Tải bản đầy đủ

tìm hiểu tình hình tiếp cận và sử dụng vốn tín dụng của người dân tại xã hương toàn, huyện hương trà, tỉnh thừa thiên huế

Phần 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một nước nông nghiệp, nông nghiệp Việt Nam đã và đang
đóng vai trò quan trong sự phát triển kinh tế. Trong thời kỳ hội nhập với kinh
tế quốc tế, sự chuyển biến về kinh tế - xã hội đang phát huy và có nhiều thành
tựu to lớn đưa đất nước ta thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế, tạo điều
kiện cho giai đoạn phát triển mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và
nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Sự phát triển nông nghiệp
và kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa có vai trò cực
kỳ quan trọng cả trước mắt và về lâu dài nó là cơ sở để ổn định và phát triển
kih tế - xã hội. Sự phát triển kinh tế nông thôn đóng góp vai trò rất lớn trong
nền kinh tế quốc dân, quá trình phát triển này đã và đang có sự hỗ trợ không
nhỏ từ các tổ chức tín dụng.
Trong lĩnh vực nông thôn vốn tín dụng được xem là một khâu quan
trọng để giúp cho việc phát triển kinh tế và đầu tư mở rộng sản xuất. Trước
đây, ở nước ta tín dụng chủ yếu tập trung vào kinh tế tập thể, còn kinh tế nông
hộ ít được chú trọng vốn đầu tư. Hiện nay, thị trường vốn tín dụng vi mô đối
với các hộ nông dân vay vốn sản xuất đang thu hút nhiều tổ chức tín dụng
tham gia, việc cung cấp vốn tín dụng cho khu vực nông thôn được xem là
bước đột phá trong công cuộc xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam. Hệ thống tín

dụng nông thôn nước ta ngày nay càng đa dạng với nhiều tổ chức tín dụng
chính thức và không chính thức. Hiện nay, mạng lưới tín dụng đã có mặt ở
khắp các vùng nông thôn, miền núi. Hoạt động của các tổ chức tín dụng này đã
và đang phát huy hiệu quả. Tuy vậy, việc tiếp cận tín dụng của nông hộ nhất là
các hộ nghèo với các chương trình tín dụng còn hạn chế. Nguồn vốn tín dụng
rất phong phú nhưng nhiều hộ vẫn chưa thể vay vốn để sản xuất mặc dù nhu
cầu về vốn của họ khá cao. Mặt khác hiệu quả sử dụng vốn của nhiều hộ cũng
đang còn thấp, nên có nhiều trường hợp vốn vay không những không giúp
được người dân phát triển kinh tế mà còn tạo cho họ gánh nặng về nợ nần.
1
Hương Toàn là một xã rộng lớn của huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên
Huế. Đây là xã có nền nông nghiệp phát triển, có nhiều ngành nghề phụ tương
đối đa dạng. Ngoài hoạt động chính là trồng trọt và chăn nuôi thì xã còn có
nhiều ngành nghề phụ khác: làng bún (Vân Cù), nấu rượu gạo (Dương Sơn),
gạch ngói (Nam Thanh), nuôi cá lồng (An Thuận)…do đó nhu cầu về vốn của
người dân ở đây rất lớn. Tuy nhiên thực tế khả năng vốn tự có của người dân
rất hạn chế, đây là cản trở cho quá trình sản xuất đặc biệt là sản xuất nông
nghiệp. Thực tế này đòi hỏi người dân phải đi vay từ bên ngoài để đáp ứng
nhu cầu vốn kịp thời cho sản xuất. Hiện trên địa bàn xã đã có nhiều tổ chức
tín dụng như: NHNN & PTNT, NHCSXH và các TCTD nhỏ khác… Để biết
được sự hoạt động của các tổ chức tín dụng ở địa phương, quá trình tiếp cận
nguồn vốn tín dụng của người dân như thế nào, họ đã sử dụng nguồn vốn đó
ra làm sao tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tìm hiểu tình hình tiếp cận và
sử dụng vốn tín dụng của người dân tại xã Hương Toàn, huyện Hương
Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế”
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu hoạt động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn xã.
- Tìm hiểu tình hình tiếp cận và sử dụng vốn vay của nông hộ.
- Tìm hiểu một số giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận và hiệu quả sử
dụng vốn vay của người dân trên địa bàn xã.
2
Phần 2
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Lý thuyết về tín dụng nông thôn
2.1.1. Khái niệm và bản chất của tín dụng
* Khái niệm tín dụng
Danh từ Tín dụng (credit) xuất phát từ gốc Latinh là Credittum, có
nghĩa là sự tin tưởng tín nhiệm dùng để chỉ nhiều hành vi kinh tế rất phức tạp:
bán chịu hàng hóa, cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, ký thác… Trong thực tế
cuộc sống thuật ngữ tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, ngay cả
trong quan hệ tài chính, tùy theo từng bối cảnh cụ thể mà thuật ngữ tín dụng
có một nội dung riêng. Trên cơ sở tiếp cận theo chức năng Ngân hàng thì:
“Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay
(Ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh
nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho
bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay
có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến
hạn thanh toán” [3, 20].
Theo từ điển thuật ngữ tài chính thì: “Tín dụng là một phạm trù kinh tế
tồn tại trong các phương thức sản xuất hàng hóa khác nhau và được biểu hiện
như sự vay mượn trong thời hạn nào đó”. Khái niệm vay mượn bao gồm sự
hoàn trả, hoàn trả chính là đặc trưng thuộc bản chất của tín dụng, là dấu ấn
phân biệt phạm trù tín dụng với các phạm trù cấp phát tài chính khác [2].
Theo luật Ngân hàng Quốc tế: “Tín dụng là sự cấu thành một nghiệp vụ
tín dụng bất kỳ một tác động nào, qua đó một người đưa hoặc hứa đưa vốn
cho người khác dùng, hoặc cam kết bằng chữ ký cho người này như đảm bảo,
bảo chứng hay bảo lãnh mà có thu tiền” [8].
Theo tác giả Phạm Thị Dung: “Tín dụng nông thôn là các hoạt động
dịch vụ nhằm hỗ trợ vốn cho nông dân phát triển kinh tế nông thôn dựa trên
cơ sở huy động các nguồn vốn trong xã hội” [8].
Tóm lại, tín dụng không chỉ là một hình thức vận động của tiền tệ, mà
bên cạnh đó nó biểu hiện mối quan hệ kinh tế - xã hội gắn với quá trình tạo
lập và sử dụng vốn nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu tạm thời cho quá trình
3
tái sản xuất và phục vụ đời sống, theo nguyên tắc hoàn trả. Khi một tổ chức
tín dụng cung cấp một khoản tín dụng cho khách hàng, trước hết là họ tin
tưởng khách hàng có khả năng trả nợ món vay đó. Tín dụng từ xa xưa dựa
vào lòng tin là chủ yếu, ngày nay nó đã được pháp luật bảo trợ.
* Bản chất tín dụng
Bản chất TD được thể hiện trong quá trình hoạt động tín dụng và mối
quan hệ của nó và quá trình sản xuất xã hội. Mối quan hệ này được thể hiện
thông qua ba giai đoạn:
Một là, phân phối TD dưới dạng hình thức cho vay: đây là giai đoạn
vốn tiền tệ hay vật tư hàng hóa được chuyển nhượng từ người cho vay đến
người đi vay thông qua hợp đồng tín dụng được ký kết theo nguyên tắc thỏa
thuận giữa hai bên dựa trên cung cầu của vốn vay.
Hai là, giai đoạn sử dụng vốn vay trong quá trình sản xuất kinh doanh:
ở giai đoạn này, vốn vay có thể sử dụng trực tiếp (nếu vốn vay là vật tư hàng
hóa) hoặc sử dụng vào mua vật tư hàng hóa (nếu vốn vay bằng tiền) để thỏa
mãn nhu cầu sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng của người đi vay.
Ba là, giai đoạn hoàn trả vốn TD: đây là giai đoạn kết thúc một vòng
tuần hoàn vốn tín dụng, đồng thời cũng là giai đoạn hoàn thành một chu kỳ
sản xuất kinh doanh để trở về hình thái tiền tệ ban đầu của nó mà được người
đi vay hoàn trả của tín dụng, là quá trình trở về với tư cách là lượng giá trị
vốn TD được vận động, do đó hoàn trả không chỉ là bảo tồn vốn về mặt giá trị
mà còn phần tăng thêm dưới dạng hình thức lãi suất.
Như vậy, bản chất vận động của TD là sự hoàn trả về vốn gốc và theo
đó là khoản lãi với tư cách là giá của vốn vay.
2.1.2. Phân loại tín dụng
Có nhiều cách để phân loại TD khác nhau, tuy nhiên cách phân loại
theo: thời gian, mục đích, tính chất, theo nguồn gốc cung cấp và theo chủ thể
tín dụng là những cách phân loại tín dụng phổ biến nhất trong lĩnh vực nông
nghiệp nông thôn.
* Phân loại theo thời gian: căn cứ vào thời gian vay, tín dụng được chia thành
3 loại là:
- TD ngắn hạn: có thời gian sử dụng < 1 năm
4
- TD trung hạn: có thời gian sử dụng từ 1 đến 5 năm
- TD dài hạn: có thời gian sử dụng > 5 năm
* Phân loại theo mục đích sử dụng: căn cứ vào mục đích sử dụng, TD được
chia thành 2 loại
- TD sản xuất: là tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho các doanh
nghiệp, cơ sở sản xuất trong hoạt động sản xuất kinh doanh ở tất cả các ngành
kinh tế quốc dân như: công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, dịch vụ,
du lịch…
- TD tiêu dùng: là tín dụng nhằm đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng cá
nhân như: mua sắm nhà cửa, xe cộ, các vật dụng gia đình… Loại tín dụng này
có thể áp dụng theo hình thức cho vay bằng tiền hoặc hiện vật.
* Phân loại theo tính chất đảm bảo an toàn: căn cứ vào tính chất đảm bảo an
toàn, có thể chia TD làm hai loại
- TD có đảm bảo an toàn: là tín dụng thường được áp dụng với những
khách hàng chưa quen hoặc khách hàng chưa có uy tín đối với bên cấp tín dụng.
Khi vay vốn thuộc loại này bên vay bắt buộc phải có tài sản làm đảm bảo.
- TD không có đảm bảo: là tín dụng thường được áp dụng với những
khách hàng truyền thống có quan hệ tín dụng lâu năm với Ngân hàng, đồng
thời đó là những khách hàng có tình trạng tài chính vững chắc, sản xuất kinh
doanh ổn định, có lãi, có quan hệ tốt trong giao dịch với khách hàng và Ngân
hàng, nợ nần được thanh toán đầy đủ, đúng hạn hoặc các đối tượng đặc biệt
thuộc diện chính sách.
* Căn cứ vào chủ thể quan hệ tín dụng:
- TD thương mại: phản ánh các quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa
những người sản xuất kinh doanh được thực hiện dưới hình thức mua bán
chịu hàng hóa.
- TD Nhà nước: phản ánh mối quan hệ tín dụng giữa Nhà nước với dân
cư và các chủ thể kinh tế khác. Trong đó Nhà nước đi vay và cũng đồng thời
là người cho vay để đảm bảo thực hiện chức năng nhiệm vụ của nhà nước
trong quản lý kinh tế xã hội.
- TD Ngân hàng: phản ánh quan hệ vay mượn vốn tiền tệ giữa các
Ngân hàng với các chủ thể kinh tế khác trong nền kinh tế.
5
- TD thuê mua: tín dụng thuê mua phản ánh những quan hệ tín dụng
nảy sinh giữa công ty tài chính (công ty cho thuê tài chính) với những người
sản xuất kinh doanh dưới hình thức cho thuê tài sản [8].
2.2. Khái niệm về tổ chức tín dụng, chương trình tín dụng
- Tổ chức tín dụng: Là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của
luật các các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật để hoạt động
kinh doanh tiền tệ, là dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử
dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán [12].
- Chương trình tín dụng: Trong nền kinh tế mở, ngoài tín dụng thanh
toán và đầu tư ở tầm vi mô còn có chương trình tín dụng vĩ mô giữa các Chính
phủ, các chương trình tín dụng vi mô của các tổ chức phi chính phủ. Trong nội
bộ của từng quốc gia, tùy theo mục tiêu chiến lược cụ thể mà các chương trình
tín dụng riêng biệt đặc thù trong từng lĩnh vực trong một thời hạn nhất định.
Đối với các tổ chức phi chính phủ có hoạt động tài chính vi mô thì cần phân
biệt thành hai loại: các dự án chỉ có hoạt động tài chính vi mô và các dự án có
hoạt động tài chính vi mô lồng ghép với các hoạt động khác [12].
Nhiều tổ chức phi chính phủ chỉ sử dụng tài chính vi mô như là một
phương tiện để đạt được mục đích, chứ không phải bản thân nó là mục đích.
Một số tổ chức đã sử dụng tài chính vi mô để thực thi các chương trình giáo
dục sức khỏe và kế hoạch hóa gia đình. Hoạt động tài chính vi mô kết hợp với
các hoạt động khác có thể khai thác tình hình kinh tế theo phạm vi hay cung
cấp kiến thức, kỹ năng trong sản xuất hộ gia đình và cải thiện phúc lợi.
2.3. Vai trò, chức năng của tín dụng đối với phát triển kinh tế
2.3.1. Vai trò tín dụng
- Tín dụng góp phần nâng cao đời sống của người dân và thực hiện các
chính sách khác của nhà nước: giải quyết việc làm, dân số, y tế, giáo dục, các
chương trình xóa đói giảm nghèo, đảm bảo công bằng xã hội [14].
- Tín dụng góp phần tạo ra và duy trì quy mô kinh doanh phù hợp
- Tín dụng góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, khai thác
tốt nguồn lực địa phương. Ngoài việc bù đắp các khoản thiếu hụt, vốn tín
dụng còn giúp người sản xuất có thể mua sắm máy móc, mở rộng quy mô,
đầu tư thâm canh để nâng cao chất lượng, khối lượng sản phẩm, tiết kiệm sức
lao động, nâng cao hiệu quả thu nhập.
6
- Tín dụng góp phần điều chỉnh kinh doanh, đẩy mạnh quá trình thương
mại hóa sản xuất nông nghiệp và thay đổi cơ cấu sản xuất.
- Tín dụng góp phần giải quyết các biến biến động và hạn chế những
rủi ro trong kinh doanh, những biến động về giá cả của các yếu tố đầu vào
cũng như những bất thường của thời tiết có tác động rất mạnh đến người sản
xuất. Các khoản tín dụng sẽ giúp họ khắc phục khó khăn về vốn, đảm bảo
được sản xuất theo dự định.
Ngoài những ảnh hưởng về giá, sản xuất nông nghiệp còn chịu tác động
rất lớn của điều kiện tự nhiên như: thời tiết, dịch bệnh… Tín dụng được coi là
yếu tố góp phần ngăn ngừa những bất lợi trong kinh doanh, chống lại hoặc
hạn chế những rủi ro có thể xảy ra [8].
2.3.2. Chức năng của tín dụng
- Tập trung và phân phối lại các nguồn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong
nền kinh tế thông qua hai quá trình huy động và cho vay nhằm sử dụng vốn
có hiệu quả để giúp cho sự tăng trưởng kinh tế-xã hội.
- Tiết kiệm tiền mặt và chi phí lưu thông xã hội: Khi sử dụng tín dụng
người ta có thể vay tiền mặt bằng các phương tiện tín dụng. Từ đó làm giảm
lượng tiền mặt trong lưu thông nên tiết kiệm chi phí lưu thông tiền mặt.
- Phản ánh và kiểm soát hoạt động kinh tế: Chức năng này phát triển
của hai chức năng trên, cụ thể là: Thông qua kế hoạch huy động và cho vay
của ngân hàng, sẽ phản ánh được mức độ phát triển của nền kinh tế về các
mặt, đồng thời qua nghiệp vụ cho vay, ngân hàng có điều kiện nhìn tổng quát
vào cấu trúc tài chính của từng đơn vị cho vay. Từ đó phát hiện kịp thời
những trường hợp vi phạm chế độ quản lý kinh tế của nhà nước [13].
2.4. Hoạt động tín dụng trong lĩnh vực nông nghiệp của một số nước và ở
Việt Nam
2.4.1. Hoạt động tín dụng ở một số nước
* Tín dụng nông nghiệp, nông thôn ở Nhật Bản:
Chính phủ Nhật Bản đã khuyến khích phát triển nông nghiệp bằng cách
thành lập ngân hàng nông- công nghiệp địa phương. Vào những năm 1960,
Chính phủ Nhật Bản đã có chương trình cho vay để tăng đầu tư cho nông
nghiệp, cho vay để mua sắm tài sản, mở rộng đất trang trại, xây dựng cơ sở hạ
7
tầng. Nguồn vốn là từ chính phủ và tư nhân thông qua HTXNN. Lãi suất cho
vay phát triển nông nghiệp là lãi suất thấp, thời gian vay dài hạn. HTXNN ở
Nhật Bản đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển nông nghiệp ở Nhật
Bản, sự hình thành của HTXNN là huy động tiết kiệm và vốn dư thừa từ nông
nghiệp và nông dân cho vay các thành phần kinh tế kinh doanh ngoài nông
nghiệp [7].
* Tín dụng nông nghiệp, nông thôn ở Philippin:
Hệ thống tín dụng cung cấp vốn tín dụng cho nông nghiệp, nông thôn ở
Philippin bao gồm: các Ngân hàng nông thôn, Ngân hàng tiết kiệm, các Ngân
hàng thương mại và các ngân hàng của Chính phủ. Ngân hàng nông thôn là tổ
chức tín dụng chính thống lớn nhất, chuyên cung cấp tín dụng cho nông
nghiệp, nông thôn. Chính phủ Philippin đã có những chính sách tín dụng phục
vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn.
Từ năm 1975, Chính phủ đã có chỉ tiêu bắt buộc các ngân hàng thương
mại phải dành tối thiểu 25% cho vay ngành nông nghiệp. Từ năm 1986 trở lại
đây, Chính phủ Philippin đã ban hành chính sách tín dụng mới và được thực
hiện dưới sự bảo trợ của hội đồng chính sách tín dụng nông nghiệp, nội dung
chính sách này bao gồm: Chấp nhận cơ chế thị trường việc tạo nguồn tài
chính, thực hiện lãi suất thị trường, giảm trợ cấp ưu tiên trong Ngân hàng
nông nghiệp, chấm dứt hoạt động cho vay trực tiếp của các cơ sở nhà nước
phi tài chính, cung cấp các dịch vụ và thực hiện cơ chế bảo hiểm để giảm rủi
ro khi thực hiện cho vay [7].
2.4.2. Hoạt động tín dụng ở Việt Nam
* Kết quả của hoạt động tín dụng
Mục tiêu của hoạt động tín dụng trong lĩnh vực NN - NT là đáp ứng đầy
đủ, kịp thời, có hiệu quả nguồn vốn cho nhu cầu phát triển toàn diện lĩnh vực
NN - NT, góp phần xóa đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống của người nông
dân. Để đạt được mục tiêu này, trong thời gian qua, hoạt động tín dụng nông
nghiệp nông thôn đã có những bước phát triển nhất định, thể hiện ở việc: [5]
- Mạng lưới cho vay NN - NT ngày càng gia tăng.
- Doanh số cho vay và dư nợ tín dụng ngày càng tăng.
- Đối tượng tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngày càng mở rộng.
8
Các định chế tài chính tham gia cung cấp tín dụng phục vụ NN - NT
ngày càng mở rộng. Hầu hết các Ngân hàng thương mại đều mở rộng cho vay
trong lĩnh vực NN - NT. Tuy nhiên, tập trung chủ yếu vào các định chế sau:
- NHNN & PTNT được thành lập năm 1988 và chính thức đi vào hoạt
động vào tháng 12/1990, sau khi hai Pháp lệnh Ngân hàng có hiệu lực. Mạng
lưới hoạt động của NHNN & PTNT ngày càng tăng, năm 2003 có 1726 chi
nhánh, phòng giao dịch, đến nay NHNN & PTNT có hơn 2000 chi nhánh nằm
rải rác khắp cả nước [5].
- NH CSXH được thành lập theo Quyết định số 131/2002/QĐ – TTg
ngày 4/10/2002 của Thủ tướng Chính phủ nhằm tách tín dụng chính sách ra
khỏi tín dụng thương mại trên cơ sở tổ chức lại Ngân hàng Phục vụ người
nghèo. Qua gần 6 năm hoạt động, NH CSXH là ngân hàng có mạng lưới lớn
thứ hai trong hệ thống ngân hàng Việt Nam với 65 chi nhánh cấp tỉnh và Sở
giao dịch, 601 phòng giao dịch cấp huyện, 8.649 điểm giao dịch cấp xã và
trên 180.000 tổ tiết kiệm và vay vốn. Hoạt động của NH CSXH đang từng
bước được xã hội hoá, ngân hàng luôn có sự phối hợp chặt chẽ với các hội,
đoàn thể để thực hiện nghiệp vụ uỷ thác cho vay vốn ưu đãi để thực hiện mục
tiêu xóa đói giảm nghèo của Chính phủ [5].
- Hệ thống quỹ tín dụng Nhân dân bắt đầu từ một chương trình thí điểm
chịu sự giám sát của Ngân hàng nông nghiệp vào tháng 7/1993, là hình thức
hợp tác xã tiết kiệm và tín dụng cấp xã xây dựng theo mô hình Caisse
Populaire ở Quebec, Canada. Khi đó, một trong những mục tiêu quan trọng
của Ngân hàng nông nghiệp là khôi phục lòng tin của người dân đối với hệ
thống tín dụng nông thôn sau sự sụp đổ của hàng loạt hợp tác xã tín dụng.
QTDND là loại hình tín dụng hợp tác hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ – tín
dụng, dịch vụ ngân hàng chủ yếu ở nông thôn. Mục tiêu hoạt động là nhằm
huy động nguồn vốn tại chỗ để cho vay tại chỗ, tương trợ cộng đồng, vì sự
phát triển bền vững của các thành viên. Theo thống kê, hiện nay, cả nước có
989 QTDND hoạt động với tổng nguồn vốn gần 14.000 tỷ đồng (chưa tính
QTDND Trung ương và 24 chi nhánh), tổng dư nợ hơn 12.000 tỷ đồng, thu
hút gần 1,3 triệu thành viên là đại diện hộ gia đình [5].
9
- Các chương trình, dự án tài chính vi mô: Từ đầu thập niên 1990, các tổ
chức phi Chính phủ nước ngoài đã bắt đầu tham gia hỗ trợ kỹ thuật cho các
chương trình tín dụng cho người nghèo. Trong đó đáng kể là các tổ chức như :
Groupe de Recherche et d’Echanges Technologiques (GRET), ActionAid,
Developpement International Des Jardins (CARE), Save The Children Fund,
và OXFAM. Các NGO đã tham gia tích cực vào việc huy động tiết kiệm,
cũng như đào tạo năng lực cho các nhóm tiết kiệm tín dụng, và các tổ chức
quần chúng. Khách hàng của các NGO là phụ nữ nghèo, cộng đồng dân tộc
thiểu số và người nghèo ở vùng sâu vùng xa; thường là những đối tượng mà
khu vực tài chính chính thức chưa đủ khả năng tiếp cận để phục vụ.
Bên cạnh sự tham gia của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài vào thị
trường tài chính nông thôn, các tổ chức đoàn thể, quần chúng trong nước cũng
tích cực triển khai các chương trình, dự án tài chính vi mô lớn như chương
trình Quỹ trợ vốn cho người nghèo tự tạo việc làm của Liên đoàn lao động
thành phố Hồ Chí Minh, Quỹ tình thương của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt
Nam và mạng lưới tài chính vi mô M7. Những tổ chức quần chúng tham gia
tích cực vào hoạt động tiết kiệm và tín dụng là Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội
Nông dân, Hội Liên hiệp Thanh niên, Hội Cựu chiến binh và Hội Người làm
vườn. Trong đó, Hội Liên hiệp Phụ nữ được xem là thành công nhất trong
việc đáp ứng nhu cầu về dịch vụ tài chính của các hội viên [5].
* Chính sách hỗ trợ lãi suất tín dụng
Ngày 23/01/2009, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định 131/QĐ/TTg
quy định việc thực hiện gói hỗ trợ lãi suất cho vay ngắn hạn. Thời hạn vay
được hỗ trợ lãi suất tối đa là 08 tháng kể từ ngày giải ngân, áp dụng trong
năm 2009 đối với các khoản vay theo hợp đồng tín dụng được kí kết và giải
ngân trong khoảng thời gian từ ngày 01 tháng 2 đến 31 tháng 12 năm 2009.
Các khoản vay có thời hạn vay vượt quá năm 2009, thì chỉ được hỗ trợ lãi
suất trong năm 2009. Ngoài ra, các khoản vay quá hạn trả nợ, được gia hạn nợ
vay thì không được tính hỗ trợ lãi suất đối với khoảng thời gian quá hạn trả nợ
và gia hạn nợ vay. Mức lãi suất hỗ trợ cho khách hàng vay là 4%/năm, tính
trên số dư nợ vay và thời hạn cho vay thực tế nằm trong khoảng thời gian từ
ngày 01 tháng 2 đến 31 tháng 12 năm 2009 [19].
10
Tiếp đó, ngày 04/04/2009, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định
443/QĐ/TTg quy định việc thực hiện gói hỗ trợ lãi suất đối với các khoản vay
trung và dài hạn của các tổ chức, cá nhân thực hiện đầu tư mới để phát triển
sản xuất – kinh doanh, kết cấu hạ tầng. Thời gian vay được hỗ trợ lãi suất tối
đa là 24 tháng. Việc hỗ trợ lãi suất được thực hiện từ ngày 01/04/2009 đến hết
ngày 31/12/2011. Mức hỗ trợ lãi suất tiền vay là 4%/năm, tính trên số tiền vay
và thời hạn cho vay thực tế. Như vậy, đến thời điểm này, gói hỗ trợ lãi suất đã
hình thành đầy đủ. Quy mô hỗ trợ từ Ngân sách dự tính khoảng 17.000 tỉ
đồng (1 tỉ USD). Với hạn mức hỗ trợ như vậy, tổng dư nợ vốn vay hỗ trợ lãi
suất có thể lên tới hơn 400.000 tỉ đồng [19].
Thứ tự ưu tiên cho các dự án được vay hỗ trợ lãi suất như sau:
50% dành cho phát triển cơ sở hạ tầng
25% cho nông nghiệp và nông thôn
5% cho phát triển nhà ở và xã hội
20% cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Vào cuối năm 2009, khi gói hỗ trợ lãi suất nêu trên chuẩn bị hết hiệu
lực, thì Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 2072/QĐ-TTg (ngày
12/12/2009) quy định việc thực hiện gói hỗ trợ lãi suất 2% đối với các khoản
vay trung và dài hạn để thực hiện đầu tư mới phát triển sản xuất - kinh doanh.
Chính sách hỗ trợ lãi suất được áp dụng theo cơ chế đã quy định tại Quyết
định 443/QĐ-TTg ngày 04/04/2009. Thời hạn hỗ trợ lãi suất tối đa là 24
tháng, kể từ khi giải ngân khoản vay trong năm 2010.
Về đối tượng, Chính phủ chủ trương tập trung hỗ trợ cho các ngành và
lĩnh vực kinh tế như nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, công nghiệp chế
biến, hoạt động khoa học công nghệ, thu mua và kinh doanh các mặt hàng
nông sản, lâm sản, thủy sản, muối Nhiệm vụ cho vay sẽ tiếp tục do Quỹ tín
dụng nhân dân trung ương, hệ thống ngân hàng thương mại và các công ty tài
chính thực hiện [19].
* Chính sách tín dụng mới
Sau hơn 10 năm tổ chức thực hiện, Quyết định 67/1999/QĐ - TTg đã
bộc lộ nhiều vấn đề không còn phù hợp thực tiễn, không đáp ứng được yêu
cầu phát triển của nền kinh tế nói chung, hoạt động ngân hàng nói riêng. Để
11
phù hợp hơn với tình hình thực tế, Chính phủ đã ban hành Nghị định
41/2010/NĐ-CP về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông
thôn. Theo đó, Nghị định nêu rõ, ngoài những đối tượng đầu tư theo Quyết
định 67, các tổ chức tín dụng được cho vay để kinh doanh các sản phẩm, dịch
vụ phục vụ nông, lâm, ngư, diêm nghiệp; cho vay phục vụ sản xuất công
nghiệp, thương mại và cung ứng dịch vụ phi nông nghiệp trên địa bàn nông
thôn; cho vay tiêu dùng nhằm nâng cao đời sống nhân dân ở nông thôn. Cá
nhân, hộ sản xuất nông, lâm, ngư, diêm nghiệp có thể được xem xét cho vay
không có bảo đảm bằng tài sản tối đa đến 50 triệu đồng; các hộ kinh doanh,
sản xuất ngành nghề hoặc làm dịch vụ được vay đến 200 triệu đồng; hợp tác
xã, chủ trang trại được vay tối đa 500 triệu đồng. Nghị định cũng quy định 8
lĩnh vực cho vay phục vụ phát triển NN –NT, mở rộng thêm nhiều đối tượng
so với Quyết định 67. Việc các doanh nghiệp, các tổ chức và cá nhân sản xuất
kinh doanh hoặc cung ứng các dịch vụ nông nghiệp ở nông thôn đều được
hưởng các chính sách theo Nghị định sẽ có tác động thúc đẩy tích cực việc
đầu tư phát triển cho khu vực nông nghiệp, nông thôn. Bên cạnh mục tiêu bảo
đảm an ninh lương thực và tạo ra nhiều sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu chủ
đạo, có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế, thì việc mở rộng và
tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, chủ trang trại, HTX, hộ kinh doanh, hộ
gia đình vay vốn để sản xuất sẽ tác động tích cực tới việc củng cố và mở rộng
các sản phẩm xuất khẩu hiện có (như gạo, thủy - hải sản, càphê, cao su ),
đồng thời mở rộng thêm các sản phẩm có thế mạnh khác ở Việt Nam [18].
12
Phần 3
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
- Các tổ chức, nhóm tín dụng đang hoạt động trên địa bàn xã Hương
Toàn, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế
- Những hộ có tham gia vay vốn trên địa bàn xã Hương Toàn
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: xã Hương Toàn, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa
Thiên Huế. Tập trung nghiên cứu các hộ có tham gia vay vốn và có nhu cầu
về vốn.
- Thời gian nghiên cứu: tiến hành thu thập thông tin dữ liệu từ 2008 –
2010, số liệu khảo sát ở cấp hộ vào năm 2011.
- Giới hạn nghiên cứu: Do hộ nông dân có thể vay từ nhiều nguồn khác
nhau như: từ ngân hàng, bạn bè, người thân, vay nặng lãi…nhưng đưa vào
cùng một hoạt động sản xuất nên rất khó lượng hóa được đâu là hiệu quả từ
nguồn vốn nào mang lại. Do đó trong phạm vi Khóa luận này tôi xin dừng lại
ở chỗ phân tích tình hình sử dụng vốn chứ không đánh giá hiệu quả của việc
sử dụng vốn.
3.2. Nội dung nghiên cứu
3.2.1. Tìm hiểu tổng quan của vùng nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của xã Hương Toàn, huyện Hương
Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế.
3.2.2. Thực trạng quản lý tín dụng trên địa bàn xã
- Thực trạng về các tổ chức tín dụng và sự thay đổi các tổ chức tín dụng
trong địa bàn xã Hương Toàn.
- Các quy chế hoạt động của các tổ chức tín dụng: đối tượng vay, mức vay,
thời hạn vay, lãi suất, hình thức quan lý, giải ngân vốn, các hoạt động hỗ trợ…
- Kết quả về hoạt động một số tổ chức tín dụng trong vòng 3 năm (2008-
2010): nguồn vốn cho vay, cách thức quản lý, tổng vốn vay, dư nợ…
13
3.2.3. Tình hình tiếp cận và sử dụng vốn vay của các hộ dân trong xã
- Tìm hiểu thông tin chung về hộ
- Tìm hểu tình hình tiếp cận nguồn vốn của người dân trong xã
+ Hiều biết của người dân về các nguồn vốn tín dụng
+ Họ thường vay vốn ở những nguồn nào
+ Hình thức vay vốn
+ Đánh giá của người dân về lãi suất cho vay của các nguồn tín dụng
- Tình hình sử dụng vốn vay của các hộ dân trong xã
+ Mục đích của sử dụng vốn vay
+ Tác động đến cơ cấu sản xuất và thu nhập
+ Hiệu quả các nguồn thu có liên quan đến vốn vay
- Những vấn đề người dân gặp phải khi tiếp cận với các hoạt động tín dụng.
3.2.4. Một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng tiếp cận và hiệu quả sử
dụng vốn vay của người dân.
3.3. Phương pháp nghiên cứu
3.3.1. Phương pháp chọn điểm, chọn mẫu
* Chọn điểm nghiên cứu: tiến hành nghiên cứu tại xã Hương Toàn, huyện
Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế, bởi vì đây là địa bàn có tỷ lệ số hộ vay vốn
lớn và là nơi có hoạt động tín dụng khá mạnh trong những năm qua.
* Chọn mẫu nghiên cứu:
- Tiêu chí chộn mẫu: các hộ có tham gia vay vốn hoặc những hộ có nhu
cầu vay vốn nhưng chưa được vay đang sinh sống tại xã Hương Toàn.
- Số lượng mẫu: phỏng vấn 30 hộ trong đó đảm bảo có hộ khá, hộ trung
bình và hộ nghèo.
3.3.2. Phương pháp thu thập thông tin
3.3.2.1. Thu thập điều tra số liệu thứ cấp
- Các số liệu đã được công bố: sách báo, báo cáo khoa học, các tài liệu
nghiên cứu, các tạp chí, kỷ yếu hội thảo khoa học, thông tin trên internet… có
liên quan đến chủ đề nghiên cứu.
- Thu thập dữ liệu thứ cấp tại xã: các báo cáo, tài liệu lưu trữ, số liệu
thống kê về tình hình vay vốn, số liệu thống kê về tình hình kinh tế - xã hội
của xã Hương Toàn từ 2008 – 2010.
14
- Ngoài ra, còn sử dụng các báo cáo, khóa luận và kết quả nghiên cứu
về địa bàn của nhiều tác giả để làm nguồn tài liệu tham khảo.
3.3.2.2. Thu thập điều tra số liệu sơ cấp
* Thông tin cấp cộng đồng
- Phỏng vấn cán bộ xã (phó chủ tịch) bằng hệ thống các tiểu chủ đề.
- Phỏng vấn người am hiểu (trưởng thôn, hội Nông dân, Hội Phụ nữ,
đoàn Thanh niên…) để thu thập những thông tin:
+ Thông tin tình hình vay vốn trên địa bàn xã
+ Tình hình tiếp cận vốn tín dụng của người dân
+ Tình hình sử dụng vốn của người dân
+ Quy trình, thủ tục khi vay vốn
+ Tìm hiểu thông tin về những tồn tại, bất cập trong quản lý vốn
- Phỏng vấn cán bộ các tổ chức tín dụng để thu thập những thông tin về:
+ Quy chế hoạt động tín dụng trên địa bàn xã trong vòng ba năm gồm:
đối tượng mục tiêu, mức vay, thời hạn, lãi suất, thế chấp, các hoạt động hổ
trợ, quản lý và sử dụng vốn tín dụng.
+ Kết quả hoạt động tín dụng toàn xã trong vòng ba năm từ 2008 – 2010.
- Thảo luận nhóm người dân: tiến hành thảo luận một nhóm gồm 8 người
có hoạt động vay vốn để thu thập những thông tin chung của hoạt động tín dụng
trên địa bàn xã và làm cơ sở để kiểm tra chéo thông tin phỏng vấn hộ.
* Thông tin cấp hộ
Tiến hành phỏng vấn 30 hộ vay vốn theo danh sách vay vốn do cán bộ
tín dụng cung cấp bằng bảng hỏi bán cấu trúc để thu thập thông tin:
- Tình hình chung của hộ
- Thực trạng về mức sống, thu nhập của hộ
- Thực trạng về vay vốn của hộ
- Cách tiếp cận vốn tín dụng của các hộ sản xuất
- Hiểu biết của hộ về các tổ chức tín dụng, các yếu tố ảnh hưởng đến
quyết định vay vốn của hộ
- Quy trình, thủ tục vay vốn của các tổ chức tín dụng
- Thông tin về hoạt động tín dụng: số vốn được vay, nguồn vốn vay,
thời gian, lãi suất khi vay, mục đích sử dụng vốn vay
15
- Đánh giá của người dân về lãi suất, thủ tục, quy trình cho vay
- Đề xuất kiến nghị của người dân để cho hoạt động tín dụng đem lại
hiệu quả tốt hơn
3.3.3. Xử lý số liệu
Xử lý số liệu thu thập bằng phần mềm Excel
3.3.4. Một số chỉ tiêu phân tích
3.3.4.1. Đối với các tổ chức tín dụng
- Doanh số cho vay
- Doanh số thu nợ
- Dư nợ cuối kỳ
- Nợ quá hạn
3.3.4.2. Đối với hoạt động tín dụng của hộ
* Khả năng tiếp cận nguồn vốn của hộ
- Hiểu biết của hộ về các tổ chức tín dụng
- Số lượng vốn được vay bình quân của hộ
- Yếu tố quyết định vay vốn của hộ
- Mối quan tâm của hộ khi đi vay
- Mức vay vốn của hộ tại các tổ chức tín dụng trên địa bàn xã
* Tình hình sử dụng vốn của hộ
- Tình hình nhà ở
- Mục đích sử dụng vốn vay của hộ
- Nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng vốn vay
- Mức độ tham gia vào các hoạt động xã hội
16
PHẦN 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Đặc điểm cơ bản của địa bàn nghiên cứu
4.1.1. Đặc điểm tự nhiên của xã Hương Toàn
*Vị trí địa lý:
Xã Hương Toàn thuộc huyện Hương Trà nằm ở vị trí phía Bắc TP Huế và
dọc theo Quốc lộ 1A 9Km, cách trung tâm huyện về phía Tây Nam 6Km.
Phía Đông giáp xã Hương Vinh, Hương Sơ.
Phía Tây giáp xã Hương Xuân.
Phía Nam giáp xã Hương Chữ.
Phía Bắc giáp xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền.
Tổng diện tích tự nhiên 1.220 ha, toàn xã có 12 đơn vị thôn, giáp. Là
một xã đồng bằng của huyện Hương Trà chủ yếu là diện tích ruộng thấp
trũng, có chiều dài 5km tuyến đường tỉnh lộ 8B đi qua đã được xây dựng hoàn
thành năm 2000 chạy dọc từ làng Hương Cần đến Nam Thanh khá thuận lợi
cho việc vận chuyển hàng hoá [1].
*Địa hình
Xã Hương Toàn với địa hình, địa thế có phần đơn giản, giới hạn độ cao
so với mặt nước biển không quá 2,2 m, thấp nhất 0,2 m. Hình dạng bề mặt
chủ yếu là bằng phẳng, đều được cấu tạo bởi lớp trầm tích trẻ chủ yếu là phù
sa được bồi, thành phần cơ giới thịt trung bình, tầng canh tác thường dày trên
20 cm rất thuận lợi cho cây trồng phát triển [1].
* Thời tiết khí hậu
Khí hậu là một yếu tố khách quan ảnh hưởng lớn đến quá trình sinh
trưởng và phát triển của hệ thống cây trồng, ảnh hưởng đến các hoạt động sản
xuất khác của người dân là nhân tố quyết định đến năng suất và phẩm chất
của nông sản. Khí hậu của xã Hương Toàn nằm trong vùng khí hậu Bắc
Trung Bộ.
Khí hậu thời tiết của xã cũng mang tính chất chung thời tiết của huyện
Hương Trà, bên cạnh đó cũng mang những đặc điểm riêng của khí hậu vùng
đồng bằng.
17
- Chế độ thuỷ nhiệt : Nhiệt độ trung bình hằng năm là 25,0
o
C, nhiệt độ
cao nhất là 40
o
C, nhiệt độ thấp nhất là 10,5
o
C. Tổng tích nhiệt năm là 9150
o
C, số giờ nắng trung bình năm là 1952 giờ.
- Chế độ mưa : Lượng mưa phân bố không đều trong năm, tập trung
mưa bắt đầu từ tháng 9 và kết thúc vào cuối tháng 12 hàng năm, Lượng mưa
tập trung cao nhất từ tháng 9 đến tháng 11 hàng năm, vào những tháng này
thường xảy ra lũ lụt và lượng mưa giai đoạn này chiếm 70 – 75% lượng mưa
cả năm, lượng mưa trung bình năm 2.500mm. Lượng mưa thấp nhất 200mm.
Số ngày mưa bình quân hàng năm là 153 ngày.
- Chế độ gió : Chế độ gió diễn biến theo mùa và được phân thành hai
mùa rõ rệt :
+ Gió Tây Nam khô nóng xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 7 hàng năm
+ Gió Đông Bắc ẩm lạnh kéo dài từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, mang
theo không khí lạnh. Tháng 1 thời kỳ gió Đông Bắc hoạt động mạnh nhất.
Bão thường xuyên xuất hiện từ tháng 8, tập trung và thường xảy ra từ
tháng 9 đến tháng 10.
- Độ ẩm : Độ ẩm tương đối bình quân là 84,5% độ ẩm thấp tuyệt đối là
15%, tính chất của các dòng không khí khác nhau trong các mùa đã tạo nên
thời kỳ khô và ẩm khác nhau, mùa đông có độ ẩm lớn và có nhiều mưa nhất.
-Thuỷ văn :
Ranh giới phía Bắc của xã là lưu vực sông Bồ. Lưu lượng nước mùa mưa
lớn, mực nước lũ trung bình hàng năm lên tới 1,5m, riêng mực nước lũ tháng
11 năm 1999 lên tới trên 3m, lòng sông hẹp, quanh co, nhưng không dốc, do
đó nước trong mùa mưa thoát chậm, gây úng lụt. Lưu lượng nước lớn cho nên
gây hiện tượng sạt lở bờ sông, nhất là 3 đoạn:
- Đoạn phía Bắc thôn Dương Sơn, Cổ Lão giáp xã Hương Xuân 500m
- Đoạn Liểu Hạ đến đầu thôn Giáp Trung 900m
- Đoạn giáp thôn An Thuận 900m
Ngoài ra trong xã có nhiều con hói nhỏ góp phần điều hoà nguồn nước
rất thuận lợi cho cung cấp nước đồng ruộng.
* Tình hình đất đai của xã
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của bất kỳ quốc gia, của khu vực
nói chung và của xã Hương Toàn nói riêng. Hầu hết các hoạt động sản xuất
18
trên bất kỳ lĩnh vực nào thì đất đai vừa là tư liệu sản xuất vừa là đối tượng sản
xuất có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả và hiệu quả sản xuất. Để đánh giá quy
mô cũng như tình hình sử dụng đất đai của xã Hương Toàn, chúng ta xem kết
quả thống kê diện tích các loại đất ở bảng 1.
Đất nông nghiệp 2010 so với năm 2009 giảm 1,38ha tương ứng với
giảm 0,21% trong tổng diện tích tự nhiên, trong đó chủ yếu là giảm diện tích
trồng màu và diện tích đất NTTS bởi đây là vùng đồng bằng bán sơn địa nên
việc trồng màu và NTTS không mang lại hiệu quả cao. Mặt khác diện tích
trồng lúa tăng mạnh 6,28ha tương ứng 1,13% so với đất nông nghiệp, diện
tích này chủ yếu chuyển từ đất màu và đất NTTS.
Biến động đất phi nông nghiệp cũng tăng lên mà chủ yếu là sự tăng lên
của diện tích đất thổ cư với 1,52ha trong tổng diện tích tự nhiên, sự tăng lên
này bởi vì dân số ngày càng tăng nên nhu cầu về nhà ở tăng.
Diện đất chưa sử dụng cũng có xu hướng giảm năm 2010 so với 2009
giảm 0,7ha tương ứng 0,39% so với diện tích tự nhiên, điều này thể hiện nhu
cầu sản xuất của người dân càng tăng nên loại đất chưa được sử dụng cũng
được người dân khai thác để phục vụ sản xuất.
19
Bảng 1: Tình hình sử dụng đất của xã Hương Toàn
STT Chỉ tiêu
2008 2009 2010
So sánh
2009/2008 2010/2009
Diện
tích
(ha)
Tỷ lệ
(%)
Diện
tích
(ha)
Tỷ lệ
(%)
Diện
tích
(ha)
Tỷ lệ
(%)
+
-
%
+
-
%
Tổng DT đất TN
1.220,0
0
100,0
0 1.220,00
100,0
0 1.220,00
100,0
0 0,00 0,00 0,00 0,00
1 Tổng DT đất NN 653,36 53,55 653,36 53,55 651,98 53,44 0,00 0,00 -1,38 -0,21
1.1 Đất trồng lúa 555,72 45,55 556,72 45,63 563,00 46,15 1,00 0,18 6,28 1,13
1.2 Đất trồng cây màu 78,00 6,39 77,88 6,38 74,50 6,11 -0,12 -0,15 -3,38 -4,34
1.3 Đất trồng cây lâu năm 6,25 0,51 6,25 0,51 6,25 0,51 0,00 0,00 0,00 0,00
1.4 Đất NTTS 13,39 1,10 12,51 1,03 8,23 0,67 -0,88 -6,57 -4,28 -34,21
2 Đất phi NN 548,32 44,94 548,57 44,96 550,02 45,08 0,25 0,05 1,45 0,26
2.1 Đất ở 97,30 7,98 97,62 8,00 99,14 8,13 0,32 0,33 1,52 1,56
2.2 Đất mặt nước 135,95 11,14 135,95 11,14 135,95 11,14 0,00 0,00 0,00 0,00
2.3 Đất chuyên dụng 315,07 25,83 315,00 25,82 314,93 25,81 -0,07 -0,02 -0,07 -0,02
3 Đất chưa sử dụng 18,32 1,50 18,07 1,48 18,00 1,48 -0,25 -1,36 -0,07 -0,39
20
(Nguồn: Thống kê xã Hương Toàn, 2011)
21
* Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên của xã :
- Lợi thế: Là một xã vùng đồng bằng có diện tích khá rộng lớn, đất đai
được xác định là màu mỡ, có tuyến đường tỉnh lộ 8B chạy xuyên suốt nối từ
Hương Cần đến Nam Thanh, trên địa bàn các tuyến đường thôn xóm hết 90%
là đường bê tông. Là địa bàn có nền kinh tế nông nghiệp khá phát triển với thế
mạnh về phát triển cây lúa, bên cạnh đó việc phát triển kinh tế trồng cây ăn
quả, chăn nuôi gia súc cũng đem lại hiệu quả đáng kể. Lao động ở đây cần cù,
chịu khó và cũng nhạy bén trong việc áp dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật
vào sản xuất, chăn nuôi. Cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương đã có nhiều
Nghị quyết chuyên đề để khuyến khích nhân dân trên địa bàn khai thác tối đa
lợi thế tiềm năng đất đai để làm giàu cho gia đình và xã hội.
- Hạn chế: Bên cạnh những thuận lợi cũng còn có những khó khăn nhất
định. Là địa bàn vùng đồng bằng do vậy hệ thống sông hói chia cắt nên việc
đi lại và vận chuyển vật tư, hàng hoá vào vùng sản xuất và ngược lại còn gặp
nhiều khó khăn, bởi hệ thống hạ tầng vào các vùng sản xuất còn nhiều hạn
chế. Khí hậu thời tiết nằm trong khu vực miền Trung nên cũng chịu ảnh
hưởng rất lớn của khí hậu thời tiết khắc nghiệt, mùa hạ nắng kéo dài kèm theo
gió Tây Nam khô nóng; còn vào mùa mưa khí hậu lạnh, lượng mưa tập trung
từ tháng 8 đến tháng 10 dương lịch gây ra lũ lụt, ngập úng làm ảnh hưởng rất
lớn đến sản xuất đời sống dân sinh, đặc biệt là sự sinh trưởng và phát triển
của cây trồng chủ yếu là cây lúa và vật nuôi. Mặc dù diện tích tự nhiên trên
địa bàn xã khá rộng lớn song việc quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn
chưa đạt hiệu quả.
4.1.2. Đặc điểm kinh tế xã hội của xã
4.1.2.1. Về kinh tế
Toàn xã hơn 85% dân số sống về nông nghiệp và các ngành nghề thủ
công: Nấu rượi gạo, làm cốm, chằm nón, làm bún và các ngành nghề dịch vụ
khác. Theo thống kê đến 2010 thì tình hình kinh tế của xã như sau:
* Trồng trọt: Diện tích trồng lúa 1126 ha, năng suất bình quân 56 tạ/ha so
với kế hoạch đạt 96,54 %. Sản lượng 6.305 tấn. Diện tích rau màu 149 ha, sản
lượng 670 tấn.Tổng sản lượng lương thực 6.935 tấn so với kế hoạch đạt 99,07%.
- Tỉ lệ sử sụng giống lúa cấp I đạt 95%, đạt 100% kế hoạch.
22
- Diện tích sản xuất giống lúa cấp I cả năm: 10 ha.
Giá trị sản xuất bình quân 1 ha canh tác: 50.000.000đ.
* Chăn nuôi: đàn trâu bò 202 con. đàn lợn 8.550 con. Cá lồng 198lồng,
sản lượng: 39,4 tấn. Hồ nuôi cá: 9,1 ha. Sản lượng cá: 36,3 tấn.
* Sản xuất TTCN, xây dựng, thương mại và dịch vụ:
- Tình hình phát triển kinh doanh: một số sản phẩm chủ yếu như: rượu,
làm bún, cốm, cát sạn, gạch ngói, bờ lô mộc nề dân dụng, buôn bán hàng
hoá và dịch vụ sửa chửa.
- Đầu tư xây dựng: đang thực hiện triển khai xây dựng trạm y tế xã
cao tầng, hiện nay đã làm xong phần thô và đang tiếp tục làm phần hoàn
thiện. Tiến hành xây dựng trạm bơm điện HTX Tây Toàn tại Cầu Chán và
500m kênh mương cấp 1. Làm đường giao thông nông thôn tại thôn Vân Cù,
đoạn từ đường tỉnh lộ 8B đến xóm 2. Xây dựng và làm kè chống xói lở tại
Giáp Trung chiều dài 509m.
4.1.2.2. Dân số, lao động
Số liệu ở bảng 2 cho thấy, tổng số hộ của xã có xu hướng tăng thêm.
Năm 2010 so với năm 2009 tăng 9 hộ tương ứng tăng 0,33%. Nguyên nhân này
chủ yếu là do sự tách hộ, tức là các thành viên trong mỗi gia đình đến độ tuổi
trưởng thành có gia đình và tách ra ở riêng hình thành chủ hộ gia đình mới sinh
sống và làm nghề nông nghiệp hoặc phi nông nghiệp gắn bó trên địa bàn.
Tổng số hộ tăng lên nhưng do thu nhập từ hoạt động sản xuất phi nông
nghiệp trên địa bàn mang lại hiệu quả thấp nên số hộ phi nông nghiệp có xu
hướng giảm. Năm 2008 là 821 hộ đến năm 2009 là 817 hô giảm 4 hộ ứng với
0,49% và đến 2010 là 810 hộ giảm 7 hộ tương ứng 0,86% so với năm 2009.
theo đó số hộ nông nghiệp có xu hướng tăng lên qua các năm, năm 2009 tăng
12 hộ so với năm 2008 và đến 1010 tăng 16 hộ so với năm 2009.
Mặc dù số hộ nông nghiệp tăng và số hộ phi nông nghiệp giảm nhưng
lao động trông lĩnh vực nông nghiệp và phi nông nghiệp thì trái lại, lao động
trong lĩnh vực nông nghiệp có xu hướng giảm và lao động trong lĩnh vực phi
nông nghiệp và lao động khác tăng. Sự biến đổi đó bởi lẽ do đặc điểm đây là
vùng chuyên sản xuất nông nghiệp nhưng hiện nay đã có cơ giới hóa, sản xuất
tập trung nên lao động trong nông nghiệp giảm mạnh và thay thế vào lĩnh vực
phi nông nghiệp và lao động khác.
23
Bảng 2: Dân số và cơ cấu lao động của xã
Chỉ tiêu ĐVT
2008 2009 2010 2009/2008 2010/2009
Số Lượng
Tỷ lệ
(%)
Số Lượng
Tỷ lệ
(%)
Số Lượng
Tỷ lệ
(%)
+
-
Tỷ lệ
(%)
+
-
Tỷ lệ
(%)
1. Tổng số hộ Hộ 2.682,00
100,0
0 2.690,00
100,0
0 2.699,00
100,0
0 8,00 0,30 9,00 0,33
1.1. Hộ NN Hộ 1.861,00 69,39 1.873,00 69,63 1.889,00 69,99 12,00 0,64 16,00 0,85
1.2. Hộ phi NN Hộ 821,00 30,61 817,00 30,37 810,00 30,01 -4,00 -0,49 -7,00 -0,86
2. Tổng số nhân khẩu Khẩu
13.442,0
0
100,0
0
13.591,0
0
100,0
0
13.679,0
0
100,0
0
149,0
0 1,11 88,00 0,65
2.1. Nam Khẩu 6.628,00 49,31 6.761,00 49,75 6.832,00 49,95
133,0
0 2,01 71,00 1,05
2.2. Nữ Khẩu 6.814,00 50,69 6.830,00 50,25 6.847,00 50,05 16,00 0,23 17,00 0,25
3. Tổng số LĐ LĐ 6.071,00
100,0
0 6.040,00
100,0
0 6.014,00
100,0
0 -31,00 -0,51 -26,00 -0,43
3.1. LĐ NN LĐ 3.186,00 52,48 3.099,00 51,31 3.047,00 50,67 -87,00 -2,73 -52,00 -1,68
3.2. LĐ phi NN LĐ 2.016,00 33,21 2.073,00 34,32 2.086,00 34,69 57,00 2,83 13,00 0,63
3.3. LĐ khac LĐ 869,00 14,31 875,00 14,49 881,00 14,65 6,00 0,69 6,00 0,69
4. Một số chỉ tiêu BQ
23
4.1. BQ nhân khẩu/hộ Kh/hộ 5,01 5,05 5,07 0,04 0,02
4.2. BQ LĐ/hộ LĐ/hộ 2,26 2,25 2,23 -0,02 -0,02
(Nguồn: Thống kê xã Hương Toàn, 2011)
23

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×