Tải bản đầy đủ

Biện pháp quản lý bồi dưỡng nâng cao năng lực cho tổ trưởng chuyên môn ở trường trung học phổ thông tỉnh yên bái

Mục lục
1. Lý do chọn đề tài:
Cấp học THPT là cấp học cuối cùng của bậc học phổ thông. Đó là
cấp học có nhiệm vụ kế thừa cấp THCS, cung cấp cho học sinh hệ thống
kiến thức phổ thông, rèn luyện các kỹ năng tổng hợp, hướng nghiệp chuẩn
bị cho học sinh sau khi ra trường có thể học tiếp lên đại học, cao đẳng,
THCN hoặc đi vào cuộc sống lao động.
Đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên trong nhà trường là nhân tố
quyết định chất lượng giáo dục. Chính vì thế Ban bí thư đã ra Chỉ thị số 40-
CT/TW ngày 15/06/2004 về việc xây dựng, nâng cao năng lực đội ngũ giáo
viên và cán bộ quản lý giáo dục(CBQL).
ở trường THPT đội ngũ giáo viên được chia ra thành các tổ chuyên
môn gồm một hoặc nhóm môn học, mỗi tổ chuyên môn(TCM) có một tổ
trưởng và một hai tổ phó do hiệu trưởng chỉ định và giao nhiệm vụ. Trong
bảng lương tổ trưởng chuyên môn(TTCM) hưởng phụ cấp trách nhiệm từ
0,1 đến 0,2.
Nhiệm vụ của tổ chuyên môn được qui định tại Điều lệ trường trung
học ban hành kèm theo Quyết định số 23/2000/QĐ-BGD&ĐT .
Các tổ trưởng chuyên môn có vai trò rất quan trọng, họ là những cán
bộ quản lý cơ sở, trực tiếp quản lý đội ngũ giáo viên trong các tổ chuyên
môn, nơi diễn ra các hoạt động dạy học và nâng cao tay nghề cho giáo viên.

Vai trò, trách nhiệm của tổ trưởng chuyên môn quan trọng là vậy,
song trên thực tế họ đang làm công tác quản lý một cách cảm tính, theo
kinh nghiệm, đặc biệt là những người mới được giao nhiệm vụ, họ hoàn
toàn lúng túng trong việc thực thi các chức năng của người quản lý.
Chính vì vậy, sự non kém về kiến thức, kỹ năng quản lý của các tổ
trưởng chuyên môn đã và đang là một nguyên nhân làm ảnh hưởng tới sự
phát triển chất lượng giáo dục trong các trường THPT. Đã đến lúc phải có
1
1
những biện pháp quản lý để không ngừng làm cho năng lực của đội ngũ tổ
trưởng chuyên môn luôn đáp ứng yêu cầu của đổi mới giáo dục THPT. Tại
các trường THPT hiệu trưởng là người quản lý các tổ trưởng chuyên môn.
Đồng thời chính là người trực tiếp quản lý bồi dưỡng năng lực cho họ.
Đội ngũ tổ trưởng chuyên môn trong các trường THPT tỉnh Yên Bái
cũng có những đặc điểm nói trên. Hơn nữa, là một tỉnh miền núi điều kiện
kinh tế -xã hội còn thấp kém, cơ sở hạ tầng thông tin chậm phát triển, đội
ngũ tổ trưởng chuyên môn trong các trường THPT Yên Bái lại gặp nhiều
khó khăn trong việc cập nhật thông tin để nâng cao năng lực quản lý. Trong
những năm gần đây, Yên Bái đang xây dựng thêm nhiều trường THPT,
nhiều tổ trưởng chuyên môn mới được giao nhiệm vụ, họ vừa trẻ về tuổi
đời lại mới vào nghề. Tất cả những điều đó càng làm cho mâu thuẫn giữa
năng lực và nhiệm vụ của các tổ trưởng chuyên môn tăng thêm.
Để góp phần giải quyết mâu thuẫn nói trên, chúng tôi quyết định
nghiên cứu luận văn: “Biện pháp quản lý bồi dưỡng nâng cao năng lực
cho tổ trưởng chuyên môn ở trường trung học phổ thông tỉnh Yên
Bái”.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất biện pháp quản lý bồi dưỡng nâng cao năng lực của tổ
trưởng chuyên môn nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục ở
trường trung học phổ thông tỉnh Yên Bái .
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu: Quá trình quản lý chuyên môn ở các trường
THPT tỉnh Yên Bái.
Đối tượng nghiên cứu: Quan hệ giữa biện pháp quản lý bồi dưỡng của
hiệu trưởng và vấn đề nâng cao năng lực cho tổ trưởng chuyên môn ở
trường trung học phổ thông tỉnh Yên Bái .
2
2
4. Giả thuyết khoa học
- Nếu đề xuất các biện pháp quản lý bồi dưỡng của hiệu trưởng cho


TTCM trong trường THPT theo hướng đồng bộ về lý thuyết và
thực hành quản lý, bám sát chức năng quản lý giáo dục thì sẽ
nâng cao năng lực cho TTCM từ đó góp phần cải thiện chất
lượng giáo THPT tỉnh Yên Bái.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Xác định cơ sở lý luận cho việc đề xuất biện pháp quản lý bồi
dưỡng nâng cao năng lực cho tổ trưởng chuyên môn của hiệu trưởng
các trường THPT Yên Bái .
5.2. Khảo sát thực trạng, xác định những thuận lợi, khó khăn,
những mặt tích cực, hạn chế, những kinh nghiệm rút ra từ thực tế
quản lý việc bồi dưỡng nâng cao năng lực cho tổ trưởng chuyên môn
của hiệu trưởng các trường THPT tỉnh Yên Bái.
5.3. Đề xuất biện pháp giúp hiệu trưởng quản lý bồi dưỡng nâng
cao năng lực cho tổ trưởng chuyên môn ở các trường THPT tỉnh Yên
Bái.
5.4. Khảo nghiệm nhằm đánh giá tính cần thiết và khả thi của các
biện pháp đề xuất.
6. phạm vi của đề tài
Nghiên cứu hoạt động quản lý chuyên môn của hiệu trưởng các trường
THPT trong tỉnh Yên Bái.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phương pháp tổng hợp, phân tích, hệ thống hóa các khái niệm và các
vấn đề lý luận liên quan đến đề tài.
7.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp quan sát.
Phương pháp điều tra.
3
3
Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
7.3. Nhóm các phương pháp bổ trợ
Phương pháp chuyên gia.
Phương pháp sử dụng thống kê toán học trong việc xử lý kết quả
nghiên cứu.
Chương 1
cơ sơ lý luận của các biện pháp quản lý bồi dưỡng
nâng cao năng lực cho tổ trưởng chuyên môn
1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Với quan điểm con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự
phát triển, Đảng và Nhà nước ta chủ trương coi giáo dục là Quốc sách hàng
đầu trong chính sách phát triển đất nước. Trên cơ sở nhận thức đó, trong
vòng hai thập kỷ qua, kể từ Hội nghị TW 4 Khoá VII, Đảng và Nhà nước ta
đã có nhiều Nghị quyết, Chỉ thị về phát triển giáo dục. Trong đó, để nâng
cao chất lượng giáo dục, Đảng hết sức coi trọng việc bồi dưỡng nâng cao
năng lực cho đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý (CBQL) giáo dục. Ta có thể
dẫn ra những văn bản gần đây đã thể hiện quan điểm chỉ đạo của Đảng và
Nhà nước ta về vấn đề này.
Trong Chiến lược phát triển giáo dục 2000-2010 Chính phủ đã chỉ
rõ: phải “đổi mới quản lý giáo dục” coi việc “đào tạo và bồi dưỡng thường
xuyên đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục các cấp về kiến thức, kỹ năng quản
lý” là khâu then chốt để thực hiện mục tiêu giáo dục.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ chín Ban chấp hành Trung ương Đảng
khóa IX đã đề cập vấn đề này như sau: “Tập trung chỉ đạo để nâng cao rõ
rệt chất lượng giáo dục và đào tạo” mà “giải pháp then chốt là đổi mới và
nâng cao năng lực quản lý nhà nước trong giáo dục và đào tạo”[29].
Tại Chỉ thị số 40/CT-TW ngày 15.06.2004 Ban bí thư Trung ương
Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “ Mục tiêu là xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán
4
4
bộ quản lý giáo dục được chuẩn hóa, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng,
đồng bộ về cơ cấu đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [35].
Quan điểm của Đảng ta về vấn đề CBQL giáo dục nói riêng, vấn đề
CBQL nói chung không những là sự kế thừa truyền thống coi hiền tài là
nguyên khí Quốc gia của cha ông mà còn phù hợp với quan điểm của các
nhà khoa học quản lý trên thế giới ngày nay, truyền thống đó được thể hiện
ở việc dân ta đã lập lên Văn miếu để thờ đạo học và tôn vinh các hiền tài.
Chẳng vậy mà Lê Thánh Tông (1442 - 1479) vị minh quân triều Lê đã cho
khắc vào bia Quốc Tử Giám cương lĩnh của đất nước:
“ Hiền tài là nguyên khí của quốc gia.
Nguyên khí mạnh thì thế nước cường.
Nguyên khí suy thì thế nước tàn”.
Sinh thời, Chủ Tịch Hồ Chí Minh từng dạy: “Mọi việc thành bại đều do cán bộ
mà ra”; hay “Cán bộ là tiền vốn của đoàn thể. Có vốn mới làm ra lãi. Bất cứ chính sách,
công tác gì nếu có cán bộ tốt thì thành công, tức là có lãi, không có cán bộ tốt thì hỏng
việc, tức là lỗ vốn” [23].
Các học giả nghiên cứu về lý luận quản lý cũng như các nhà quản lý
hiện đại trên thế giới đều cho rằng chất xám quản lý là nguồn lực quan
trọng nhất quyết định sự thành bại của các tổ chức trong việc thực hiện các
mục tiêu chung.
Trong trường THPT, tổ trưởng chuyên môn là một CBQL. Gần đây
xuất hiện một số tài liệu có liên quan đến việc bồi dưỡng năng lực cho
TTCM, song rất ít và mới chỉ đề cập một cách chung chung. Trong cuốn “
Sổ tay hiệu trưởng trường dân tộc nội trú” của nhóm tác giả do Đỗ Ngọc
Bích chủ biên có nói về việc dựa vào đội ngũ TTCM để đẩy mạnh hoạt
động của tổ, nhóm chuyên môn; tăng cường kiểm tra việc dạy học trên lớp;
xây dựng tập thể sư phạm và coi đây là giải pháp rất quan trọng trong việc
nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường. Tác giả Nguyễn Văn Lê
5
5
trong cuốn “ Người hiệu trưởng trường trung học cơ sở ” cũng có đề cập tới
vai trò của TTCM trong việc xây dựng và triển khai kế hoạch hoạt động
của tổ chuyên môn (TCM). Trong năm 2004 trên Tạp chí thông tin quản lý
giáo dục có một số bài viết về vị trí, vai trò, năng lực và một số biện pháp
nâng cao năng lực cho TTCM trong trường trung học của các tác giả
Nguyễn Thị Tuyết Hạnh; Ngô Viết Sơn; Trần Minh Hằng.
Nhìn chung, các tài liệu này hoặc chỉ là những bài báo đề cập vấn đề một cách
khái quát, hoặc là không phải là tài liệu tập trung viết về TTCM mà chỉ đề cập đến khi
có liên quan. Tuy vậy, tất cả đều thống nhất về vai trò rất quan trọng và việc cần thiết
phải nâng cao năng lực cho TTCM coi như là một giải pháp then chốt trong việc đổi
mới hoạt động quản lý chuyên môn trong các trường học.
ở tỉnh Yên Bái, vấn đề quản lý bồi dưỡng nâng cao năng lực của
TTCM trong trường THPT thường được hiệu trưởng các trường THPT
quan tâm, song nó chỉ tồn tại như những kinh nghiệm rải rác trên các sáng
kiến kinh nghiệm hoặc báo cáo tổng kết của các nhà trường.
Như vậy, cho đến nay, theo những tài liệu mà chúng tôi có được vẫn
chưa có một công trình nào đề cập đến các biện pháp quản lý nâng cao
năng lực cho TTCM trường THPT một cách đầy đủ và hệ thống.
Trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi muốn đi sâu hơn để
xác định cơ sở lý luận, khảo sát thực tiễn và trên cơ sở đó đề xuất một số
biện pháp quản lý bồi dưỡng nâng cao năng lực quản lý cho TTCM trong
các trường THPT trên địa bàn tỉnh Yên Bái cho phù hợp với yêu cầu đổi
mới giáo dục.
1.2. Một số khái niệm và thuật ngữ
1.2.1. Quản lý trườngTHPT
* Quản lý trường học
Theo Đặng Quốc Bảo: “ Trường học là một thiết chế xã hội trong đó
có diễn ra quá trình đào tạo, giáo dục với sự hoạt động tương tác của hai
6
6
nhân tố: “Thầy – Trò”. Trường học là một bộ phận của cộng đồng và trong
guồng máy của hệ thống giáo dục Quốc dân nó là đơn vị cơ sở ” [3].
Theo Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối
giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà
trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục
tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ, với từng học sinh” [8].
Theo Trần Kiểm: “Quản lý trường học được hiểu là một hệ thống
những tác động sư phạm hợp lý và có hướng đích của chủ thể quản lý đến
tập thể giáo viên, học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà
trường nhằm huy động và phối hợp sức lực và trí tuệ của họ vào mọi mặt
hoạt động của nhà trường hướng vào hoàn thành có chất lượng và hiệu quả
mục tiêu dự kiến” [9].
Macarencô cho rằng: “Phải là tập thể các nhà giáo dục, và ở đâu mà
giáo dục không gắn với tập thể, không có chương trình công tác thống nhất,
một giọng nói thống nhất, một cách tiếp cận chính xác và thống nhất với trẻ
em thì ở đó không thể có một quá trình giáo dục nào hết ”[5].
Tóm lại, quản lý trường học về bản chất là quản lý con người (tập thể cán bộ,
giáo viên và học sinh). Do đó, có thể hiểu quản lý trường học là những tác động tối ưu
của chủ thể quản lý (lãnh đạo trường học) đến giáo viên, học sinh và các cán bộ khác
nhằm tận dụng các nguồn lực hướng vào đẩy mạnh các hoạt động của nhà trường. Tiêu
biểu là thúc đẩy quá trình đào tạo thể hệ trẻ, thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế
hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mong muốn .
* Đặc thù của quản lý trường THPT
Trường THPT thuộc cấp học cuối cùng trong bậc học phổ thông. Nó
là đơn vị cơ sở của hệ thống giáo dục đồng thời là một tổ chức xã hội trong
cộng đồng vì thế ta nói: trường THPT là một tổ chức sư phạm – xã hội.
7
7
Với tư cách là một tổ chức xã hội, trường THPT tham gia hoạt động
trong một hệ thống thống nhất ở cấp quận, huyện.Tham gia thực hiện mục
tiêu kinh tế - xã hội của địa phương. Trường THPT là đơn vị văn hóa đại
diện trong cộng đồng. Điều này càng thể hiện rõ nét đối với các trường
THPT ở một tỉnh miền núi như Yên Bái. Có thể nói văn hóa trường học
thường vượt qua văn hóa cộng đồng, trường học như một trung tâm tái sản
xuất văn hóa liên tục ở nơi nó hoạt động.
Với tư cách là một tổ chức sư phạm, quản lý trường THPT phân biệt
hẳn với mọi hình quản lý xã hội khác. Đó là bản chất sư phạm của quá trình
giáo dục, trong đó giáo viên, học sinh vừa là khách thể quản lý nhưng lại
đồng thời là chủ thể tự quản lý. Bởi không những họ là những con người
đang tham gia một hoạt động rất đặc thù là: lấy nhân cách đào tạo nhân
cách. Sản phẩm của hoạt động là nhân cách được tạo ra bao hàm cả tự đào
tạo. Đó là nhân cách của những công dân tương lai Nước Việt. Chính vì
vậy, các mối quan hệ quản lý trong trường học mang bản chất dân chủ sâu
sắc. Trường THPT được coi như một hệ tự quản lý tiêu biểu. Tính đặc thù
của hoạt động quản lý trường THPT thể hiện tập trung ở hoạt động dạy và
hoạt động học.
Học sinh THPT là học sinh cuối bậc học phổ thông, chuẩn bị phân
luồng để đi vào các cơ sở đào tạo nhân lực hoặc trực tiếp tham gia hoạt
động kinh tế – xã hội ở địa phương.
Luật giáo dục năm 2005 Điều 28 có ghi: “Giáo dục trung học phổ
thông phải củng cố, phát triển những nội dung đã học ở trung học cơ sở,
hoàn thành nội dung giáo dục phổ thông; ngoài những nội dung chủ yếu
nhằm đảm bảo chuẩn kiến thức phổ thông, cơ bản toàn diện và hướng
nghiệp cho mọi học sinh còn có nội dung nâng cao ở một số môn học để
phát triển năng lực, đáp ứng nguyện vọng của học sinh” [4]. Giáo dục
THPT nhằm góp phần thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân
lực bồi dưỡng nhân tài, hình thành đội ngũ lao động có tri thức, có tay
8
8
nghề, có năng lực thực hành, tự chủ, năng động và sáng tạo, có đạo đức
cách mạng, có tinh thần yêu nước, yêu Chủ nghĩa xã hội, nhà trường đào
tạo thế hệ trẻ theo hướng toàn diện và năng lực chuyên môn sâu, có ý thức
và khă năng tự tạo việc làm trong nền kinh tế nhiều thành phần, có khả
năng làm việc hợp tác theo nhóm
Theo Trần Kiểm tính đặc thù của quản lý trường THPT phụ thuộc
nhiều vào đặc điểm lao động sư phạm của giáo viên, đó là:
- Lao động của giáo viên được chuyên môn hóa cao.
- Đối tượng chủ yếu của lao động sư phạm là học sinh phần lớn từ 15
đến 17 tuổi.
- Phương tiện lao động chủ yếu là tinh thần – là nhân cách người
thầy.
- Phân biệt giữa lao động trên lớp và lao động bên ngoài không hoàn
toàn tách bạch.
- Mặt kinh tế của hoạt động gắn liền với mặt giáo dục.
- Hiệu quả là hiệu suất lao động của người giáo viên, là chất lượng
thực hiện mục tiêu đào tạo [10].
Chính vì lao động của giáo viên được chuyên môn hóa cao cho nên
quản lý chuyên môn trong trường THPT phải tổ chức theo các tổ chuyên
môn, quản lý tổ chuyên môn là hoạt động quản lý đặc thù trong trường
THPT.
* Chức năng quản lý trường học
Có nhiều quan niệm khác nhau về chức năng quản lý. Nhưng quan niệm
phổ biến nhất cho rằng chủ thể quản lý phải thực hiện 4 chức năng đó là:
+ Chức năng kế họach hóa.
+ Chức năng tổ chức.
+ Chức năng chỉ đạo thực hiện.
+ Chức năng kiểm tra đánh giá.
Bốn chức năng này được coi như 4 công đoạn tạo lên một chu trình
quản lý. Các chức năng này có quan hệ chặt chẽ với nhau, đan xen với
9
9
nhau. Ta có thể mô hình hóa hoạt động quản lý như một chu trình với các
chức năng đó như sau:[8]

Trường học là cấp quản lý cơ sở trong hệ thống giáo dục Quốc dân.
Theo quan niệm của tác giả Trần Kiểm thì người quản lý trường học cần
thực hiện 3 chức năng chủ yếu đó là:
“+ Chức năng kế họach hóa.
+ Chức năng tổ chức thực hiện.
+ Chức năng kiểm tra đánh giá”[10].
TTCM là CBQL trong trường học thì cũng có chức năng như vậy.
1.2.2. Năng lực
Để hiểu về năng lực quản lý của TTCM và các biện pháp quản lý bồi
dưỡng nâng cao năng lực cho TTCM, ta phải xác định quan niệm về vấn đề
năng lực.
Năng lực là một khái niệm cơ bản của tâm lý học. Nó có ý nghĩa to
lớn về mặt lý luận và thực tiễn. Năng lực của đội ngũ cán bộ là nguồn lực
vô giá trong công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa hiện nay của đất
nước ta. Với một lĩnh vực được coi là Quốc sách hàng đầu, lĩnh vực được
coi là chìa khóa của sự phát triển như giáo dục thì năng lực của đội ngũ
CBQL giáo dục các cấp càng trở lên đặc biệt quan trọng.
10
Ch cứ
n ng tă ổ
ch cứ
Ch cứ
n ng chă ỉ
o th cđạ ự
hi nệ
Ch cứ
n ngă
ki m traể
ánh giáđ
Thông tin ph c v qu n lýụ ụ ả
Ch cứ
n ng kă ế
ho ch hóaạ
10
Theo A.G. Kôvaliôp: “Năng lực là một tập hợp hoặc tổng hợp những
thuộc tính cá nhân của con người đáp ứng những yêu cầu của hoạt động và
đảm bảo cho hoạt động đạt được kết quả cao” [13].
Theo Thái Duy Tuyên: “Năng lực là những đặc điểm tâm lý của
nhân cách là điều kiện chủ quan để thực hiện có kết quả một dạng hoạt
động nhất định. Năng lực có quan hệ với kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo. Năng
lực thể hiện ở tốc độ, chiều sâu, tính bền vững và phạm vi ảnh hưởng của
kết quả hoạt động, ở tính sáng tạo, tính độc đáo của phương pháp hoạt
động” [32].
Theo Đỗ Hoàng Toàn: “Năng lực là những thuộc tính tâm lý của cá
nhân giúp con người lĩnh hội một lĩnh vực kiến thức hoặc hoạt động nào
đấy được dễ dàng và nếu họ tiến hành hoạt động trong lĩnh vực đó thì sẽ có
kết quả cao” [31].
Qua các quan niệm trên ta thấy nổi lên mấy điểm sau về năng lực:
Thứ nhất: Năng lực có liên quan đến yếu tố di truyền, bộc lộ và
phát triển thông qua hoạt động. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong giáo
dục khi định hướng phát triển nhân cách cũng như trong việc tạo ra môi
trường hoạt động thuận lợi làm nảy nở, phát triển năng lực ở cá nhân.
Thứ hai: Kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo là những thành phần cơ bản
giúp tạo nên năng lực. Đây chính là cơ sở khoa học cho phép xây dựng
những chương trình đào tạo, bồi dưỡng nhằm phát triển, nâng cao năng lực
cho nguồn nhân lực nói chung, đội ngũ CBQL nói riêng.
Thứ ba: Năng lực của con người là những thuộc tính tâm lý. Nó
đảm bảo cho họ đạt được kết quả cao đối với từng dạng hoạt động nhất
định. Điều này có nghĩa là khi quản lý cán bộ phải sử dụng đúng người,
đúng việc mới cho hiệu quả cao. Đồng thời phải thường xuyên bồi dưỡng
nâng cao năng lực để đội ngũ CBQL ngày càng đáp ứng tốt hơn.
11
11
Những phân tích trên đây sáng tỏ một điều là : việc nâng cao năng
lực cho TTCM có quan hệ mật thiết đến việc bồi dưỡng hệ thống kiến thức,
kỹ năng quản lý và tạo điều kiện thuận lợi để TTCM toàn tâm toàn ý cho
hoạt động của mình.
1.2.3. Năng lực quản lý
Từ hai khái niệm năng lực và quản lý, theo phương pháp thu hẹp
khái niệm, ta có thể hiểu rằng: Năng lực quản lý là những đặc điểm tâm lý
của nhân cách giúp cho người quản lý dễ dàng thực hiện được hoạt động
quản lý có kết quả cao. Năng lực quản lý có quan hệ với kiến thức, kỹ năng
quản lý.
Năng lực quản lý liên quan chặt chẽ đến những phẩm chất nhân cách
của người quản lý như: Trình độ, tầm nhìn, khả năng thiết kế, óc sáng tạo
thực tiễn, khả năng tổ chức điều khiển, khả năng giao tiếp, thuyết phục cảm
hóa con người.
Năng lực quản lý thể hiện tập trung trong việc thực hiện toàn bộ chu
trình quản lý, từ việc hoạch định, đến việc tổ chức, chỉ đạo thực hiện và
kiểm tra đánh giá. Đối với mỗi lĩnh vực quản lý nhất định thì kỹ năng thực
hiện những chức năng quản lý có những nội dung nhất định gắn liền với
đặc thù của dạng hoạt động đó.
Năng lực quản lý hình thành trong quá trình chủ thể thực hiện hoạt động
quản lý. Trong quá trình này nảy sinh những thuộc tính mới cần thiết cho
sự thành công của hoạt động quản lý, đồng thời làm xuất hiện những phẩm
chất thay thế cho những thuộc tính tự nhiên chưa hoàn thiện ở chủ thể quản
lý. Hay nói cách khác, thông qua hoạt động quản lý hình thành những cơ
chế bù trừ làm cho chủ thể quản lý phát triển được những thuộc tính tâm lý
phù hợp hơn cho hoạt động của mình. Những điều này nói lên rằng có thể
và cần thiết phải nâng cao năng lực quản lý thông qua chính quá trình thực
hiện các khâu của qui trình quản lý.
12
12
1.2.4. Tổ trưởng chuyên môn
Việc tổ chức dạy học theo các bộ môn khoa học cơ bản dẫn đến đội
ngũ giáo viên trong các trường THPT được chia thành các tổ chuyên môn.
Trong đó đứng đầu mỗi tổ chuyên môn là một tổ trưởng chịu trách nhiệm
trực tiếp quản lý điều hành mọi hoạt động của tổ. Vị trí, vai trò này đã được
qui định tại Điều lệ trường trung học. TTCM chính là người đóng vai trò
trung tâm trong hoạt động quản lý chuyên môn của TCM. Đây chính là một
mắt xích trong hệ thống quản lý của nhà trường. Các quyết định của hiệu
trưởng đều thông qua tổ trưởng để chuyển đến giáo viên. TTCM trực tiếp
tiếp thu các chủ trương từ hiệu trưởng để điều hành hoạt động của tổ. Đồng
thời TTCM cũng là người đại diện cho TCM phản ánh những ý kiến của
tập thể giáo viên trong tổ đến hiệu trưởng.
TTCM là người chịu trách nhiệm xây dựng kế hoạch hoạt động
chung của tổ. Hướng dẫn xây dựng và quản lý kế hoạch cá nhân của tổ
viên. Tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, tổ chức kiểm tra đánh giá
chất lượng thực hiện nhiệm vụ của giáo viên theo kế hoạch của nhà trường.
Đề xuất khen thưởng cho giáo viên. Nhìn từ khía cạnh này, TTCM có vai
trò như là một người “quản đốc” trong phân xưởng sản xuất. Nhưng điều
khác biệt với các phân xưởng bình thường là ở đây phương thức lao động
chủ yếu dùng tri thức, trí tuệ nhân cách để đào tạo ra nhân cách.
Người TTCM nắm vững mục tiêu, nội dung chương trình, những
phương pháp cơ bản đặc trưng của môn học, phương tiện dạy học của
TCM. Hơn nữa, người TTCM phải hiểu rõ năng lực, phẩm chất của những
giáo viên mà mình phụ trách. Từ đó có những biện pháp huy động tối đa
những nguồn lực ấy cho mục tiêu dạy học của tổ.
Năng lực quản lý việc thực hiện chương trình là một thành tố quan
trọng giúp người TTCM đảm nhiệm tốt vai trò của người trực tiếp quản lý
tổ chuyên môn. Nó bao gồm các phương pháp, các quá trình, các qui trình
13
13
của toàn bộ công việc quản lý. Những kỹ năng mang tính chuyên môn phải
được đào tạo hệ thống với những tri thức cơ bản và chuyên sâu thuộc một
lĩnh vực chuyên biệt nào đó. Và chính năng lực này khẳng định chức năng,
nhiệm vụ riêng của TTCM mà cán bộ lãnh đạo khác không thể thay thế.
Hoạt động chuyên môn của người giáo viên có tính đặc thù: tri thức
chuyên môn của giáo viên là công cụ, là nguyên liệu cho việc giáo dục
nhân cách. Nó không phải là bất biến mà phải không ngừng thay đổi, nâng
cao theo yêu cầu xã hội. Vì thế những kiến thức, kỹ năng mà giáo viên
được đào tạo trong trường Đại học Sư phạm chỉ là vốn ban đầu rất cơ bản.
Trên cơ sở đó phải tiếp tục được bổ sung, bồi dưỡng mới đáp ứng được
những yêu cầu thực tiễn giáo dục ở trường phổ thông trung học. Con đường
giải quyết vấn đề này có những hướng chủ yếu như:
- Người giáo viên phải tự học, tự bồi dưỡng thông qua nghiên cứu tài
liệu chuyên môn, tìm hiểu thực tế.
- Người giáo viên được sự hỗ trợ, giúp đỡ thông qua hoạt động
chuyên môn trong nhà trường, trong tổ chuyên môn.
Trong các biện pháp trên thì việc bồi dưỡng gắn liền với sự giúp đỡ
của tổ chuyên môn sẽ là biện pháp có tác dụng sâu sắc, hiệu quả nhất. Sở dĩ
có thể khẳng định như vậy là vì các lý do sau đây:
Tổ chuyên môn là nơi tập hợp những người có cùng nhiệm vụ, phạm
vi chuyên môn, có sự tương đồng về trình độ đào tạo nên hiểu rõ được
những khó khăn, thuận lợi. Từ đó sẽ hạn chế những khó khăn và phát huy
những thuận lợi trong những hoàn cảnh cụ thể.
Tổ chuyên môn là một tập thể hạt nhân, một tế bào của hoạt động
chuyên môn trong nhà trường. ở đó các thế hệ giáo viên nối tiếp nhau theo
thứ bậc chuyên môn, nghiệp vụ. Mỗi người có thế mạnh, hạn chế riêng.
Nếu TTCM biết cách tổ chức khơi nguồn, phát huy thế mạnh, giảm bớt
những hạn chế của mỗi người thì sẽ tạo dựng được môi trường hoạt động
14
14
chuyên môn hữu ích nhất.
TTCM là người được tiếp thu những chủ trương đổi mới về môn
học và có trách nhiệm tổ chức, hướng dẫn tổ viên của mình. Biến những
chủ trương ấy thành hiện thực thông qua các hoạt động chuyên môn trong
tổ. Để quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn, trước hết TTCM phải là
một giáo viên có năng lực chuyên môn, là một trụ cột về chuyên môn, là
một chuyên gia sư phạm, là một người có quan hệ tốt với mọi người. Luôn
luôn nhạy bén với cái mới. Thì sẽ có có khả năng động viên khích lệ các
thành viên khác trong tổ nỗ lực tự bồi dưỡng chuyên môn. Đây là năng lực
chuyển giao, hướng dẫn tổ chức thực hiện. Nhờ đó làm cho năng lực của
đội ngũ ngày càng được nâng cao.
Như vậy, TTCM không chỉ có vai trò là "thợ cả" trong "tổ thợ" mà
quan trọng hơn còn là người có năng lực tổ chức các hoạt động chuyên
môn. Biết cách làm cho tổ viên nâng cao chuyên môn góp phần cho sự tiến
bộ của bản thân và cho cả đơn vị. Là người tổ chức hoạt động chuyên môn
đòi hỏi TTCM phải:
- Biết phát hiện các vấn đề cần phải tháo gỡ trong chuyên môn. Đó là
những vấn đề được đặt ra do yêu cầu mới, do được cấp trên giao nhưng
năng lực của giáo viên chưa thể đáp ứng có hiệu quả. Hoặc đó là những vấn
đề không những đa số tổ viên còn thấy bất cập mà bản thân tổ trưởng cũng
trong tình trạng như vậy. Nếu không kịp thời tìm cách tháo gỡ thì sẽ ảnh
hưởng đến chất lượng giảng dạy, làm tổ viên thiếu tự tin, mất uy tín trong
tập thể nhà trường, đặc biệt là đối với học sinh và phụ huynh.
- Biết tổ chức một cách khoa học các hoạt động cho tổ viên thực hiện
nghiên cứu các tài liệu chuyên môn. Các hoạt động tự nghiên cứu để viết
thu hoạch hoặc các sáng kiến kinh nghiệm. Đặc biệt là các hoạt động sinh
hoạt tổ chuyên môn theo định kỳ để bàn sâu về nội dung một chủ đề, hoặc
phương pháp giảng dạy, hoặc rút kinh nghiệm giờ dự của thành viên trong
tổ.
15
15
- Cũng cần phải chú ý rằng, TTCM là người thừa hành lệnh của hiệu
trưởng để thực hiện phân công chuyên môn trong đơn vị mình nên việc tổ
chức, phân công chuyên môn cần phải được coi là một trong những công
việc quan trọng hàng đầu. Để làm được việc này người TTCM luôn nắm
vững cả năng lực cũng như về điều kiện hoàn cảnh của mỗi tổ viên.
Trong quá trình hoạt động sư phạm có nhiều tình huống nảy sinh
ngoài ý muốn của giáo viên nên tổ trưởng là người trực tiếp quản lý phải
điều hành, xử lý tình huống sư phạm sao cho không phải đưa lên lên hiệu
trưởng.
Vai trò quản lý trực tiếp còn thể hiện ở chỗ TTCM có trách nhiệm
kiểm tra, đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của các tổ viên. Điều đó có
nghĩa là TTCM là người chịu trách nhiệm giám sát thường xuyên việc thực
hiện quy chế chuyên môn của tổ viên. TTCM tổ chức xác định cụ thể các
tiêu chí đánh giá chuyên môn theo đặc trưng và chức năng của bộ môn do
mình phụ trách. TTCM tổ chức đánh giá theo tinh thần khách quan, khoa
học, tránh làm cho đánh giá ảnh hưởng không tốt đến tinh thần, thái độ của
tổ viên biến quá trình kiểm tra, đánh giá thành quá trình tự kiểm tra. TTCM
xây dựng kế hoạch và tổ chức kiểm tra đánh giá với sự tham gia của tổ
viên. Biến hoạt động đánh giá thành một cơ hội cho các tổ viên góp ý xây
dựng. Thành một tình huống bồi dưỡng chuyên môn để tìm ra, ghi nhận,
nêu rõ ưu điểm của từng giáo viên từ đó khích lệ họ không ngừng vươn lên.
1.2.5. Năng lực quản lý của tổ trưởng chuyên môn trường THPT
ở trường TTPT, TTCM là một cán bộ quản lý. Để hoàn thành tốt
nhiệm vụ của mình TTCM phải có năng lực quản lý. Năng lực quản lý của
TTCM tập trung ở khả năng thực hiện tốt 3 chức năng quản lý nhà trường,
đó là:
+ Chức năng kế hoạch hoá.
+ Chức năng tổ chức thực hiện.
+ Chức năng kiểm tra đánh giá.
16
16
Chính vì thế, ta có thể chia năng lực quản lý của TTCM thành 3
nhóm theo các chức năng quản lý như sau:
+ Nhóm 1: Năng kế hoạch hoá.
+ Nhóm 2: Năng tổ chức thực hiện.
+ Nhóm 3: Năng kiểm tra đánh giá.
Kể từ đây để ngắn gọn khi nói năng lực TTCM có nghĩa là nói đến
năng lực quản lý của TTCM.
Thành phần cơ bản trong các nhóm năng lực này mà ta quan tâm là
những kỹ năng. Dưới đây là những kỹ năng cơ bản trong mỗi nhóm năng
lực.
1.2.5.1. Năng lực kế hoạch hóa
Năng lực kế hoạch hóa của TTCM là khả năng mô tả trạng thái
tương lai mà tổ chuyên môn cần đạt tới, và cách thức huy động các nguồn
lực nhằm đạt tới trạng thái đó.
Làm kế hoạch nói đơn giản có nghĩa là trả lời các câu hỏi ta là ai? Ta
đang ở đâu? Ta sẽ đi đến đâu? Đến đó bằng cách nào? Để làm gì? TTCM
muốn làm được kế hoạch cũng phải có khả năng trả lời thoả đáng các câu
hỏi này. Để trả lời được trước hết TTCM phải biết cách nắm bắt, phân tích
thực trạng. Đồng thời TTCM cần phải có khả năng nắm bắt đúng những
chủ trương của cấp trên liên quan đến tổ chuyên môn của mình. Từ đó xác
định được hệ thống mục tiêu phấn đấu của tổ chức. Đương nhiên không thể
dừng lại ở đó, muốn nhìn rõ hệ thống mục tiêu, giúp cho các tổ viên nắm
vững những chủ trương của tổ và huy động các tổ viên tham gia xây dựng
các mục tiêu, thì TTCM cần phải xác định được thứ bậc ưu tiên của các
mục tiêu trong hệ thống mục tiêu của tổ chuyên môn. TTCM còn phải tiến
hành cụ thể hóa mục tiêu bằng hệ thống những tiêu chí có thể đo lường
17
17
được về lượng, cũng như có thể đánh giá được về chất. Để giúp cho các cá
nhân hiểu rõ nhiệm vụ của mình, TTCM cần phân chia hệ thống mục tiêu
và hướng dẫn để chuyển hóa những mục tiêu chung đó thành mục tiêu phấn
đấu của từng nhóm, từng cá nhân. Đồng thời xây dựng các giaỉ pháp huy
động sự nỗ lực của các tổ viên nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chuyên
môn.
1.2.5.2. Năng lực tổ chức thực hiện
Năng lực tổ chức thực hiện tập trung ở khả năng đề ra các biện
pháp để chỉ đạo sâu sát, cụ thể từng nhóm, từng tổ viên huy động tối đa các
nguồn lực vào việc thực hiện các mục tiêu đề ra.
Trước hết, TTCM phải biết căn cứ vào biên chế năm học, kế hoạch
của nhà trường để xây dựng chương trình hành động của tổ chuyên môn
theo các mốc thời gian. Đây là công đoạn tiếp theo không thể tách rời của
hoạt động kế hoạch hoá. Để tổ chức thực hiện, một trong những yêu cầu
không thể thiếu đó là TTCM phải biết phân công công việc phù hợp khả
năng và điều kiện của từng tổ viên. Đó cũng là khâu đầu tiên để tổ chức
hoạt động sư phạm của các tổ viên một cách khoa học. Có như vậy mới huy
động được sự nỗ lực của các thành viên. Đồng thời khai thác tốt các nguồn
lực tập trung cho các mục tiêu ưu tiên để tạo bước đột phá trong quá trình
thực hiện kế hoạch. Những công cụ pháp lý để tổ chức thực hiện là các văn
bản pháp qui cho nên muốn tổ chức thực hiên được TTCM phải giúp cho
các tổ viên học tập nắm vững qui chế, qui định về chuyên môn, nghiệp vụ.
Nắm vững cách xử lý các tình huống quản lý tổ chuyên môn theo đúng
Luật, Điều lệ, Qui chế và các qui định. Dựa vào đó TTCM đưa hoạt động
của tổ chuyên môn vào kỷ cương, nền nếp.
Trọng tâm của khâu tổ chức thực hiện là việc quản lý thực hiện
chương trình. ở hoạt động này đòi hỏi TTCM phải rất thành thạo trong việc
tổ chức cho giáo viên bàn bạc về chương trình, bài vở lên lớp theo các
18
18
nhóm môn, thống nhất các hoạt động nội ngoại khóa, bồi dưỡng, phụ đạo,
hướng dẫn học sinh học tập ở nhà.Tổ chức cho giáo viên khai thác sử dụng
thiết bị dạy học, thư viện, làm đồ dùng phục vụ cho dạy học bộ môn. Muốn
nâng cao chất lượng dạy học TTCM phải thực sự sâu sát trong việc chỉ đạo,
giám sát các tổ viên trong các khâu soạn bài, kiểm tra đánh giá chất lượng
học tập môn học của học sinh một cách thường xuyên. TTCM phải biết
hướng dẫn và yêu cầu giáo viên thường xuyên có đầy đủ các loại hồ sơ
chuyên môn.
Cùng với khả năng quản lý thực hiện chương trình, người TTCM cần
có năng lực trong việc tổ chức các hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho
giáo viên. Trọng tâm của công tác bồi dưỡng giáo viên là thực hiện đổi mới
phương pháp dạy học, nâng cao năng lực tự học của đội ngũ giáo viên .
Năng lực này thể hiện ở chỗ TTCM có kỹ năng chỉ đạo tốt các hoạt động
hội giảng, triển khai chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học bộ môn, kiến
tập, thực tập sư phạm. Biết chú trọng xây dựng và phát huy tác dụng của
lực lượng giáo viên nòng cốt để đi sâu giúp đỡ giáo viên mới ra trường,
giáo viên yếu kém về chuyên môn nghiệp vụ qua các hoạt động phân công
kèm cặp, tăng cường trao đổi, sinh hoạt tổ chuyên môn, dự giờ, thăm lớp
vv… Điều cốt lõi trong hoạt động bồi dưỡng chuyên môn là TTCM phải
biết cách làm cho giáo viên thực sự có nhu cầu vươn lên, động viên, khích
lệ họ thực hiện kế hoạch tự học, tự bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, tham
gia nghiên cứu khoa học giáo dục và đúc rút kinh nghiệm dạy học.
Để tổ chức thực hiện, điều phối các quan hệ nhằm khai thác tốt nhất các nguồn
lực cho hoạt động dạy học, xây dựng tổ chuyên môn thành một tập thể sư phạm đoàn
kết thống nhất TTCM cần phải có kỹ năng tiếp nhận và triển khai những quyết định
quản lý của hiệu trưởng. Kỹ năng phối kết hợp với các tổ chức đoàn thể trong trường,
kỹ năng giao tiếp để mọi người chấp nhận ý kiến của mình, kỹ năng hiểu biết về con
người, nắm bắt nhu cầu về vật chất và tinh thần của các tổ viên, kỹ năng hướng dẫn các
tổ viên hợp tác với nhau tạo ra bầu không khí thiện chí, tin cậy hỗ trợ cùng phát triển.
19
19
TTCM cũng cần có khả năng phát hiện kịp thời và giải quyết tốt những bất đồng có thể
nảy sinh trong hoạt động chuyên môn. Những mâu thuẫn về mục tiêu hoạt động của các
cá nhân, các nhóm với mục tiêu chung của tổ chuyên môn.
1.2.5.3. Năng lực kiểm tra đánh giá
“Kiểm tra có nghĩa là so sánh, xem xét sự khác nhau giữa mục tiêu
dự định, kế hoạch và kết quả thực hiện, nhằm đưa ra cách xử lý, điều chỉnh
để xúc tiến công việc chôi chảy, thanh tra thuộc phạm trù kiểm tra” [10].
Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy: “Thanh tra là tai mắt của trên là
người bạn của dưới” [19]. Người TTCM trong công tác kiểm tra đánh giá
có thể ví như tai mắt, như người cố vấn cho hiệu trưởng. Đồng thời là
người bạn, là đồng nghiệp, đồng môn với các tổ viên. Năng lực thực hiện
chức năng kiểm tra đánh giá của TTCM là khả năng duy trì thường xuyên
thông tin ngược nhằm đo lường kết quả hoạt động thực tiễn của tổ chuyên
môn, so sánh với mục tiêu đề ra, thường xuyên giúp cho tổ viên kịp thời
điều chỉnh những sai lệch, ngăn chặn nguy cơ và phát huy được những yếu
tố tích cực, đảm bảo cho việc thực hiện kế hoạch của tổ chuyên môn có
hiệu quả. Đóng góp vào việc hoàn thành kế hoạch của nhà trường.
Năng lực kiểm tra đánh giá thể hiện ở chỗ TTCM biết dựa trên cơ sở
khoa học xác định được các tiêu chí khách quan có thể đo lường được về
lượng cũng như đánh giá được về chất để kiểm tra đánh giá các hoạt động
chuyên môn theo chức năng bộ môn do mình phụ trách. TTCM cần có kế
hoạch cho các hoạt động kiểm tra đánh giá. Có như vậy mới tạo điều kiện
thu hút được sự tham gia tích cực của các tổ viên, biến việc kiểm tra đánh
giá trở thành tự kiểm tra đánh giá của mỗi tổ viên, thành dịp để góp ý xây
dựng, thành những tình huống bồi dưỡng chuyên môn. Kiểm tra để tìm ra,
ghi nhận, khích lệ, để phát huy ưu điểm của từng giáo viên, điều chỉnh kịp
thời những sai sót lệch lạc, giúp họ không ngừng vươn lên. Những kết quả
kiểm tra phải trở thành thông tin tư vấn cho hiệu trưởng trong việc ra các
20
20
quyết định quản lý chuyên môn một cách chính xác và kịp thời, làm cho
hoạt động quản lý tổ chuyên môn trở thành hoạt động quản lý đảm bảo chất
lượng dạy học. Đương nhiên TTCM cần có khả năng kết hợp các hình thức
và phương pháp kiểm tra đánh giá, phải có khả năng xây dựng được các hồ
sơ kiểm tra chuyên môn giáo viên để việc kiểm tra đánh giá đảm bảo tính
kế thừa.
1.2.6. Biện pháp quản lý việc bồi dưỡng nâng cao năng lực cho TTCM
“Bồi dưỡng là quá trình cập nhật kiến thức còn thiếu hoặc đã lạc hậu,
bổ túc nghề nghiệp, đào tạo thêm hoặc củng cố kỹ năng nghề nghiệp theo
các chuyên đề, tạo điều kiện cho người lao động có cơ hội để củng cố mở
mang và mở mang một cách hệ thống những kiến thức kỹ năng chuyên
môn nghiệp vụ sẵn có để lao động nghề nghiệp một cách tốt hơn” [15].
Nói một cách ngắn gọn: “Bồi dưỡng là quá trình cập nhật, bổ sung
kiến thức, kỹ năng, thái độ nhằm nâng cao năng lực trình độ nghề
nghiệp”[20].
Quá trình bồi dưỡng đòi hỏi phải được tiến hành thường xuyên nhằm
đảm bảo cho sự phát triển nghề nghiệp của con người, phát triển nguồn lực
cho xã hội.
Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công cuộc cải cách giáo dục
làm cho giáo dục xứng đáng với vị trí là một quốc sách hàng đầu trong
công cuộc đẩy nhanh tiến trình CNH- HĐH đất nước thì việc bồi dưỡng
nâng cao năng lực cho đội ngũ CBQL nói chung và TTCM trường THPT
nói riêng trở thành công việc rất quan trọng và cần thiết.
Để đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo trong
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước, Đảng và Nhà
nước ta đã đặc biệt quan tâm đến đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBQLGD. Sự
quan tâm của Đảng thể hiện qua hệ thống các văn kiện, Nghị quyết, Chỉ thị
21
21
của Đảng. Đó là hệ thống các quan điểm cơ bản định hướng cho công tác
đào tạo bồi dưỡng CBQL nói chung và CBQL GD nói riêng.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 BCH TƯ Đảng khoá VIII chủ trương:
“ Mở rộng diện đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong hệ thống chính trị và các tổ
chức xã hội” [18].
Xuất phát từ thực trạng: “Cán bộ QLGD các cấp thiếu được đào tạo, bồi dưỡng”
tại Hội nghị lần thứ 4 Khoá VII (3/1993) Đảng ta chủ trương: “Khẩn trương đào tạo, bồi
dưỡng đội ngũ CBQL GD các cấp” [24].
Về nội dung bồi dưỡng, Đảng ta đã nêu ra những định hướng như
sau: “Phải lấy tiêu chuẩn cán bộ làm căn cứ xây dựng chương trình đào tạo,
bồi dưỡng thống nhất trong hệ thống các trường. Nội dung đào tạo bồi
dưỡng phải thiết thực, phù hợp với yêu cầu đối với từng loại cán bộ, chú
trọng cả phẩm chất đạo đức và kiến thức, cả lý luận và thực tiễn, bồi dưỡng
kiến thức cơ bản và hướng dẫn kỹ năng thực hành” [24].
Trên cơ sở những quan điểm của Đảng, ngành Giáo dục - Đào tạo đã
có những chỉ đạo rất cụ thể: “Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch đào
tạo, bồi dưỡng đảm bảo số lượng, cơ cấu tiêu chuẩn phù hợp với yêu cầu
nâng cao chất lượng, mở rộng qui mô giáo dục trong thời kỳ mới” [19].
Ta đã biết kiến thức, kỹ năng thái độ là những thành phần cơ bản
trong cấu trúc năng lực, chính vì vậy nâng cao năng lực cho đội ngũ TTCM
chính là cập nhật bổ sung kiến thức, kỹ năng nhằm giúp cho TTCM có khả
năng thực hiện tốt hơn công việc quản lý tổ chuyên môn của họ. Mặt khác,
năng lực của TTCM là năng lực thực hiện các chức năng quản lý tổ chuyên
môn, do đó có thể hiểu rằng bồi dưỡng nâng cao năng lực cho TTCM là
bồi dưỡng năng lực thực hiện các chức năng quản lý, đó là:
+ Bồi dưỡng năng lực kế họach hóa.
+ Bồi dưỡng năng lực tổ chức thực hiện.
+ Bồi dưỡng năng lực kiểm tra đánh giá.
22
22
Trong khuôn khổ của đề tài, chúng tôi quan niệm rằng bồi dưỡng
năng lực thực hiện các chức năng quản lý cho TTCM là bồi dưỡng các kỹ
năng đã được nêu trên.
Quản lý việc bồi dưỡng nâng cao năng lực cho CBQL nói chung và
TTCM nói riêng là công việc của các cấp quản lý giáo dục, là khâu đột phá
nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục.
Năng lực của TTCM là một nguồn lực vô giá trong trường học. Là
nhân tố góp phần nâng cao chất lượng dạy học và giáo dục trong nhà
trường. Vì vậy, nó phải được quản lý, hơn nữa cần được quản lý một cách
thực sự khoa học và hiệu quả.
Tại các trường THPT, hiệu trưởng là người trực tiếp và thường xuyên quản lý
các TTCM. Hoạt động quản lý việc bồi dưỡng nâng cao năng lực cho TTCM của hiệu
trưởng thuộc phạm trù quản lý nhân lực. Nó có quan hệ chặt chẽ với hoạt động quản lý
chuyên môn. Dưới sự dẫn dắt của hiệu trưởng, các TTCM được học cách quản lý qua
chính hoạt động quản lý của mình. Đây là một cách học rất hiệu quả. Nó chính là học đi
đôi với hành. Học với những mục tiêu rõ ràng để đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn
công tác quản lý tổ chuyên môn.
Quản lý việc bồi dưỡng nâng cao năng lực quản lý cho TTCM được
xem là việc làm có chủ đích của hiệu trưởng nhà trường nhằm làm cho các
TTCM làm việc tốt hơn, giải quyết công việc nhanh hơn, hiệu quả hơn, đáp
ứng yêu cầu của nhiệm vụ được giao.
Về mặt lý luận cũng như thực tiễn, TTCM là một CBQL và là CBQL
ở cấp cơ sở cuối cùng trong hệ thống giáo dục, cấp trực tiếp quản lý giáo
viên trên từng bộ môn. Theo kinh nghiệm thực tiễn, ưu tiên đầu tư bồi
dưỡng nâng cao năng lực quản lý của các TTCM là con đường trực tiếp
mang lại hiệu quả trong việc nâng cao chất lượng dạy học. Trong mục tiêu
phát triển ngắn hạn, trung hạn cũng như dài hạn của trường THPT nhất
định phải đưa ra những yêu cầu về năng lực, về trách nhiệm và quyền hạn
của các TTCM một cách rất cụ thể.
23
23
Đương nhiên, hoạt động quản lý việc bồi dưỡng nâng cao năng lực
cho TTCM của hiệu trưởng không chỉ dừng lại ở việc đưa ra những mục
tiêu cho việc phát triển năng lực của các TTCM. Để biến những mục tiêu
đó thành hiện thực sinh động thì đòi hỏi sự nỗ lực rất cao của hiệu trưởng
trong việc thường xuyên đánh giá công bằng, chính xác năng lực của các
TTCM. Có được hệ thống các hoạt động cụ thể để thực hiện có hiệu quả
các mục tiêu đó.
Trong hoạt động bồi dưỡng năng lực cho TTCM hiệu trưởng là chủ
thể tác động lên các TTCM, mặt khác các TTCM cũng là chủ thể tích cực
trong hoạt động bồi dưỡng của chính bản thân mình. Đây là cái đích của
tất cả những biện pháp quản lý bồi dưỡng nâng cao năng lực cho TTCM.
Tất cả các biện pháp quản lý này chỉ thực sự có hiệu quả khi chính bản thân
các TTCM thực sự trở thành những chủ thể tích cực trong các hoạt động tự
bộc lộ bản thân mình. Do đó, biện pháp của hiệu trưởng phải tác động theo
hướng tích cực hoá hoạt động của bản thân các TTCM. Trong thực tiễn,
những hiệu trưởng giỏi là những người biết tận dụng, phát triển năng lực
của những người dưới quyền mình mà đặc biệt là năng lực của các TTCM.
Tóm lại, biện pháp quản lý việc bồi dưỡng nâng cao năng lực cho
TTCM là toàn bộ những hoạt động làm cho năng lực của các TTCM được
bộc lộ, phát triển luôn đáp ứng được yêu cầu về quản lý trường học.
1.3. Vị trí, Vai trò của tổ trưởng chuyên môn trong trường THPT
1.3.1. Những căn cứ xác định vị trí, vai trò của TTCM.
Tổ chuyên môn trong trường THPT là diễn đàn tập trung các giáo
viên có cùng chuyên môn dạy học. Là nơi thể hiện sự phối hợp thống nhất
giữa những con người lao động với tính chuyên môn hoá rất cao. Là nơi
khai thác, phát huy những thế mạnh chuyên môn của nhiều thế hệ giáo viên
khác nhau. Là nơi để mỗi giáo viên có điều kiện vươn lên bộc lộ năng lực
và phẩm chất sư phạm của mình. Chính nơi đó, TTCM đóng vai trò như
“người nhạc trưởng trong dàn nhạc”.
24
24
Trong thực tiễn, nhiệm vụ của TTCM được qui định tại Điều14 Điều
lệ trường trung học ban hành kèm theo Quyết định số: 23/2000/QĐ-
BGD&ĐT ngày 11/07/2000 của bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo như sau:
“1. Giáo viên trong trường trung học được tổ chức thành tổ chuyên
môn theo môn học hoặc nhóm môn học; mỗi tổ chuyên môn có một tổ
trưởng và một hoặc hai tổ phó do hiệu trưởng chỉ định và giao nhiệm vụ.
2. Tổ chuyên môn có những nhiệm vụ sau :
a. Xây dựng kế hoạch hoạt động chung của tổ, hướng dẫn xây dựng
và quản lý kế hoạch cá nhân của tổ viên theo kế hoạch dạy học, phân phối
chương trình và các qui định của Bộ Giáo dục và Đào tạo;
b. Tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ; tổ chức kiểm tra đánh
giá chất lượng thực hiện nhiệm vụ của giáo viên theo kế hoạch của nhà
trường;
c. Đề xuất khen thưởng với giáo viên;
3. Tổ chuyên môn sinh hoạt hai tuần một lần” [22].
Tại thông tư số: 13/BGD&ĐT-TT ngày 04/09/1993 của Bộ Giáo dục
và Đào tạo hướng dẫn về việc phân hạng trường học và phụ cấp chức vụ
lãnh đạo bổ nhiệm trong trường học cũng như thông tư số: 10/BGD&ĐT-
TT ngày 29/07/1994 của Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn bổ sung, điều
chỉnh việc phân hạng và phụ cấp chức vụ lãnh đạo trong trường thuộc bậc
giáo dục phổ thông đều xác định: TTCM trong trường trung học là đối
tượng được hưởng phụ cấp chức vụ lãnh đạo bổ nhiệm và có hệ số phụ cấp
từ 0,1 đến 0,2 tùy theo hạng trường.
Căn cứ vào cơ sở lý luận và thực tiễn, ta thấy rằng TTCM là những
người CBQL và như vậy, họ là những người CBQL ở cấp cơ sở cuối cùng
trong hệ thống giáo dục. TTCM là CBQL trong trường THPT làm việc trực
tiếp dưới quyền của hiệu trưởng.
25
25

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×