Tải bản đầy đủ

Cán bộ quản lý chất lượng - ý tưởng và thực tiễn ở các doanh nghiệp việt nam hiện nay

Hội nghị Cán bộ Quản lý chất lượng lần thứ 7
TP. Hồ Chí Minh, ngày 22-23/09/2011

Page 1


CÁN BỘ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG – Ý TƯỞNG VÀ THỰC TIỄN Ở
CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM HIỆN NAY

Nguyễn Bảo Toàn
P. Giám đốc SMEDEC 2
Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng

1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VĨ MÔ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN CHẤT LƯỢNG VÀ
CÁN BỘ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG Ở DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

Trong hơn 2 thập kỷ qua, tăng trưởng GDP Việt Nam bình quân trên
7% mỗi năm, môi trường kinh doanh được cải thiện, số lượng doanh
nghiệp tăng mạnh, nhất là doanh nghiệp ngoài nhà nước và doanh
nghiệp FDI. Dù tăng trưởng mạnh về số lượng nhưng doanh nghiệp
Việt Nam đang gặp nhiều thách thức, cả từ điều kiện vĩ mô của môi

trường kinh doanh Việt Nam cũng như từ bản thân nội tại của doanh
nghiệp. Dưới đây là những nút thắt có liên quan đến động lực cũng như
điều kiện đầu tư dài hạn vào
lực lượng lao động có kỹ năng, nâng cao
trình độ quản trị nói chung, quản trị chất lượng nói riêng
và đổi mới
công nghệ để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, dịch vụ cho
nền kinh tế Việt Nam.
1 Mô hình tăng trưởng của Việt Nam thời gian qua xu hướng dựa vào
tăng vốn đầu tư
:
Trong giai đoạn 1990 – 2000, để tăng trưởng GDP bình quân 7,3%
đóng góp các yếu tố đầu vào: vốn: 2,5%, lao động: 1,6%, TFP: 3,2%.
Giai đoạn 2000 – 2008, tăng trưởng GDP bình quân 7,3% đóng góp các
yếu tố đầu vào: vốn: 3,9%, lao động: 1,4%, TFP: 1,9%
( Xem bảng 1)

Nền kinh tế có xu hướng tăng trưởng dựa vào vốn, yếu tố quyết định
tăng trưởng bền vững là năng suất các yếu tố tổng hợp TFP (Total
Factor Productivity) giảm mạnh (3,2% thập niên trước giảm còn 1,9%
trong thập niên vừa qua)


Hội nghị Cán bộ Quản lý chất lượng lần thứ 7
TP. Hồ Chí Minh, ngày 22-23/09/2011

Page 2


Bảng 1: Các yếu tố tạo tăng trưởng GDP Việt Nam 1990 – 2008


Giai đoạn
Tăng GDP Vốn Lao động TFP
1990 - 2000
7,3 2,5 1,6 3,2
2000 - 2008
7,3 3,9 1,4 1,9

Nguồn:
Báo cáo năng lực cạnh tranh quốc gia Việt Nam 2010.

2
Cơ cấu sản phẩm xuất khẩu có hàm lượng kỹ năng thấp chiếm tỷ lệ
lớn và chậm thay đổi theo thời gian:

Tỷ lệ sản phẩm xuất khẩu có hàm lượng kỹ năng thấp và trung bình
chiếm tỷ lệ lớn (43, 5%: 2008) lại phụ thuộc chủ yếu đầu vào nhập
khẩu (trừ khoáng sản và nông phẩm, nguyên liệu). Hàm lượng nội địa
duy nhất là lao động kỹ năng thấp và trung bình kết hợp với máy móc,
thiết bị và nguyên liệu nhập khẩu, đáng lưu ý là tỷ lệ này thay đổi
không đáng kể qua 10 năm. (
Xem bảng 2)

Sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam cạnh tranh về giá chứ không phải về
đặc tính và chất lượng sản phẩm. Việt Nam hiện là 10 nước xuất khẩu
dệt may hàng đầu thế giới với tốc độ tăng trưởng 30% mỗi năm. Tuy
nhiên ngành may mặc Việt Nam cạnh tranh dựa vào chi phí thấp, tỷ
trọng lợi nhuận trung bình hàng năm chỉ đạt 5 – 8%. Đầu vào nhập
khẩu 90% vải, 70% phụ liệu, lợi nhuận tạo ra chủ yếu từ các công
đoạn đơn giản CMT (cắt, may, hoàn chỉnh sản phẩm), cạnh tranh về
thiết kế, thương hiệu, sự độc đáo (giá trị gia tăng) còn rất yếu và hạn
chế.



Hội nghị Cán bộ Quản lý chất lượng lần thứ 7
TP. Hồ Chí Minh, ngày 22-23/09/2011

Page 3


Bảng 2: Cơ cấu sản phẩm có hàm lượng kỹ năng xuất khấu của
Việt Nam

Danh mục 1997 2002

2008
Nông phẩm & nguyên liệu
32,9 26,1 21,2
Khoáng sản
17,6 19,8 18,0
Bán thành phẩm
5,4 6,5 9,2
SPCN có hàm lượng kỹ năng
lao động thấp
35,1 37,5 36,4
SPCN có hàm lượng kỹ năng
lao động trung bình
3,2 4,8 7,1
SPCN có hàm lượng kỹ năng
lao động cao
5,9 5,5 8,0
Tổng
100 100 100

Nguồn:
Trần Văn Thọ - Việt Nam từ năm 2011, NXB Tri thức, trang
166


3 Trình độ quản trị doanh nghiệp thấp và thiếu hụt lao động có kỹ năng

Theo đánh giá của VCR 2010, doanh nghiệp Việt Nam áp dụng các qui
tắc quản trị công ty hiện đại so với các nước trong khu vực còn kém.
Hoạt động của HĐQT, bầu chọn nhân sự quản lý cao cấp, công bố
thông tin, bảo vệ cổ đông thiểu số còn rất nhiều bất cập. Đặc biệt là
cán bộ quản lý doanh nghiệp cao cấp được chỉ định là do quan hệ thân
quen chứ không phải dựa vào năng lực.
(Xem hình 1)
Hình 1: Chỉ số quản trị công ty Việt nam và một số nước châu Á
Hội nghị Cán bộ Quản lý chất lượng lần thứ 7
TP. Hồ Chí Minh, ngày 22-23/09/2011

Page 4



Nguồn:
Báo cáo năng lực cạnh tranh quốc gia Việt Nam 2010.

Tỷ lệ thiếu hụt lao động được đào tạo, có kỹ năng, nhất là kỹ sư, kỹ
thuật viên và quản lý trung gian lớn nhất so với các nước trong khu vực
ASEAN, đặc biệt là đang có xu hướng gia tăng. Theo kết quả điều tra
mới nhất thì lực lượng lao động đã qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật
của Việt Nam nếu năm 2007 là 17,7 % thì đến năm 2010 chỉ còn có
14,7%
(Xem bảng 3)
Bảng 3: Tỷ trọng lực lượng lao động đã qua đào tạo chia theo
trình độ chuyên môn kỹ thuật thời kỳ 2007 - 2010
Trình độ chuyên môn kỹ thuật 2007 2009 2010
Tổng số 17,7 17,6 14,7
Dạy nghề 5,3 6,3 3,8
Trung cấp chuyên nghiệp 5,6 4,4 3,5
Cao đẳng 1,9 1,7 1,7
Đại học trở lên 4,9 5,2 5,7

Nguồn:
Điều tra về lao động và việc làm Việt Nam năm 2010- Bộ Kế
hoạch và Đầu tư và Tổng cục Thống kê 6-2011


Ngoài 3 yếu tố chính nêu trên, các yếu tố quan trọng khác cũng ảnh
hưởng đến vấn đề đầu tư chiều sâu của doanh nghiệp Việt Nam hiện
nay. Nổi bật là sự “méo mó các thị trường và hệ thống động lực”, đầu
cơ bất động sản và các hoạt động ngắn hạn (chứng khoán, ngân
hàng…) đem lại lợi nhuận trước mắt nhiều hơn là đầu tư cải thiện kỹ
Hội nghị Cán bộ Quản lý chất lượng lần thứ 7
TP. Hồ Chí Minh, ngày 22-23/09/2011

Page 5


năng lao động, năng lực quản trị và đổi mới công nghệ. Mặc khác,
doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện rất khó khăn để có thể vay được vốn từ
hệ thống ngân hàng để đầu tư chiều sâu, dài hạn do lãi suất quá cao và
năng lực thẩm định dự án của hệ thống ngân hàng chưa cao nên chỉ
cho vay với điều kiện thế chấp hết sức chặt chẽ.
Từ thực trạng nêu trên, doanh nghiệp Việt Nam hiện thiếu cả
động lực,
điều kiện và cả nội lực
để đầu tư dài hạn, chiều sâu để nâng cao kỹ
năng lao động và đội ngũ nhân sự quản trị nói chung và quản trị chất
lượng nói riêng nhằm nâng cao năng suất, chất lượng cải thiện năng
lực cạnh tranh.

2. CHẤT LƯỢNG VÀ CÁN BỘ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG: YÊU CẦU
VÀ THỰC TRẠNG TRONG DOANH NGHIỆP HIỆN NAY

Trở về với chủ đề chính của tham luận, chúng ta thấy không thể tách
rời những vấn đề phân tích ở mục 1 và thực trạng chất lượng và cán bộ
quản lý chất lượng trong các doanh nghiệp Việt Nam.
Hiện nay tại Việt Nam, chất lượng và cán bộ quản lý chất lượng thường
khiến người ta nghĩ đến ISO 9000, chính xác là ISO 9001 – một tiêu
chuẩn trong bộ tiêu chuẩn ISO 9000. Điều này dễ hiểu vì phần lớn
doanh nghiệp Việt Nam bắt đầu tiếp cận các vấn đề chất lượng từ thập
niên cuối của thế kỷ trước kể từ khi kinh tế nước ta mở cửa và chuyển
sang kinh tế thị trường. Tuy nhiên, chất lượng và cán bộ quản lý chất
lượng trong các ngành công nghiệp thế giới đã có một lịch sử lâu dài
trước đó, ít nhất cho đến nay cũng cả một thế kỷ và có rất nhiều
trường phái, lý thuyết, mô hình về chất lượng và tất nhiên theo sau đó
là đội ngũ nhân lực, cán bộ quản lý chất lượng tương ứng, chủ đề này
xin được đề cập trong một dịp khác.
Việt Nam hiện có khoảng 500.000 doanh nghiệp, số lượng doanh
nghiệp áp dụng ISO 9001 chỉ khoảng 7 ngàn được chứng nhận ISO
9001, con số còn khiêm tốn so với tổng số doanh nghiệp, ta xem xét
Hội nghị Cán bộ Quản lý chất lượng lần thứ 7
TP. Hồ Chí Minh, ngày 22-23/09/2011

Page 6


vai trò và yêu cầu

cán bộ quản lý chất lượng
theo ISO 9001: 2008 như
thế nào.
Theo ISO 9001: 2008, cán bộ chất lượng trong doanh nghiệp chính là
đại diện lãnh đạo về HTQLCL của doanh nghiệp mà nói ngắn gọn là đại
diện chất lượng. Đại diện chất lượng phải là thành viên trong ban lãnh
đạo doanh nghiệp (để có đủ tiếng nói và quyền lực) và là nhà tư vấn
nội bộ về HTQLCL theo ISO 9001 của doanh nghiệp. Trách nhiệm và
quyền hạn được qui định rõ là
thiết lập, thực hiện và duy trì
HTQLCL
của doanh nghiệp; báo cáo kết quả và mọi yêu cầu cải tiến với lãnh đạo
cao nhất; và đảm bảo toàn bộ doanh nghiệp nắm bắt được yêu cầu của
khách hàng. ISO 9001 còn lưu ý thêm rằng đại diện chất lượng có thể
bao gồm cả với bên ngoài doanh nghiệp về các vấn đề có liên quan đến
HTQLCL của doanh nghiệp.
(5.5.2 Đại diện lãnh đạo – TCVN ISO 9001:2008)

Vai trò của cán bộ đại diện chất lượng theo ISO 9001 có thể đảm nhiệm
cả vai trò đối nội và đối ngoại về chất lượng cho doanh nghiệp.
Đối nội:
Báo cáo với lãnh đạo cao nhất
về các kiến nghị về cải tiến,
nhắc nhở lãnh đạo các cam kết về chất lượng, duy trì hệ thống, kết quả
cuối cùng là phải giảm được chi phí, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp;
Đối với cán bộ, nhân viên,
phải có trách nhiệm huấn luyện, hướng dẫn,
tư vấn việc sử dụng các phương pháp, công cụ quản lý chất lượng; đảm
bảo việc tuân thủ các qui định đã được công bố, ban hành; giải quyết
các bất đồng với các đối tượng chưa hoặc không được ưu tiên vì lợi ích
chung của doanh nghiệp.
Đối ngoại:
với khách hàng
, thông tin cho khách hàng nhận biết về hiệu
quả của việc áp dụng HTQLCL tại doanh nghiệp; đầu mối giải quyết các
vấn đề liên quan đến khách hàng, khiếu nại của khách hàng;
với nhà
cung cấp
, xây dựng các chương trình kiểm soát nhà cung cấp, đánh giá
tại cơ sở, phối hợp với nhà cung cấp giải quyết các vấn đề chất lượng;
với bên chứng nhận
, lựa chọn tổ chức chứng nhận phù hợp, thông báo

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×