Tải bản đầy đủ

QUẢN LÝ ĐÀO TẠO NGHỀ Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ GIAO THÔNG VẬN TẢI TRUNG ƯƠNG I LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin trân trọng gửi
lời cảm ơn đến khoa quản lý giáo dục, phòng sau đại học - trường Đại học sư
phạm Hà Nội cùng các thầy cô giáo đã tận tình giảng dạy, giúp đơ tôi trong
quá trình học tập và nghiên cứu.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Nguyễn Thị Kim
Dung, người đã trực tiếp hướng dẫn, nhiệt tình chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong
suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành cuốn luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Đảng uỷ, BGH, phòng TCHC, phòng Đào
tạo, phòng Công tác HSSV, phòng QTĐS, các thầy cô giáo, cùng toàn thể các
em HSSV đã động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá
trình học tập và nghiên cứu.
Mặc dù, trong thời gian học và và nghiên cứu đã có nhiều cố gắng,
nhưng do thời gian có hạn nên luận văn không tránh khỏi thiếu sót. Mong
nhận được các ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và các bạn quan tâm để
luận văn được hoàn chỉnh hơn.
Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2013
TÁC GIẢ
Lương Công Toàn
MỤC LỤC
Trang

LỜI CẢM ƠN 1
MỤC LỤC 2
NHỮNG KÝ HIỆU VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN VĂN 3
1. Lý do chọn đề tài: 1
2. Mục đích nghiên cứu 2
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu 3
5. Giả thuyết khoa học 3
6. Nhiệm vụ nghiên cứu 3
7. Phương pháp nghiên cứu 4
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 6
1.2. Một số khái niệm cơ bản có liên quan 8
1.2.1. Quản lý 8
1.2.2. Quản lý giáo dục 12
1.2.3. Khái niệm nghề và đào tạo nghề 15
1.2.4. Quản lý nhà trường, quản lý trường dạy nghề 20
1.3. Quản lý đào tạo nghề 21
1.3.1. Mục tiêu của quản lý đào tạo nghề 21
1.3.2. Nội dung quản lý đào tạo nghề 21
1.3.3. Nguyên tắc của quản lý đào tạo nghề 27
1.3.4. Phương pháp của quản lý đào tạo nghề 29
1.4. Những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả công tác quản lý đào tạo nghề 29
1.4.1. Những yếu tố khách quan 29
1.4.2. Những yếu tố chủ quan 31
KẾT LUẬN CHƯƠNG I 34
CHƯƠNG II 35
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐÀO TẠO NGHỀ Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG
NGHỀ GTVT TRUNG ƯƠNG I GIAI ĐOẠN 2007 - 2012 35
2.1. Khái quát chung Trường Cao đẳng nghề GTVT Trung ương I. 35
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của trường 35
2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ 36
2.1.3 Bộ máy tổ chức quản lý 37
2.2. Thực trạng công tác đào tạo nghề ở trường Cao đẳng nghề Giao thông vận tải Trung ương I 38
2.2.1. Thực trạng cơ cấu ngành nghề đào tạo 38
2.2.2. Chương trình đào tạo 43
2.2.4. Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ đào tạo 46
2.3. Thực trạng công tác quản lý đào tạo nghề ở Trường Cao đẳng nghề Giao thông vận tải Trung ương I.
49
2.3.1. Một số thông tin chính về quá trình nghiên cứu thực trạng công tác quản lý đào tạo nghề của
nhà trường 49


2.3.2. Thực trạng công tác quản lý đào tạo nghề ở Trường Cao đẳng nghề Giao thông vận tải Trung
ương I 51
2.4. Đánh giá chung về thực trạng công tác quản lý đào tạo nghề của nhà trường 89
2.4.1. Ưu điểm và nhược điểm 89
2.4.2. Phân tích nguyên nhân của thực trạng 92
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 93
CHƯƠNG III 95
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ĐÀO TẠO NGHỀ NHẰM NÂNG CAO 95
CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGHỀ Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ GIAO THÔNG
VẬN TẢI TRUNG ƯƠNG I 95
3.1. Chiến lược phát triển trường cao đẳng nghề GTVT Trung ương I đến năm 2020 95
3.2. Một số nguyên tắc đề xuất các biện pháp 95
3.2.1. Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 95
3.2.2. Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 95
3.2.3. Nguyên tắc phù hợp với thực tiễn và khả thi 96
3.3. Biện pháp quản lý đào tạo nghề ở trường cao đẳng GTVT TW I 97
3.3.1. Hoàn thiện công tác quản lý xây dựng mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo nghề theo định
hướng chuẩn đầu ra 97
3.3.2. Xây dựng kỷ cương, nề nếp trong hoạt động đào tạo 99
3.3.3. Nâng cao chất lượng đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên 100
3.3.4. Tăng cường đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng hình thành năng lực nghề 102
3.3.5. Đổi mới quản lý các hoạt động kiểm tra, đánh giá công tác đào tạo trong nhà trường 104
3.3.6. Quản lý và sử dụng cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học phục vụ đào tạo nghề hiệu quả hơn
107
3.4. Mối quan hệ giữa những biện pháp 108
3.5. Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất 109
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 111
1. Kết luận 112
2. Khuyến nghị 113
2.1 Đối với Bộ Giao thông vận tải 113
2.2 Đối với Bộ Lao động – Thương binh và xã hội 113
2.3 Đối với Trường Cao đẳng nghề GTVT Trung ương I 114
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 115
PHỤ LỤC 1 118
PHỤ LỤC 2 128
NHỮNG KÝ HIỆU VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN VĂN
BLĐTB&XH : Bộ Lao động thương binh và xã hội
CB : Cán bộ
CBQL : Cán bộ quản lý
CNH - HĐH : Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá
CNV : Công nhân viên
CSVC : Cơ sở vật chất
CTMT : Chương trình mục tiêu
ĐTN : Đào tạo nghề
GV : Giáo viên
HSSV : Học sinh sinh viên
KHCN : Khoa học công nghệ
KHKT : Khoa học kỹ thuật
KTXH : Kinh tế xã hội
GTVT TWI : Giao thông vận tải Trung ương I
CĐN : Cao đẳng nghề
TCCN : Trung cấp chuyên nghiệp
TCN : Trung cấp nghề
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
TCDN : Tổng Cục dạy nghề
CSSX : Cơ sở sản xuất
CNH-HĐH : Công nghiệp hoá - hiện đại hoá
TNCSHCM : Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh
HĐND : Hội đồng nhân dân
UBND : Uỷ ban nhân dân
BGH : Ban giám hiệu
TBMH : Trung bình môn học
CTHSSV : Công tác học sinh sinh viên
QTĐS : Quản trị đời sống
PPGD : Phương pháp giảng dạy
TCKT : Tài chính kế toán
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Hiện nay, đất nước ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa và hội nhập quốc tế. Điều này, đòi hỏi phải có một nguồn nhân lực chất
lượng cao bao gồm những con người có đức, có tài, ham học hỏi, thông minh, sáng
tạo, làm việc có trách nhiệm, được chuẩn bị tốt về kiến thức văn hóa, được đào tạo
thành thạo về kỹ năng nghề nghiệp. Trong hệ thống nguồn nhân lực, đội ngũ lao
động được đào tạo nghề là một bộ phận chiếm vị trí đặc biệt quan trọng. Văn kiện
Đại hội Đảng lần thứ X của Đảng cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ “Phát triển mạnh hệ
thống giáo dục nghề nghiệp, tăng nhanh quy mô đào tạo cao đẳng nghề, trung cấp
nghề cho các khu công nghiệp, các vùng kinh tế động lực và cho việc xuất khẩu lao
động. Mở rộng mạng lưới cơ sở dạy nghề, phát triển trung tâm dạy nghề quận,
huyện, tạo chuyển biến căn bản về chất lượng dạy nghề, tiếp cận với trình độ tiên
tiến của khu vực và trên thế giới”.
Chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng dạy nghề nói riêng phụ thuộc
vào nhiều yếu tố như thiết bị, cơ sở vật chất, nội dung, chương trình, phương pháp
và hình thức tổ chức, lực lượng đào tạo, nhưng một trong những yếu tố quan trọng
nhất đó chính là công tác quản lý đào tạo nghề.
Thực tế hiện nay chất lượng lao động của cả nước nói chung còn thấp, quy
mô, cơ cấu đào tạo chưa hợp lý, chưa chuyên sâu đào tạo công nhân lành nghề,
chương trình đào tạo trong các cơ sở dạy nghề còn chưa cập nhật so với nhu cầu của
thị trường lao động, học sinh sau khi học nghề chưa thực sự đáp ứng yêu cầu của
các đơn vị sử dụng lao động, phần lớn các đơn vị sử dụng lao động sau khi tuyển
dụng phải tiến hành đào tạo lại; …. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên.
Nhưng một trong những nguyên nhân chủ yếu là công tác quản lý đào tạo nghề ở
các cơ sở đào tạo nghề chưa thực sự được chú trọng và thực hiện chủ yếu mang tính
chất quản lý hành chính….
Trường Cao đẳng nghề GTVT Trung ương I tiền thân là Trường Công
nhân Cơ giới 1 được thành lập theo quyết định số 2121/CB5 ngày 18-7-1968 của
Bộ Giao thông vận tải. Đến nay, trường đã trải qua 45 năm xây dựng và phát
triển; Trường đã trở thành Trường dạy nghề trọng điểm của Ngành GTVT và là
một trong 26 trường dạy nghề chất lượng cao trong cả nước. Cơ chế thị trường
đã đem lại nhiều cơ hội nhưng cũng đang đặt ra rất nhiều thách thức đối với mọi
vấn đề liên quan đến chất lượng đào tạo của Nhà trường. Điều quan trọng là làm
1
sao để đào tạo được nguồn nhân lực có chất lượng vừa theo kịp, vừa đón đầu,
vừa đại trà, vừa mũi nhọn, đáp ứng sự phát triển của nền kinh tế hội nhập, đủ sức
và kịp thời chủ động thích ứng với thị trường lao động, thị trường chất xám, nhất
là sức lao động có hàm lượng trí tuệ cao. Đồng thời, phải hạn chế tối đa các ảnh
hưởng tiêu cực của cơ chế thị trường đối với công tác giáo dục đào tạo nghề.
Chất lượng giáo dục trong các cơ sở đào tạo nghề hiện nay đang là một
“điểm nóng” cần nhiều giải pháp, trong đó giải pháp quản lý tốt quá trình đào tạo
nghề nhằm nâng cao chất lượng đào tạo học sinh, sinh viên là rất quan trọng.
Bởi, quá trình đào tạo nghề với các khâu của nó nếu được quan tâm thực hiện
một cách đồng bộ mới đem lại chất lượng, hiệu quả.
Những năm qua, mặc dù Trường Cao đẳng nghề Giao thông vận tải Trung
ương I vẫn luôn chú trọng, chủ động quan tâm đến việc duy trì, đảm bảo và nâng cao
chất lượng đào tạo nghề. Tuy nhiên, công tác đào tạo nghề của Nhà trường còn tồn
tại một số vấn đề như quá trình quản lý đào tạo nghề chưa đồng bộ từ mục tiêu, nội
dung chương trình, đội ngũ giáo viên, phương pháp đào tạo, điều kiện cơ sở vật chất
còn bất cập, hạn chế nên chất lượng đào tạo nghề chưa cao, chưa đáp ứng được nhu
cầu sử dụng lao động đa dạng hiện nay của thị trường. Hiện chưa có nghiên cứu nào
của nhà trường về vấn đề này.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã chọn đề tài nghiên cứu: "Quản lý đào
tạo nghề ở Truờng Cao đẳng nghề Giao thông vận tải Trung ương I" nhằm
phân tích tìm ra nguyên nhân của những hạn chế và đề xuất một số giải pháp khắc
phục nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo nghề của nhà trường.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về quản lý đào tạo nghề tại
Trường Cao đẳng nghề Giao thông vận tải Trung ương I, đề xuất các biện pháp
cơ bản về quản lý quá trình đào tạo nghề nhằm nâng cao chất lượng đào tạo
của nhà trường và góp phần đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng tay nghề
cao phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu:
Công tác đào tạo nghề ở Trường Cao đẳng nghề Giao thông vận tải trung
ương I.
2
3.2. Đối tượng nghiên cứu:
Các biện pháp quản lý đào tạo nghề ở Trường Cao đẳng nghề Giao thông
vận tải trung ương I.
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
4.1. Giới hạn về đối tượng nghiên cứu
Tập trung nghiên cứu và đề xuất các biện pháp quản lý đào tạo nghề đối
với hệ cao đẳng nghề và trung cấp nghề ở Trường Cao đẳng nghề Giao thông
vận tải Trung ương I đến năm 2020.
4.2. Giới hạn địa bàn nghiên cứu
Luận văn được thực hiện nghiên cứu tại trường Cao đẳng nghề Giao thông
vận tải Trung ương I – Thụy An, Ba Vì, Hà Nội.
4.3. Giới hạn về khách thể điều tra
- Nghiên cứu thực trạng việc quản lý đào tạo nghề đối với hệ cao đẳng
nghề và trung cấp nghề ở Trường Cao đẳng nghề Giao thông vận tải Trung ương
I giai đoạn 2007-2012.
- Thành phần: Đội ngũ cán bộ quản lý gồm: Ban giám hiệu, lãnh đạo các
phòng, khoa, trung tâm, tổ trưởng các nghề và học sinh, sinh viên các lớp hệ cao
đẳng nghề và trung cấp nghề.
- Quá trình đào tạo và nhất là đào tạo nghề có nhiều yếu tố ảnh hưởng
đến chất lượng đào tạo, song ở đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu việc xây
dựng các biện pháp quản lý đào tạo nghề ở các mặt:
- Quản lý mục tiêu, nội dung chương trình, cơ sở vật chất phục vụ cho quá
trình đào tạo nghề;
- Quản lý hoạt động đánh giá kiểm định chất lượng nhằm nâng cao chất
lượng đào tạo nghề ở trường Cao đẳng nghề Giao thông vận tải Trung ương I.
5. Giả thuyết khoa học
Chất lượng đào tạo nghề ở Trường Cao đẳng nghề Giao thông vận tải
Trung ương I còn một số bất cập và hạn chế bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân
khách quan và chủ quan. Nếu đề xuất được các biện pháp quản lý quá trình đào
tạo nghề khoa học, hợp lý dựa trên chuẩn đầu ra của nhà trường và phù hợp với
thực tế sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nghề ở Trường Cao đẳng nghề
Giao thông vận tải Trung ương I.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về việc quản lý đào tạo nghề trong trường nghề.
3
- Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác quản lý đào tạo nghề ở trường
Cao đẳng nghề Giao thông vận tải trung ương I.
- Đề xuất các biện pháp quản lý đào tạo nghề nhằm nâng cao chất lượng
đào tạo nghề ở trường Cao đẳng nghề Giao thông vận tải trung ương I.
7. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện việc nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng phối hợp một
số phương pháp sau đây:
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Để có cơ sở lý luận, làm nền tảng cho việc nghiên cứu đề tài chúng tôi hệ
thống hóa, thu thập và phân tích các tài liệu khoa học, các văn bản Chỉ thị,
Nghị quyết của Đảng, Chính phủ, của Bộ GDĐT, Bộ GTVT, Thành ủy, HĐND,
UBND Thành phố Hà Nội nhằm xây dựng cơ sở lý luận về công tác quản lý đào
tạo nghề trường Cao đẳng nghề GTVT Trung ương I trong giai đoạn hiện nay.
Sưu tầm, nghiên cứu tài liệu, văn bản để phân tích, vận dụng các quan
điểm lý luận liên quan đến đề tài.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Sử dụng bộ câu hỏi để điều tra về quá trình đào tạo nghề và biện pháp
quản lý đào tạo nghề ở Trường Cao đẳng nghề Giao thông vận tải Trung ương
I: Một bộ câu hỏi dành cho cán bộ, giáo viên nhà trường và 01 Bộ dành cho
học sinh sinh viên đang học nghề ở trường. Từ đó phân tích tổng hợp, đánh giá
thực trạng vấn đề nghiên cứu.
7.2.2. Phương pháp phỏng vấn
Trực tiếp phỏng vấn cán bộ quản lý các phòng ban, các trung tâm và các
khoa và các giáo viên có kinh nghiệm để tìm hiểu rõ hơn về thực tiễn của Nhà
trường nhằm làm sáng tỏ nội dung nghiên cứu bằng phương pháp điều tra.
7.2.3. Phương pháp quan sát
Tham quan cơ sở vật chất, trang thiết bị của các đơn vị trực thuộc trường;
dự các buổi sinh hoạt chuyên môn, họp hội đồng; Tập trung quan sát cách thức tổ
chức quản lý của lãnh đạo và cán bộ quản lý tại các phòng ban, khoa và Trung
tâm.
Quan sát tình hình giảng dạy của giáo viên dạy giỏi, của giáo viên mới
vào nghề. Quan sát tình hình học tập của học sinh, sinh viên để nắm bắt thực tế
tình hình đang diễn ra ở trường.
4
7.2.4. Phương pháp chuyên gia
Xin ý kiến các chuyên gia trong lĩnh vực quản lý đào tạo nghề. Dùng
phiếu trưng cầu ý kiến để xin ý kiến chuyên gia về tính cần thiết và khả thi của
các biện pháp đề xuất trong đề tài.
7.3. Các phương pháp khác
Sử dụng một số công thức toán học như tính toán tỷ lệ phần trăm, tính hệ
số tương quan, … để thống kê số lượng, chất lượng về đội ngũ giáo viên, cơ sở
vật chất, kết quả học tập của học sinh trong trường và xử lý số liệu, định lượng
kết quả nghiên cứu nhằm đưa ra những kết luận để phục vụ công tác nghiên cứu.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham
khảo, các phụ lục, luận văn được cấu trúc thành 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về quản lý đào tạo nghề ở trường Cao đằng nghề.
Chương II: Thực trạng công tác quản lý đào tạo nghề ở trường Cao đẳng
nghề Giao thông vận tải trung ương I giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2012.
Chương III: Biện pháp quản lý công tác đào tạo nghề ở trường Cao đẳng
nghề Giao thông vận tải trung ương I.
5
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO NGHỀ
Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ
Ơ
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Khoa học quản lý nói chung và quản lý đào tạo nghề nói riêng được hình
thành và phát triển cùng với quá trình hình thành và phát triển của lịch sử xã hội.
Ban đầu những cơ sở lý luận về quản lý và quản lý đào tạo được thể hiện dưới
dạng ý tưởng của các nhà hiền triết điển hình ở như ở phương Đông thì có
Khổng Tử (551-479 TCN), Mạnh Tử (372-289 TCN), Hàn Phi Tử (280-233
TCN) hay ở phương Tây có những nhà nghiên cứu tiêu biểu như: Robet Owen
(1771 – 1858), Chales Babbage (1972-1871), F. Taylor (1856-1915) Trong quá
trình vận động và phát triển của lịch sử, lý luận về quản lý đào tạo dần dần được
hoàn thiện và trở thành một học thuyết được nhiều nhà khoa học giáo dục trong
nước và trên thế giới quan tâm nghiên cứu.
Vấn đề nguồn nhân lực, lao động có kiến thức, có kỹ năng đang được toàn
xã hội quan tâm. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, với sự phát triển như vũ bão
của khoa học công nghệ, cùng với xu thế toàn cầu hoá, cũng như sự ra đời của
nền kinh tế tri thức, yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực ngày càng cao đối với đội
ngũ công nhân kỹ thuật – người trực tiếp tham gia sản xuất. Ở tất cả các nước
trên thế giới, bất luận là nước giàu hay nghèo, hay ở châu lục nào thì hệ thống
giáo dục nói chung, công tác đào tạo nghề nói riêng luôn có vai trò quyết định
đến việc nâng cao vị thế và trình độ phát triển của mỗi quốc gia.
Ngày từ đầu những năm 60 của thế kỷ XX, ở các nước tư bản phát triển
như Đức, Mỹ, Anh, Pháp, Nhật Bản đã quan tâm đến vấn đề đào tạo nghề và
quản lý đào tạo nghề nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội công nghiệp. Do đặc
điểm, yêu cầu về nguồn nhân lực – đội ngũ công nhân kỹ thuật ở mỗi nước có sự
khác nhau nên không chỉ có lĩnh vực đào tạo nghề mà cả phương pháp, hình
thức, quy mô đào tạo nghề cũng có sự khác nhau, song có điểm chung là đều chú
trọng đến sự phát triển kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp.
Như chúng ta được biết, trong cơ cấu lao động, nguồn nhân lực qua đào
tạo nghề là lực lượng đông đảo nhất, trực tiếp tham gia sản xuất ra của cải vật
chất cho xã hội. Khi nghiên cứu về hệ thống giáo dục nghề nghiệp ở Việt nam
6
(Năm 1997) các chuyên gia trong và ngoài nước đều khẳng định: “Hệ thống giáo
dục nghề nghiệp đã bị lãng quên trong một thời gian dài. Đã đến lúc chúng ta
nhìn nhận thực tế vai trò của đào tạo nghề với quan niệm và cách nhìn khác”.
Đào tạo nghề cộng đồng đối mặt với những thách thức mới và tự tìm thấy vai trò
của mình trong xã hội. Không phải ngẫu nhiên mà Hội nghị quốc tế có hơn 150
nước tham dự với chủ đề “Giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp trước thềm thế kỷ
XXI” được tổ chức tại Hàn Quốc năm 1999 đã đưa ra khuyến nghị:
- Uy tín và địa vị của đào tạo nghề phải được tăng cường trong con mắt
của cộng đồng và các phương tiện thông tin đại chúng.
- Học suốt đời là cuộc hành trình với nhiều hướng đi, trong đó giáo dục
kỹ thuật nghề nghiệp là hướng đi chủ yếu trong cuộc hành trình này.
Và đây là một trong những yêu cầu rất quan trọng, trọng tâm và cấp bách
của hệ thống đào tạo nghề hiện nay.
Về vấn đề nghiên cứu quản lý đào tạo nghề thì trước đây rất ít được chú ý
nghiên cứu. Tuy nhiên, từ giữa thế kỷ 20, khi giáo dục phát triển nhanh chóng,
trở thành một loại hình dịch vụ đặc biệt và bắt đầu vận hành theo cơ chế thị
trường. Lúc này vấn đề quản lý quá trình đào tạo bắt đầu xuất hiện nhiều nghiên
cứu và đã có nhiều phương hướng, mô hình quản lý đào tạo nghề được đưa ra và
thực hiện.
Cho đến ngày nay, hầu hết các nước trên thế giới đều bố trí hệ thống giáo
dục kỹ thuật và dạy nghề bên cạnh bậc phổ thông và đào tạo bậc cao đẳng, đại
học. Do sớm có hệ thống đào tạo nghề nên các nước tư bản phát triển đã tích luỹ
được nhiều kinh nghiệm trong quá trình đào tạo. Quá trình đào tạo cũng như
quản lý nghề liên tục được hoàn thiện, đổi mới để đảm bảo chất lượng đào tạo,
đáp ứng yêu cầu thực tiễn cuộc sống.
Ở Việt Nam, những vấn đề về đạo tạo nghề, quản lý đào tạo nghề cũng được
quan tâm ngay từ cuối năm 70 của thể kỷ XX. Lúc đó, một số nhà nghiên cứu trong
lĩnh vực giáo dục chuyên nghiệp, tâm lý lao động (như Đặng Danh Ánh, Nguyễn
Ngọc Đường, Nguyễn Văn Hội, Nguyễn Bá Dương ) đã chủ đông nghiên cứu
những khia cạnh khác nhau về sự hình thành nghề và công tác dạy nghề. Đặc biệt
một số nhà nghiên cứu khác như Đặng Quốc Bảo, Trần Kiểm, Nguyễn Thị Mỹ
Lộc, đã đi sâu nghiên cứu về quán lý giáo dục, quản lý nhà trường.
Hiện nay, ngành dạy nghề nước ta đã được phục hồi từng bước phát triển:
Hệ thống giáo dục nghề nghiệp được hình thành với ba cấp trình độ đào tạo là:
7
Sơ cấp nghề; Trung cấp nghề và Cao đẳng nghề. Phát triển đào tạo nghề có vị trí
quan trọng trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực của đất nước và được thể
hiện rõ trong Đại hội X của Đảng: “Phát triển mạnh khoa học và công nghệ, giáo
dục và đào tạo; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu CNH -
HĐH đất nước và phát triển nền kinh tế tri thức”. Và để làm được điều này thì
một trong các việc cần chú trọng quan tâm đến chính là việc quản lý đào tạo
nghề tạo các Trường dạy nghề cũng như các cơ sở dạy nghề.
Thời gian gần đây, quản lý giáo dục nói chung và quản lý đào tạo nghề
nói riêng được ngành giáo dục đặc biệt quan tâm. Bên cạnh việc áp dụng những
thành tự nghiên cứu của nước ngoài, đã có những công trình nghiên cứu về quản
lý giáo dục – đào tạo trong điều kiện cụ thể ở Việt Nam, trong đó có đào tạo
nghề. Tuy nhiên, việc nghiên cứu chưa được sâu, đặc biệt là việc quản lý đào tạo
nghề tạo trường Cao đẳng nghề Giao thông vận tải Trung ương I thì chưa có tác
giả nào nghiên cứu.
1.2. Một số khái niệm cơ bản có liên quan.
1.2.1. Quản lý.
1.2.1.1. Khái niệm về quản lý
Theo nghĩa Hán Việt thì “Quản lý” là từ được ghép giữa từ “quản” và từ
“lý”. Ở đây, từ “quản” có nghĩa là sự trông coi, chăm sóc, giữ gìn, duy trì một
việc, một sự việc hay một hiện tượng nào đó ở trạng thái ổn định. Còn từ “lý” có
nghĩa là sự sửa sang, sắp xếp, làm cho nó phát triển. Như vậy “quản lý” nghĩa là
trông coi, chăm sóc, sửa sang làm cho nó ổn định và phát triển.
Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống: Quản lý là "Phương thức tác động
có chủ định của chủ thể quản lý lên hệ thống, bao gồm hệ các quy tắc, các ràng
buộc về hành vi đối với mọi đối tượng ở các cấp trong hệ thống nhằm duy trì
tính trội hợp lý của cơ cấu và đưa hệ thống đạt tới mục tiêu".
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về thuật ngữ “quản lý”, Follett đưa ra
một định nghĩa khá nổi tiếng về quản lý là “nghệ thuật hoàn thành công việc
thông qua người khác”.
Các Mác đã viết:"Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung
nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự
chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng
chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận
động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm thì tự điều
8
khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng" [29, tr 28].
Còn Fredrick Winslow Taylor (1856-1915) thì khẳng định:" Quản lý là
biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng
họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [31, tr 89].
Theo Harold Koontz, Cyri O‟donnell và Heinz Weihrich thì "Quản lý
là một hoạt động thiết yếu bảo đảm sự hoạt động nỗ lực của các cá nhân
nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức" [32, tr 33].
Ở Việt Nam cũng có nhiều quan điểm khác nhau về “quản lý”:
Theo tác giả Trần Kiểm: "Quản lý một hệ thống xã hội là tác động có
mục đích đến tập thể người-thành viên của hệ-nhằm làm cho hệ vận hành
thuận lợi và đạt tới mục đích dự kiến" [18].
Theo tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ cho rằng: “Quản lý là một
quá trình có định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống là quá
trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Những
mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mới
mong muốn”. [13]
Theo tác giả Nguyễn Bá Dương: “Hoạt động quản lý là sự tác động
qua lại một cách tích cực giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý qua con
đường tổ chức, là sự tác động điều khiển, điều chỉnh tâm lý và hành động của
các đối tượng quản lý, lãnh đạo cùng hướng vào hoàn thành những mục tiêu
nhất định của tập thể và xã hội” [5, tr 55].
Theo tác giả Nguyễn Văn Lê trong tác phẩm “Khoa học quản lý nhà
trường” đã định nghĩa: “Quản lý là một hệ thống xã hội là khoa học và nghệ thuật
tác động vào hệ thống đó mà chủ yếu là vào những con người, nhằm đạt hiệu quả
tối ưu theo mục tiêu đề ra”. [19, tr5]
Xét quản lý dưới góc độ là một hành động, tác giả Vũ Ngọc Hải cho rằng:
“Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối
tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra”.
Từ những điểm chung của các quan niệm trên có thể hiểu:
“Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý
lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ
hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của
môi trường”
9
Như vậy, bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động có mục đích của
người quản lý đến tập thể người bị quản lý nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức
đặt ra. Vì vậy, nhiệm vụ của quản lý là biến đổi mối quan hệ trên thành những
yếu tố tích cực, hạn chế xung đột và tạo nên môi trường thuận lợi để hướng tới
mục tiêu. Đó là "bí quyết" làm việc của người quản lý được khám phá trên sự
đúc rút kinh nghiệm thực tế. Những kinh nghiệm thực tế được khái quát hoá
thành những nguyên tắc, phương pháp, kỹ năng quản lý cần thiết, đó chính là
khoa học – khoa học quản lý. Do đó, ta có thể nói rằng: Quản lý vừa là khoa học
vừa là nghệ thuật.
+ Quản lý gồm hai thành phần: Chủ thể quản lý và khách thể quản lý:
- Chủ thể quản lý là người hoặc tổ chức do con người cụ thể lập nên.
- Khách thể quản lý có thể là người, tổ chức, vừa có thể là vật cụ thể như:
Môi trường, thiên nhiên, đoàn xe , vừa có thể là sự việc như: luật lệ, quy chế,
quy định Cũng có khi khách thể, tổ chức được con người đại diện trở thành chủ
thể quản lý cấp dưới thấp hơn.
Giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý có mối quan hệ tác động qua
lại, tương hỗ nhau. Theo Nguyễn Minh Đạo "Chủ thể làm nảy sinh các tác động
quản lý, còn khách thể thì sản sinh các giá trị vật chất và tinh thần có giá trị sử
dụng, trực tiếp đáp ứng nhu cầu của con người, thoả mãn mục đích của chủ thể
quản lý". [6 ,tr7]
Trong quản lý, chủ thể quản lý phải có tác động phù hợp và sắp xếp hợp
lý các tác động nhằm đạt mục tiêu. Do đó quản lý phải có sự kết hợp chặt chẽ
giữa tri thức và lao động. Muốn phát huy tiềm năng của đối tượng quản lý (đặc
biệt là con người) thì phải có cơ chế đúng.
1.2.1.2. Chức năng quản lý.
Chức năng quản lý là hình thức biểu hiện sự tác động có chủ đích của chủ
thể quản lý lên đối tượng quản lý. Quản lý có các chức năng cơ bản, chức năng
cụ thể với nhiều cách tiếp cận khác nhau. Hiện nay, đa số các nhà khoa học và
các nhà quản lý cho rằng quản lý có 4 chức năng cơ bản, đó là:
- Chức năng lập kế hoạch: là chức năng cơ bản, quan trọng nhất nhằm xác
định mục đích chọn mục tiêu, khái quát các công việc phải làm, xác định khối
lượng công việc, đề ra những quy định, xây dựng chương trình hành động, từ đó
đề ra các giải pháp phù hợp với các nguồn lực của hệ thống, góp phần giảm thiểu
rủi ro, hạn chế phát sinh, lãng phí. Lập kế hoạch là dự kiến những vấn đề có thể
10
xẩy ra, những ý tưởng của chủ thể quản lý để đạt được mục đích và đi đến mục
tiêu. Đây là bước cơ sở cho việc thực hiện các chức năng tiếp theo của quản lý.
- Chức năng tổ chức thực hiện: là bước xác định một cơ cấu chủ định về
vai trò nhiệm vụ. Tổ chức là xây dựng quy chế, qui định rõ mối quan hệ trong bộ
máy tổ chức. Xác định có tính định tính và định lượng chức năng nhiệm vụ giữa
các thành viên, giữa các bộ phận để thông qua đó chủ thể quản lý tác động đến
các khâu, các mắt xích trong tổ chức và đối tượng quản lý để đạt hiệu quả cao
nhất. Tổ chức giúp thực hiện được những chủ trương, định hướng của kế hoạch.
Nếu người quản lý biết cách tổ chức có hiệu quả, có khoa học thì sẽ phát huy
được sức mạnh của tập thể. Lênin đã khẳng định: “Liệu một trăm có mạnh hơn
một ngàn hay không? Có chứ! Khi mà một trăm được tổ chức lại. Tổ chức sẽ
nhân sức mạnh lên mười lần”.
- Chức năng chỉ đạo: Là huy động lực lượng vào việc thực hiện kế hoạch,
là phương thức tác động của chủ thể quản lý, điều hành mọi việc nhằm đảm bảo
cho hệ vận hành thuận lợi. Chỉ đạo là biến mục tiêu quản lý thành kết quả, biến
kế hoạch thành hiện thực. Như vậy, chức năng này là công việc thường xuyên
của người quản lý nhằm tác động đến đối tượng quản lý bằng các mệnh lệnh,
đặt tất cả mọi hoạt động của bộ máy trong tầm kiểm soát nhằm làm cho người
bị quản lý luôn phục tùng, phát huy tính tự giác và tính kỷ luật để làm việc
đúng theo kế hoạch, đúng với chức năng, nhiệm vụ đã phân công. Nói cách
khác đây là quá trình tác động, động viên, tạo động lực, gây ảnh hưởng của
chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã định.
- Chức năng kiểm tra, đánh giá: Đây là giai đoạn cuối cùng của chu kỳ
quản lý. Giai đoạn này làm nhiệm vụ là đánh giá, kiểm tra, tư vấn, uốn nắn, sửa
chữa,… để thúc đẩy hệ đạt được những mục tiêu, dự kiến ban đầu và việc bổ
sung điều chỉnh và chuẩn bị cho việc lập kế hoạch tiếp theo. Nói cách khác, đây
chính là nhằm thu thập thông tin ngược của người quản lý để kiểm soát hoạt
động của bộ máy nhằm đo lường, phát hiện các sai sót để điều chỉnh kịp thời
giúp bộ máy đạt được mục tiêu. Có thể nói: kiểm tra là tai mắt của quản lý.
Trong công tác lãnh đạo, quản lý và chỉ huy, Bác Hồ đã từng nói:"không có
kiểm tra đánh giá coi như không có lãnh đạo". Qua đó đủ thấy vai trò kiểm tra
đánh giá, rút ra bài học điều chỉnh mọi hoạt động của khách thể quản lý là việc
làm không thể thiếu của chủ thể quản lý.
11
TỔ
CHỨC
KIỂM
TRA
KẾ
HOẠCH
HOÁ
CHỈ
ĐẠO
Thông tin quản lý,
Quyết định quản lý
Các chức năng quản lý tạo thành một chu trình thống nhất. Trong đó,
mỗi chức năng vừa có tính độc lập tương đối, vừa có mối quan hệ phụ thuộc
với các chức năng khác. Quá trình ra các quyết định quản lý là quá trình thực
hiện các chức năng theo một trình tự nhất định. Nhà quản lý không được bỏ
qua hay coi nhẹ bất cứ chức năng nào. Bên cạnh bốn chức năng cơ bản nêu
trên, trong quá trình quản lý cần quan tâm thêm hai vấn đề quan trọng là:
thông tin quản lý và quyết định quản lý.
Thông tin quản lý: là dữ liệu về việc thực hiện các nhiệm vụ đã được
xử lý giúp cho người quản lý hiểu được về đối tượng mà họ đang quan tâm
để phục vụ cho việc đưa ra các quyết định cần thiết trong quá trình quản lý.
Thông tin quản lý không những là tiền đề của quản lý mà còn là huyết mạch
quan trọng để duy trì quá trình quản lý, là cơ sở để người quản lý đưa ra
những quyết định đúng đắn, kịp thời và hiệu quả.
Quyết định quản lý: là sản phẩm của người quản lý trong quá trình thực
hiện các chức năng quản lý. Quá trình quản lý được thể hiện qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1: Quá trình quản lý
1.2.2. Quản lý giáo dục
1.2.2.1. Khái niệm “Quản lý giáo dục”
Về khái niệm quản lý giáo dục, hiện nay cũng có nhiều định nghĩa khác
nhau. Quản lý giáo dục là thực hiện việc quản lý trong lĩnh vực giáo dục. Ngày
nay, lĩnh vực giáo dục mở rộng hơn nhiều so với trước, do mỗi chỗ mở rộng đối
12
tượng giáo dục từ thế hệ trẻ sang người lớn và toàn xã hội. Tuy nhiên, giáo dục
thế hệ trẻ là bộ phận nòng cốt của lĩnh vực giáo dục cho toàn xã hội.
Quản lý giáo dục có hai nội dung chính: Quản lý nhà nước về giáo dục;
Quản lý nhà trường và các cơ sở giáo dục khác. Quản lý giáo dục là việc thực
hiện và giám sát những chính sách giáo dục, đào tạo trên cấp độ quốc gia, vùng,
địa phương và cơ sở.
Trong quá trình nghiên cứu về lĩnh vực quản lý giáo dục, khái niệm quản
lý giáo dục được nhiều tác giả diễn đạt như sau:
Hiểu quản lý giáo dục theo tác giả Đặng Quốc Bảo: là hoạt động điều
hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ
theo yêu cầu phát triển xã hội.
“Quản lý giáo dục (vi mô) được hiểu là những tác động trực tiếp (có ý
thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống hợp quy luật) của chủ thể quản lý
đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh, các lực
lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện chất lượng và hiệu quả
mục tiêu giáo dục của nhà trường”.[14]
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống những
tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm
cho hệ thống vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực
hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là
quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến
lên trạng thái mới về chất”. [23, tr 35].
Theo tác giả Trần Kiểm định nghĩa: “Quản lý giáo dục, quản lý trường
học có thể là một chuỗi tác động hợp lý (Có mục đích, tự giác, hệ thống, có kế
hoạch) mang tính tổ chức sư phạm của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên và
học sinh, đến những lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm huy
động họ cùng cộng tác, phối hợp, tham gia vào mọi hoạt động của nhà trường
nhằm làm cho quá trình này vận hành tối ưu tới việc hoàn thành những mục tiêu
dự kiến” [16, tr 67].
Theo Phạm Minh Hạc: "Quản lý nhà trường, quản lý giáo dục nói chung
là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình,
tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu
giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục và thế hệ trẻ và đối với từng
học sinh" [11, Tr 34].
13
Qua các định nghĩa trên có thể thấy, quản lý giáo dục là tập hợp những
biện pháp: tổ chức, phương pháp, kế hoạch hoá,… tác động có mục đích, hợp
quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đảm bảo sự vận hành
bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục. Quản lý giáo dục có thể
hiểu là sự quản lý hệ thống GDĐT bao gồm một hay nhiều cơ sở giáo dục, trong
đó nhà trường là đơn vị cơ sở, ở đó diễn ra các hoạt động quản lý giáo dục cơ
bản nhất.
Trong quản lý giáo dục, chủ thể quản lý chính là bộ máy quản lý các cấp;
đối tượng quản lý chính là nguồn nhân lực, cơ sở vật chất - kỹ thuật và các hoạt
động thực hiện các chức năng của quá trình giáo dục đào tạo.
Tóm lại: Quản lý giáo dục chính là quá trình tác động có định hướng của
ngành giáo dục, nhà quản lý giáo dục trong việc vận dụng nguyên lý, phương
pháp chung nhất của khoa học nhằm đạt được những mục tiêu đề ra. Những tác
động đó thực chất là những tác động khoa học đến nhà trường, làm cho nhà
trường tổ chức một cách khoa học, có kế hoạch đảm bảo quá trình giáo dục đạt
được mục tiêu giáo dục.
1.2.2.2. Chức năng
Cũng như các hoạt động quản lý kinh tế - xã hội, quản lý giáo dục có hai
chức năng tổng quát sau:
- Chức năng ổn định, duy trì quá trình đào tạo đáp ứng nhu cầu hiện hành
của nền kinh tế - xã hội.
- Chức năng đổi mới, phát triển quá trình đào tạo đón đầu tiến bộ kinh tế -
xã hội. Như vậy, quản lý giáo dục là hoạt động điều hành các nhà trường để giáo
dục vừa là sức mạnh, vừa là mục tiêu của nền kinh tế.
Từ hai chức năng tổng quát trên, quản lý giáo dục phải quán triệt, gắn bó
với bốn chức năng cụ thể là:
- Kế hoạch hoá.
- Tổ chức.
- Chỉ huy điều hành.
- Kiểm tra.
Hệ thống quản lý giáo dục nhà trường hoạt động trong động thái đa dạng,
phức tạp. Quản lý giáo dục là quản lý các mục tiêu vừa tường minh vừa trong
mối tương tác của các yếu tố chủ đạo:
- Mục tiêu đào tạo.
14
- Nội dung đào tạo.
- Phương pháp đào tạo.
- Lực lượng đào tạo.
- Đối tượng đào tạo.
- Hình thức tổ chức đào tạo.
- Điều kiện đào tạo.
- Môi trường đào tạo.
- Quy chế đào tạo.
- Bộ máy tổ chức đào tạo.
Quản lý giáo dục chính là quá trình xử lý các tình huống có vấn đề phát
sinh trong hoạt động tương tác của các yếu tố trên để nhà trường phát triển, đạt
tới chất lượng tổng thể bền vững, làm cho giáo dục vừa là mục tiêu, vừa là sức
mạnh của nền kinh tế.
1.2.3. Khái niệm nghề và đào tạo nghề.
1.2.3.1. Khái niệm về nghề
Khái niệm nghề theo quan niệm ở mỗi quốc gia đều có sự khác nhau nhất
định. Cho đến nay thuật ngữ “nghề” được hiểu và định nghĩa theo nhiều cách
khác nhau. Dưới đây là một số khái niệm về nghề.
+ Khái niệm nghề ở Nga được định nghĩa: "Là một loại hoạt động lao
động đòi hỏi có sự đào tạo nhất định và thường là nguồn gốc của sự sinh tồn"
+ Khái niệm nghề ở Pháp: "Là một loại lao động có thói quen về kỹ năng,
kỹ xảo của một người để từ đó tìm được phương tiện sống".
+ Khái niệm nghề ở Anh được định nghĩa: "Là công việc chuyên môn đòi
hỏi một sự đào tạo trong khoa học nghệ thuật".
+ Khái niệm nghề ở Đức được định nghĩa: "Là hoạt động cần thiết cho xã
hội ở một lĩnh vực lao động nhất định đòi hỏi phải được đào tạo ở trình độ nào đó".
Như vậy nghề là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử rất phổ biến gắn chặt với sự
phân công lao động, với tiến bộ khoa học kỹ thuật, và văn minh nhân loại. Bởi vậy
được nhiều ngành khoa học khác nhau nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau.
Nghề là một khái niệm rộng và phức tạp, đặt vào từng hoàn cảnh hay xét
theo mỗi góc độ cụ thể, khái niệm này có phạm vi rộng, hẹp khác nhau:
- Nghề là một khâu độc lập của sự phân công lao động hoặc là một dạng
hoạt động do con người thực hiện nhằm hoàn thành những công việc theo sự
phân công lao động.
15
- Nghề là một tập hợp các chuyên môn gần nhau, còn chuyên môn là một
lĩnh vực hoạt động mà trong đó con người sử dụng sức mạnh thể chất và tinh
thần của mình để làm ra những sản phẩm có ích cho xã hội phù hợp với sự phân
công lao động.
+ Ở Việt Nam, nhiều định nghĩa nghề được đưa ra song chưa được thống
nhất, chẳng hạn có định nghĩa được nêu: "Nghề là một tập hợp lao động do sự
phân công lao động xã hội quy định mà giá trị của nó trao đổi được. Nghề mang
tính tương đối, nó phát sinh, phát triển hay mất đi do trình độ của nền sản xuất và
nhu cầu xã hội. Từ các khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu nghề nghiệp như một
dạng lao động vừa mang tính xã hội (Sự phân công của xã hội), vừa mang tính cá
nhân (Nhu cầu bản thân) trong đó con người với tư cách là chủ thể hoạt động đòi
hỏi để thoả mãn những nhu cầu nhất định của xã hội và của cá nhân.
Từ điển Tiếng Việt (1998) định nghĩa: “Nghề là công việc chuyên làm,
theo sự phân công lao động của xã hội”.
Bất cứ nghề nghiệp nào cũng hàm chứa trong nó một hệ thống giá trị, tri
thức nghề, kỹ năng, kỹ xảo nghề, truyền thống nghề, hiệu quả do nghề mang lại.
Nghề nghiệp là một dạng lao động đòi hỏi con người phải có một quá trình đào
tạo chuyên biệt để có những kiến thức, chuyên môn nhất định. Khi tìm hiểu về
khái niệm nghề cần quan tâm tới đặc điểm chuyên môn nghề và phân loại nghề vì
nó là cơ sở để xác định nội dung đào tạo nghề và cấp trình độ đào tạo. Đặc điểm
chuyên môn của nghề gồm các yếu tố:
- Đối tượng lao động nghề.
- Công cụ và phương tiện của lao động nghề
- Quy trình công nghệ.
- Tổ chức quá trình lao động nghề.
- Các yêu cầu tâm sinh lý của người học nghề cũng như yêu cầu về đào
tạo nghề.
Việc phân loại nghề có ý nghĩa quan trọng trong quá trình tổ chức đào tạo .
Tuy nhiên do xuất phát từ yêu cầu, mục đích sử dụng và các tiêu chí khác nhau
nên phân loại nghề có nhiều loại: Nghề dạy học, nghề điêu khắc, nghề tiện, nghề
điện, nghề trồng rừng
Dưới góc độ đào tạo có thể phân chia thành hai loại nghề: nghề đào tạo và
nghề xã hội.
- Nghề đào tạo là nghề mà muốn nắm vững nó con người phải có trình độ
16
văn hóa nhất định, được đào tạo hệ thống, bằng nhiều hình thức và được chứng
nhận bằng các văn bằng, chứng chỉ. Các nghề đào tạo được phân biệt với nhau
qua các yêu cầu về nội dung chương trình, mức độ chuyên môn và thời gian cần
thiết để đào tạo.
- Nghề xã hội là nghề được hình thành tự phát theo nhu cầu và chỉ cần đào
tạo ngắn hạn, hướng dẫn qua thậm chí là bắt chước làm theo hoặc truyền nghề là
có thể làm được.
Như vậy: nghề là kết quả của sự phân công lao động xã hội, sự phân công
đó ở các thứ bậc khác nhau tương ứng theo trình độ đào tạo. Xã hội phát triển thì
nghề cũng phát triển theo.
Việc phân loại nghề có ý nghĩa quan trọng trong tổ chức đào tạo nghề,
tuy nhiên xuất phát
từ

yêu
cầu, mục đích sử dụng và các tiêu chí khác nhau
nên phân loại nghề khá phức tạp và phong phú. Ví dụ: phân theo tính chất của
nghề ta có nghề đơn giản, nghề kỹ thuật; hay phân theo phạm vi hoạt động
của nghề thì phân ra nghề diện hẹp, nghề diện rộng.
* Phân theo lĩnh vực quản lý, lãnh đạo có 10 nhóm n
ghề:
- Lãnh đạo các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể và các bộ phận
trong các cơ quan đó.
- Lãnh đạo doanh nghiệp
- Cán bộ kinh tế, kế hoạch tài chính, thống kê, kế toán
- Cán bộ kỹ thuật công nghiệp
- Cán bộ kỹ thuật nông, lâm nghiệp
- Cán bộ khoa học giáo dục
- Cán bộ văn hóa nghệ thuật
- Cán bộ y tế
- Cán bộ luật pháp, kiểm sát
- Thư ký các cơ quan và một số nghề lao động trí óc khác
….
* Phân theo lĩnh vực sản xuất có 23 nhóm nghề:
- Làm việc trên các thiết bị động lực
- Khai thác mỏ, dầu, than, hơi đốt, chế biến than(không kể luyện
cốc)
- Luyện kim, đúc, luyện cốc
- Chế tạo máy, gia công kim loại, kỹ thuật điện và điện tử,
17
- Vô tuyến điện
- Công nghiệp hóa chất
- Sản xuất giấy và sản phẩm bằng giấy, bìa
- Sản xuất vật liệu xây dựng, bê tông, sứ, gốm, thủy tinh
- Khai thác và chế biến lâm sản
- In
- Dệt
- May mặc
- Công nghiệp da, da lông, da giả
- Công nghiệp lương thực và thực phẩm
- Xây dựng
- Nông nghiệp
- Lâm nghiệp
- Nuôi và đánh bắt thủy sản
- Vận tải
- Bưu chính viễn thông
- Điều khiển máy nâng, chuyển
- Thương nghiệp, cung ứng vật tư, phục vụ ăn uống.
- Phục vụ công cộng và sinh hoạt
- Các nghề sản xuất khác
1.2.3.2. Khái niệm về đào tạo nghề
- Dưới góc độ sản xuất, William Mc. Gehee định nghĩa: Đào tạo nghề là
những quy trình mà công ty sử dụng để tạo thuận lợi cho việc học tập sao cho kết
quả hành vi đóng góp vào mục đích và các mục tiêu của công ty.
- Dưới góc độ đào tạo nghề, Max Forter định nghĩa: Đào tạo nghề phải
đáp ứng việc hoàn thành bốn điều kiện: Gợi ra những giải pháp ở người học;
phát triển tri thức, kỹ năng và thái độ; tạo ra sự thay đổi trong hành vi; đạt được
những mục tiêu chuyên biệt.
- Dưới góc độ phát triển nhân lực, Leconnard Nadle định nghĩa: Đào tạo
nghề là để học được những điều nhằm cải thiện việc thực hiện những công việc
hiện tại.
- Dưới góc độ lao động, Tổ chức lao động quốc tế (ILO) định nghĩa: Đào
tạo nghề là nhằm cung cấp cho người học có những kỹ năng cần thiết để thực
hiện tất cả các nhiệm vụ liên quan tới công việc, nhiệm vụ được giao.
18
- Luật Dạy nghề quy định: "Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang
bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có
thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học.
Như vậy, đào tạo nghề là quá trình tác động của người dạy nghề đến
người học nghề nhằm phát triển có hệ thống kiến thức, kỹ năng và thái độ của
người học nghề một cách tốt nhất để người học nghề sau khi được đào tạo họ có
thể làm được những việc có liên quan đến nghề đã học.
Như vậy, đào tạo nghề là một quá trình tác động có chủ đích của con người
nhằm phát triển tay nghề (dạy nghề) và đạo đức, văn hóa nghề nghiệp (nhân
cách) của họ, thể hiện trên 3 mặt: Kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp, phù
hợp với yêu cầu của thị trường lao động và phát triển nguồn lực quốc gia.
Hiện nay, đào tạo nghề mang tính tích hợp giữa lý thuyết và thực hành.
Sự tích hợp thể hiện ở
chỗ


đòi hỏi người học sinh hôm nay, người thợ
trong tương lai phải vừa chuyên sâu về kiến thức,
vừa

phải
thành thục về kỹ
năng tay nghề. Đây là điểm khác biệt lớn trong Dạy nghề so với dạy văn hoá.
Đào tạo nghề cung cấp cho học sinh những kiến thức và kỹ năng, thái độ
nghề nghiệp cần thiết của một nghề. Về kiến thức học sinh hiểu được cơ sở
khoa học về vật liệu, dụng cụ, trang thiết bị, quy trình công nghệ, biện pháp tổ
chức quản lý sản xuất để người công nhân kỹ thuật có thể thích ứng với sự
thay đổi cơ cấu lao động trong sản xuất và đào tạo nghề mới. Học sinh được
cung cấp kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp như kỹ năng sử dụng công cụ gia
công vật liệu, các thao tác kỹ thuật, lập kế hoạch tính toán, thiết kế và khả
năng vận dụng vào thực tiễn. Đó là những cơ sở ban đầu để người học sinh-
người cán bộ kỹ thuật tương lai hình thành kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, phát
huy tính sáng tạo hình thành kỷ luật, tác phong lao động công nghiệp.
Nguyên lý và phương châm của đào tạo nghề: Học đi đôi với hành; lấy
thực hành, thực tập kỹ năng nghề làm chính; coi trọng giáo dục đạo đức,
lương tâm nghề nghiệp, rèn luyện ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong công
nghiệp của người học, đảm bảo tính giáo dục toàn diện.
Đào tạo nghề hiện nay có ba cấp trình độ đào tạo là sơ cấp nghề, trung
cấp nghề và cao đẳng nghề. Hình thức đào tạo nghề bao gồm dạy nghề chính
quy, dạy nghề thường xuyên.
19
1.2.4. Quản lý nhà trường, quản lý trường dạy nghề
1.2.4.1. Quản lý nhà trường
Nhà trường là hạt nhân của hệ thống giáo dục. Do vậy, quản lý nhà trường
là một phận trong quản lý giáo dục. Nhà trường chính là nơi tiến hành các quá
trình giáo dục và đào tạo, có nhiệm vụ trang bị kiến thức cho nhóm dân cư nhất
định, thực hiện tối đa một quy luật tiến bộ xã hội là: "Thế hệ đi sau phải lĩnh hội
được tất cả các kinh nghiệm xã hội mà thế hệ đi trước đã tích luỹ và truyền thụ
lại, đồng thời phải làm phong phú các kinh nghiệm đó" [2, tr.45].
Quản lý nhà trường là quản lý một hệ thống xã hội sư phạm chuyên biệt,
nó đòi hỏi những tác động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể
quản lý để đảm bảo sự vận hành tối ưu xã hội kinh tế và tổ chức sư phạm của
quá trình dạy học và giáo dục thế hệ trẻ.
Theo Phạm Minh Hạc: "Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo
dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận
hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối
với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh". [11, tr.45].
Như vậy, quản lý nhà trường là quản lý quá trình dạy học, giáo dục, quản
lý các điều kiện thiết yếu của việc dạy và học như quản lý nhân lực, tài chính, cơ
sở vật chất, quản lý lớp học như nhiệm vụ của giáo viên, quản lý môi trường
giáo dục, quản lý mối liên hệ giữa nhà trường và cộng đồng. Có thể nhận thức
trực quan về quản lý trường học qua sơ đồ dưới đây:
1.2.4.2. Quản lý trường dạy nghề
Trường dạy nghề là cơ sở giáo dục, thuộc hệ thống giáo dục quốc dân,
thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật.
Trường dạy nghề chịu sự quản lý Nhà nước thống nhất về dạy nghề của
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Chịu sự quản lý trực tiếp của cơ quan ra
quyết định thành lập, đồng thời chịu sự quản lý theo lãnh thổ của UBND tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương nơi trường đặt trụ sở.
Ta có thể hiểu, quản lý trường dạy nghề là quản lý hoạt động dạy và học
nhằm đạt được mục tiêu đào tạo đề ra. Đó là quá trình tập hợp các tác động tối ưu
của sự tác động, tham gia, phối hợp, huy động, can thiệp của các chủ thể quản lý
đến tập thể giáo viên, học sinh sinh viên và cán bộ khác nhằm thực hiện nhiệm vụ
chính trị của nhà trường trong đó hoạt động cơ bản nhất là hoạt động dạy và học.
20
1.3. Quản lý đào tạo nghề
Quản lý đào tạo nghề là một hệ thống các công việc: xác định mục tiêu và
xây dựng tổ chức, kết nối mục tiêu đào tạo, thiết kế chương trình đào tạo, chỉ
đạo thực hiện chương trình và các vấn đề liên quan đến giảng dạy, giám sát,
đánh giá, kiểm tra, cho điểm cùng các quy trình đánh giá khác, các chính sách
liên quan đến chuẩn mực và cấp bằng mà nhà trường đào tạo.
Quản lý đào tạo nghề là quá trình tổ chức điều khiển, kiểm tra, đánh giá
các hoạt động đào tạo nghề của toàn hệ thống theo kế hoạch và chương trình
nhất định nhằm đạt được các mục tiêu của toàn hệ thống.
1.3.1. Mục tiêu của quản lý đào tạo nghề
Mục tiêu quản lý là kết quả mà chủ thể quản lý dự kiến sẽ đạt được do quá
trình vận động của đối tượng quản lý dưới sự điểu khiển của chính chủ thể.
Mục tiêu của quản lý đào tạo nghề là đảm bảo thực hiện một cách đầy đủ
các kế hoạch và nội dung đào tạo, đảm bảo cho chúng thực hiện đúng tiến độ
quy định với chất lượng và hiệu quả cao nhất. Để đạt mục tiêu nói trên, công tác
quản lý đào tạo phải đảm bảo được các yêu cầu sau đây:
- Đảm bảo thực hiện các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và của
nhà nước về giáo dục và đào tạo cũng như tuân thủ luật giáo dục, luật dạy nghề.
- Bảo đảm quán triệt nguyên lý giáo dục, các nguyên tắc và lý luận dạy -
học trong toàn bộ quá trình đào tạo.
- Các kế hoạch và chương trình giảng dạy được thực hiện đúng nội dung
và thời gian.
- Các quy chế, quy định, nội quy về giảng dạy, học tập được thực hiện
nghiêm túc.
1.3.2. Nội dung quản lý đào tạo nghề
- Quản lý quá trình đào tạo nghề thực chất là quản lý các thành tố sau theo
một trình tự, quy trình vừa khoa học, vừa phù hợp với điều kiện thực tế của nhà
trường, đem lại hiệu quả trong công tác đào tạo. Các yếu tố đó là:
+ Công tác tuyển sinh
+ Mục tiêu, nội dung chương trình, phương pháp và kế hoạch đào tạo nghề
+ Hình thức tổ chức đào tạo nghề
+ Hoạt động dạy – học nghề
+ Công tác quy hoạch phát triển đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên
+ Cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện đào tạo nghề
21

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×