Tải bản đầy đủ

Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý rác thải trên địa bàn quận lê chân, hải phòng

MỞ ĐẦU
Hiện nay, cùng với sự gia tăng phát triển kinh tế, công tác thu gom, vận
chuyển và xử lý rác thải đang là vấn đề nan giải đối với nhiều địa phương trong
cả nước - khối lượng rác phát sinh lớn, tỷ lệ thu gom còn hạn chế, rác thải sinh
ra chưa được thu gom và xử lý triệt để - Hải Phòng cũng không nằm ngoài thực
trạng này.
Hải Phòng là một đô thị phát triển tương đối sớm ở Việt Nam với vị thế
một cảng biển lớn, Hải Phòng trở thành trung tâm kinh tế - chính trị của cả
nước, trong đó có các ngành: Công nghiệp, thương mại, dịch vụ, vận tải sông
biển, du lịch phát triển mạnh. Là thành phố lớn thứ hai của miền Bắc Việt Nam,
nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, Hải Phòng là nơi hội tụ giao thoa
của nhiều luồng kinh tế có ý nghĩa quốc tế và liên vùng. Đặc biệt Hải Phòng là
thành phố cảng cửa ngõ giao thông thuỷ của hệ thống sông Hồng và sông Thái
Bình gắn liền với vùng biển quốc tế. Với vị trí như vậy, trong nền kinh tế thị
trường hiện nay, Hải Phòng đã và đang phát triển rất nhiều các dự án về công
nghiệp và kết cấu hạ tầng… thu hút lớn lực lượng lao động, gia tăng cơ học về
dân số, đô thị hoá ngày càng gia tăng…đi đôi với nó là hàng loạt các vấn đề
chính trị, xã hội được đặt ra, trong đó nổi cộm lên là các vấn đề môi trường.
Với quy mô dân số đã tăng đến 1.837.302 người (năm 2009), trong đó dân
cư thành thị 847.058 người (chiếm 46,1%), dân cư nông thôn 990.244 người
(chiếm 53,9%) (Theo kết quả điều tra dân số ngày 01/04/2009) trên diện tích

1.507,57 km² , trong đó diện tích đô thị là 50 km
2
cùng với các hoạt động phát
triển kinh tế - xã hội đã góp phần làm gia tăng lượng rác thải gây ô nhiễm môi
trường nước mặt, nước ngầm, môi trường không khí và những vấn đề cảnh
quan, kiến trúc môi trường đô thị.
Quy luật chung trong phát triển kinh tế là nếu tốc độ đô thị hoá tăng
nhanh thì lượng rác thải đô thị cũng ngày càng tăng nhanh, nguy cơ ô nhiễm môi
trường ngày càng lớn và đang trở thành một áp lực lớn đối với sự phát triển của
đô thị nói chung và Hải Phòng nói riêng. Chính vì vậy, việc quản lý - thu gom
1
và xử lý rác thải như thế nào để đảm bảo môi trường cho các đô thị đang là một
vấn đề nhức nhối có tính khu vực và toàn cầu.
Trước thực trạng trên, việc tìm ra phương án giải quyết tối ưu cho vấn đề
rác thải tại thành phố Hải Phòng là một nhu cầu cấp thiết hiện nay. Do đó, em
chọn đề tài : “Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý rác thải
trên địa bàn quận Lê Chân”. Đề tài được thực hiện với mục tiêu:
- Khảo sát hiện trạng quản lý rác thải trên địa bàn quận Lê Chân thành phố
Hải Phòng,
- Đề xuất biện pháp quản lý rác thải thích hợp với điều kiện quận Lê Chân,
thành phố Hải Phòng.
2
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN
1.1. Điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội quận Lê Chân
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
1.1.1.1. Vị trí địa lý
Quận Lê Chân là một quận nội thành của thành phố Hải Phòng với vị trí
tiếp giáp quận Ngô Quyền và một phần huyện Kiến Thụy ở phía Đông; giáp
quận Kiến An, huyện An Dương ở phía Tây; giáp huyện Kiến Thuỵ ở phía
Nam và giáp quận Hồng Bàng ở phía Bắc.
- Số phường: 15 phường
- Diện tích tự nhiên khoảng 12 km²
- Dân số khoảng 207.000 người
- Mật độ dân cư: 16815 người/km
2
(Theo kết quả điều tra dân số năm 2009 củaBan chỉ đạo tổng điều tra dân
số và nhà ở Trung Ương)
1.1.1.2. Đặc điểm địa hình, địa chất Bổ sung phần này nhé
1.1.1.3. Đặc điểm khí hậu
Khí hậu quận Lê Chân mang nét chung của khí hậu thành phố Hải Phòng,


chịu ảnh hưởng của gió mùa do nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa Châu Á.
Mùa gió bấc (mùa đông) lạnh và khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm
sau. Gió mùa nồm (mùa hè) mát mẻ, nhiều mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10.
Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.600mm - 1.800 mm. Bão thường xảy ra từ
tháng 6 đến tháng 9.
Thời tiết: Có 2 mùa rõ rệt, mùa đông và mùa hè. Khí hậu tương đối ôn
hoà. Nhiệt độ trung bình hàng tháng từ 20 - 23
0
C, cao nhất có khi tới 40
0
C, thấp
nhất ít khi dưới 5
0
C. Độ ẩm trung bình trong năm là 80% đến 85%, cao nhất là
100% vào những tháng 7, tháng 8, tháng 9, thấp nhất là vào tháng 12 và tháng 1.
Trong suốt năm có khoảng 1.692,4 giờ nắng. Bức xạ mặt đất trung bình là 117
Kcal.cm/phút.
1.1.1.4. Đặc điểm sông ngòi Bổ sung phần này nhé
1.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
3
1.1.2.1. Tình hình kinh tế
Từ sau khi được mở rộng diện tích, tình hình kinh tế của quận Lê Chân đã
phát triển với tốc độ khá nhanh. Do không có điều kiện sản xuất nông nghiệp,
quận tập trung chú trọng vào hai lĩnh vực công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp,
xem như là hai ngành xương sống của kinh tế quận.
Trong những năm gần đây, tốc độ phát triển kinh tế quận Lê Chân đã trở
thành một hiện tượng, một kỳ tích không chỉ với Hải Phòng mà với nền kinh tế
cả nước. Mức tăng trưởng GDP bình quân dao động trong khoảng 25 -
30%/năm. Thành công ấy có lẽ xuất phát từ nhận thức đúng đắn của chính
quyền địa phương nơi đây khi thấy được vai trò của sản xuất công nghiệp - tiểu
thủ công nghiệp đối với sự phát triển kinh tế. Vì thế, trong những năm qua, ủy
ban nhân dân Quận Lê Chân luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi, khuyến khích đầu
tư mở rộng sản xuất - kinh doanh trong hai lĩnh vực xương sống này. Hiện nay,
ngành kinh tế này đang chiếm 35% GDP toàn quận.
Góp phần không nhỏ trong những thành tích phát triển kinh tế Quận Lê
Chân trong 5 năm qua là sự năng động trong quản lý, điều hành sản xuất - kinh
doanh của hệ thống doanh nghiệp ngoài quốc doanh với 450 doanh nghiệp tư
nhân, 78 hợp tác xã, xí nghiệp tập thể và 3.000 hộ kinh doanh cá thể. Với 47 dự
án có tổng giá trị đầu tư phát triển là 105 tỷ mà hệ thống doanh nghiệp này đầu
tư trong thời gian qua đã mang lại diện mạo mới cho ngành công nghiệp Quận
Lê Chân. Trong đó, phải kể đến các dự án tiêu biểu như: nhà máy giầy xuất khẩu
công suất 3 triệu đôi/năm, trị giá đầu tư 29 tỷ đồng của Công ty trách nhiệm hữu
hạn Vạn Đạt (hiện tại, dự án này đã đưa vào sản xuất giai đoạn 1 có hiệu quả với
công suất 1,5 triệu đôi/năm); nhà máy Bao bì PP của xí nghiệp Ngọc Quyển,
công suất 13 triệu bao/năm, trị giá đầu tư 10 tỷ đồng; Xưởng sản xuất nhựa
Ngọc Hải, công suất 2 triệu sản phẩm/năm, trị giá đầu tư 12 tỷ đồng; Xưởng sản
xuất giấy DUPLEX của hợp tác xã Mỹ Hương, công suất 4.000 tấn/năm, trị giá
14 tỷ đồng…Những nhà máy này sau khi hoàn thành và đi vào hoạt động đã góp
phần tạo ra các ngành hàng thế mạnh trong cạnh tranh, phát triển kinh tế của
Quận Lê Chân như: sản xuất bao bì giấy, bao bì PP, đồ gỗ, nhựa, cơ khí Hiện
4
nay, hệ thống doanh nghiệp này có tổng số vốn đăng ký sản xuất - kinh doanh
khoảng 215 tỷ đồng với mức thu nhập ổn định, góp phần giải quyết nhiều vấn đề
xã hội bức xúc.
1.1.2.2. Tình hình xã hội
Về mặt văn hoá xã hội, quận Lê Chân từ lâu vốn được biết đến như là
mảnh đất anh hùng với tinh thần quật khởi, ý chí đấu tranh anh dũng, kiên
cường, là quê hương của nữ tướng Lê Chân, một vị tướng giỏi đắc lực của Hai
Bà Trưng. Quận có nhiều di tích lịch sử có giá trị như: chùa Dư Hàng, đình Dư
Hàng, đền Nghè, đình Hàng Kênh đều là những di tích được xếp hạng cấp
quốc gia và là những điểm đến nổi tiếng của thành phố Hải Phòng.
* Về văn hoá giáo dục:
Tình hình văn hoá giáo dục của quận khá tốt, các phường đều có trường
học từ cấp mẫu giáo đến cấp phổ thông trung học. Với lượng trường học này đủ
sức đáp ứng cho toàn bộ trẻ em của quận được đi học đúng tuyến.
* Về y tế:
Trong toàn quận có một bệnh viện lớn là bệnh viện Việt Tiệp, còn lại các
phường đều có trạm y tế phục vụ sức khoẻ cho nhân dân, nhưng nhìn chung
chưa đáp ứng đủ nhu cầu của người dân nên họ vẫn phải đến bệnh viện cấp
trung ương, thành phố khi mắc bệnh nặng.
* Về an ninh trật tự
Quận Lê Chân là đầu mối, cửa ngõ giao thông quan trọng của thành phố
Hải Phòng. Quận có 7/15 phường có đường tàu chạy qua, có một số cơ sở tôn
giáo, di tích lịch sử văn hóa, nhiều địa bàn giáp ranh có nhiều tụ điểm phức tạp
về tệ nạn ma túy, tập trung đông dân cư lao động, đời sống còn nhiều khó khăn,
an ninh trật tự trên địa bàn còn diễn biến phức tạp làm xuất hiện, nảy sinh không
ít các tiêu cực, các loại tội phạm, tệ nạn xã hội, các tranh chấp dân sự, kinh
doanh thương mại…
1.2. Khái niệm cơ bản về rác thải
1.2.1. Khái niệm về rác thải
5
Rác thải được hiểu là tất cả các chất thải phát sinh do các hoạt động của
con người và động vật tồn tại ở dạng rắn, được thải bỏ khi không còn hữu dụng
hay khi không muốn dùng nữa.
Rác thải phát sinh từ các hộ gia đình, khu công cộng, khu thương mại, khu
xây dựng, bệnh viện, khu xử lý chất thải… Trong đó, rác thải sinh hoạt chiếm tỉ
lệ cao nhất. Số lượng, thành phần chất lượng rác thải tại từng quốc gia, khu vực
là rất khác nhau, phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, khoa học, kỹ thuật.
1.2.2. Nguồn gốc phát sinh rác thải
Nguồn gốc phát sinh, thành phần và tốc độ phát sinh rác thải là cơ sở quan
trọng trong thiết kế, lựa chọn công nghệ xử lý và đề xuất các chương trình quản
lý rác thải thích hợp. Các nguồn chủ yếu phát sinh ra rác thải gồm:
- Từ các khu dân cư (chất thải sinh hoạt)
- Từ các trung tâm thương mại
- Từ các công sở, trường học, công trình công cộng
- Từ các dịch vụ đô thị, sân bay
- Từ các hoạt động công nghiệp
- Từ các hoạt động xây dựng đô thị
- Từ các trạm xử lý chất thải…
6
Bảng 1.1. Nguồn gốc phát sinh và thành phần các loại rác thải
Nguồn phát sinh
Nơi phát sinh Các dạng chất thải rắn
Khu dân cư Hộ gia đình, biệt thự, khu
chung cư.
Thực phẩm dư thừa, giấy,
can nhựa, thủy tinh, nhôm.
Khu thương mại Nhà kho, nhà hàng, chợ,
khách sạn, nhà trọ, các trạm
sửa chữa và dịch vụ.
Giấy, nhựa, thực phẩm thừa,
thủy tinh, kim loại, chất thải
nguy hại.
Cơ quan, công sở Trường học, bệnh viện, văn
phòng cơ quan chính phủ.
Giấy, nhựa, thực phẩm dư
thừa, thủy tinh, kim loại,
chất thải nguy hại.
Công trình xây
dựng
Khu nhà xây dựng mới, sửa
chửa chữa nâng cấp mở rộng
đường phố, cao ốc, san nền
xây dựng.
Gỗ, bê tông, thép, gạch,
thạch cao, bụi.
Dịch vụ công
cộng đô thị
Hoạt động dọn rác vệ sinh
đường phố, công viên, khu
vui chơi giải trí, bãi tắm.
Rác cành cây cắt tỉa, chất
thải chung tại khu vui chơi,
giải trí.
Các khu công
nghiệp
Công nghiệp xây dựng, chế
tạo, công nghiệp nặng- nhẹ, lọc
dầu, hóa chất, nhiệt điện.
Chất thải do quá trình chế
biến công nghiệp, phế liệu,
và các rác thải sinh hoạt.
Nông nghiệp Đồng cỏ, đồng ruộng, vườn
cây ăn trái, nông trại.
Thực phẩm bị thối rửa,
sản phẩm nông nghiệp
thừa, rác, chất độc hại.
(Nguồn: Nguyễn Văn Phước - Giáo trình Quản lý chất thải rắn)
1.2.3. Phân loại rác thải
Rác thải rất đa dạng, vì vậy có nhiều cách phân loại khác nhau như:
7
1.2.3.1. Phân loại theo quan điểm thông thường
- Rác thực phẩm: Bao gồm phần thừa thải, không ăn được sinh ra trong
quá trình lưu trữ, chế biến, nấu ăn… Đặc điểm quan trọng của loại rác này là
phân hủy nhanh trong điều kiện thời tiết nóng ẩm. Quá trình phân hủy thường
gây ra mùi hôi khó chịu.
- Rác rưởi: Bao gồm các chất cháy được và các chất không cháy được,
sinh ra từ các hộ gia đình, công sở, hoạt động thương mại… Các chất cháy
được như giấy, carton, plastic, vải, cao su, da, gỗ… và chất không cháy được
như thủy tinh, vỏ hộp kim loại…
- Tro, xỉ: vật chất còn lại trong quá trình đốt củi, than, rơm, lá… ở các hộ
gia đình, công sở, nhà hàng, nhà máy, xí nghiệp…
- Chất thải xây dựng: Đây là rác thải từ quá trình xây dựng, sửa chữa nhà,
đập phá công trình xây dựng tạo ra các phế thải xây dựng, bêtông…
- Chất thải đặc biệt: Được liệt vào loại rác này có rác thu gom từ việc quét
đường, rác từ thùng rác công cộng, xác động vật, xe ôtô phế thải…
- Chất thải từ các nhà máy xử lý ô nhiễm: chất thải này có hệ thống xử lý
nước, từ nước thải, từ các nhà máy xử lý chất thải công nghiệp. Thành phần
chất thải loại này đa dạng và phụ thuộc vào bản chất của quá trình xử lý. Chất
thải này thường là chất thải dạng rắn hoặc bùn (nước chiếm từ 25 – 95%).
- Chất thải nông nghiệp: Vật chất loại bỏ từ các hoạt động nông nghiệp
như gốc rơm, rạ, cây trồng, chăn nuôi. Hiện nay chất thải này chưa được quản
lý tốt ngay ở các nước phát triển vì đặc điểm phân tán về số lượng và khả năng
tổ chức thu gom.
- Chất thải nguy hại: bao gồm chất thải hóa chất, sinh học dễ cháy, dễ nổ
hoặc mang tính phóng xạ theo thời gian có ảnh hưởng đến đời sống con
người, động thực vật. Những chất này thường xuất hiện ở thể lỏng, khí và rắn.
Đối với chất thải loại này, việc thu gom, xử lý phải hết sức cẩn thận.
1.2.3.2. Phân loại theo công nghệ quản lý – xử lý
8
Phân loại rác thải theo dạng này, người ta chia rác thải ra các loại: Các
chất cháy được, các chất không cháy được, các chất hỗn hợp.
Bảng 1.2. Phân loại rác thải theo công nghệ xử lý – quản lý
STT Thành phần Định nghĩa Ví dụ
1.
Chất
cháy
được
Giấy
Các vật liệu làm
từ giấy
Các túi giấy, các
mảnh bìa, giấy vệ
sinh…
Hàng dệt Có nguồn gốc từ
sợi
Vải, len…
Rác thải
Các chất thải
từ thức ăn,
thực phẩm hàng
ngày
Các rau, quả, thực
phẩm…
Cỏ, gỗ, củi, rơm
Các vật liệu và
sản phẩm được
chế tạo từ gỗ, tre,
nứa, rơm.
Đồ dùng bằng
gỗ như: bàn, ghế,
tủ…
Chất dẻo
Các vật liệu và
sản phẩm được
chế tạo từ da và
cao su
Phim cuộn, túi
chất dẻo, chai lọ
chất dẻo, bịch
nylon…
2.
Chất
Kim loại sắt.
Các vật liệu và
các sản phẩm
được chế tạo từ
sắt mà dễ bị
nam châm hút.
Hàng rào, dao,
nắp lọ…
9
KL không phải sắt Các vật liệu
không bị nam
châm hút.
Vỏ hộp nhôm,
đồ đựng bằng
KL…
Thủy tinh. Các vật liệu và
sản phẩm được
chế tạo từ thủy
tinh.
Chai lọ, đồ dùng
bằng thủy tinh,
bóng đèn…
Đá và sành sứ Các vật liệu
không cháy
khác ngoài kim
loại và thủy tinh
Vỏ sò, gạch
đá, gốm, sành,
sứ…
3.
Các
chất
hỗn
hợp
Tất cả các loại
vật liệu khác
không phân loại
ở phần 1 và
phần 2 đều thuộc
loại này. Loại
này có thể chia
làm 2 phần với
kích thước
>5mm và <5mm
Đá cuội, cát, đất,
tóc…
(Nguồn: Bảo vệ môi trường trong xây dựng cơ bản, Lê Văn Nãi, nhà
xuất bản Khoa học Kỹ thuật, 1999.)
1.2.4. Thành phần rác thải
Thành phần của rác thải rất đa dạng và đặc trưng cho từng loại đô thị
(thói quen, mức độ văn minh, tốc độ phát triển…). Một số đặc trưng điển hình
của rác thải ở Việt Nam:
- Có thành phần hữu cơ cao (50,27% - 62,22%).
10
- Chứa nhiều đất cát, sỏi đá vụn, gạch vỡ, vỏ sò, sành sứ…
- Độ ẩm cao, nhiệt trị thấp (900kcal/kg).
Trọng lượng riêng của rác thải đóng vai trò quyết định trong việc lựa chọn
thiết bị thu gom và phương thức vận chuyển. Số liệu này dao động theo mật độ
dân cư và thành phần kinh tế hoạt động chủ yếu ở từng khu vực.
Bảng 1.3: Thành phần rác thải ở một số quậncủa thành phố Hải
Phòng năm … % theo tải lượng
Thành phần
Hà Nội
Hải Phòng
Hạ Long
Đà Nẵng
Tp HCM
Chất hữu cơ 50,1 50,58
40,1 - 44,7
31,50 41,25
Cao su, nhựa 5,50 4,52 2,7 - 4,5 22,50 8,78
Giấy, carton, giẻ vụn.
4,2 7,52 5,5 - 5,7 6,81 24,83
Kim loại 2,50 0,22 0,3 - 0,5 1,04 1,55
Thủy tinh, gốm, sứ 1,8 0,63 3,9-8,5 1,08 5,59
Đất, đá, cát, gạch vụn
35,90 36,53
47,5 - 36,1
36,0 18
Độ ẩm 47,7 45 - 48 40 - 46 39,09 27,18
Độ tro 15,9 16,62 11 40,25 58,75
Tỷ trọng (tấn/m
3
) 0,42 0,45 0,57-0,65 0,38 0,412
(Nguồn: Số liệu quan trắc – CEETIA)
Em giải thích cho cô cụ thể từng thành phần tính như thế nào nhé.
Em đang làm ở Quận Lê chân của Hải Phòng nên các số liệu em lấy ở
các quận của Hải Phòng (bảng 1.3). Các số liệu lấy ở năm gần đây.
1.2.5. Tính chất rác thải
1.2.5.1. Tính chất vật lý
Những tính chất vật lý quan trọng nhất của rác thải là trọng lượng riêng,
độ ẩm, kích thước, sự cấp phối hạt, khả năng giữa ẩm tại thực địa, độ xốp của
rác nén, của các vật chất trong thành phần rác thải.
11
* Trọng lượng riêng
Trọng lượng riêng của rác thải là trọng lượng của một đơn vị vật chất
tính trên một đơn vị thể tích (kg/m
3
). Bởi vì rác thải có thể ở các trạng thái như
xốp, chứa trong các container, nén hoặc không nén được… nên khi báo cáo giá
trị trọng lượng riêng phải chú thích trạng thái mẫu rác một cách rõ ràng.
Trọng lượng riêng thay đổi phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: vị trí địa lý,
mùa trong năm, thời gian lưu trữ rác thải… trọng lượng riêng của một chất thải
đô thị điển hình là khoảng 300kg/m
3
.
* Độ ẩm
Độ ẩm của rác thải được định nghĩa là lượng nước chứa trong một đơn vị
khối lượng chất thải ở trạng thái nguyên thủy.
Độ ẩm rác thải được biển diễn bằng hai phương pháp: khối lượng ướt và
khối lượng khô.
- Phương pháp khối lượng ướt: độ ẩm trong một mẫu được thể hiện như là
phần trăm khối lượng ướt của vật liệu.
- Phương pháp khối lượng khô: độ ẩm trong một mẫu được thể
hiện như phần trăm khối lượng khô của vật liệu.
Phương pháp khối lượng ướt được sử dụng phổ biến trong quản lý rác
thải bởi có thể sử dụng trực tiếp mẫu tại thực địa.
Độ


m theo ph
ươ
ng pháp khối l
ượ
ng
ướ
t
đượ
c tính như sau:
a= {(w – d )/ w} x 100 (*)
Trong
đ
ó: a: độ


m (%)
W: kh
ối lượ
ng m

u ban đầ
u (kg)
d: khối l
ượ
ng m

u sau khi s
ấy khô
ở 105
o
C (kg)
B

ng 1.4. Độ

m của các thành ph

n trong rác thải đô th

Thành phấn % khối lượng Độ ẩm
12
Chất hữu cơ
Thực phẩm thừa 9,0 70
Giấy 34,0 6
Giấy carton 6,0 5
Nhựa 7,0 2
Vải vụn 2,0 10
Cao su 0,5 2
Da 0,5 10
Chất thải trong vườn 18,5 60
Gỗ 2 20
Thuỷ tinh 8,0 2
Can thiếc 6,0 3
Nhôm 0,5 2
Kim loại khác 3,0 3
Bụi, tro… 3,0 8
100,0
Ngu

n:
Integrated Solid Waste Management, McGRAW-HILL 1993
Ví d
ụ.

Ướ
c tính
độ


m (%) c

a rác thải từ khu
đ
ô th

nào khi bi
ế
t thành
ph

n kh

i
l
ượ
ng c
ủa nó
.
Thành phần % khối lượng Độ ẩm
Kh
ối lượng khô (kg)
Thực phẩm thừa 9,0 70 2,7
Giấy 34,0 6 32,0
Giấy carton 6,0 5 5,7
Nhựa 7,0 2 6,9
Vải vụn 2,0 10 1,8
13
Cao su 0,5 2 0,5
Da 0,5 10 0,4
Chất thải trong vườn 18,5 60 7,4
Gỗ 2 20 1,6
Thuỷ tinh 8,0 2 7,8
Can thiếc 6,0 3 5,8
Nhôm 0,5 2 0,5
Kim loại khác 3,0 3 2,9
Bụi, tro… 3,0 8 2,8
100,0 78,8
Độ

ẩm của m
ẫu ch

t th

i r
ắn (%) = (100 – 78,8)/100 = 21,2%
* Kích thước và cấp phối hạt
Kích thước và cấp phối hạt đóng vai trò rất quan trọng trong việc
tính toán, thiết kế các phương tiện cơ khí như thu hồi vật liệu, đặc biệt là sử
dụng các sàn lọc phân loại bằng máy hoặc phân chia bằng phương pháp từ tính.
Kích thước của từng thành phần rác thải có thể xác định bằng một hoặc nhiều
phương pháp như sau:
Hoặc S = l
Hoặc S = (l + w)/2
Hoặc S = (l + h + w)/3
Hoặc S = (l.w)
1/2
Hoặc S = (l.w.h)
1/3
Trong đó: S: kích thước của các thành phần.
l: là chiều dài (mm)
w: là chiều rộng (mm)
14
Khi sử dụng các phương pháp khác nhau thì kết quả sẽ có sự sai lệch, tùy
thuộc vào hình dáng kích thước của rác thải mà ta chọn phương pháp đo lường
cho phù hợp. Nếu tính toán kích thước cấp phối hạt của can nhôm, can thiếc,
thủy tinh thì dùng công thức S = (l.w)
1/2
* Khả năng giữ nước tại thực địa (hiện trường)
Khả năng giữ nước tại hiện trường của rác thải là toàn bộ lượng nước mà
nó có thể giữ lại trong mẫu chất thải dưới tác dụng kéo xuống của trọng lực.
Đây là chỉ tiêu quan trọng trong việc tính toán xác định lượng nước rò rỉ từ bãi
rác. Khả năng giữ nước tại hiện trường thay đổi phụ thuộc vào áp lực nén và
trạng thái phân hủy của chất thải (ở khu dân cư và các khu thương mại thì dao
động trong khoảng 50 – 60%).
*
Độ
th

m (tính thấm) c
ủa ch
ất th
ải đ
ã đượ
c nén
µ
γ
µ
γ

2
kdCK ==
Tính dẫn n
ướ
c c

a ch
ất thải
đ
ã
đượ
c nén là m

t tín h ch

t v

t lý quan
tr

ng, nó s

chi ph

i

đ
i

u khi

n sự di chuy

n c

a các chất l

ng (nước rò r

,
nước ng

m, nước th

m) và các khí
bên trong bãi rác
.
H

số
thấ
m
được tính nh
ư
sau:

µ
γ
µ
γ

2
kdCK
==
Trong
đ
ó: K: h
ệ số
th

m (m
2
/s)
C: h

ng s


d: kích th
ướ
c trung bình c
ủa các l

r

ng trong rác (m)
γ:
tr

ng lượng riêng c

a nước (kg.m
2
/s)
μ:
độ
nhớt v

n độ
ng củ
a n
ướ
c (Pa)
k : độ thấ
m riêng (m
2
)
Số
h

ng (C.d
2
) được bi
ế
t như
độ
thấm riêng. Độ th

m riêng k = C.d
2
ph

thu

c ch

yếu vào tính ch

t c

a rác thải bao g

m: s

phân b

kích th
ướ
c các l

15
r

ng, b

mặt riêng, tính góc
cạ
nh, độ r

ng
. Giá trị
đ
i

n hình cho
độ
thấm riêng
đố
i v

i rác thải được nén trong bãi rác
n

m trong kho

ng ( 10-11)
÷ (
10-12)
m
2
/s theo phương đứng và kho

ng ( 10-10) theo ph
ương
ngang
.
1.2.5.2. Tính chất hóa học
Các thông tin về thành phần hóa học của rác thải đóng vai trò rất quan
trọng trong việc lựa chọn phương thức xử lý và tái sinh chất thải. Có 04 phân
tích hóa học quan trọng thường được sử dụng để xác định thành phần hóa học
của rác thải là:
- Phân tích gần đúng sơ bộ.
- Điểm nóng chảy của tro.
- Phân tích cuối cùng (các nguyên tố chính).
- Hàm lượng năng lượng của chất thải rắn.
* Phân tích sơ bộ
Phân tích sơ bộ gồm các thí nghiệm sau:
- Độ ẩm (lượng nước mất đi sau khi sấy ở 100
0
C trong 1h).
- Chất dễ cháy bay hơi (trọng lượng mất đi khi đem mẫu rác thải đã sấy ở
100
0
C trong 1h, đốt cháy ở nhiệt độ 950
0
C trong lò nung kín).
- Carbon cố định (phần còn lại dễ cháy sau khi loại bỏ các chất bay hơi).
- Tro (trọng lượng còn lại sau khi đốt cháy trong lò hở).
* Điểm nóng chảy của tro
Điểm nóng chảy của tro là nhiệt độ đốt cháy chất thải để tro sẽ thành một
khối rắn (gọi là clinker) do sự nấu chảy và kết tụ. Nhiệt độ này khoảng 1100
0
C
đến 1200
0
C.
* Phân tích cuối cùng các thành phần tạo thành rác thải
Phân tích cuối cùng các thành phần tạo thành rác thải chủ yếu là xác định
thành phần phần trăm (%) của các nguyên tố C, H, O, N, S và tro mô tả các
16
thành phần hóa học của chất hữu cơ trong rác thải. Kết quả này đóng vai trò rất
quan trọng trong việc xác định tỉ số C/N của chất thải có thích hợp cho quá
trình chuyển hóa sinh học hay không.
* Hàm lượng năng lượng của các thành phần rác thải
Hàm lượng năng lượng của các thành phần chất hữu cơ trong rác thải có
thể xác định bằng một trong các cách sau:
- Sử dụng nồi hay lò chưng cất qui mô lớn.
- Sử dụng bình đo nhiệt trị trong phòng thí nghiệm.
- Bằng cách tính toán nếu công thức hóa học hình thức được biết.
Nhiệt trị: Giá trị nhiệt tạo thành khi đốt chất thải rắn. Giá trị này
được xác định theo công thức Dulong cải tiến:
Btu/lb = 145C + 610(H2 – 1/8O2) + 40S + 10N) KJ/kg =
(Btu/lb).2,326 ; (%) Giải thích công thức cho cô nhé
Trong đó: C: % trọng lượng của Carbon
H: % trọng lượng của Hidro.
O: % trọng lượng của Oxi.
S: % trọng lượng của Sulfua
N: % trọng lượng của Nitơ.
Bảng 1.5: Thành phần hóa học các hợp chất cháy được của rác thải
Hợp phần % trọng lượng theo trạng thái khô.
C H O N S Tro
17
Chất thải thực phẩm
Giấy
Catton
Chất dẻo
Vải, hàng dệt
Cao su
Da
Lá cây, cỏ
Gỗ
Bụi, gạch vụn, tro
8
3,5
4,4
60
55
78
60
47,8
49,5
26,3
6,4
6
5,9
7,2
6,6
10
8
6
6
3
37,6
44
44,6
22,8
31,2
không xđ
11,6
38
42,7
2
2,6
0,3
0,3
không xđ
4,6
2
10
3,4
0,2
0,5
0,4
0,2
0,2
không xđ
4,6
không xđ
0,4
0,3
0,1
0,2
5
6
5
10
2,45
10
10
4,5
1,5
68
(Nguồn: Trần Hiếu Nhuệ, Ứng Quốc Dũng, Nguyễn Thị Kim Thái,
Quản lý chất thải rắn đô thị, NXB Xây Dựng – Hà Nội -2001)
1.2.5.3. Tính chất sinh học
Đặc tính sinh học quan trọng nhất của thành phần chất hữu cơ có trong
chất thải rắn sinh hoạt là hầu hết các thành phần này đều có khả năng chuyển
hoá sinh học tạo thành các khí, chất rắn hữu cơ trơ và các chất vô cơ. Mùi và
ruồi nhặng sinh ra trong quá trình chất hữu cơ bị thối rữa (rác thực phẩm) có
trong chất thải rắn sinh học.
* Khả năng phân huỷ sinh học của các thành phần chất hữu cơ
Hàm lượng chất rắn bay hơi (VS), xác định bằng cách nung ở nhiệt độ
550
0
C, thường được sử dụng để đánh giá khả năng phân huỷ sinh học của chất
hữu cơ trong chất thải rắn sinh hoạt. Tuy nhiên, việc sử dụng chỉ tiêu VS để biểu
diễn khả năng phân huỷ sinh học của phần chất hữu cơ có trong rác thải rắn sinh
hoạt là không chính xác vì một số thành phần chất hữu cơ rất dễ bay hơi nhưng
rất khó bị phân huỷ sinh học (Ví dụ: giấy in báo và nhiều loại cây kiểng).
Bảng 1.6. Thành phần có khả năng phân huỷ sinh học của một số chất
hữu cơ tính theo hàm lượng lignin.
18
Thành phần VS (% chất rắn
tổng cộng TS)
Hàm lượng
lignin (LC),
(%VS)
phần có khả năng
phân huỷ sinh học
(BF)
Rác thực phẩm 7-15 0.4 0.82
Giấy in báo 94.0 21.9 0.22
giấy công sở 96.4 0.4 0.82
Carton 94.0 12.9 0.47
Rác vườn 50-90 4.1 0.72
(Nguồn: Công ty môi trường tầm nhìn xanh, năm 2007)
* Sự hình thành mùi
Mùi sinh ra khi tồn trữ rác thải trong thời gian dài giữa các khâu thu gom,
trung chuyển và thải ra bãi rác nhất là ở những vùng khí hậu nóng do quá trình
phân huỷ kỵ khí các chất hữu cơ dễ bị phân huỷ có trong rác thải sinh hoạt. Ví
dụ: trong điều kiện kỵ khí, sulfate có thể bị khử thành sulfide (S
2-
), sau đó
sulfide kết hợp vói hydro tạo thành H
2
S có mùi trứng thối.
* Sự sản sinh ruồi nhặng
Vào mùa hè cũng như tất cả các mùa của những vùng có khí hậu ấm áp,
sự sản sinh ruồi nhặng ở khu vực chứa rác là vấn đề đáng quan tâm.
Thông thường chu kỳ phát triển của ruồi ở khu dân cư từ trứng thành ruồi
có thể biểu diễn như sau:
- Trứng phát triển: 8-12 giờ
- Giai đoạn đầu của ấu trùng: 20 giờ
- Giai đoạn thứ hai của ấu trùng: 24 giờ
- Giai đoạn thứ ba của ấu trùng: 3 ngày
- Giai đoạn nhộng: 4 - 5 ngày
- Tổng cộng: 9 - 11 ngày
1.2.6. Tốc độ phát sinh rác thải
Ở các đô thị Việt Nam, tốc độ phát sinh rác thải tùy thuộc vào từng loại
đô thị và dao động từ 0,35 kg/người.ngày đến 1,2kg/người.ngày.
Lượng chất thải tạo thành hay còn gọi là tiêu chuẩn tạo rác được định
nghĩa là lượng rác thải phát sinh từ hoạt động của một người trong một ngày
đêm (kg/người.ngày đêm). Tiêu chuẩn tạo rác trung bình theo đầu người đối với
19
từng loại rác thải mang tính đặc thù của từng địa phương và phụ thuộc vào mức
sống, văn minh của dân cư ở mỗi khu vực.
Bảng 1.7. Tiêu chuẩn tạo rác trung bình theo đầu người đối với từng
loại rác thải.
Nguồn Tiêu chuẩn (kg/người.ngày đêm)
Khoảng giá trị Trung bình
Sinh hoạt đô thị
(1)
Công nghiệp
Vật liệu phế thải bị tháo dỡ
Nguồn thải sinh hoạt khác
(2)
1 -3
0,5 - 1,6
0,05 - 0,4
0,05 – 0,3
1,59
0,86
0,27
0,18
(Nguồn: Giáo trình quản lý CTR đô thị, GS.TS.Trần Hiếu Nhuệ, năm 2001)
Ghi chú:
(1)
: kể cả nhà ở và trung tâm dịch vụ thương mại

(2)
: không kể nước và nước thải.
Các yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ phát sinh và lượng rác thải.
- Điều kiện địa lý - khí hậu.
- Tập quán sinh hoạt của dân tộc, tôn giáo
- Nhận thức về môi trường và thái độ của cộng đồng.
- Mức độ phát triển kinh tế, trình độ sản xuất, tái chế, dịch vụ.
- Luật pháp, chính sách về quản lý rác.
1.3. Ảnh hưởng của rác thải đến môi trường
1.3.1. Ảnh hưởng của rác thải đến môi trường đất
Rác thải là một trong những nguyên nhân dẫn đến thoái hoá đất với những
biểu hiện thay đổi tính chất vật lý, thành phần hoá học như: Thay đổi thành phần
cấp phối hạt, tăng độ chặt, giảm tính thấm nước, giảm hàm lượng mùn, tăng độ
chua, mặn hoá, mất cân bằng dinh dưỡng và thành phần hoá sinh học đất, tích
luỹ các chất độc hại,… từ việc tác động đến các quá trình hấp phụ, hấp thụ, trao
đổi iôn, oxy hoá khử, phong hoá của hệ sinh thái đất.
Thành phần các chất hữu cơ dễ phân huỷ sinh học sẽ làm suy giảm đột
biến lượng oxy trong đất, phân giải yếm khí làm tăng độ axit của đất ảnh hưởng
bất lợi đến quá trình trao đổi các dinh dưỡng vô cơ (K, Ca, Mg) với cây trồng,
20
gây ức chế vi khuẩn hiếu khi, vi khuẩn nitơrat.
Các dạng hợp chất hữu cơ tổng hợp có trong nước thải tạo thành màng trên
mặt ngăn cản tiếp xúc với không khí gây thiếu oxy cho đất cũng như ảnh hưởng đến
hoạt động sống của vi sinh vật đất như gây độc và huỷ diệt các vi sinh vật đất có lợi
cho đất trồng trọt làm suy giảm chất lượng đất trồng trọt với những biểu hiện như:
Tăng độ chua, giảm hàm lượng mùn, làm đất bị chai cứng, tích luỹ kim loại nặng,
dầu mỡ các chất hữu cơ bền vững; suy giảm khả năng hấp phụ, hấp thụ và trao đổi
iôn của keo đất, làm giảm tính dính, tính dẻo của đất.
1.3.2. Ảnh hưởng của rác thải đến môi trường nước
Rác thải không được thu gom, thải vào kênh, rạch, sông, hồ… gây ô
nhiễm môi trường nước bởi chính bản thân chúng. Rác nặng lắng làm nghẽn
đường lưu thông, rác nhẹ làm đục nước, nylon làm giảm diện tích tiếp xúc với
không khí, giảm DO trong nước, làm mất mỹ quan, gây tác động cảm quan xấu
đối với người sử dụng nguồn nước. Chất hữu cơ phân hủy gây mùi hôi thối, gây
phú dưỡng hóa nguồn nước.
Nước rò rỉ trong bãi rác đi vào nguồn nước ngầm, gây ô nhiễm nguồn nước
ngầm, như ô nhiễm kim loại nặng, nồng độ nitrogen, phospho cao, chảy vào
sông hồ gây ô nhiễm nguồn nước mặt.
Do điều kiện vật chất, cơ sở hạ tầng của quận Lê Chân còn thiếu thốn nên
khả năng thu gom rác thải còn kém. Người dân thiếu ý thức về vệ sinh môi
trường vẫn thường đổ rác xuống các ao, hồ, mương…Điều đó đã gây ảnh hưởng
nghiêm trọng tới nguồn nước của vùng.
13.2.1. Nước mặt
Nước mặt có khả năng tự làm sạch rất mạnh, nhưng do lượng chất thải
được đưa vào quá nhiều so với khả năng tự làm sạch nên nước bị ô nhiễm. Ảnh
hưởng của rác thải tới nguồn nước mặt có thể nhận thấy như:
- Lòng sông, hồ bị lấp dần khiến dòng nước chảy bị cản trở, đáy hồ bị nâng
dần lên tại những nơi này hàm lượng cặn lơ lửng lớn.
21
- Những thành phần chất thải hữu cơ dễ bị phân huỷ trong môi trường nước
sẽ tác động mạnh làm cạn kiệt lượng ôxy có trong nước gây tác hại đến các loài
thuỷ sinh.
- Các kim loại nặng nếu tồn tại trong nước sẽ tiêu diệt các loài thuỷ sinh
hoặc tác động tích luỹ vào cơ thể chúng theo chuỗi thức ăn.
- Những vi trùng có trong rác thải khi xâm nhập vào môi trường nước cũng
gây lên những bệnh dịch lan tràn có thể trên diện rộng theo từng khu vực.
1.3.2.2. Nước ngầm
Không chỉ nước mặt bị ô nhiễm bởi rác thải mà nước ngầm cũng bị ảnh
hưởng, nguyên nhân chính là do chất thải vô cơ, hữu cơ phân huỷ và hoà tan
trong nước ngầm xuống các mạch nước ngầm. Nếu con người sử dụng loại nước
ngầm đã bị ô nhiễm nặng sẽ không có lợi cho sức khoẻ. Các chất có hại đổ bừa
bãi trên các mặt cung cấp nước ngầm, khi có mưa xuống, các chất này được hoà
tan và theo xuống tới các mạch nước ngầm.
Ngoài ra các vi sinh vật cũng có thể theo xuống các mạch nước ngầm
nhưng không thể xuống sâu được, với hình thức đào giếng khơi thì vi sinh vật có
thể xâm nhập được vào giếng, nếu là vi sinh vật có hại như tả, lỵ…sẽ gây tác hại
cho sức khoẻ con người.
1.3.3. Ảnh hưởng của rác thải đến môi trường không khí
Rác thải tồn đọng trong môi trường ở nhiều dạng, nhiều đặc điểm khác
nhau, chúng thường nằm ở các bãi đất trống, ven sông và ao, hồ nhỏ. Hầu hết
lượng rác thải này không được xử lý trước khi đổ ra ngoài. Lượng rác này có
thành phần chủ yếu là rác xây dựng và rác sinh hoạt. Trong thành phần của rác
sinh hoạt, hàm lượng phân hữu cơ trong đó khoảng 53-54% chúng nhanh chóng
bị phân huỷ trong điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng ẩm càng thúc đẩy nhanh quá
trình lên men thối rữa tạo ra các mùi hôi thối khó chịu cho những người dân
xung quanh. Hàm lượng khí H
2
S, NH
3
xuất hiện ở đây thường cao hơn các nơi
không tập trung nhiều rác vào những ngày oi bức, những khí và mùi khó chịu
này thường rất lâu mới bị hoà loãng vào khí quyển
22
Ngoài ra ô nhiễm do bụi bao gồm những vật liệu có kích thước nhỏ hơn
10 mm hoặc những vật liệu có khả năng bị phát tán vào không khí bởi gió.
Nguồn phát sinh chính từ các loại rác thải xây dựng được xả bừa bãi và trong
quá trình phá dỡ xây dựng nhà cửa, giao thông, do các hoạt động sản xuất nông
nghiệp. Bụi trong quá trình vận chuyển lưu trữ rác gây ô nhiễm không khí. Rác
hữu cơ dễ phân hủy sinh học. Trong môi trường hiếu khí, kị khí có độ ẩm cao,
rác phân hủy sinh ra SO
2
, CO, CO
2
, H
2
S, NH
3
… ngay từ khâu thu gom đến chôn
lấp. CH
4
là chất thải thứ cấp nguy hại, gây cháy nổ.
Tóm lại, hiện tượng ô nhiễm không khí của vùng chủ yếu là do những mùi
khó chịu của rác thải bị phân huỷ trong môi trường và bụi do những quá trình
giao thông, xây dựng và sản xuất nông nghiệp tạo ra. Đây cũng là một vấn đề
được quan tâm của các nhà quản lý bởi ảnh hưởng của chúng tới môi trường là
không nhỏ. Hiện nay vẫn chưa có biện pháp nào giải quyết được triệt để vấn đề
này.
Nói chung, đây là những vấn đề ảnh hưởng của rác tới sức khoẻ người
dân và mỹ quan đô thị. Đây là một vấn đề cần được chú trọng để đảm bảo một
cách tốt nhất cho sức khoẻ cộng đồng, đảm bảo cho mỹ quan đô thị được sạch
đẹp nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân ngày một tốt hơn.
1.3.4. Ảnh hưởng của rác thải đến mỹ quan đô thị
Một số vấn đề khác cần quan tâm trong lĩnh vực quản lý là ảnh hưởng của
rác thải tới mỹ quan đô thị. Nguyên nhân chính là do ý thức, trách nhiệm của
người dân địa phương, khách du lịch chưa cao, họ vứt rác bừa bãi gây mất mỹ
quan đô thị
1.3.5. Ảnh hưởng của rác thải đến sức khoẻ cộng đồng
Không phải sống trong môi trường tốt là không có bệnh tật mà môi trường
nào cũng có bệnh nhiều hay ít là do mức độ ô nhiễm của môi trường. Sức khoẻ
là yếu tố quan trọng bậc nhất của con người, sức khoẻ tốt sẽ đủ sức đề kháng với
các bệnh đến từ môi trường.
Theo tài liệu nghiên cứu tại các nước đang phát triển có trên 300 loại bệnh
có nguồn ngốc phát sinh từ rác thải, chúng có thể lây lan sang diện rộng nên
23
quản lý rác thải là vấn đề cần thiết nhằm loại bỏ những mần bệnh nguy hiểm.
Theo các nhà khoa học, các nguồn phát sinh ra từ những bãi rác như: vi khuẩn
thương hàn có thể tồn tại 115 ngày, khuẩn lỵ 40 ngày, chứng giun đũa 30 ngày.
Tại đây, các loại vi khuẩn, vi trùng thực sự phát huy tác dụng khi có các vật
trung gian gây bệnh tồn tại trong bãi rác như chuột, bọ, ruồi, muỗi…Bệnh dịch
cũng có thể phát tán vào không khí hoặc các nguồn nước mặt gây hại cho người
sử dụng.
Rác có thành phần chất hữu cơ cao, là môi trường tốt cho các loài gây bệnh
như ruồi, muỗi, chuột, gián… qua các trung gian có thể phát triển mạnh thành
dịch. Theo khảo sát thực tế, lượng rác thải tồn đọng ở quận Lê Chân còn rất
lớn, gây ảnh hưởng tới sức khoẻ của người dân sống trong khu vực xung quanh
trạm trung chuyển rác. Ảnh hưởng của rác là do những thành phần hữu cơ có
trong rác chiếm 53-54%, bị lên men, bốc mùi hôi thối. Đặc biệt có những loại
rác có nguồn gốc từ công nghiệp như các hoá chất, kim loại có tính độc đối với
con người có thể gây lên bệnh nan y như ung thư. Những người bị ảnh hưởng
trực tiếp nhất là những người thường xuyên phải tiếp xúc với rác thải như:
Người đồng nát, bới rác, công nhân của công ty Môi trường đô thị.
1.4. Các phương pháp quản lý rác thải
1.4.1. Phân loại rác thải tại nguồn
Phân loại rác tại nguồn nhằm tận dụng được các phế liệu có thể tái sinh,
tái chế, hạn chế việc khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên, các nguy cơ phát
tán dịch bệnh từ rác thải sinh hoạt, không gây mất mỹ quan đô thị vì các bãi rác
lộ thiên, góp phần xã hội hoá công tác quản lý rác thải và giảm gánh nặng cho
ngân sách nhà nước về các khoản công tác vệ sinh đường phố, vận chuyển và xử
lý rác thải đô thị.
1.4.2. Thu gom rác thải
Thu gom rác thải là quá trình thu nhặt rác thải từ các nhà dân, các công sở
hay từ những điểm thu gom, chất chúng lên xe và chở đến địa điểm xử lý,
chuyển tiếp, trung chuyển hay chôn lấp.
24
Dịch vụ thu gom rác thải thường có thể chia ra thành các dịch vụ "sơ cấp"
và "thứ cấp". Sự khác biệt này phản ánh yếu tố là ở nhiều khu vực, việc thu gom
phải đi qua một quá trình hai giai đoạn: thu gom rác từ các nhà ở và thu gom tập
trung về chỗ chứa trung gian rồi từ đó lại chuyển tiếp về trạm trung chuyển hay
bãi chôn lấp.
Bảng 1.8. Nguồn phát thải - nhân công và các thiết bị thu gom rác thải tại
chỗ
Nguồn phát sinh Nhân công Thiết bị thu gom
25

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×