Tải bản đầy đủ

Nghiên cứu mối tương quan giữa tổn thương xơ vữa trên động mạch cảnh và động mạch vành

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH




ĐINH HIẾU NHÂN




NGHIÊN CỨU MỐI TƯƠNG QUAN
GIỮA TỔN THƯƠNG XƠ VỮA TRÊN
ĐỘNG MẠCH CẢNH VÀ ĐỘNG MẠCH VÀNH






Chuyên ngành : BỆNH HỌC NỘI KHOA

Mã số : 3.01.31



TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – Năm 2009







Công trình được hoàn thành tại:
ĐẠI HỌC Y DƯC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


Người hướng dẫn khoa học:
GS.TS. ĐẶNG VẠN PHƯỚC



Phản biện 1: GS.TS. NGUYỄN LÂN VIỆT

Phản biện 2: PGS.TS. PHẠM NGUYỄN VINH

Phản biện 3: PGS.TS. VÕ THÀNH NHÂN



Luận án sẽ được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nước họp tại:
ĐẠI HỌC Y DƯC TP HỒ CHÍ MINH


Vào hồi 14 giờ 00 ngày 16 tháng 5 năm 2009



Có thể tìm luận án tại thư viện :
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Khoa học Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh
- Thư viện Đại học Y dược TP. Hồ Chí Minh
- Thư viện Bệnh viện Chợ Rẫy TP. Hồ Chí Minh


















DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ

1.
Đinh Hiếu Nhân (2001). Khảo sát động mạch cảnh trên bệnh nhân xơ vữa động mạch bằng siêu
âm. Y Học TP. Hồ Chí Minh, tập 5 (1), tr. 29- 32.
2. Đinh Hiếu Nhân (2006). Tương quan giữa tổn thương xơ vữa động mạch cảnh và động mạch vành
trên bệnh nhân tăng huyết áp. Thời sự tim mạch học – Tháng 5(99), tr. 14 - 17.
3. Đinh Hiếu Nhân (2006). Tương quan giữa tổn thương xơ vữa trên động mạch cảnh và động mạch
vành trên bệnh nhân đái tháo đường có đau thắt ngực. Y Học TP. Hồ Chí Minh , tập 10(2), tr. 110
– 114.
4. Đinh Hiếu Nhân (2007). Tương quan giữa tổn thương xơ vữa động mạch cảnh và động mạch vành
trên bệnh nhân tăng huyết áp. Y Học TP. Hồ Chí Minh , Hội Nghò Khoa Học Kỹ Thuật lần thứ 24
– Chuyên đề Nội Khoa, tập 11(Phụ bản số 1), tr. 117 – 121.


1
GIỚI THIỆU LUẬN ÁN
1.Đặt vấn đề
Xơ vữa động mạch là bệnh lý của hệ thống động mạch toàn thân. Tổn
thương xơ vữa động mạch xuất hiện với nhiều mức độ khác trên trên các động
mạch khác nhau. Sự xuất hiện tổn thương xơ vữa trên 1 hệ thống động mạch là dấu
hiệu chỉ điểm quan trọng nhất cho bệnh lý xơ vữa động mạch và cũng là dấu hiệu
quan trọng cho thấy tổn thương xơ vữa cũng có thể đã xuất hiện ở các động mạch
khác. Do vậy, mối tương quan giữa tổn thương xơ vữa trên các hệ thống động
mạch có vai trò quan trọng trong phát hiện sớm và điều trò kòp thời những biến
chứng có thể xãy ra trên những hệ thống động mạch bò tổn thương xơ vữa động
mạch.
Nhiều kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy có mối tương quan giữa tổn
thương xơ vữa trên 2 hệ thống động mạch cảnh và động mạch vành với nhau và tổn
thương xơ vữa động mạch cảnh có thể giúp dự đoán bệnh lý động mạch vành. Như
vậy, mối tương quan giữa tổn thương xơ vữa trên 2 hệ thống động mạch này qua
những nghiên cứu trên đã mở ra thêm một hướng đi mới trong việc tầm soát sớm
tổn thương xơ vữa , đặc biệt là trên nhóm bệnh nhân có yếu tố nguy cơ tim mạch.
Do đó, nghiên cứu này được thực hiện nhằm vào những mục tiêu sau:
1. Xác định tỉ lệ xuất hiện và mức độ nặng của tổn thương xơ vữa động
mạch cảnh đoạn ngoài sọ trên bệnh nhân có bệnh lý động mạch vành.
2. Xác định mối tương quan giữa tổn thương xơ vữa trên động mạch cảnh
đoạn ngồi sọ và động mạch vành.
2. Tính cấp thiết của đề tài.
Nghiên cứu giúp đánh giá mối tương quan giữa tổn thương xơ vữa trên động
mạch vành và động mạch cảnh, từ đó xét đến khả năng áp dụng trong thực tế lâm
sàng ở nước ta nhằm tránh bỏ sót, phát hiện sớm và xử trí kòp thời tổn thương xơ
vữa động mạch cảnh trên nhóm bệnh nhân có bệnh lý động mạch vành.
3. Đóng góp mới của luận án.
- Tỉ lệ xuất hiện và mức độ nặng của tổn thương xơ vữa động mạch cảnh trên
nhóm bệnh nhân có bệnh lý động mạch vành.
- Mối tương quan giữa tổn thương xơ vữa trên động mạch cảnh và động mạch
vành.
4. Bố cục của luận án. Luận án gồm 113 trang , có 4 chương : Tổng quan 34 trang,
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 7 trang, Kết quả 20 trang, Bàn luận 20 trang.
Có 43 bảng, 3 biểu đồ, 11 hình và 136 tài liệu tham khảo ( tiếng Việt 6, tiếng Anh
130).
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU.

2
1.1. Xơ vữa động mạch. Xơ vữa động mạch là bệnh lý của cả hệ thống động mạch
tồn thân bao gồm cả hai q trình tái sinh và thoái hoá ảnh hưởng khởi đầu ở lớp
nội mạc và sau đó ảnh hưởng lên lớp trung mạc của thành động mạch.
Xơ vữa động mạch liên quan đến nhiều q trình liên quan chặt chẽ với nhau bao
gồm rối loạn về chuyển hóa lipid, hoạt hóa tiểu cầu, huyết khối, rối loạn chức năng
lớp nội mạc động mạch, hiện t
ượng viêm, tác động oxi hóa, hoạt hóa tế bào cơ trơn,
tái cấu trúc và yếu tố di truyền v. v… Mặc dù tổn thương xơ vữa động mạch đã được
biết đến từ nhiều thế kỷ, biểu hiện hậu quả trên lâm sàng của bệnh chủ yếu ở các
động mạch có kích thước trung bình, các động mạch lớn như động mạch chủ và
động mạch chậu có thể bò ảnh hưởng và di chứng thường gặp là phình động mạch
và các biến chứng của phình động mạch. Tổn thương xơ vữa sớm nhất của bệnh có
thể tìm thấy ở trẻ nhỏ và trẻ con ở dạng tổn thương được gọi là vệt mỡ , trong khi
những tổn thương nặng hơn được thấy ở người lớn. Tổn thương xơ vữa tiến triển
theo thời gian. Tổn thương xơ vữa được chia làm 3 loại theo mức độ nặng bao gồm:
vệt mỡ, dày lớp nội mạc lan tỏa và mảng xơ vữa. Có rất nhiều giả thuyết về bệnh
sinh xơ vữa động mạch như giả thuyết về lipid, giả thuyết về huyết động, giả
thuyết về sự gắn kết fibrin, giả thuyết về lớp tế bào trung mô không đặc hiệu, giả
thuyết đơn dòng, giả thuyết về tiêu thể, giả thuyết về tác động oxi hoá giả thuyết
tự miễn, giả thuyết đáp ứng với tổn thương. Nhưng cho đến nay giả thuyết được
chấp nhận nhiều nhất là giả thuyết đáp ứng với tổn thương.
1.2. Siêu âm động mạch cảnh. Là một phương pháp giúp đánh giá và chẩn đốn
bệnh lý của hệ thống động mạch cảnh đoạn ngồi sọ có độ nhạy và độ đặc hiệu cao.
Siêu âm Duplex là kỹ thuật siêu âm được áp dụ
ng phổ biến nhất hiện nay trong khảo
sát động mạch cảnh đoạn ngồi sọ.
1.3. Tương quan giữa tổn thương xơ vữa trên động mạch cảnh và động mạch
vành.
Xơ vữa động mạch là một bệnh lý xảy ra ở toàn bộ hệ thống động mạch máu,
trong đó các động mạch chủ bụng, động mạch vành, động mạch cảnh, động mạch
đùi v.v… là những vò trí xảy ra sớm. Các tổn thương xuất hiện trên các động mạch
khác nhau có thể không có cùng mức độ nặng và cũng không biểu hiện cùng lúc
trên lâm sàng. Như vậy khi tổn thương xơ vữa phát hiện được ở một vò trí nào đó
của một động mạch thì cũng có nhiều khả năng đã có những tổn thương xơ vữa đã
xuất hiện ở những nơi khác của hệ thống động mạch. Mặc dù có một số vò trí và
một số mạch máu có khuynh hướng đặc biệt dễ bò tổn thương xơ vữa hơn những nơi
khác, nhưng ở những các nhân riêng lẻ tổn thương xơ vữa không thường xuất hiện
đơn độc. Hơn nữa biểu hiện lâm sàng của bệnh xơ vữa động mạch ở một cơ quan
là yếu tố tiên đoán quan trọng cho những biến cố lâm sàng xảy ra ở những cơ quan
khác. Nhiều tác giả nhận thấy rằng khi bệnh nhân có biến cố về bệnh lý mạch
máu não cũng có tỉ lệ nguy cơ nhồi máu cơ tim trong 5 năm là 10 – 25% và tỉ lệ tử

3
vong do bệnh lý tim mạch không do tai biến mạch máu não trong 5 năm là 10 -
15%. Nguy cơ này cao gấp 5 – 10 lần khi so sánh với dân số chung.
Các nhà nghiên cứu người Nhật qua nghiên cứu tử thiết ở những bệnh nhân
tử vong tuổi từ 1 tháng tuổi đến 39 tuổi từ năm 1978 – 1982 đã phát hiện thấy tổn
thương xơ vữa ở động mạch chủ 2320 trường hợp, ở động mạch vành là 1620
trường hợp và ở động mạch não là 344 trường hợp. Như vậy xu hướng xuất hiện
tổn thương xơ vữa động mạch trên người Nhật trẻ tuổi nhiều nhất là ở động mạch
chủ . Trong nghiên cứu tìm mối tương quan giữa các vò trí tổn thương xơ vữa trên
các động mạch chủ, động mạch cảnh và động mạch đùi ở nhóm bệnh nhân có
bệnh lý động mạch vành, nhiều tác giả người Israel cũng đã phát hiện thấy tỉ lệ
xuất hiện tổn thương xơ vữa xuất hiện rất cao trên những động mạch này khi so với
nhóm bệnh nhân không có bệnh lý động mạch vành.
Trong thời gian gần đây có rất nhiều nghiên cứu về hình ảnh học được thực
hiện cho thấy tần suất xuất hiện tổn thương xơ vữa động mạch rất khác nhau trên
những vò trí và động mạch khác nhau. Điều này đã mỡ ra một hướng nghiên cứu
mới nhằm khảo sát mối tương quan giữa các tổn thương xơ vữa động mạch ở các vò
trí và các động mạch khác nhau trong cơ thể. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh sự
tương quan giữa xơ vữa động mạch cảnh và động mạch ngoại biên nhưng hầu hết
các nghiên cứu đều nhắm vào tìm sự tương quan giữa tổn thương xơ vữa động
mạch cảnh và động mạch vành và đã đưa ra nhiều kết luận quan trọng:
- Có sự tương quan giữa bệnh lý xơ vữa động mạch vành và động mạch cảnh.
- Trên những bệnh nhân có bệnh lý động mạch vành, tần suất xuất hiện xơ
vữa động mạch cảnh và động mạch ngoại biên cao.
- Các phương pháp khảo sát không xâm trong đánh giá bệnh lý động mạch
cảnh và động mạch ngoại biên có giá trò cao trong dự đoán bệnh lý động
mạch vành cũng như dự đoán biến cố xảy ra trong tương lai của bệnh lý
động mạch vành.
Trong đó mối tương quan giữa tổn thương xơ vữa trên động mạch cảnh và
động mạch vành được quan tâm đến nhiều nhất do vò trí thuận lợi cho việc khảo
sát cũng như kỹ thuật siêu âm phát triển cao giúp phát hiện tổn thương xơ vữa của
động mạch cảnh có độ nhạy và độ đặc hiệu cao. Các tác giả cố gắng chứng minh
và tìm mối tương quan giữa tổn thương xơ vữa xuất hiện sớm nhất trên hệ thống
động mạch cảnh đó là độ dày lớp nội mạc động mạch với biểu hiện lâm sàng của
bệnh lý động mạch vành và đã tìm thấy mối tương quan giữa các tổn thương xơ
vữa trên. Tuy nhiên , trong 34 nghiên cứu tìm mối tương quan giữa tổn thương giữa
độ dày lớp nội trung mạc động mạch cảnh và xơ vữa động mạch vành đã được báo
cáo có 30 nghiên cứu cho kết quả có mối tương quan ở mức trung bình, 17 nghiên
cứu trong số đó cho thấy có mối tương quan đến biến cố bệnh lý động mạch vành

4
trong tương lai và chỉ có 1 nghiên cứu cho thấy có bằng chứng mối tương quan giữa
sự thay đổi độ dày lớp nội trung mạc động mạch cảnh với biến cố bệnh lý động
mạch vành trong tương lai. Như vậy mối tương quan mức độ trung bình giữa độ dày
lớp nội trung mạc động mạch cảnh với biến cố bệnh lý động mạch vành có thể cho
thấy sự khác nhau của tiến trình xơ vữa động mạch xảy ra ở các hệ thống động
mạch khác nhau hơn là sự khác nhau trong giới hạn đo độ dày lớp nội trung mạc.

CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU.
2.1. Đối tượng nghiên cứu.
2.1.1. Mẫu nghiên cứu.
Nghiên cứu tiến hành khảo sát 106 bệnh nhân nhập khoa Tim mạch học can
thiệp – Bệnh viện Chợ Rẫy trong thời gian từ 4/2002 đến 10/2005.
2.1.2. Tiêu chuẩn nhận bệnh.
Bệnh nhân được chẩn đoán bệnh lý động mạch vành có biểu hiện đau
ngực trên lâm sàng nhập khoa Tim mạch học can thiệp để chụp động mạch vành
số hóa.
2.1.3. Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân không hợp tác. Bệnh nhân có suy tim nặng
hay rối loạn nhòp tim chưa được kiểm soát. Bệnh nhân có rối loạn đông cầm máu
chưa được kiểm soát.
2.2. Phương pháp nghiên cứu.
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu được thiết kế theo nghiên cứu cắt ngang, tiềân cứu, mô tả. Tất cả
bệnh nhân đều được tiến hành theo các bước sau:
2.2.1.1. Bước 1: Bệnh nhân được hỏi bệnh sử, khám lâm sàng, đo điện tâm đồ, các
xét nghiệm mỡ trong máu, đường máu và các xét nghiệm thường qui khác.
2.2.1.2. Bước 2: Tiến hành siêu âm Duplex động mạch cảnh ghi nhận các dữ liệu
về vò trí tổn thương, loại tổn thương và mức độ gây hẹp đường kính lòng mạch trên
hệ thống động mạch cảnh đoạn ngoài sọ 2 bên phải và trái. Không khảo sát động
mạch cảnh ngoài 2 bên.
2.2.1.3. Bước 3: Ghi nhận kết quả chụp động mạch vành số hoá, chú ý đến mức độ
hẹp nặng của tổn thương xơ vữa động mạch vành.


2.2.2. Phương tiện nghiên cứu :
- Máy siêu âm Duplex ALOKA SSG 4000 với đầu dò 7.5 MHz.

2.3. Xử lý số liệu.

5
- Các kết quả ghi nhận đều được xử lý thông kê bằng chương trình thống kê Y
học Epi Info 2002 và SPSS v.14. Các kết quả xử lý nhận được có ý nghóa thống
kê khi giá trò p < 0,05.

Chương 3: KẾT QUẢ
3.1. Đặc điểm chung của dân số nghiên cứu.
Bảng 3.1. Đặc điểm chung của dân số nghiên cứu.

Đặc
điểm
Số
trường
hợp
Trung
bình
Nam Nữ
Tuổi 58,48±1
2,34
56,71
±11,99
65,23
±11,56
Giới 84
(79,2%)
22
(22,8%)
Đái tháo
đường
24/106
(22,6%)
19/24
(79,2%)
5/24
(20,8%)
Tăng
huyết áp
47/106
(44,34%)
32/47
(68,1%)
15/47
(31,9%)
Rối loạn
lipid
máu
96/106
(90,56%)
74
(69,81%)
22
(20,75%
)
Bệnh lý
động
mạch
vành
106/106
(100%)
84
(79,2%)
22
(22,8%)
Hội
chứng
chuyển
hố
22/106
(20,75%)
15/22
(68,2%)
7/22
(31,8%)

Trong 106 bệnh nhân khảo sát, qua nghiên cứu có 5 trường hợp khơng có kết quả
xét nghiệm lipid máu và có 10 trường hợp khơng tính được LDL cholesterol do nồng
độ triglyceride trong máu tăng cao hơn 400mg%.





3.2 Kết quả chụp động mạch vành số hóa.

6

1
0

Biểu đồ 3.1. Đặc điểm về tổn thương động mạch vành trên chụp động mạch số hóa ở
dân số nghiên cứu.
Bảng 3.2. Tổn thương động mạch vành trong dân số nghiên cứu.
Mức
độ
hẹp
(%)
Đái
tháo
đườn
g
Tăng
huyết
áp
Rối loạn
lipid
máu
Hội
chứng
chuyển
hoá
Dân số
nghiên
cứu
0 1/24
(4,2%
)
8/47
(17%)
15/96
(15,6%)
3
(13,6%)
16/106
(15,1%
)
20 1/24
(4,2%
)
1/96
(1%)
1 (4,5%) 1/106
(0,9%)
25 1/47
(
2,1%)
2/96
(2,1%)
1 (4,5%) 2/106
(1,9%)
30 1/47
(
2,1%)
1/96
(1%)
1 (4,5%) 1/106
(0,9%)
40 1/47
(
2,1%)
1/96
(1%)
1/106
(0,9%)
50 3/47
(6,4%
)
4/96
(4,2%)
4/106
(3,8%)
60 1/47
(
2,1%)
1/96
(1%)
1/106
(0,9%)
70 1/24
(4,2%
)
2/47
(4,3%
)
3/96
(3,1%)
2 (9,1%) 3/106
(2,8%)
80 2/24
(8,3%
8/47
(17%)
11/96
(11,5%)
2 (9,1%) 12/106
(11,3%
Không có tổn
thương
(
16/106 # 15
,
1%
)
Có tổn thương
(90/106 # 84,9%)

7
) )
90 6/24
(25%)
8/47
(17%)
14/96
(14,6%)
4
(18,2%)
15/106
(14,2%
)
95 4/24
(16,7
%)
7/47
(14,9
%)
12/96
(12,5%)
2 (9,1%) 14/106
(13,2%
)
99 1/96
(1%)
1/106
(0,9%)
100 9/24
(37,5
%)
7/47
(14,9
%)
30/96
(31,3%)
6
(27,3%)
35/106
(33%)

Mức độ tổn thương trên động mạch vành thay đổi từ không bị hẹp cho đến tắc
hoàn toàn động mạch vành, tập trung nhiều nhất ở nhóm bệnh nhân có tổn thương xơ
vữa gây hẹp > 70% đường kính lòng mạch (có 80/106 trường hợp chiếm 75,47%).
3.3. KẾT QUẢ TỔN THƯƠNG XƠ VỮA ĐỘNG MẠCH CẢNH PHÁT HIỆN
BẰNG SIÊU ÂM DUPLEX.

1
0


Biểu đồ 3.2. Tổn thương xơ vữa động mạch cảnh đoạn ngoài sọ phát hiện bằng siêu
âm.

Bảng 3.3. Vị trí tổn thương động mạch cảnh đoạn ngoài sọ phát hiện trên siêu âm
Duplex.

Tổng
cộng
Nam Nữ p
Động mạch cảnh phải 80 63 17
Động mạch cảnh trái 77 60 17
0,733

Động mạch cảnh
chung phải
52 42 10
Động mạch cảnh
chung trái
54 43 11
0,3
Nơi chia đôi động 44 34 10 0,339
Có tổn thương
86/106 ( 81,1%)
Không có tổn
thương 20/106
(
18
,
9%
)

8
mạch cảnh chung phải
Nơi chia đôi động
mạch cảnh chung trái
39 30 9
Động mạch cảnh
trong phải
7 4 3
Động mạch cảnh
trong trái
8 5 3
0,515

Vị trí tổn thương xơ vữa trên hệ thống động mạch cảnh bên phải và trái không có sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê.
Bảng 3.4. Đặc điểm về loại tổn thương xơ vữa trên động mạch cảnh đoạn ngoài sọ
phát hiện bằng siêu âm.

Tổng cộng Nam Nữ
Tổn thương loại 1 13 9 4
Tổn thương loại 2 51 43 8
Tổn thương loại 3 22 17 5

Bảng 3.5. Mức độ nặng của tổn thương xơ vữa trên động mạch cảnh đoạn ngoài sọ
phát hiện bằng siêu âm Duplex trên các
nhóm bệnh nhân.
Mức
độ
hẹp
(%)
Đái
tháo
đường
Tăng
huyết
áp
Rối
loạn
lipid
máu
Hội
chứng
chuyển
hoá
Dân
số
nghiê
n cứu
0 2 /24
(8,3%)
8/47
(17%)
18/96
(18,8%)
2
(9,1%)
20/10
6
(18,9
%)
25 18/24
(75%)
32/47
(68,1%
)
65/96
(67,7%)
14
(63,6%
)
71/10
6
(6,7%
)
30 1/24
(
4,2%)
3/47
( 6,4%)
6/96
(6,3%)
2
(9,1%)
6/106
(5,7%
)
50 3/24
(
12,5%
)
2/47
( 4,3%)
5/96
(5,2%)
3
(13,6%
)
6/106
(5,7%
)
75 1/47(2,
1%)
1 /96
(1%)
1
(4,5%)
1/106
(0,9%

9

Tổn thương xơ
vữa động mạch cảnh
tập trung nhiều vào
mức độ hẹp 25% đường
kính lòng mạch ở các
nhóm bệnh nhân khảo
sát.

Bảng 3.6. Tỉ lệ xuất hiện tổn thương xơ vữa trên động mạch cảnh đoạn ngoài sọ phát
hiện bằng siêu âm Duplex trên các nhóm bệnh nhân.


Tổn thương động mạch cảnh
Nhóm bệnh nhân Có Không
Đái tháo đường 22/24 (91,7%) 2/24 (8,3%)
Tăng huyết áp 39/47 (83%) 8/47 (17%)
Rối loạn lipid máu 78/96 (81,3%) 18/96 (18,8%)
Hội chứng chuyển hoá 20/22 (90,9%) 2/22 (9,1%)
Dân số nghiên cứu 86/106 (81,1%) 20/106 (18,9%)

3.4. Mối tương quan giữa tổn thương xơ vữa trên động mạch cảnh và động
mạch vành.
Bảng 3.7. Kết quả siêu âm Duplex động mạch cảnh đoạn ngoài sọ có đối chiếu với
chụp động mạch vành số hoá trên dân số nghiên cứu.


Tỉ số chênh = 6,5

Phép kiểm Chi
bình phương = 11,9312
P = 0.0005
Giá trị tiên đoán
dương = 90,7%

Độ nhạy = 86,7%
Nhận xét: Kết quả của bảng trên cho thấy rằng đối với những bệnh nhân có tổn
thương trên động mạch vành được phát hiện bằng siêu âm ở nhóm dân số nghiên cứu
có nguy cơ bị tổn thương trên động mạch cảnh đoạn ngoài sọ cao với giá trị tiên đoán
dương tính là 90,7%, độ nhạy là 86.7% và tỉ số chênh là 6,5 lần (p = 0,0005).
Bảng 3.8. Kết quả siêu âm Duplex động mạch cảnh
đoạn ngoài sọ có đối chiếu với
kết quả chụp động mạch vành số hoá trong nhóm bệnh nhân có đái tháo đường.
)
90 1/47(2,
1%)
1/96(1
%)
2/106
(1,9%
)
Tổn
g
cộng
22/24
(91,7
%)
39/47
(83%)
78/96
(81,3%)
20/22
(90,9%
)
86/10
6
(81,1
%)
Động mạch vành
Động mạch
cảnh
Không tổn
thương
Có tổn
thương
Không tổn
thương
8 12
Có tổn thương 8 78
Tổng cộng 16 90

Tổn thương xơ vữa động

10

Tổn thương xơ
vữa động mạch
cảnh
Không có
tổn
thương
Có tổn
thương
Tổng cộng
Không có tổn
thương
0 2 2
Có tổn thương 1 21 22
Tổng cộng 1 23 24

Tỉ số chênh = Không tính được.
Giá trị tiên đoán dương = 95,5%.
Độ nhạy = 91,3%

Bảng 3.9. Kết quả siêu âm Duplex động mạch cảnh đoạn ngoài sọ có đối chiếu với
kết quả chụp động mạch vành số hoá trong nhóm bệnh nhân có rối loạn lipid máu.

Tỉ số chênh
= 8,1143.
Giá trị tiên
đoán dương = 91%
,
p = 0,001
Trên nhóm
bệnh nhân rối loạn
lipid máu có tổn
thương xơ vữa động mạch vành phát hiệ
n bằng chụp động mạch vành số hóa có nguy
cơ xuất hiện tổn thương hệ thống động mạch cảnh đoạn ngoài sọ cao với tỉ số chênh
8,1143 lần và có ý nghĩa thống kê với p = 0,001.
Bảng 3.10. Kết quả siêu âm Duplex động mạch cảnh đoạn ngoài sọ có đối chiếu với
kết quả chụp động mạch vành số hoá trong nhóm bệnh nhân tăng huyết áp.


Tỉ

số
chên
h =
8,75
Phép
kiểm Chi bình phương ( có hiệu chỉnh Yates) = 4,8766.
p = 0,027
Giá trị tiên đoán dương = 89,7%


mạch vành

Tổn thương xơ vữa động mạch vành
Tổn thương xơ
vữa
động mạch cảnh
Không có tổn thương Có tổn thươngTổng cộng
Không có tổn
thương
8 10 18
Có tổn thương 7 71 78
Tổng cộng 15 81
96

Tổn thương xơ vữa động mạch vành
Tổn thương xơ vữa động mạch cảnh
Không có tổn
thương
Có tổn thương Tổng cộng
Không có tổn thương 4 4 8
Có tổn thương 4 35 39
Tổng cộng 8 39 47

11
Bảng 3.11. Kết quả siêu âm Duplex động mạch cảnh đoạn ngoài sọ có đối chiếu với
kết quả chụp động mạch vành số hoá trong nhóm bệnh nhân có hội chứng chuyển
hoá.

Tổn thương xơ
vữa động mạch
vành
Không có
tổn
thương
Có tổn
thương
Tổng
cộng
Không có tổn
thương
2 1 3
Có tổn thương 0 19 19
Tổng cộng 1 20 22

Giá trị tiên đoán dương = 100%
Độ đặc hiệu = 100%
Độ nhạy = 95,5%.

3.5. Hệ số tương quan giữa tổn thương xơ vữa trên động mạch cảnh và động
mạch vành.
Bảng 3.12. Hệ số tương quan giữa tổn thương xơ vữa trên động mạch cảnh đoạn
ngoài sọ và động mạch vành.
Nhóm bệnh
nhân
Hệ số
Spearman
Dân số
nghiên cứu
0,335
(p=0,0001)
Tăng huyết
áp
0,397 (0,006)
Đái tháo
đường
0,165 (0,91)
Rối loạn
lipid máu
0,383
(p=0,0001)
Hội chứng
chuyển hoá
0,796
(p=0,0001)

Bảng 3.13. Hệ số tương quan Spearman giữa loại tổn thương xơ vữa động mạch cảnh
đoạn ngoài sọ và tổn thương xơ vữa động mạch vành.
Loại tổn
thương
Dân số nghiên cứu
Hệ số P
Loại 1 0,146 0,416
Loại 2 0,407
0,0001


Tổn thương xơ vữa động
mạch cảnh

12
Loại 3 0,362
0,018

Bảng 3.14. Hệ số tương quan giữa loại tổn thương xơ vữa động mạch cảnh đoạn
ngoài sọ và tổn thương xơ vữa động mạch vành.
Loại
tổn
thươ
ng
Nhóm
tăng
huyết áp
Hội chứng
chuyển
hoá
Nhóm rối
loạn lipid
máu
Hệ
số
P Hệ
số
P Hệ
số
P
Loại
1
0,40
5
0,12 0,66
7
0,21
9
0,19
8
0,295
Loại
2
0,40
0
0,02
8
0,77
5
0,00
3
0,43
6
0,000
1
Loại
3
0,44
4
0,06
5
1 0,00
01
0,45
6
0,005
Hệ số tương quan được sử dụng là hệ số Spearman, và giá trị có ý nghĩa thống kê khi
p<0,05. Tổn thương xơ vữa mức độ nặng trên động mạch cảnh có mối tương quan có
ý nghĩa thống kê với tổn thương xơ vữa trên động mạch vành. Nhóm bệnh nhân đái
tháo đường không tính được do mẫu còn nhỏ.

Bảng 3.15. Tương quan giữa mức độ hẹp của tổn thương xơ
vữa động mạch cảnh
đoạn ngoài sọ và mức độ hẹp của tổn thương trên động mạch vành.
Nhận xét: Nhóm bệnh nhân đái
tháo đường không có sự
tương quan có ý nghĩa thống kê.
Các nhóm bệnh nhân khác đều có
mối tương quan có ý nghĩa thống
kê (p<0,05).

Bảng 3.16. Hệ số tương quan
Spearman giữa vị trí tổn thương
trên động mạch cảnh đoạn ngoài sọ và tổn thương trên
động mạch vành.

Vị trí
Dân số
nghiên cứu
Nhóm tăng
huyết áp
Hội chứng
chuyển hoá
Nhóm rối
loạn lipid
máu

Hệ
số
P Hệ
số
P Hệ
số
P Hệ
số
P
XV-P 0,250
0,01
0,355
0,014
0,5
0,018
0,283
0,005
XV-T 0,273
0,005
0,297
0,043
0,417 0,054 0,394
0,0001
RCCA 0,203 0,37 0,236 0,11 0,169 0,451 0,213
0,036
Nhóm nghiên cứu Hệ số
Pearson
P
Dân số nghiên cứu 0,315 0,001
Rới loạn lipid máu 0,347 0.0001
Tăng huyết áp 0,403 0,005
Đái tháo đường 0,054 0,801
Hội chứng chuyển
hoá
0,595 0,003

13
LCCA 0,116 0,089 0,123 0,41 0,097 0,668 0,174 0,088
RBIF 0,141 0,149 0,236 0,11 0,478
0,025
0,176 0,084
LBIF 0,212
0,029
0,240 0,104 0,526
0,012
0,226
0,026
RICA 0,006 0,951 0,113 0,448 0,126 0,577 0,009 0,93
LICA 0,079 0,421 0,095 0,523 0,087 0,701 0,009 0,93

Bảng 3.17. Kết quả siêu âm Duplex phát hiện tổn thương xơ vữa trên động mạch
cảnh theo tuổi và giới có đối chiếu với kết quả chụp động mạch vành số hoá.

Nam Nữ
Tuổi
Tỉ số
chênh
P Tỉ số
chênh
P
Dân
số
nghiê
n cứu
27-87
11,2
GTTĐ
D =
92,8%
Độ
nhạy
=
88,9%
0,000
1



≥ 40
9,15
GTTĐ
D
=92,4
%
Độ
nhạy
=88,4
%
0,000
49
1,1166
7
0,589
4


≥ 45
3,5
GTTĐ
D =
87,5%
Độ
nhạy =
87,5%
0,002
1

GTTĐD = Giá trị tiên đoán dương.

Chương 4. BÀN LUẬN.

4.1. Đặc điểm chung của dân số nghiên cứu.

14
Trong nghiên cứu này có 106 trường hợp thoả tiêu chuẩn được đưa vào khảo sát,
tuổi trung bình là 58 tuổi. Tỉ lệ giữa nam và nữ là 3,81, như vậy số bệnh nhân nam
chiếm tỉ lệ cao trong khảo sát này. Trong các nhóm yếu tố nguy cơ tim mạch ghi
nhận được trên dân số nghiên cứu, qua nghiên cứu cho thấy yếu tố rối loạn lipid máu
là yếu tố xảy ra nhiều nhất với tỉ lệ 90,56%. Số trường hợp có tăng huy
ết áp và đái
tháo đường chiếm lần lượt 44,34% và 22,06%, và cũng ghi nhận được có 22 trường
hợp chiếm 20,75% có hội chứng chuyển hoá (Bảng 3.1).
4.2. Kết quả chụp động mạch vành số hoá trên dân số nghiên cứu.
Trong 106 trường hợp khảo sát có 90 trường hợp phát hiện tổn thương xơ vữa
động mạch vành trên kết quả chụp động mạch số hoá chiếm tỉ lệ 84,9%. Mức độ tổn
th
ương trên động mạch vành tập trung nhiều nhất ở nhóm bệnh nhân có tổn thương
xơ vữa gây hẹp > 70% đường kính lòng mạch (có 80/106 trường hợp chiếm 75,47%).
Có 16 trường hợp không phát hiện tổn thương xơ vữa trên chụp động mạch vành số
hoá mặc dù lâm sàng có biểu hiện đau thắt ngực và có các yếu tố nguy cơ tim mạch
đi kèm (Bảng 3.2). Điều này có thể xảy ra do có nhiều nguyên nhân gây đau ngực có
tính chấ
t gần giống với đau thắt ngực cũng như biểu hiện trên điện tâm đồ của bệnh
tim thiếu máu cục bộ cũng không có dấu hiệu đặc hiệu cao cho bệnh, mặt khác có thể
xem chụp động mạch vành số hoá là một xét nghiệm giúp chẩn đoán loại trừ hẳn
bệnh lý động mạch vành trên bệnh nhân đau ngực kèm với nguy cơ cao bệnh lý tim
mạch trong những tr
ường hợp cần thiết.
4.3. Kết quả siêu âm Duplex động mạch cảnh đoạn ngoài sọ trên dân số nghiên
cứu.
Theo kết quả nghiên cứu ở biểu đồ 3.2 ghi nhận được 81,1% các trường hợp có
tổn thương xơ vữa động mạch cảnh đoạn ngoài sọ phát hiện được bằng siêu âm
Duplex. Tổn thương xơ vữa được phát hiện ở tất cả các vị trí của h
ệ thống động mạch
cảnh đoạn ngoài sọ không có sự khác biệt giữa số lượng tổn thương bên phải và bên
trái, nhưng vị trí tổn thương phát hiện nhiều nhất vẫn là ở động mạch cảnh chung và
nơi chia đôi của động mạch cảnh chung.
Về đặc điểm của tổn thương xơ vữa, các tổn thương loại 2 và loại 3 chiếm tỉ
lệ
cao (Bảng 3.5), đây là những tổn thương nặng của bệnh lý xơ vữa động mạch và là
những tổn thương có thể gây ra biến chứng làm giảm tưới máu đến cơ quan đích.
Những tổn thương này dễ dàng phát hiện được bằng siêu âm Duplex và là những tổn
thương gây hẹp đáng kể lòng động mạch. Các tổn thương loại 1 thường nhẹ, không
gây hẹp đáng kể lòng mạ
ch và có tỉ lệ xuất hiện thấp hơn. Tổn thương động mạch
cảnh đoạn ngoài sọ được phát hiện bằng siêu âm Duplex chiếm tỉ lệ cao trong từng
nhóm bệnh nhân riêng lẻ, trong đó nhóm bệnh nhân đái tháo đường và hội chứng
chuyển hoá có tỉ lệ rất cao > 90% (Bảng 3.4).
4.4. Mối tương quan giữa tổn thương xơ vữa trên động mạch cảnh và động
mạch vành.
Trong 106 tr
ường hợp nghiên cứu, ghi nhận được có 86 trường hợp có tổn
thương trên động mạch cảnh đoạn ngoài sọ phát hiện bằng siêu âm Duplex và 90
trường hợp có tổn thương xơ vữa động mạch vành phát hiện bằng chụp động mạch số
hoá. Khi đối chiếu giữa tổn thương xơ vữa của 2 hệ thống động mạch trên trong dân

15
số nghiên cứu, qua nghiên cứu nhận thấy rằng ở những bệnh nhân có tổn thương xơ
vữa trên động mạch vành sẽ có khả năng đã xuất hiện tổn thương xơ vữa trên động
mạch cảnh với tỉ số chênh cao hơn gấp 6,5 lần khi so với nhóm bệnh nhân không có
tổn thương động mạch vành với p = 0,0005, và giá trị tiên đoán dương cho tổn
thương xơ vữa
động mạch cảnh khi có tổn thương xơ vữa trên động mạch vành là
90,7%(Bảng 3.7). Khi so sánh với kết quả nghiên cứu Rotterdam, kết quả nghiên cứu
cho thấy tỉ số chênh trong nghiên cứu này cao hơn nhiều so với nghiên cứu
Rotterdam, kết quả khác biệt có thể do trong nghiên cứu Rotterdam chỉ khảo sát đến
độ dày của lớp nội trung mạc động mạch cảnh nghĩa là chỉ khảo sát tổn thương xơ
vữa xả
y ra sớm, trong khi đó nghiên cứu này khảo sát tất cả các loại tổn thương xơ
vữa từ nhẹ đến nặng điều đó có thể làm gia tăng tỉ số chênh trong nghiên cứu.
Tổn thương xơ vữa trên động mạch vành có vai trò quan trọng trong tiên đoán
cho bệnh lý ở động mạch cảnh khi mà hệ số tương quan giữa sự xuất hiện tổn thương
xơ vữa ở 2 h
ệ thống mạch máu khảo sát là 0,355 (p=0,0001) (Bảng 3.12). Kết quả
cũng phù hợp với nhận xét của các tác giả Jacek Nowak và Tage Nilsson nhận thấy
qua nghiên cứu của mình những bệnh nhân có tổn thương xơ vữa động mạch cảnh
đoạn ngoài sọ có mối tương quan cao với tổn thương xơ vữa động mạch vành với hệ
số tương quan Spearman = 0,332 (p=0,001).
Như vậy tổn thương xơ vữa trên 2 hệ
thống động mạch có mối tương quan chặt
với nhau trong quá trình diễn tiến của xơ vữa động mạch, việc nhận biết tổn thương
xơ vữa trên một hệ thống động mạch là yếu tố quan trọng cho dự đoán tổn thương xơ
vữa đã xuất hiện trên hệ thống động mạch khác và ngược lại. Điều này rất có ích trên
thực t
ế lâm sàng trong tầm soát sớm bệnh lý động mạch vành cũng như bệnh lý động
mạch cảnh trên những đối tượng bệnh nhân có nguy cơ bệnh lý tim mạch và thời
điểm nên tiến hành khảo sát nhằm có kế hoạch dự phòng và điều trị sớm tránh những
biến chứng nguy hiểm đe doạ tính mạng có thể xảy ra.
4.5. Mối tương quan giữa vị trí tổn thương xơ vữa trên
động mạch cảnh và tổn
thương xơ vữa động mạch vành.
Khi khảo sát đến mối tương quan giữa vị trí của tổn thương xơ vữa động mạch
cảnh đoạn ngoài sọ với tổn thương xơ vữa động mạch vành trên dân số nghiên cứu,
nghiên cứu cho thấy tổn thương xơ vữa động mạch vành có khả năng tiên đoán cho
sự xuất hi
ện của xơ vữa động mạch trên hệ thống động mạch cảnh bên trái và hệ
thống động mạch cảnh bên phải với hệ số tương quan lần lượt là 0,250 (p=0,01) và
0,273 (p=0,005). Nhưng khi xét đến từng vị trí cụ thể thì kết quả nghiên cứu không
ghi nhận được bất kỳ vị trí riêng lẻ nào trên hệ thống động mạch cảnh 2 bên có mối
tương quan có ý nghĩa thống kê đến sự
xuất hiện xơ vữa động mạch vành (Bảng
3.16) mặc dù các vị trí tổn thương có tỉ số chênh khá cao.
Như vậy, mặc dù tổn thương xơ vữa xuất hiện trên động mạch vành có thể dự
đoán cho sự xuất hiện của tổn thương xơ vữa trên động mạch cảnh nhưng lại không
có ý nghĩa thống kê khi khảo sát về mối liên hệ giữa tổn thươ
ng xơ vữa động mạch
vành và các vị trí xuất hiện tổn thương xơ vữa khác nhau trên hệ thống động mạch
cảnh đoạn ngoài sọ.

16
4.6. Mối tương quan giữa phân loại tổn thương xơ vữa trên động mạch cảnh và
tổn thương xơ vữa trên động mạch vành.
Như vậy, khi tổn thương xơ vữa đã xuất hiện và tiến triển trên một hệ thống
động mạch thì cũng đã xuất hiện và tiến triển trên những hệ thống động mạch khác
bởi vì xơ vữa động m
ạch là bệnh lý của hệ thống động mạch toàn thân. Tổn thương
xơ vữa nặng phát hiện được trên một vị trí của một hệ thống động mạch có thể là dấu
hiệu chỉ điểm giúp dự đoán được sự hiện diện của tổn thương ở hệ thống động mạch
khác tốt hơn là những tổn thương xơ vữa nh
ẹ. Tổn thương xơ vữa nặng trên động
mạch cảnh chứng tỏ tiến trình xơ vữa động mạch đã diễn tiến một thời gian dài trước
đó không được phát hiện do không có biểu hiện lâm sàng. Sự tiến triển nặng của tổn
thương xơ vữa trên động mạch cảnh cùng sự tương quan chặt với tổn thương xơ vữa
trên động mạch vành c
ũng có thể giúp dự đoán đã có tổn thương xơ vữa xuất hiện ở
những nơi khác trên hệ thống động mạch toàn thân trong đó động mạch chủ, động
mạch chi dưới là những vị trí có khả năng nhiều nhất .
Những tổn thương xơ vữa xuất hiện trên động mạch cảnh loại 2 và loại 3 có mối
tương quan có ý nghĩa thống kê sự xuấ
t hiện của tổn thương xơ vữa trên động mạch
vành ở nhóm dân số nghiên cứu với hệ số tương quan Spearman lần lượt là 0,407
(p=0,0001) và 0,362 (p=0,018) (Bảng 3.13). Theo kết quả nghiên cứu về bệnh lý tim
mạch ở Anh được thực hiện trên bệnh nhân ở 2 tỉnh khác nhau đã cho rằng những tổn
thương mảng xơ vữa trên động mạch cảnh đoạn ngoài sọ phát hiện bằng siêu âm có
giá tr
ị hơn là độ dày lớp nội trung mạc trong dự đoán tổn thương xơ vữa động mạch
vành và nên bắt đầu kế hoạch điều chỉnh, theo dõi các yếu tố nguy cơ tim mạch khi
phát hiện tổn thương mảng xơ vữa trên động mạch cảnh.
4.7. Mối tương quan giữa mức độ hẹp nặng của tổn thương xơ vữa trên động
mạch c
ảnh và mức độ hẹp nặng của tổn thương xơ vữa trên động mạch vành.
Khi xét đến mối tương quan giữa mức độ hẹp nặng hay nhẹ của tổn thương xơ
vữa trên 2 hệ thống động mạch khảo sát trong dân số nghiên cứu, nghiên cứu cũng
tìm được mối tương quan có ý nghĩa thống kê giữa mức độ nặng của tổn thương với
hệ
số tương quan Pearson = 0,315 và p = 0,001(bảng 3.15). Kết quả này cũng phù
hợp với nghiên cứu Rotterdam khi cho rằng sự tiến triển nặng lên của bề dày lớp nội
trung mạc động mạch cảnh ở bất kỳ vị trí nào cũng có giá trị tiên đoán cao cho nhồi
máu cơ tim diễn ra trong tương lai .
Như vậy, mức độ nặng và loại tổn thương xơ vữa trên động mạch cảnh đoạn
ngoài sọ được phát hiện có mối tương quan chặt với sự xuất hiện của tổn thương xơ
vữa động mạch vành. Điều này rất hữu ích cho thực hành lâm sàng nhằm tránh bỏ sót
chẩn đoán tổn thương động mạch cảnh khi đã phát hiện ra bệnh lý xơ vữa động mạch
vành và giúp đề ra được kế hoạch điều trị và theo dõi lâu dài ở những bệnh nhân có
nguy c
ơ bệnh lý tim mạch. Khi đã phát hiện tổn thương xơ vữa trên một hệ thống
động mạch vành hay động mạch cảnh nên khảo sát thường qui tìm và đánh giá tổn
thương xơ vữa ở hệ thống động mạch còn lại cũng như khảo sát các hệ thống động
mạch khác, đặc biệt ở nhóm bệnh nhân có biểu hiện lâm sàng bệnh lý động mạch
vành và có chỉ định can thiệp
động mạch vành.

17
4.8. Mối tương quan giữa tổn thương xơ vữa động mạch cảnh và động mạch
vành trên các nhóm bệnh nhân có yếu tố nguy cơ.
Các yếu tố nguy cơ tim mạch ngày càng được phát hiện nhiều hơn, trong đó
những yếu tố nguy cơ như tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu là những
yếu tố quan trọng và thường gặp nhất trên thực tế lâm sàng. Các yếu tố nguy cơ này
có thể xuất hiện riêng lẻ hay kết hợp trên bệnh nhân. Trong khảo sát này, những
nhóm bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ này cho thấy tỉ lệ xuất hiện tổn thương xơ vữa
động mạch cảnh và động mạch vành rất cao.
4.8.1. Nhóm bệnh nhân tăng huyết áp.
Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng khi bệnh nhân tăng huyết áp có tổn
thương xơ vữa động mạch vành thì khả năng xuất hi
ện tổn thương xơ vữa trên động
mạch cảnh đoạn ngoài sọ tăng gấp 8,75 lần so với bệnh nhân không có xơ vữa động
mạch vành (p=0,027) (Bảng 3.10). Như vậy, tổn thương xơ vữa động mạch cảnh và
động mạch vành có mối tương quan chặt với nhau trên bệnh nhân tăng huyết áp, với
hệ số tương quan Spearman giữa 2 tổn thương xơ vữa là 0,397 có ý nghĩa th
ống kê
với p = 0,006 (Bảng 3.12).
4.8.2. Nhóm bệnh nhân có hội chứng chuyển hoá.
Hội chứng chuyển hoá rất phổ biến trên thế giới và ngày càng được biết
đến và phát hiện nhiều hơn. Hội chứng chuyển hoá bao gồm nhiều yếu tố nguy cơ
tim mạch hiện diện đồng thời trên bệnh nhân, là yếu tố nguy cơ độc lập và rất quan
trọng cho bệnh lý tim mạch. Trong khảo sát này ghi nhận được 22 trường h
ợp có hội
chứng chuyển hoá trên lâm sàng kèm với đau thắt ngực, hầu như chắc chắn đã có tổn
thương xơ vữa nặng trên động mạch vành. Theo kết qủa bảng 3.20 có đến 90,9% các
trường hợp có tổn thương động mạch cảnh đoạn ngoài sọ được phát hiện bằng siêu
âm Duplex và giá trị tiên đoán dương của tổn thương xơ vữa động mạch vành cho sự
xu
ất hiện của tổn thương xơ vữa trên động mạch cảnh là 100% các trường hợp (Bảng
3.11).
Đặc biệt khi khảo sát mối tương quan giữa loại tổn thương xơ vữa động mạch
cảnh đoạn ngoài sọ phát hiện trên siêu âm với tổn thương xơ vữa động mạch vành
qua nghiên cứu nhận thấy rằng những tổn thương xơ vữa loại 2 và loại 3 trên
động
mạch cảnh có mối tương quan không chỉ với sự xuất hiện của tổn thương xơ vữa
động mạch vành với hệ số tương quan Spearman lần lượt là 0,775 (p= 0,003) và 1
(p= 0,0001) (Bảng 3.14).
4.8.3. Nhóm bệnh nhân có rối loạn lipid máu.
Trong kết quả nghiên cứu tỉ lệ xuất hiện xơ vữa động mạch vành trên
nhóm bệnh nhân này là 84,4% (Bảng 3.2) và tỉ lệ xuất hiện tổn thương xơ vữa trên
động mạch cảnh đoạn ngoài sọ là 91,7% (Bảng 3.5). Trong đó tổn thương xơ vữa có
mức độ nặng gây hẹp động mạch vành từ 70% đường kính lòng mạch trở lên chiếm
73,96% các trường hợp có tổn thương động mạch vành và 31,3% các trường hợp có
tắc hoàn toàn động mạch vành (Bảng 3.16).
Khi đối chiếu kết quả siêu âm Duplex động mạch cảnh đoạn ngoài sọ và kết
quả chụp
động mạch vành số hoá, kết quả nghiên cứu cho thấy những bệnh nhân có
tổn thương xơ vữa động mạch vành có khả năng xuất hiện tổn thương xơ vữa động

18
mạch cảnh tăng hơn 8,1143 lần khi so với nhóm bệnh nhân không có tổn thương xơ
vữa trên động mạch vành (p=0.001) và giá trị tiên đoán dương cho sự xuất hiện tổn
thương xơ vữa động mạch vành là 91% (Bảng 3.9). Mặt khác, khi khảo sát đến mối
tương quan giữa tổn thương xơ vữa trên 2 hệ thống động mạch này cũng nhận thấy có
mối tương quan có ý nghĩa thống kê (p=0,0001) khi khảo sát b
ằng hệ số tương quan
Spearman = 0,383 (Bảng 3.12).
4.8.4. Nhóm bệnh nhân có đái tháo đường.
Nhóm bệnh nhân có đái tháo đường được khảo sát trong nghiên cứu gồm
24 trường hợp chiếm 22,6% (Bảng 3.1), trong đó có đến 95,8% trường hợp có tổn
thương xơ vữa động mạch vành trên kết quả chụp động mạch số hoá (Bảng 3.2) và
hầu hết bệnh nhân trong nhóm này có tổn thương xơ vữa động mạch vành mức độ
n
ặng từ 70% diện tích trở lên chiếm 91,66% và có 37,5% trường hợp tắc hoàn toàn
động mạch vành (Bảng 3.2).
Theo kết quả nghiên cứu (Bảng 3.17) cho thấy rằng trong dân số nghiên cứu đối
với nam giới nếu có đau ngực trên lâm sàng và được chẩn đoán có bệnh lý động
mạch vành có thể có kèm theo yếu tố nguy cơ nên được khuyến cáo chỉ định thực
hiện siêu âm Duplex động mạch cảnh đoạn ngoài sọ ngay bởi vì khả
năng đã xuất
hiện tổn thương xơ vữa động mạch cảnh ở nhóm bệnh nhân này cao gấp 11,2 lần (p =
0,0001) khi so với bệnh nhân không có tổn thương xơ vữa động mạch vành, và với độ
nhạy là 88,9%, giá trị tiên đoán dương là 92,8%. Trong khi đó ở nữ giới, nên khuyến
cáo chỉ định thực hiện siêu âm Duplex động mạch cảnh đoạn ngoài sọ khi bệnh nhân
từ 45 tuổi trở
lên với tỉ số chênh là 3,5 (P=0,0021), với độ nhạy là 87,5% và giá trị
tiên đoán dương là 87,5%.

KẾT LUẬN.
Qua khảo sát 106 trường hợp siêu âm Duplex động mạch cảnh đoạn ngoài sọ
trên bệnh nhân được chẩn đoán có bệnh lý động mạch vành kèm đau ngực trên lâm
sàng được đối chiếu với kết quả chụp động mạch vành số hoá đã rút ra được một số
kết luận sau:
1. Tổn th
ương xơ vữa động mạch cảnh đoạn ngoài sọ được phát hiện với tỉ lệ cao
(81,1%) trên thực tế lâm sàng ở bệnh nhân có bệnh lý động mạch vành.
Tổn thương xơ vữa động mạch mức độ nặng (loại 2 và loại 3) trên hệ thống động
mạch cảnh đoạn ngoài sọ xuất hiện với tỉ lệ cao trên nhóm đối tượng nghiên cứu (
84,88% ).
2. T
ương quan giữa tổn thương xơ vữa động mạch cảnh và động mạch vành.
- Có sự tương quan với nhau mức trung bình giữa sự xuất hiện của tổn thương xơ
vữa trên hai hệ thống động mạch vành và động mạch cảnh ( tỉ số chênh = 6,5 , p=
0,0005 ; hệ số tương quan = 0,335 , p = 0,0001).

19
- Không có vị trí riêng biệt nào trên hệ thống động mạch cảnh đoạn ngoài sọ
có tương quan với tổn thương xơ vữa động mạch vành, ngoại trừ nơi chia đôi của
động mạch cảnh chung trái .
- Tổn thương xơ vữa mức độ nặng về phân loại trên siêu âm Duplex của tổn
thương trên động mạch cảnh đoạn ngoài sọ có sự tương quan mức trung bình với sự

xuất hiện và mức độ hẹp nặng của tổn thương xơ vữa trên động mạch vành ( hệ số
tương quan = 0,332 , p = 0,001).
- Tổn thương xơ vữa nhẹ trên động mạch cảnh không có mối tương quan có ý
nghĩa thống kê với tổn thương xơ vữa động mạch vành.
Kiến nghị.
Nên tiến hành khảo sát siêu âm Duplex động mạch cảnh đoạn ngoài sọ một cách
thườ
ng qui ở nhóm bệnh nhân có chẩn đoán bệnh lý động mạch vành.

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×