Tải bản đầy đủ

Bài giảng Cơ sở văn hóa Việt Nam

Nguyễn Văn Huy Page 1 of 32


Chương 1: VĂN HÓA HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

1.1. Văn hóa và văn hóa học
1.1.1. Văn hóa và các khái niệm có liên quan
a. Quan niệm về văn hoá
 Ở phương Đông
 Người Trung Quốc quan niệm:
- Khổng Tử, nhà triết – luân lý ở thời Xuân thu (thế kỷ VI trước C.N) nói đến “văn”
là cái do người làm nên, không tự nhiên mà có.
- “Thập niên chi kế, mạc như thụ mộc; bách niên chi kế, mạc như thụ nhân” - Tính kế
làm lợi trong mười năm, không chi hơn trồng cây; tính kế làm lợi trong trăm năm không chi hơn
trồng người – bồi dưỡng nhân tài.
- Quẻ “Bi” trong “Chu dịch”: “Quan hề nhân văn dĩ hóa thiên hạ” - xem dáng vẻ con
người, lấy đó mà giáo hóa thiên hạ.
- Lưu Hướng (năm 77 – 76 B.C): “văn trị giáo hóa" – dùng “văn” để “hóa”.
→ Văn hoá ở đây được dùng đối lập với vũ lực (phàm dấy việc võ là không phục tùng, dùng
văn hóa mà không sửa đổi, sau đó mới thêm chém giết).
 Ở Việt Nam:

- Theo chiết tự của tiếng Hán: Văn: đẹp; hóa: trở nên, biến cải => làm cho cái gì trở
nên đẹp có giá trị là văn hóa.
- Theo nghĩa rộng: văn hóa là những tập quán đặc biệt, có tính điển hình đối với từng
nhóm người nhất định trong một phạm vi nhất định. Như vậy, theo nghĩa rộng nhất văn hóa là một hệ
thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo.
- Theo nghĩa hẹp: văn hoá còn được giới hạn theo chiều sâu hoặc theo chiều rộng,
theo không gian hoặc theo thời gian
+ Giới hạn theo chiều sâu: văn hóa được hiểu là những giá trị tinh hoa của nó
(nếp sống văn hóa, văn hóa nghệ thuật ).
+ Giới hạn theo chiều rộng: văn hóa được dùng để chỉ những giá trị trong
từng lĩnh vực (văn hóa giao tiếp, văn hóa kinh doanh ).
+ Giới hạn theo không gian: văn hóa được dùng để chỉ những giá trị đặc thù
của từng vùng (văn hóa Tây Nguyên, văn hóa Nam Bộ ).
+ Giới hạn theo thời gian, văn hóa được dùng để chỉ những giá trị trong từng
giai đoạn (văn hóa Hoà Bình, văn hóa Đông Sơn )
- Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Muốn có lợi ích mười năm phải trồng cây, muốn
có lợi ích trăm năm phải trồng người” – “Văn hóa” = giáo dục= “trồng người”.

2
 Ở phương Tây
 Từ văn hoá dưới vỏ ngôn ngữ
- Trong tiếng Pháp, Anh: Culture Culture và Kultur đều bắt
- Trong tiếng Đức: Kultur nguồn từ chữ Latin là Cultus (hoặc
Cultura) mang nghĩa “trồng trọt, cư trú, luyện tập, lưu tâm”. Có 2 loại “trồng trọt”
Cultus agri: trồng trọt ngoài đồng- thích ứng và khai thác tự nhiên
Cultus animi: trồng trọt tinh thần - giáo dục đào tạo cá thể hay cộng đồng để họ
không còn là con vật, bồi dưỡng tâm hồn con người
 Quan niệm về văn hoá trong lịch sử phương Tây:
- Thế kỷ XVII – XVIII: thuật ngữ “văn hoá” có nghĩa “canh tác tinh thần” bên cạnh
nghĩa gốc là “quản lý, canh tác nông nghiệp”.
- Thế kỷ XIX: các nhà nhân loại học phương Tây dùng cả hai khái niệm “văn hóa/văn
minh” để phân loại trình độ văn hóa từ thấp đến cao. Họ cho rằng văn hóa phương Tây chiếm vị trí
cao nhất.
- Thế kỷ XX: nhiều học giả thống nhất quan điểm “sự khác nhau về mặt văn hoá từng
dân tộc không phải theo tiêu chuẩn trí lực mà xét ở góc độ khác biệt”.
Như vậy, ta thấy có sự gặp gỡ giữa tư tưởng của phương Tây và phương Đông về văn hóa
(là sự giáo dục con người, là cái đối lập với tự nhiên).

Ở cả phương Đông và phương Tây từ “văn hoá” đều chỉ những hoạt động “vật chất” và “tinh
thần” của con người trong quan hệ với tự nhiên và xã hội nhằm xây dựng cuộc sống ngày một tốt


đẹp hơn.

 Các định nghĩa văn hoá
Hiện nay, số lượng khái niệm văn hóa có thể lên tới con số hàng nghìn, bởi thực tế “văn hóa”
có rất nhiều cách hiểu và mỗi nhà nghiên cứu tìm hiểu ở một khía cạnh nào đó thì sẽ đưa ra một khái
niệm thiên về lĩnh vực mình nghiên cứu.
 Định nghĩa văn hoá của UNESCO (1992):
- Theo nghĩa rộng: “Văn hoá hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt, tinh
thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người
trong xã hội. Văn hoá bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của
con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng. Văn hoá đem lại cho con người
khả năng suy xét về bản thân. Chính văn hoá làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân
bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý. Chính nhờ văn hoá mà chúng ta xét đoán
được những giá trị và thực thi những sự lựa chọn. Chính nhờ văn hoá mà con người tự thể hiện, tự ý
thức được bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình
vượt trội lên bản thân”.

3
- Theo nghĩa hẹp: “Văn hoá là tổng thể những hệ thống biểu cảm (ký hiệu) chi phối
cách ứng xử và giao tiếp trong một cộng đồng, khiến cộng đồng ấy có đặc thù (so với cộng đồng
khác).
 Một số học giả Mỹ: “Văn hoá là tấm gương nhiều mặt phản chiếu đời sống và nếp
sống của một cộng đồng dân tộc”.
 GS. Trần Quốc Vượng (trong Văn hoá học đại cương và cơ sở văn hoá Việt Nam,
Nxb KHXH, H.,1996) còn nhấn mạnh thêm: “Văn hoá bao gồm hệ thống những giá trị để đánh giá
một sự việc, một hiện tượng (đẹp hay xấu, đạo đức hay vô luân, phải hay trái, đúng hay sai…) theo
cộng đồng ấy”.
 GS. Đào Duy Anh viết trong Việt Nam văn hóa sử cương (Nxb Tp HCM, tái bản,
HCM.,1992): “Theo giới thuyết của Félix Sartiaux thì văn hoá, về phương diện động, là cuộc tiến
triển tiến bộ mà không ngừng của những tác dụng xã hội về kỹ thuật, kinh tế, tư tưởng, nghệ thuật, xã
hội tổ chức, những tác dụng ấy tuy liên lạc mà vẫn riêng nhau. Về phương diện tĩnh thì văn hoá là
trạng thái tiến bộ của những tác dụng ấy ở một thời gian nhất định và tất cả các tính chất mà những
tác dụng ấy bày ra ở các xã hội loài người”. Đây cũng là cách nhìn tương tự của các nhà nghiên cứu
văn hoá nổi tiếng Việt Nam khác như Nguyễn Văn Huyên (Văn minh của người Việt Nam), Phan Kế
Bính (Việt Nam phong tục).
 Nhà nghiên cứu văn hoá Phan Ngọc (Văn hoá Việt Nam và cách tiếp cận, Nxb Văn
hoá – Thông tin, H.,1994, tr.105): “Văn hoá là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng và thế giới thực
tại. Quan hệ ấy biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của một tộc người (một cá nhân) so với một
tộc người (một cá nhân) khác. Nét khu biệt các kiểu lựa chọn làm cho chúng khác nhau, tạo thành
những nền văn hoá khác nhau là độ khúc xạ. Tất cả mọi cái mà một tộc người tiếp thu hay sáng tạo
đều có một độ khúc xạ riêng có mặt ở mọi lĩnh vực và rất khác độ khúc xạ ở một tộc người khác”
 Viện sĩ Trần ngọc Thêm (Cơ sở văn hoá Việt Nam, Nxb Giáo dục, H.,1999): “Văn
hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá
trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội”. →
Định nghĩa này có dụng ý chỉ ra 4 đặc trưng quan trọng nhất của văn hoá – đó là tính hệ thống, tính
giá trị, tính lịch sử và tính nhân sinh.
 Đề cương văn hoá – 1943 của Đảng Cộng sản Việt Nam: “Văn hoá bao gồm cả tư
tưởng, học thuật (tức là khoa học và kỹ thuật), nghệ thuật”. Văn hoá cũng được coi là một trong 3 mặt
trận của Cách mạng Việt Nam (mặt trận kinh tế, mặt trận chính trị, mặt trận văn hoá).
Tóm lại
Văn hoá là một hệ thống tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần do một cộng đồng
người nhất định sáng tạo ra, là cách thức con người sáng tạo và sử dụng các giá trị ấy trong quá
trình hoạt động thực tiến – tức là trong quá trình nhận thức và tương tác của mình với tự nhiên,
với xã hội cũng như quá trình tự nhận thức, tự hoàn thiện bản thân – để chủ động nhân đạo hóa
ngày càng cao cuộc sống của mình.

4

b. Khái niệm văn minh
 Xét trong vỏ từ vựng
- Từ văn minh trong tiếng Pháp là Civilisation, trong tiếng Anh là Civilization: đều có nghĩa
là hoạt động khai hóa, làm cho thoát khỏi trạng thái nguyên thủy. Chúng có chung nguồn gốc Latin là
civitas với nghĩa gốc là đô thị, thành phố và các nghĩa phái sinh là thị dân, công dân.
- Hán – Việt: văn là vẻ đẹp tia sáng của đạo đức biểu hiện ở:
minh là sáng chính trị, pháp luật, văn học, nghệ thuật.
 Các quan niệm về văn minh
 Trong tiếng Đức từ “văn minh” để chỉ các xã hội đã đạt được tới giai đoạn tổ chức
đô thị và có chữ viết.
 W. Đuran sử dụng khái niệm văn minh để chỉ sự sáng tạo văn hoá, nhờ một trật tự xã
hội gây ra và kích thích. Văn minh được dùng theo nghĩa tổ chức xã hội, tổ chức quản lý và hoạt động
văn hoá.
 Theo F.Ăngghen, văn minh là chính trị khoanh văn hoá lại và sợi dây liên kết văn
minh là Nhà nước.
 Các học giả Anh, Pháp thường sử dụng lẫn lộn hai khái niệm “văn hoá” và “văn
minh” để chỉ toàn bộ sự sáng tạo và các tập quán tinh thần – vật chất riêng cho mọi tập đoàn người.
 Theo GS. Trần Quốc Vượng: văn minh là trình độ phát triển nhất định của văn hoá
về phương diện vật chất, đặc trưng cho một khu vực rộng lớn, một thời đại hoặc cả nhân loại.

Như vậy, các cách hiểu về văn minh có những vấn đề cơ bản sau:
+ Văn minh là sự sáng tạo của văn hoá.
+ Văn minh là một trình độ phát triển nhất định của văn hoá.
+ Văn minh chỉ một trình độ kỹ thuật.
+ Văn minh đặc trưng cho 1 không gian văn hoá tương đối rộng lớn.
+ Văn minh phải đặc trưng cho một thời gian văn hoá tương đối dài.
→ Tất cả các vấn đề này được thể hiện trong 4 yếu tố cơ bản: đô thị, chữ viết, nhà nước,
trình độ kỹ thuật.
Văn minh là sự kết hợp đầy đủ các yếu tố tiên tiến tại thời điểm xét đến để tạo nên, duy trì, vận
hành và tiến hóa xã hội loài người. Các yếu tố của văn minh có thể hiểu gọn lại là di sản tích lũy
tri thức, tinh thần và vật chất của con người kể từ khi loài người hình thành cho đến thời điểm xét
đến. → Văn minh là trạng thái tiến bộ về cả hai mặt vật chất và tinh thần của xã hội loài người,
tức là trạng thái phát triển cao của nền văn hoá. Đối nghịch với văn minh là man rợ, hoang dã, lạc
hậu.




5
c. Khái niệm văn hiến, văn vật
 Văn hiến: Ở phương Đông, từ xa xưa đã phổ biến khái niệm “văn hiến” (ở phương Tây
không có khái niệm “văn hiến, văn vật” nên không thể dịch chính xác 2 thuật ngữ này ra ngôn ngữ
phương Tây).
 Ở Trung Quốc: Khổng Tử nói trong Luận ngữ “Lễ của đời Hạ, ta có thể nói được,
nhưng nước Kỉ (nước còn bảo tồn lễ của đời Hạ) không đủ chứng minh; lễ của đời Ân, ta có thể nói
được, nhưng nước Tống (nước còn bảo tồn lễ của đời Ân) không đủ chứng minh. Đó là vì văn hiến
không đủ, nếu đủ thì ta có thể chứng minh” → Như vậy, văn hiến là một thuật ngữ chỉ chung sử sách
và các chế độ chính sách. Có sử sách tức là đã bước vào thời kỳ văn minh.
 Ở Việt Nam:
- Từ thời Lý (1010), người Việt đã tự hào nước mình là một “văn hiến chi bang”.
- Đến đời Lê (thế kỷ XV), Nguyễn Trãi viết trong “Bình Ngô đại cáo”:
“Duy ngã Đại Việt chi quốc
Thực vi văn hiến chi bang
… Sơn xuyên chi cương vực ký thù
Nam Bắc chi phong tục diệc dị”.
→ Văn hiến ở đây là một khái niệm rộng chỉ một nền văn hóa cao - gần với nghĩa
“trình độ phát triển văn hoá” của từ văn minh – trong đó nếp sống tinh thần, đạo đức được chú trọng.
- GS. Đinh Gia Khánh (Văn học Việt Nam thế kỷ X – nửa đầu thế kỷ XVIII, t.I, Nxb
Đại học và Trung học chuyên nghiệp, H.,1978, tr.374) đã phân tích: “văn” trong văn hiến là văn minh,
còn “hiến” là nhân tài. Và ông cũng cho rằng “khái niệm văn hiến của người xưa tương đương với
khái niệm văn minh, văn hoá ngày nay, có điều lại nhấn mạnh vào vai trò của những nhân tài làm
động lực cơ bản cho sự phát triển của văn minh, văn hoá”.
- Trong từ điển tiếng Việt: văn hiến là truyền thống văn hóa lâu đời.
- GS. Đào Duy Anh giải thích: “văn hiến là sách vở, là nhân vật tốt trong một đời”.
Nói một cách khác, “văn” là văn hóa, “hiến” là hiền tài. Như vậy, văn hiến thiên về những giá trị tinh
thần do những người có tài đức chuyển tải, thể hiện tính dân tộc, tính lịch sử rõ rệt.
- GS. Vũ Dương Ninh (trong Lịch sử văn minh thế giới, Nxb Giáo dục, H., 1998) cho
rằng: dưới thời phong kiến ở phương Đông trước đây, khi chưa có chữ “văn minh” với nghĩa như
ngày nay thì chữ “văn hiến” thực chất là văn minh.
- GS. Cao Xuân Huy trong sách Tư tưởng phương Đông – gợi những điểm nhấn tham
chiếu, Nxb Văn học, H., 1995 đã nhiều lần dùng thuật ngữ “văn hiến” để chỉ thư tịch.

 Văn vật
- GS. Đào Duy Anh: văn vật là những sản vật của văn hoá như lễ nhạc, chế độ. “Vật” ở đây là
từ chỉ “những cái có trong khoảng trời đất”, chỉ “sự”, và “sự” là “việc người ta làm, hoặc các nghề
nghiệp”.

6
- TS. Trần Ngọc Thêm: văn vật là truyền thống văn hoá tốt đẹp biểu hiện ở nhiều di tích lịch
sử và nhiều nhân tài trong lịch sử.
- GS. Trần Quốc Vượng cho rằng: “vật” trong văn vật là “vật chất”.
 Như vậy, văn vật là khái niệm hẹp để chỉ những công trình, hiện vật có giá trị nghệ thuật và lịch sử,
khái niệm này cũng thể hiện sâu sắc tính dân tộc và tính lịch sử.

d. Bảng so sánh các khái niệm “văn hóa, văn minh, văn hiến, văn vật”
Khái niệm
Văn hoá
Văn hiến
Văn vật
Văn minh


Tính giá trị
Bao gồm cả giá
trị vật chất và giá
trị tinh thần.
Thiên về giá trị
tinh thần (truyền
thống văn hóa lâu
đời).
Thiên về giá trị
vật chất (nhân tài,
di tích, hiện vật).
Thiên về giá trị vật chất –
kỹ thuật.
Tính chủ thể

Đều do con người sáng tạo ra

Tính lịch sử


Có bề dày lịch sử (từ khi loài người ra đời cho đến nay)
Là một lát cắt đồng đại tại
một khoảng thời gian nhất
định (trong giai đoạn phát
triển cao của xã hội).

Phạm vi ảnh
hưởng

Mang tính dân tộc
Mang tính siêu dân tộc (khu
vực, quốc tế).
Nguồn gốc
Gắn bó nhiều hơn với phương Đông nông nghiệp.
Gắn bó nhiều hơn với
phương Tây đô thị.

1.1.2. Bản chất của văn hoá
- Theo Federico Mayor – Tổng giám đốc UNESCO – thì bản chất của văn hoá “Là sự thể
hiện và phản ánh một cách tổng quát và sôi động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và cả cộng
đồng người) đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diên xra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó
đã cấu thành một hệ thống các giá trị, truyền thống thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc
tự khẳng định bản sắc riêng của mình”.
- Trong tư tưởng Hồ Chí Minh:
+ Văn hoá là một bộ phận hợp thành toàn bộ đời sống xã hội của dân tộc và các quan
hệ kinh tế, cơ cấu kinh tế là nền tảng để phát triển văn hóa. “Văn hoá là một kiến trúc thượng tầng,
những cơ sở hạ tầng của xã hội có kiến thiết rồi, văn hoá mới kiến thiết được”.
+ Văn hoá là lĩnh vực của các giá trị nhân văn, là sản phẩm của trình độ phát triển của
con người. “Vì sự nghiệp trăm năm phải trồng người”.

7
+ Văn hoá do con người sáng tạo ra nhưng nó không mất đi cùng với các thế hệ người
tạo ra nó mà trái lại còn tạo lập được một phương thức nhằm gìn giữ các khả năng sáng tạo, các trình
độ chuẩn mực văn hoá của quan hệ xã hội.
+ Văn hóa mang tính dân tộc, các giá trị văn hoá của mọi dân tộc đều bình đẳng với
nhau.
+ Bản chất văn hoá gắn liền với lao động sản xuất, với khả năng sáng tạo của nhân
dân, với các chế độ kinh tế - chính trị - xã hội, với truyền thống mỗi dân tộc, với trình độ phát triển
của con người → Văn hoá là nội lực của mọi sự phát triển, đặc biệt, văn hoá luôn hướng tới sự phát
triển xã hội.
- Theo GS.TS Lê Ngọc Trà (trong Thách thức của sáng tạo – Thách thức của văn hoá, Nxb
Thanh niên, tr.257): “Bản chất của văn hoá là trình độ. Văn hoá càng phát triển, trình độ càng cao”.
- Theo David Hicks: Văn hoá mang bản chất của cá tính và chủng tộc – theo trường phái văn
hóa và cá tính trong những năm 1950 – 1960 tại châu Âu.
* Bản chất xã hội của văn hóa: Văn hóa không tự nhiên có mà do con người sáng tạo và tích
lũy. nó phản ánh phương thức tồn tại của con người và xã hội. Văn hóa hình thành trong đời sống
hiện thực, tồn tại trong tất cả các lĩnh vực hoạt động và quan hệ xã hội của con người.
Như vậy, văn hóa là tổng hòa các giá trị mà con người và xã hội đã tạo ra qua quá trình lịch
sử. Mỗi mô thức văn hóa đều là sản phẩm của tập thể/ của cộng đồng/xã hội được lưu truyền từ thế hệ
này qua thế hệ khác được giữ gìn phát triển thành truyền thống và di sản. Văn hóa chính là công cụ
phản ánh rõ nét đời sống xã hội của nhân loại trong từng thời kỳ lịch sử.
* Bản chất nhân văn của văn hoá: Văn hóa hướng con người tới những hệ giá trị cao đẹp,
cốt lõi trong xã hội: chân – thiện – mỹ. Có thể coi đây là ba trụ cột cốt lõi trong sự phát triển văn hóa
của nhân loại. Khi cái chân, cái thiện, cái mỹ bị xuống dốc, bị coi nhẹ hay lãng quên thì văn hóa cũng
đang trên bờ vực của sự xuống dốc suy đồi. Văn hóa hướng tới những giá trị cao đẹp nhằm hoàn thiện
con người, khiến cho con người trở nên nhân bản hơn, xã hội nhân văn hơn.

1.1.3. Chức năng của văn hoá
 Chức năng giáo dục: đây là chức năng bao trùm nhất của văn hoá, nó góp phần bồi dưỡng con
người, hướng lý tưởng, đạo đức và hành vi của con người vào “điều hay lẽ phải, điều khôn lẽ
thiệt” theo những khuôn mẫu, chuẩn mực mà xã hội quy định.
 Nguồn gốc phát sinh:
- Văn hoá có tính lịch sử, nó bao giờ cũng được hình thành trong một quá trình và
được tích lũy qua nhiều thế hệ; được duy trì bằng truyền thống văn hoá, tức là cơ chế tích lũy và
truyền đạt kinh nghiệm trong cộng đồng qua không gian và thời gian; được đúc kết thành những
khuôn mẫu xã hội và cố định hóa dưới dạng ngôn ngữ, phong tục, tập quán, nghi lễ, luật pháp, dư
luận…

8
- Tính lịch sử buộc văn hoá thường xuyên tự điều chỉnh, tiến hành phân loại và phân
bố các giá trị.
 Phương tiện thực hiện: là hệ thống chuẩn mực mà con người hướng tới, bao gồm:
- Những giá trị đã ổn định: truyền thống
- Những giá trị đang hình thành
 Hệ quả:
- Văn hoá đóng vai trò quyết định trong việc hình thành và hoàn thiện nhân cách.
- Đảm bảo tính kế tục của lịch sử
- Tạo cho lịch sử nhân loại và lịch sử mỗi dân tộc một sự phát triển liên tục.

 Chức năng nhận thức: tồn tại trong mọi hoạt động văn hoá. Nói cách khác, chức năng nhận thức
là chức năng đầu tiên của mọi hoạt động văn hoá, thiếu nó không thể nói tới chức năng nào khác.
 Nguồn gốc phát sinh:
+ Văn hoá hình thành và phát triển trong quá trình tương tác giữa con người với thiên
nhiên, với xã hội và với chính mình. Sự phát triển văn hoá gắn chặt với sự phát triển nhận thức.
Không có nhận thức thì không có văn hoá, không có phát triển.
 Phương tiện thực hiện là khả năng “nhận thức” của văn hoá.
 Hệ quả: chức năng nhận thức của văn hóa lại trở thành phương tiện, công cụ, con
đường để văn hóa thực hiện các chức năng các chức năng khác của mình.

 Chức năng giao tiếp
- Văn hoá là sản phẩm hoạt động thực tiễn của con người do vậy nó cũng là một hiện tượng
xã hội
 Nguồn gốc phát sinh: Do mang tính nhân sinh (con người sáng tạo ra văn hóa), văn
hoá trở thành sợi dây nối liền con người với con người và có tác dụng liên kết họ với nhau.
 Phương tiện thực hiện: bao gồm các thành tố của văn hóa như ngôn ngữ, phong tục,
tập quán…
 Hệ quả:
+ Đảm bảo tính liên hệ giữa người với người, giữa cộng đồng này với cộng đồng
khác, giữa quốc gia này với quốc gia khác.
+ Quy định những chuẩn mực và nội dung giao tiếp giữa các đối tượng giao tiếp khác
nhau.

 Chức năng tổ chức và điều chỉnh xã hội
 Nguồn gốc phát sinh:

9
- Văn hoá có mặt ở khắp mọi nơi của xã hội loại người, hiện diện ở tất cả mọi lĩnh
vực đời sống, trong suy nghĩ và hành động, trong tâm lý – tâm thức – tâm linh của mỗi người. Bởi
vậy, văn hoá có khả năng to lớn, mạnh mẽ và lâu bền trong tổ chức và điều chỉnh xã hội.
- Tính hệ thống của văn hóa giúp phát hiện những mối liên hệ mật thiết giữa các hiện
tượng, sự kiện thuộc một nền văn hoá cũng như các đặc trưng, quy luật hình thành – phát triển của nó.
- Tính giá trị của văn hóa giúp hình thành thước đo mức độ nhân bản của xã hội và
con người. Hệ thống các giá trị văn hoá là “khả biến”, luôn phù hợp với thực tế giúp cho xã hội duy
trì được trạng thái cân bằng động, không ngừng tự hoàn thiện và thích ứng với những biến đổi của
môi trường. Và như vậy, văn hoá trở thành hệ điều tiết cho sự phát triển của xã hội.
 Phương tiện thực hiện: các giá trị trong văn hóa tổ chức đời sống cộng đồng, hệ
thống chuẩn mực đạo đức (tùy theo từng thời đại), truyền thống văn hóa, cái Chân – cái Thiện – cái
Mỹ trong văn hóa…
 Hệ quả: Xuất hiện chức năng phái sinh của văn hoá là “định hướng”.
- Định hướng các chuẩn mực, làm động lực cho sự phát triển của xã hội.
- Văn hoá định hướng cho suy nghĩ và hành động của mỗi người, mỗi cộng đồng, mỗi
dân tộc, của cả nhân loại.

 Chức năng thẩm mỹ
 Nguồn gốc phát sinh: cùng với nhu cầu hiểu biết, con người còn có nhu cầu hưởng
thụ, hướng tới cái Đẹp. Con người nhào nặn hiện thực theo quy luật của cái Đẹp cho nên văn hoá –
nghệ thuật phải có chức năng này.
 Phương tiện thực hiện: khả năng “dùng văn để hóa”, “biến đổi – hóa cải” cho sự vật
– hiện tượng – con người trở nên đẹp hơn, nhân văn hơn.
 Hệ quả: cuộc sống của con người ngày càng thoải mái hơn, đẹp hơn.

 Chức năng giải trí
 Nguồn gốc phát sinh: nhu cầu giải tỏa tinh thần, thoải mái tâm lý, thư giãn cơ bắp
của con người… Đây là chức năng xuất phát từ mục tiêu hoàn thiện con người.
 Phương tiện thực hiện: các sáng tạo trong lĩnh vực văn học – nghệ thuật, công nghệ
giải trí, làm đẹp, các hoạt động – sự kiện văn hóa truyền thống và đương đại
 Hệ quả: đời sống văn hóa, đời sống tinh thần, đời sống vật chất của con người ngày
càng được chú trọng và nâng cao.

1.1.4. Cấu trúc văn hoá
 Theo cách nhìn truyền thống, văn hóa có cấu trúc hai phần rất đơn giản: văn hóa vật
chất và văn hóa tinh thần. Đây là cấu trúc mang tính cơ sở, đơn giản, không thể cho thấy hết được sự
phong phú và phức tạp của hệ thống văn hóa.

10
Bảng đối chiếu cách phân chia cấu trúc văn hóa của một số nhà nghiên cứu

Học giả

Quan niệm về cấu trúc của văn hoá
L. White
Công nghệ + Xã hội + Tư tưởng
Đào Duy Anh
Sinh hoạt kinh tế + Sinh hoạt xã hội + Sinh hoạt tri thức
Nhóm Văn Tân
Văn hoá vật chất + Văn hoá xã hội + Văn hoá tinh thần
M.S. Kagan
Văn hoá vật chất + Văn hoá tinh thần + Văn hoá nghệ thuật
Ngô Đức Thịnh
Văn hoá sản xuất + Văn hoá xã hội + Văn hoá tư tưởng + Văn hoá nghệ thuật
Nguyễn Tấn Đắc
Hoạt động sinh tồn + Hoạt động xã hội + Hoạt động tinh thần + Hoạt động
nghệ thuật

Trần Ngọc Thêm
Văn hoá nhận thức + Văn hoá tổ chức cộng đồng + Văn hoá ứng xử với môi
trường tự nhiên + Văn hoá ứng cử với môi trường xã hội

Lê Chí Dũng
Văn hóa vật chất + Văn hoá tinh thần + Văn hoá tổ chức quản lý + Văn hoá
giao tiếp + Văn hoá tái sản xuất sinh học – xã hội
Trần Quốc Vượng
Văn hoá sản xuất + Văn hoá vũ trang + Văn hoá sinh hoạt

 Theo lý thuyết hệ thống:
- Mọi hệ thống phải bao gồm các yếu tố và các quan hệ giữa chúng, mạng lưới các mối quan
hệ đó tạo thành cấu trúc. Không có hệ thống nào lại không tồn tại dưới dạng một cấu trúc, cấu trúc đó
được coi như một thuộc tính của hệ thống.
- Mỗi yếu tố của hệ thống đều có thể là một hoặc vài tiểu hệ thống
- Mọi hệ thống đều có quan hệ mật thiết với nhau và với môi trường xung quanh.

Với cách tiếp cận hệ thống như vậy, văn hoá có thể được coi là hệ thống với 4 tiểu hệ cơ bản
sau đây:



11

VĂN HÓA



VĂN HÓA
ỨNG PHÓ
VỚI MÔI
TRƯỜNG
TỰ NHIÊN

- Tác động
tiêu cực



VĂN HÓA
TỔ CHỨC
ĐỜI
SỐNG
TẬP THỂ:

- Quốc gia
- Đô thị
- Nông
thôn


VĂN HÓA ỨNG XỬ VỚI
MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN


VĂN HÓA TỔ CHỨC ĐỜI
SỐNG


VĂN HÓA NHẬN THỨC



VĂN HÓA
ỨNG PHÓ
VỚI MÔI
TRƯỜNG
XÃ HỘI:

- Tác động
tiêu cực



VĂN HÓA ỨNG XỬ VỚI
MÔI TRƯỜNG XÃ HỘI


VĂN HÓA
TẬN
DỤNG
MÔI
TRƯỜNG
TỰ
NHIÊN:

- Tác động
tích cực




NHẬN
THỨC VỀ
CON
NGƯỜI



VĂN HÓA
TẬN DỤNG
MÔI
TRƯỜNG
XÃ HỘI:

- Tác động
tích cực





NHẬN
THỨC VỀ
VŨ TRỤ




VĂN HÓA
TỔ CHỨC
ĐỜI
SỐNG CÁ
NHÂN

12

1.1.5. Các loại hình văn hóa
a. Vấn đề loại hình văn hoá
Những nền văn hoá mang một số đặc điểm và phong cách cơ bản tương đồng được các nhà văn hoá
học xếp vào một loại hình văn hoá. Giống như ngôn ngữ, văn hóa có sự đa dạng rất lớn về loại hình. Hiện nay,
đang tồn tại hai quan niệm về việc phân chia các loại hình văn hoá.
 Quan niệm thứ nhất: xuất phát từ góc nhìn địa lý (lấy Địa Trung Hải làm giới tuyến), có 2 loại hình văn
hoá phương Đông và văn hoá phương Tây với những nét phân biệt cơ bản sau
Loại hình văn hoá
Phương Tây
Phương Đông
Đặc trưng
Trạng thái
Động
Tĩnh
Tư duy
Duy lý
Duy linh
Tâm lý
Chú trọng vật chất, chuộng
thương mại
Chú trọng đến tinh thần, tâm linh
Hình thái văn minh
Cảng thị
Nông nghiệp
Hướng tới
Cái dị biệt
Cái hòa đồng, dung hợp
Phương pháp tư duy
Tuyến
Trường
Thái độ đối với quá khứ
Thiên về cộng sinh
Thiên về ngưỡng mộ
Nguyên nhân của sự khác biệt giữa văn hoá phương Đông và văn hoá phương Tây:
- Văn hoá phương Tây bắt nguồn từ những
thành bang bên bờ Địa Trung Hải. Những thành
bang ấy sống chính bằng ngoại thương, không biết
đến kinh tế tự cung tự cấp. Cơ sở cho sự giàu có
của cư dân ở đây là thương nghiệp. Họ vừa sản
xuất, vừa buôn bán, vừa bành trướng lãnh thổ.
Đồng thời, các thành bang đều có một đội ngũ trí
thức đông đảo → khiến cho châu Âu có thể khắc
phục được “phương thức sản xuất châu Á truyền
thống”.

- Văn hoá phương Đông hình thành trên cơ sở
nông nghiệp trồng trọt trên lưu vực của những con
sông lớn. Thủ công nghiệp chỉ là nghề phụ thuộc
vào nông nghiệp và nông thôn. Thương nghiệp bị
coi nhẹ. Công xã thị tộc và tàn tích của nó được
bảo lưu trong lòng xã hội có giai cấp và chính việc
không phá vỡ công xã thị tộc như vậy làm cho
phương Đông không có nhân tố khắc phục được
“phương thức sản xuất châu Á” – phương thức thể
hiện của chế độ công xã thị tộc.
 Quan niệm thứ hai: phân biệt 2 loại hình văn hóa gốc nông nghiệp và gốc du lục dựa trên đặc điểm môi
trường sống của chủ thể sản sinh ra nền văn hoá ấy.

Cần quy ước: - Loại hình văn hoá gốc nông nghiệp bao gồm những nền văn hoá gốc nông nghiệp chủ
yếu là trồng trọt lúa nước.
- Loại hình văn hoá gốc du mục bao gồm những nền văn hoá gốc nông nghiệp chủ
yếu là chăn nuôi đại gia súc trên đồng cỏ và trồng trọt đại mạch (lúa khô).

Các đặc trưng khu biệt chủ yếu giữa hai loại hình văn hóa theo gốc nông nghiệp và gốc du mục
 Cách ứng xử với môi trường thiên nhiên

13
- Cư dân nông nghiệp sống phụ thuộc rất nhiều
vào thiên nhiên. Nơi sống chủ yếu là vùng đồng
bằng, lưu vực các con sông, vùng ven biển. Với
nghề chính là trồng lúa, họ quan tâm đến việc
chăm sóc cây cối, đất đai, nguồn nước ở nơi sinh
sống. Và như vậy, cách sống của nhóm cư dân này
là cần sự ổn định, định cư, nhà cửa bền chắc, ít khi
bị di dời, sống hòa hợp, hòa nhập với thiên nhiên,
luôn cầu mong mưa thuận gió hòa, ngô lúa đầy
đồng, con đàn cháu đống, quanh năm quấn quýt
bên nhau.
- Cư dân du mục lấy nơi đồng cỏ thảo nguyên, nơi
cao ráo làm chỗ sinh sống của mình. Nhưng vì
nghề sống chính của họ là chăn nuôi gia súc nên
phụ thuộc vào nguồn cung cấp cỏ, họ đi hết cánh
đồng cỏ này lại sang cánh đồng cỏ khác. Vì vậy,
chỗ ở của họ không cố định, nay đây mai đó (du
cư), phương tiện sống (nhà cửa) cũng theo đó mà
được chế tác một cách tiện lợi nhất, dễ di chuyển,
dễ tháo dựng, cuộc sống của họ chỉ mang tính tạm
bợ.


 Về mặt nhận thức, tư duy
- Cư dân nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào
thiên nhiên (nhiều yếu tố cùng một lúc không tách
bạch nhau). Do đó, đối với họ lối tư duy đặc trưng
là loại tư duy mang tính tổng hợp, kéo theo tính
biện chứng. Tổng hợp nhằm bao quát được nhiều
yếu tố, biện chứng là để tìm ra các mối liên hệ,
quan hệ giữa các yếu tố đó. Nét độc đáo này tạo ra
một tính cách con người, một nét bản sắc văn hóa
của cư dân nông nghiệp là ưa quan sát và đúc rút
kinh nghiệm để truyền đời cho con cháu.
- Ở cư du mục, do các yếu tố cấu thành
trong hoạt động nghề nghiệp chính của họ không
quá nhiều nên đối tượng quan tâm của họ không
tản mạn. Vì vậy, họ có lối tư duy mang tính phân
tích, mổ xẻ vấn đề hơn là gom tụ vấn đề. Tính
phân tích lại kéo theo nó tính siêu hình, tức là chú
trọng các yếu tố trừu tượng hóa tách chúng khỏi
các mối liên hệ mang tính biện chứng.
Hai lối tư duy đặc trưng nêu trên đều có những mặt mạnh và mặt yếu khác nhau. Ví như lối tư duy
tổng hợp ít để ý đến các tiểu tiết, chỉ tập trung vào cái đại thể, do đó, ít có điều kiện hình thành nhiều khoa học
chuyên sâu nhưng lối tư duy này lại có lối diễn đạt ngắn gọn, hàm súc, thâm thúy, có phạm vi áp dụng rộng
rãi. Trong khi đó, lối tư duy phân tích là cơ sở cho việc hình thành các ngành khoa học chuyên sâu, các tư
tưởng thường được thay đổi thường xuyên nên khoa học có điều kiện phát triển nhanh dễ dàng trong áp dụng
những kiến thức mới trên cơ sở thực nghiệm, biện luận và chứng minh một cách rõ ràng, khách quan và có
sức thuyết phục. Tuy nhiên, tính siêu hình dễ làm méo mó bản chất sự vật như nó vốn có và có trong một
chứng mực, lại có ít sức thuyết phục trong một phạm vi rộng lớn.
 Tổ chức cộng đồng và một số điểm khu biệt khác

14
- Cư dân nông nghiệp ưa tổ chức theo
nguyên tắc coi trọng tình cảm – trọng tình, dẫn đến
thái độ trọng đức -> trọng văn -> trọng phụ nữ.
Nguyên tắc trọng tình trọng tổ chức cộng đồng còn
thể hiện ở lối ứng xử xã hội mềm dẻo, linh hoạt
hiếu hòa và nền dân chủ làng xóm.
- Cư dân du lục với kiểu tư duy phân tích
dẫn đến lối sống “trọng lý – duy lý”, theo những
nguyên tắc đề ra nhất định, đòi hỏi tính tổ chức
và kỷ luật cao, coi trọng sức mạnh, trọng tài, trọng
võ, ít hiếu hòa, xử lý theo thế mạnh quyền lực (nền
dân chủ và dân chủ tư sản phương Tây)

Bảng so sánh 2 loại hình văn hoá gốc nông nghiệp và gốc du mục


TIÊU CHÍ
VĂN HÓA
GỐC NÔNG NGHIỆP
VĂN HÓA
GỐC DU MỤC

Đặc trưng gốc
Địa hình
Đồng bằng (ẩm thấp)
Đồng cỏ (khô ráo)
Nghề chính
Trồng trọt
Chăn nuôi
Cách sống
Định cư
Du cư
Ứng xử với môi
trường tự nhiên
Thái độ
Tôn trọng
Coi thường
Ước vọng
Mong muốn hòa hợp với thiên
nhiên
Tham vọng chế ngự tự nhiên


Lối nhận thức tư duy
Trọng quan hệ - thiên về tổng
hợp và biện chứng
Trọng yếu tố - thiên về phân
tích và siêu hình
Chủ quan
Khách quan
Cảm tính
Lý tính
Kinh nghiệm
Thực nghiệm



Tổ chức cộng
đồng

Nguyên tắc tổ
chức
Trọng tình
Trọng sức mạnh
Trọng đức
Trọng tài
Trọng văn
Trọng võ
Trọng phụ nữ
Trọng nam
Cách thức tổ
chức đời sống
Linh hoạt
Nguyên tắc
Hiếu hòa
Hiếu thắng
Dân chủ
Quân chủ
Ứng xử với môi
trường xã hội
Trong tiếp nhận
Dung hợp
Chiếm đoạt và độc tôn
Trong đối phó
Mềm dẻo
Cứng rắn

1.2. Định vị văn hoá Việt Nam
Việt Nam ở góc tận cùng phía đông nam của phương Đông, thuộc loại hình văn hóa gốc nông
nghiệp điển hình.
1.2.1. Văn hóa Việt Nam thuộc loại hình văn hoá gốc nông nghiệp
 Nguồn gốc
 Môi trường sống của chủ thể văn hoá là vùng đồng bằng châu thổ nằm trong lưu vực các con
sông lớn: sông Hồng, sông Mã, sông Mê Kông…

15
 Khí hậu: nóng ẩm, mưa nhiều (nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo).
 Sinh hoạt kinh tế truyền thống: nông nghiệp trồng trọt (trồng lúa nước).
 Đặc trưng: Lo tạo dựng một cuộc sống ổn định, lâu dài, không xáo trộn, mang tính chất trọng tĩnh.
 Ứng xử với môi trường tự nhiên
Việt Nam thuộc loại hình văn hóa gốc nông nghiệp điển hình với loại hình canh tác chính là nông
nghiệp lúa nước, điều này đã quy định cách ứng xử của người dân với môi trường tự nhiên với những đặc
điểm cơ bản như sau:
- Sống định cư: Kinh tế trồng trọt dẫn đến định cư lâu dài làm tiền đề cho việc cư dân cư trú theo đơn
vị huyết tộc.
- Có ý thức tôn trọng và ước vọng sống hòa bình với thiên nhiên.
→ Giữ gìn được môi trường sống tự nhiên nhưng lại khiến con người trở nên rụt rè, e ngại, thậm chí
tôn sùng tự nhiên.
 Về mặt nhận thức: Từ việc quan sát các hiện tượng tự nhiên một cách giản đơn, qua kinh nghiệm
qua sự nhận thức đã giúp họ hình thành tư duy tổng hợp, biện chứng bởi thiên nhiên không phải là một – hai
hiện tượng riêng lẻ và giữa chúng có những mối liên hệ qua lại mật thiết (người Việt tích lũy được một kho
kinh nghiệm hết sức phong phú về các mối quan hệ này).
 Tổ chức cộng đồng:
- Theo nguyên tắc trọng tình: vì sống cố định với nhau trong đơn vị tụ cư là làng xã nên phải tạo ra
một cuộc sống hòa thuận, lấy tình nghĩa làm đầu.
- Hệ quả:
+ Lối sống trọng tình cảm dẫn đến thái độ trọng đức, trọng văn, trọng phụ nữ.
+ Có tâm lý tôn trọng và cư xử bình đẳng: Đó là nền dân chủ làng mạc, nó có trước nền quân
chủ phong kiến phương Đông và nền dân chủ tư sản phương Tây.
+ Tâm lý coi trọng cộng đồng, tập thể.
- Cách thức tổ chức: Lối sống linh hoạt, luôn ứng biến cho thích hợp với từng hoàn cảnh cụ thể.
 Ứng xử với môi trường xã hội:
- Dung hợp trong tiếp.
- Hiếu hòa, mềm dẻo trong đối phó.
 Mặt trái
 Thói tùy tiện
 Tính tổ chức kém
 Không hình thành được những khoa học chuyên sâu.
Các đặc trưng của loại hình văn hóa gốc nông nghiệp
TIÊU CHÍ
VĂN HÓA GỐC NÔNG NGHIỆP
Đặc trưng gốc
Khí hậu
Nắng nóng lắm, mưa ẩm nhiều
Nghề chính
Trồng trọt
Ứng xử với môi trường tự nhiên
Sống định cư, thái độ tôn trọng, ước mong sống hòa hợp với thiên
nhiên

16
Lối nhận thức tư duy
Thiên về tổng hợp và biện chứng (trong quan hệ), chủ quan, cảm
tính và kinh nghiệm
Tổ chức cộng
đồng
Nguyên tắc
Trọng tình, trọng đức, trọng văn, trọng nữ
Cách thức
Linh hoạt, dân chủ, trọng
tập thể
Ứng xử với môi trường xã hội
Dung hợp trong tiếp nhận
Mềm dẻo, hiếu hòa trong đối phó

1.2.2. Chủ thể và thời gian văn hoá
a. Chủ thể văn hoá Việt Nam
Chủ nhân của văn hoá Việt Nam ngày nay là dân tộc Kinh/Việt và 53 dân tộc anh em khác sống trên
lãnh thổ Việt Nam, trong đó Việt tộc đóng vai trò chủ thể.
 Nguồn gốc dân tộc:
 Thời sơ khởi: các tộc người Việt Nam ra đời trong phạm vi của trung tâm hình thành loài
người phía Đông, trong khu vực hình thành của đại chủng phương Nam – Australoid.
 Trong những thời kỳ tiếp theo:
- Vào thời đại đá giữa (khoảng 10.000 năm về trước), một dòng người thuộc đại chủng Á -
Mongoloid từ vùng Tây Tạng (dãy Hymalaya) thiên di về phía Đông Nam, đến khu vực mà bây giờ gọi là
Đông Dương (Indochine) thì dừng lại. Nơi đây, đã diễn ra sự hợp chủng giữa dòng người này với cư dân bản
địa Mélanésien (thuộc đại chủng Úc – Australoid hay đại chủng phương Nam). Kết quả là sự hình thành của
chủng Indonésien (còn được gọi là cổ Mã Lai hay Đông Nam Á tiền sử) với những đặc điểm như da ngăm
đen, tóc gợn sóng, tầm vóc thấp. Chủng người mới này đã tỏa đi sinh sống trên toàn bộ vùng Đông Nam Á cổ.
- Vào cuối thời đại đá mới, đầu thời đại đồng (cách ngày nay khoảng 5000 năm), ở khu vực
Nam Trung Hoa và Bắc Đông Dương bây giờ (nam sông Dương Tử đến lưu vực sông Hồng) xảy ra sự tiếp
xúc giữa đại chủng Mongoloid với những người Indonésien một cách thường xuyên dẫn tới việc hình thành
một chủng mới là Austroasiatic – chủng Nam Á. Với chủng Nam Á này, các nét Mongoloid lại càng nổi trội,
do vậy nó được xếp vào ngành Mongoloid phương Nam.
+ Chủng Nam Á được chia tách thành nhiều chủng tộc mà thư tịch cổ của Trung Hoa
và Việt Nam gọi là khối cư dân Bách Việt: Điền Việt, Mân Việt, Đông Việt, Nam Việt, Lạc Việt…
+ Cộng đồng Bách Việt sống trên một khu vực rộng lớn từ nam sông Dương Tử đến
Bắc Trung Bộ Việt Nam hiện nay và hợp thành những khối cư dân mà ban đầu mỗi khối nói một ngôn ngữ
riêng: Môn – Khơ me, Việt – Mường, Tày – Thái, H’mông – Dao.
- Thời Bắc thuộc (thế kỷ II đến thế kỷ VIII): Sự chia tách tiếp tục nhiều lần đưa tới sự hình
thành các tộc người cụ thể (song song với quá trình chia tách ngôn ngữ) và tộc người Việt/Kinh (chiếm
khoảng 90% dân số) đã tách khỏi khối Việt – Mường vào khoảng thế kỷ VII – VIII.
- Dọc theo dải Trường Sơn của Việt Nam vẫn là nơi sinh sống của những người thuộc chủng
Indonésien, cuộc sống biệt lập của họ đã lưu giữ được nhiều đặc điểm của văn hóa cổ gần gũi với văn hoá

17
Đông Nam Á hải đảo. Họ là tổ tiên của tộc người Chăm, Raglai, Êđê, Chu ru, Giarai, Bana, Xêđăng… gọi
chung là Nam Đảo.




Phác đồ nguồn gốc 54 dân tộc ở Việt Nam

b. Thời gian văn hoá
- Thời gian văn hoá được xác định từ lúc một nền văn hoá hình thành cho đến khi tàn lụi. Thời điểm
khởi đầu của một nền văn hoá do thời điểm hình thành chủ thể văn hoá (thời điểm hình thành dân tộc) quy
định.
- Thời gian văn hoá Việt Nam được tính từ khi con người bắt đầu có mặt trên lãnh thổ Việt Nam,
được xác định như sau:
+ Bắt đầu từ buổi ban đầu đến khoảng thế kỷ I trước Công nguyên.
+ Là một giai đoạn dài và có tính chất quyết định, là thời kỳ hình thành và định vị của văn
hoá Việt Nam.
+ Là giai đoạn bản địa của văn hoá Việt Nam.

1.2.3. Không gian văn hoá
 Hoàn cảnh địa lý – khí hậu
- Khí hậu: nhiệt đới gió mùa, nóng lắm sinh mưa nhiều, độ ẩm cao.
Austroasiatic
(Nam Á, Bách Việt)
Austronésien
(Nam Đảo)
Nhóm Môn –
Khơ me
- Mnông
- Khơme
- Cơ ho
- Xtiêng…
Nhóm Chăm
- Chăm
- Raglai
- Êđê
- Churu…
Nhóm Việt –
Mường
- Việt
- Mường
- Chứt
- Thổ
Nhóm Tày –
Thái
- Tày
- Thái
- Nùng
- Cao Lan…
Nhóm
H’mông –
Dao
- H’mông
- Dao
- Pà Thẻn
Chủng Indonésien
(cổ Mã Lai, Đông Nam Á tiền sử)
Như vậy, tuyệt đại bộ phận các tộc người trong thành phần 54 dân tộc ở Việt Nam
đều có cùng một nguồn gốc chung. Chính điều đó đã tạo nên tính thống nhất cao –
thống nhất trong đa dạng – của con người và văn hoá Việt Nam.









18
-Sông ngòi dày đặc.
- Đây là nơi gặp gỡ của các luồng giao thông thủy bộ: từ Bắc xuống Nam; từ lục địa ra biển và từ biển
vào đất liền. Đây cũng là bến cảng ngã ba đường Thái Bình Dương - Ấn Độ.
 Xét trong phạm vi hẹp
- Không gian văn hóa Việt Nam nằm trong khu vực cư trú của người Bách Việt (từ phía nam sông
Dương Tử tới vùng bắc Trung bộ Việt Nam hiện nay).
- Hiện nay, không gian văn hoá Việt Nam nằm trọn vẹn trong lãnh thổ Việt Nam với 54 dân tộc anh
em thuộc các ngữ hệ khác nhau.
 Xét trong phạm vi rộng
- Nằm trong khu vực cư trú của người Indonésien lục địa (cạnh đáy là sông Dương Tử ở phía Bắc và
đỉnh là vùng đồng bằng sông Mê Kông ở phía Nam).
- Đây là khu vực được tạo nên bởi hai con sông lớn cùng bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng là Dương
Tử Giang và Mê Kông.
 Xét từ trong cội nguồn:
 Không gian văn hoá Việt Nam được định hình trên nền của không gian văn hoá khu vực
Đông Nam Á (bao gồm cả Đông Nam Á lục địa và Đông Nam Á hải đảo).
 Sau đó, văn hoá Việt Nam từ cơ tầng Đông Nam Á gia nhập vào vùng văn hoá Đông Á
(Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản) và nó có xu hướng nhạt dần tính chất Đông Nam Á, đậm dần tính chất
Đông Á.
 Các vùng văn hóa ở Việt Nam
- Hiện nay, ở Việt Nam có 3 phương án phân vùng văn hoá:
 Theo PGS.TS Ngô Đức Thịnh: có 7 vùng văn hoá
▪ Đồng bằng Bắc Bộ
▪ Việt Bắc
▪ Tây Bắc và miền núi Bắc Trung Bộ
▪ Đồng bằng duyên hải Bắc Trung Bộ
▪ Duyên hải Trung và Nam Trung Bộ
▪ Trường Sơn – Tây Nguyên
▪ Gia Định – Nam Bộ
 Theo GS. Đinh Gia Khánh: có 9 vùng văn hoá
▪ Đồng bằng miền Bắc
▪ Việt Bắc
▪ Tây Bắc
▪ Nghệ - Tĩnh
▪ Thuận Hóa – Phú Xuân
▪ Nam Trung Bộ
▪ Tây Nguyên
▪ Đồng bằng miền Nam
▪ Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội
 Theo GS. Trần Quốc Vượng: có 6 vùng văn hoá

19
▪ Tây Bắc
▪ Việt Bắc
▪ Châu thổ Bắc Bộ
▪ Trung Bộ
▪ Trường Sơn – Tây Nguyên
▪ Nam Bộ
→ Tất nhiên, trong mỗi vùng văn hoá này lại có thể chia ra làm nhiều tiểu vùng văn hoá khác nhau.

1.3. Tiến trình văn hoá Việt Nam
1.3.1. Thời kỳ văn hoá bản địa độc lập
- Tính từ khi con người bắt đầu có mặt trên lãnh thổ Việt Nam cho tới khoảng thế kỷ I trước Công
nguyên.
- Chia làm 2 giai đoạn:
+ Thời tiền sử: Từ thời đá cũ sang thời đá giữa và đến thời đá mới (50 – 30 vạn năm trước
Công nguyên).
+ Thời sơ sử: Thời kỳ đồ đồng và đồ sắt sớm, cách đây khoảng trên dưới 4.000 năm.
a. Thời tiền sử
Đó là thời kỳ trước khi xuất hiện nền văn hoá Đông Sơn rực rỡ trong lịch sử. Nó chính là giai đoạn
hình thành, định vị và phát triển văn hoá Việt Nam trên một cơ tầng văn hoá chung cho cả cư dân vùng Đông
Nam Á.
 Hoạt động kinh tế: nông nghiệp trở thành sinh nghiệp chủ yếu của tuyệt đại đa số cư dân Đông Nam Á.
Làm nương rẫy, trồng lúa cạn (ở sườn đồi, sườn núi thấp), gieo cấy lúa nước (ở thung lũng, đồng bằng châu
thổ và đồng bằng ven biển), với công cụ sản xuất là cuốc đồng, cuốc sắt, dùng sức kéo từ gia súc (trâu, bò),
thạo nghề đi biển và đánh bắt hải sản.
 Trình độ tổ chức xã hội: ở miền núi là bộ lạc, ở trung du và đồng bằng: dần vươn đến trình độ liên minh
bộ lạc.
 Các nền văn hoá tiêu biểu:
 Văn hoá Núi Đọ (Thiệu Hóa – Thanh Hóa) của người vượn (Homo – Erectus) ở sơ kỳ thời đại đá
cũ, cách đây khoảng 40 – 50 vạn năm.
 Văn hoá Sơn Vi (Lâm Thao – Phú Thọ) của người hiện đại (Homo sapiens) ở hậu kỳ đá cũ (20 – 15
nghìn năm trước Công nguyên).
 Văn hoá Hòa Bình kéo dài trong khoảng từ 12.000 đến 7.000 năm cách ngày nay (thời đại đá mới).
→ Điều kiện định cư lâu dài và sự phát triển của nông nghiệp đã dần làm hình thành rõ nét tính địa
phương trong văn hoá ở từng phạm vi hẹp của mỗi khu vực cư trú.
b. Thời sơ sử
- Đó là thời kỳ của văn hoá Đông Sơn tỏa sáng.
- Trên lãnh thổ Việt Nam tồn tại ba trung tâm văn hoá lớn là Đông Sơn (ở miền Bắc), Sa Huỳnh (ở
miền Trung) và Đồng Nai (ở miền Nam).
Văn hoá Đông Sơn

20
Được coi là cốt lõi của người Việt cổ. Được hình thành trực tiếp từ ba nền văn hoá ở lưu vực sông
Hồng, sông Cả và sông Mã.
 Giai đoạn tiền Đông Sơn:
- Nguyên liệu chế tạo công cụ và vũ khí: đá, tre, gỗ, nứa, xương, sừng, đồng…. Đồ gốm đạt độ nung
cao hơn, dày hơn và cứng hơn, đa số có màu xanh mốc.
- Sinh hoạt kinh tế: trồng lúa nước, chăn nuôi một số gia súc như trâu, bò, lợn, gà… Có sự giao lưu
mạnh mẽ thông qua việc tiếp xúc kinh tế - xã hội (hoạt động trao đổi kinh tế, hoạt động trao đổi phi kinh tế
như tặng phẩm - vật phẩm tôn giáo), hoặc quan hệ hôn nhân, ngoai giao, xung đột và hòa giải.
- Đời sống tinh thần: làm chủ được nghệ thuật nhịp điệu trong ca múa, biểu hiện tính đối xứng chặt
chẽ của các mô típ hoa văn trang trí (thể hiện sự phát triển nhận thức hình học và tư duy chính xác). Chôn cất
người chết cạnh khu vực cư trú.
→ Có sự phát triển riêng của từng khu vực ở lưu vực sông Hồng, sông Mã và sông Cả. Điều này phản
ánh một thời kỳ tồn tại của các bộ lạc hay liên minh bộ lạc giữa các vùng.
 Giai đoạn Đông Sơn (Giai đoạn văn hoá văn Lang – Âu Lạc):
Vào khoảng thế kỷ VII trước Công nguyên, các nền văn hoá bộ lạc mất dần tính địa phương tiến tới
chỗ hòa chung vào một nền văn hoá thống nhất – văn hoá Đông Sơn. Đó là lúc các nhóm bộ lạc liên kết lại
trong một quốc gia – nước Văn Lang.
 Đặc trưng văn hoá Đông Sơn


Phát triển nghề nông nghiệp lúa nước:
- Canh tác trên nhiều loại đất khác nhau – phương thức quảng canh. Hình thức canh tác phổ
biến là loại ruộng chờ mưa.
- Nông cụ đa dạng với cuốc, xẻng, mai, thuổng và đặc biệt lưỡi cày bằng kim loại đã tạo nên
bước nhảy vọt trong kỹ thuật canh tác (nông nghiệp dùng cày phát triển với nhiều loại cày đồng phù hợp với
từng loại đất).
- Sáng tạo trong kỹ thuật trị thủy bằng cách đắp đê chống lụt. Chăn nuôi trâu, bò phát triển để
đảm bảo sức kéo cho nông nghiệp.
 Nghề luyện kim đồng:
- Kỹ thuật đúc đồng thau đạt tới đỉnh cao với trình độ điêu luyện đáng kinh ngạc: số lượng và
loại hình công cụ, vũ khí bằng đồng tăng vọt. Đặc biệt là đúc được những hiện vật bằng đồng kích thước lớn –
trống đồng, thạp đồng – có hoa văn phong phú.
- Kỹ thuật luyện và rèn sắt cũng khá phát triển, đặc biệt là giai đoạn cuối của văn hoá Đông
Sơn. Bên cạnh đó là chế tạo thủy tinh, làm mộc, sơn, dệt vải, đan lát, làm gốm, chế tác đá.
 Văn hoá cư trú, ăn, mặc, ở và đi lại:
- Cư trú trong các loại nhà có mái cong, mái tròn và là nhà sàn, nguyên vật liệu làm nhà bằng
tre, gỗ, nứa và lá.
- Quần tụ thành làng – xóm gần các con sông lớn hay các chi lưu của chúng. Ở vùng đồng
bằng phì nhiêu, mức độ quần tụ cao hơn ở những nơi khác.
- Ăn mặc quần áo theo lối ở trần, đòng khố, đi chân đất. Riêng đối với nữ phổ biến mặc váy
thay khố. Có một số loại áo như áo cánh dài tay, áo xẻ ngực bên trong có yếm. Trang phục lễ hội là váy lông
chim hay lá kết, khố dài thêu…

21
- Đồ trang sức làm bằng đồng, thủy tinh. Đeo đồ trang sức ở tay, cổ tay, chân.
- Đi lại bằng thuyền, bè trên đường sông và ven biển. Ngoài ra còn có đi bộ, mang vác trên
vai, trên lưng. Đã biết thuần dưỡng voi, dùng voi để chuyên chở.
 Văn hoá tinh thần:
- Hình thành những huyền thoại, thần thoại.
- Nghi lễ và tín ngưỡng giai đoạn này gắn chặt với nghề nông trồng lúa nước: tục thờ thần mặt
trời, mưa dông, các nghi lễ phồn thực và những nghi lễ phồn thực khác (hát đối đáp trai – gái, đua thuyền, thả
diều…). Kéo theo đó là các lễ hội mùa, cầu nước…
- Tục ăn trầu, nhuộm răng, xăm mình, uống nước bằng mũi, giã cối làm lệnh…
 Đặc điểm nổi bật thời kỳ này là tu duy lưỡng phân – lưỡng hợp: âm – dương, đực – cái.


Giao lưu văn hoá:
- Đây là thời kỳ mà sự giao lưu văn hoá diễn ra rất rộng rãi mà khách thể là văn hoá Sa
Huỳnh, văn hoá Đồng Nai, văn hoá của cư dân Nam Trung Hoa, văn hoá Đông Nam Á hải đảo, văn hoá Đông
Nam Á lục địa.
Sơ đồ hóa quá trình hình thành Nhà nước Văn Lang








Yếu tố ngoại
sinh
Mâu thuẫn và đấu tranh
nhằm khắc phục và hòa
điều với tự nhiên (lợi
dụng nguồn nước, đào
mương, đắp đê, nắm bắt
và tuân thủ thời vụ )













Bộ máy
quản lý (các
chức năng)





Kinh tế







Quân sự






Hành
chính












Nhà nước
Văn Lang
Nguy cơ ngoại xâm và tổ
chức tự vệ (quân xưởng
vũ khí, thành quách, thủ
lĩnh quân sự…)
Yếu tố nội –
ngoại sinh
Tiếp xúc rộng rãi trong –
ngoài (trao đổi vật phẩm
hàng hóa)



Yếu tố nội
sinh
Sản xuất phát triển mạnh:
- Nông nghiệp dùng cày
và sức kéo.
- Gia súc
- Nhiều nghề thủ công ra
đời.



- Phân hóa
tài sản
- Phân hóa
và mâu
thuẫn xã hội

22

Văn hoá Sa Huỳnh
Được coi là tiền nhân tố của người Chăm và vương quốc Chăm Pa. Văn hoá Sa Huỳnh được phân bố
từ Đèo Ngang đến Đồng Nai.
- Tồn tại từ khoảng hơn 4.000 năm cách ngày nay cho tới thế kỷ I – II sau Công nguyên.
- Là sản phẩm của cư dân nông nghiệp trồng lúa ở những đồng bằng ven biển cồn bàu. Chủ nhân văn
hoá Sa Huỳnh nói tiếng Nam Đảo và có quan hệ cội nguồn và giao lưu với cư dân tiền Nam Á.
Văn hoá Đồng Nai
Được coi là một trong những cội nguồn hình thành văn hoá Óc Eo của cư dân thuộc nhóm Mã Lai –
Đa Đảo sinh sống vào những thế kỷ sau Công nguyên ở vùng Đông và Tây Nam Bộ. Hiện nay, văn hoá Óc Eo
thường được gắn với vương quốc Phù Nam – một Nhà nước tồn tại từ thế kỷ II đến thế kỷ VII ở châu thổ sông
Cửu Long. Nó được nhìn nhận như bước mở đầu cho truyền thống văn hoá tại chỗ ở Nam Bộ với bản sắc
riêng và sức sống mãnh liệt.
- Chủ nhân của văn hoá Đồng Nai sinh sống ở các tiểu vùng sinh thái khác nhau với những mô thức
sản xuất – văn hoá thích hợp.
1.3.2. Giai đoạn văn hoá Bắc thuộc - chống Bắc thuộc
Khởi đầu từ năm 179 trước Công nguyên (khi Âu Lạc rơi vào tay Triệu Đà – vua nước Nam Việt) cho
đến năm 938 – sau chiến thắng của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng.
Các đặc trưng văn hoá cơ bản trong giai đoạn này:
 Tiếp xúc cưỡng bức và giao thoa văn hoá Việt – Hán với 2 xu hướng “Hán hóa” và “chống Hán hóa”
 Xu hướng “Hán hóa” với mục tiêu đồng hóa của phong kiến phương Bắc
▪ Ở lĩnh vực chính trị - xã hội: Nhà Hán di thực mô hình tổ chức chính trị và sinh hoạt xã hội
của Trung Hoa sang đất Việt: bắt dân Việt học tập, ăn, mặc, tổ chức xã hội, làm ruộng giống người Hán.
Đồng thời, di dân ồ ạt từ phương Bắc xuống sống lẫn với người Việt (dân Mã Lưu) để đồng hóa dân Việt qua
con đường huyết thống…
▪ Ở lĩnh vực tư tưởng: nhà Hán truyền bá các học thuyết, tôn giáo của phương Đông: đạo
Nho, đạo Lão – Trang… vào Việt Nam.
 Xu hướng chống Hán hóa của dân Việt
Từ đầu Công nguyên trở đi, nền văn minh Đông Sơn (mà sợi dây liên kết là Nhà nước văn
Lang – Âu Lạc với thiết chế xã hội là chế độ Lạc tướng) đã bị giải thể cấu trúc nhưng những “mảnh vụn” của
nền văn minh này cùng với “cái thần thái Đông Sơn” của nó không hề mất đi mà được hòa tan vào nền văn
hoá dân gian của các làng Việt cổ cũng như văn hoá của các thành phần tộc người khác.
 Giữ gìn, bảo tồn và phát triển bản sắc văn hoá dân tộc, người Việt “mất nước mà không mất làng”.
Từ thời Hùng Vương, đã có một nền văn hoá riêng của người Việt cổ mặc dù còn giản dị, chất phác.
Cho đến giai đoạn này, tuy có những biến đổi nhất định song vẫn giữ được nét bản địa: trọng phụ nữ, đúc và
sử dụng trống đồng, cạo - búi tóc, xăm mình, chôn cất người chết trong quan tài hình thuyền hay thân cây
khoét rỗng, nhuộm răng, ăn trầu cau, thờ cúng tổ tiên…
 Tiếp biến những nét văn hoá ngoại lai cho phù hợp với “đồng đất, thủy thổ Việt Nam” để hình thành nên
những yếu tố văn hoá ngoại sinh trong tổng hòa nền văn hoá Việt.

23
Nét hằng xuyên của văn hoá Việt Nam là sự “không chối từ” việc tiếp thu, tiêu hóa và làm chủ những
ảnh hưởng văn hoá của nước ngoài và Trung Quốc cũng không là ngoại lệ. Trên cơ sở một vốn liếng văn hoá
bản địa vững chắc, sự hấp thu các yếu tố văn hoá Đông Nam Á, Ấn Độ (Nam Á), Trung Á và Tây Á… có tác
dụng trung hòa những ảnh hưởng to lớn của Trung Hoa khiến văn hoá Việt cổ thời Bắc thuộc vẫn mang tính
chất độc đáo, đặc thù, khác và vẫn có thể phân biệt được với văn hoá Trung Hoa mà vẫn duyên dáng, mềm
mại hơn trong sắc thái hòa đồng văn hoá.
→ Bắc thuộc và chống Bắc thuộc là hai mặt đối lập và đấu tranh quyết liệt, chi phối toàn bộ tiến trình
lịch sử Việt Nam trong hàng chục thế kỷ.

 Giao lưu văn hoá tự nhiên Việt - Ấn
 Trong giai đoạn thiên niên kỷ I sau Công nguyên, luồng ảnh hưởng của văn hoá Ấn Độ đã theo
Phật giáo du nhập vào nước ta.
Với hai tông phái chính là dòng Tiểu thừa và Đại thừa, khi vào Việt Nam, Phật giao đã biến
dạng khá nhiều (bởi đạo Bàlamôn, lăng kính Trung Quốc và yêu cầu hợp lý hóa của phong tục tập quán của
cư dân bản địa).
 Ảnh hưởng mạnh mẽ của văn hóa Ấn Độ đến văn hóa Chăm pa
Chăm pa (thế kỷ II - XV ở miền Trung Việt Nam) – một bộ phận của văn hoá Việt Nam. Luôn được
coi là một quốc gia “Ấn hóa” song trong quá trình tiếp thu văn hoá Ấn Độ, người Chămpa đã kết hợp hài hòa
giữa yếu tố văn hoá địa phương (nội sinh) và văn hoá bên ngoài (ngoại sinh) trên cơ sở môi trường tự nhiên và
tâm lý dân tộc để sáng tạo ra nền văn hoá của mình có những nét chung, đồng thời cũng có nhiều nét riêng so
với những văn hoá láng giềng khác ở Đông Nam Á cùng tiếp thu ảnh hưởng của văn minh Ấn Độ.
 Ảnh hưởng của văn hoá Ấn Độ đến văn hoá Óc Eo:
▪ Tôn giáo chủ yếu là Bàlamôn giáo và Phật giáo.
▪ Thờ linga – biểu tượng sinh thực khí nam.
▪ Kiến trúc vật phục vụ tôn giáo – tang ma: đền thờ, đền tháp, mộ hỏa táng…
1.3.3. Giai đoạn văn hoá từ năm 938 đến thế kỷ XVI

Bối cảnh lịch sử: Đây được coi là thời tự chủ của quốc gia Đại Việt, kéo dài từ năm 938 đến năm 1858.
 Các vương triều liên tục thay thế nhau xây dựng một quốc gia tự chủ.
 Đất nước được mở rộng về phía Nam
 Liên tiếp có các cuộc xâm lược của phong kiến phương Bắc và những cuộc chiến tranh bảo vệ
đất nước của cư dân Việt.
 Hai lần phục hưng văn hóa dân tộc
+ Lần 1: Thời Lý –Trần. Sự phục hưng này diễn ra sau khi đất nước được giải phóng khỏi ách
Bắc thuộc.
+ Lần 2: vào thế kỷ XV, sau khi giặc ngoại xâm (Minh) bị quét sạch ra khỏi bờ cõi, từ thời Lê
Thái Tổ đến đời Lê Thánh Tông.
Đặc trưng văn hóa thời Lý – Trần:
 Văn hoá Lý – Trần chứng kiến thời kỳ hưng thịnh nhất của Phật giáo, Phật giáo trở thành
quốc giáo. Và cùng với nhu cầu xây dựng – củng cố nhà nước Trung ương tập quyền, đánh dấu thời điểm Việt
Nam chính thức tiếp nhận Nho giáo. Đồng thời, với tinh thần bao dung, nó cũng mở rộng cửa cho việc tiếp thu

24
cả Đạo giáo. “Tam giáo đồng nguyên” trên cơ sở truyền thống dân tộc đã khiến cho văn hoá Việt Nam thời
Lý – Trần phát triển mạnh mẽ về mọi phương diện.
 Tinh thần văn hoá Lý – Trần khai phóng đa nguyên phối hợp Phật – Nho – Đạo cùng các tín
ngưỡng dân gian khác kể cả ảnh hưởng của văn hoá Chămpa.
 Nền văn hoá bác học hình thành và phát triển. Đây là bước phát triển cả về số lượng và chất
lượng của nền văn hoá Đại Việt.
- Nền văn học chữ viết - Hán tự được hình thành với một đội ngũ tác gia hùng hậu (trí thức
Nho giáo, trí thức Phật giáo).
- Sự hình thành của nền văn học chữ Nôm.
 Các ngành nghệ thuật như ca, múa, nhạc, chèo, tuồng cũng ra đời và phát triển. Trên cơ sở
khai thác những giá trị của kho tàng văn hoá dân gian, thâu hóa những thành tựu của văn hoá bác học Trung
Hoa, Ấn Độ các ngành nghệ thuật này rất nhanh chóng định hình bản sắc dân tộc.
Đặc trưng văn hóa thời Lê sơ
 Nho giáo trở thành quốc giáo, Phật giáo, Đạo giáo bị lấn át. Chính sách độc tôn Nho giáo của
nhà Lê gặp không ít sự phản kháng trong dân gian, mà văn hoá dân gian chính là nơi thể hiện rõ rệt sự phản
kháng này.
 Hủy bỏ dần quyền tự trị của công xã, đẩy nhanh quá trình phong kiến hóa cơ cấu xã hội Việt
Nam. Nhưng sự thay đổi này trên phương diện quan hệ sở hữu, không tác động nhiều đến cơ cấu tổ chức của
làng xã Bắc Bộ.
 Các ngành nghề, làng ngề phát triển, hiều trung tâm thủ công nghiệp xuất hiện.
 Về giáo dục:
- Chế độ đào tạo nho sĩ được xây dựng theo một xu hướng rất chính quy. Từ Quốc tử giám
(Thái học viện ở Kinh thành) đến các trường (tại các đạo, gồm trường công và trường tư).
- Nội dung học là “khuôn vàng, thước ngọc” của Nho giáo, là các sách kinh điển và lịch sử
các vương triều phương Bắc.
- Đối tượng học của các trường này có phần cởi mở hơn so với các thời trước: con em quý tộc
– quan lại, con em bình dân không kể giàu nghèo.
- Chế độ thi cử khá quy củ: Từ năm 1422 trở đi, cứ ba năm một lần tại kinh thành có thi Hội,
tại các địa phương có thi Hương. Tiến sĩ được xướng dang, vinh quy bái tổ và khắc tên vào bia đá ở Văn Miếu
(bia tiến sĩ).
- Tuyển lựa quan lại qua thi cử, chỉ có số ít là quý tộc – tôn thất.
 Ở lĩnh vực văn hóa:
- Năm 1483 Luật Hồng Đức – Lê triều hình luật được biên soạn hoàn chỉnh.
- Dòng văn học chữ Nôm không ngừng phát triển: Nguyễn Trãi, hội Tao Đàn cùng Lê Thánh
Tông…
- Một số loại hình như ca, múa, nhạc vẫn tiếp tục được phát triển.
- Về kiến trúc - điêu khắc: chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ của hệ tư tưởng Nho giáo
- Tín ngưỡng thờ cúng thành hoàng có sự thay đổi cả về lượng lẫn diện mạo.
1.3.4. Giai đoạn từ thế kỉ XVI – 1858
 Nho giáo bắt đầu suy tàn:

25
- Năm 1527, Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê và lập ra nhà Mạc. Trên thực tế, nhà Mạc
chống lại tư tưởng độc tôn Nho giáo của nhà Lê nhưng từ trong tiềm thức giai cấp phong kiến vừa bảo vệ Nho
giáo vừa dùng Nho giáo làm kỷ cương cho đời sống xã hội.
- Thế kỷ XVIII đánh dấu sự tan vỡ của Nho giáo, mọi giá trị của Nho giáo đứt tung không có
cách gì có thể cứu vãn được. Sự suy sụp của Nho giáo kéo dài cho đến đầu thế kỷ XIX, mặc dù các thế lực
vương triều đã gắng sức củng cố địa vị của Nho giáo (Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức) nhưng vẫn
không thể khôi phục vị thế độc tôn của nó, hơn nữa, luồng tư tưởng nhân văn chủ nghĩa trong dân gian trỗi
dậy và phát triển mạnh mẽ.
 Du nhập Kitô giáo:
- Bắt đầu từ thế kỉ XVI, Kitô giáo du nhập vào nước ta theo chân các giáo sĩ Bồ Đào Nha,
Tây Ban Nha. Thái độ của các vương triều đối với tôn giáo này qua các thời kỳ lịch sử có sự khác nhau: nhà
Nguyễn giai đoạn này, lúc thì cho phép hoạt động lúc thì cấm đoán ngặt nghèo.
 Thành tựu về văn học:
- Văn Nôm ngày càng phát triển với các tác gia: Nguyễn Bỉnh Khiêm, Đào Duy Từ, Nguyễn
Du, Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Gia Thiều Tương ứng với sự phát triển của văn học
viết bằng chữ Nôm là sự phát triển của thể lục bát và song thất lục bát → Chưa bao giờ nền văn học dân tộc
lại đạt đến đỉnh cao rực rỡ như thời kỳ này.
- Có cả một hệ thống văn Nôm khuyết danh.
- Sự nở rộ của các sáng tác dân gian: truyện cười, truyện trạng, tục ngữ, các hình thức diễn
xướng dân gian (hát tuồng, chèo, ả đào…).
 Về kiến trúc, sự trỗi dậy của Phật giáo, Đạo giáo khiến cho những thiết chế của các tôn giáo này
được xây dựng khá nhiều.
- Đình, đền, chùa khá phát triển, mang phong cách dân gian đậm nét. Kiến trúc đình làng phát
triển mạnh.
- Nghệ thuật tạc tượng thế kỷ XVIII đã đạt đến trình độ điêu luyện
- Kiến trúc và điêu khắc kinh thành tiếp thu và phát triển truyền thống điêu khắc thời Lê
nhưng đã hiện đại hơn và có sự tiếp cận với nghệ thuật tạo hình phương Tây đương thời.
 Đàng Trong và sự phát triển của văn hoá Việt
- Lãnh thổ quốc gia được mở rộng về phía nam.
- Người Việt ở Đàng Trong sống trong những mối quan hệ ràng buộc, đó là:
+ Vốn văn hoá ẩn trong tiềm thức họ mang theo từ vùng đất cội nguồn và văn hoá
ứng xử với môi trường tự nhiên – xã hội của vùng đất mới.
+ Sự giao lưu giữa văn hóa dân tộc Việt và văn hóa của các dân tộc khác trên cùng
địa bàn.
+ Mối quan hệ giữa văn hóa của lưu dân khai phá và vốn văn hóa của lớp cư dân xa
xưa.
1.3.5. Giai đoạn từ năm 1858 – 1945: Đây là giai đoạn Pháp thuộc – chống Pháp thuộc.
 Chính sách văn hoá của Pháp đối với Việt Nam:
- Mang tính chất nô dịch.
- Duy trì Nho học nhằm lợi dụng Nho giáo để duy trì trật tự xã hội.

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×