chỉnh, hình
thành nhu cầu và kỹ năng tự ĐG.
1.2.2. Nội dung hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh viên
1.2.2.1. Xác định mục đích, yêu cầu, nội dung, đối tượng, hình thức, phương pháp và
phương tiện đánh giá.
Đây là công việc vô cùng quan trọng vì đó là cơ sở để giúp cho việc ĐGKQHT
của SV đi đúng hướng và đạt hiệu quả cao nhất. Cụ thể là:
- Xác định mục đích ĐG: Để chứng nhận năng lực đã đạt được của SV sau một
giai đoạn học tập để thúc đẩy, kích thích SV cố gắng vươn lên trong học tập; tuyển
chọn, bồi dưỡng, xét công nhận kết quả học tập; đánh giá GV … Do đó, trước khi
tiến hành ĐG cần phải biết các loại kiến thức, kĩ năng và cách thức thực hiện của
SV những thông tin cần ĐG.
- Xác định yêu cầu ĐG: Mỗi cuộc ĐG sẽ có yêu cầu khác nhau tùy theo mục
đích và đối tượng, nhưng bao giờ cũng đòi hỏi phải đạt được những yêu cầu tối
thiểu như: tính công bằng, khách quan, tính giá trị, tin cậy, tính khả thi, tính hệ
thống, tính phát triển, tính phù hợp với đối tượng và mục đích đánh giá.
- Xác định nội dung ĐG: Nội dung ĐG chính là nội dung học tập của SV, được
khái quát thành ba mặt: Kiến thức, kĩ năng, thái độ với nhiều tầng bậc khác nhau.
Phải xác định rõ nội dung học tập với những mục tiêu cụ thể cần phải đạt được là gì
để căn cứ vào đó xây dựng chuẩn và thang đánh giá, đồng thời giúp SV có những
định hướng trong hoạt động học tập và tự ĐG.
- Xác định đối tượng ĐG: Là những hoạt động học tập của SV trong quá trình
đào tạo. Do đó, cần phải tìm hiểu đặc điểm của SV xem mức độ học tập của SV: ưu
25

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×