Tải bản đầy đủ

Thu hút, sử dụng nguồn vốn ODA ở Thái Bình

CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP T.S NGUYỄN HỒNG MINH
LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài(FDI) thì nguồn vốn hỗ trợ
chính thức (ODA) cũng là một kênh huy động vốn đầu tư phát triển quan trọng đối
với tất cả các quốc gia đang phát triển trong đó không thể không kể đến Việt Nam.
Có thể nói, Việt Nam đang phải đứng trước rất nhiều những thách thức lớn ở hiện tại
và trong những năm tương lai, đó là vừa phải đối mặt với việc phải đảm bảo tăng
trưởng bền vững, vừa tiếp tục giảm tỷ lệ đói nghèo cũng như khoảng cách giàu
nghèo, duy trì khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, vừa đảm bảo môi trường trong
sạch cho các thế hệ tương lai,…Trước những thách thức đó thì ODA sẽ đóng vai trò
ngày càng quan trọng việc giúp đỡ Việt Nam đối mặt với những khó khăn, thách thức
đó. Cùng với sự phát triển của đất nước, nền phát triển kinh tế- xã hội ở tỉnh Thái
Bình cũng đi lên và có nhiều chuyển biến mới mẻ trong nhiều lĩnh vực. Một trong
những nguyên nhân của sự phát triển đó là nhờ sự đóng góp của nguồn vốn ODA của
nhiều nước trên Thế Giới. Càng về những năm gần đây thì vai trò của ODA với nền
kinh tế- xã hội của tỉnh Thái Bình ngày càng được thể hiện rõ nét. Xuất phát từ đó,
em đã chọn đề tài: “Thu hút, sử dụng nguồn vốn ODA ở Thái Bình” để nghiên cứu
làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình.
Chuyên đề gồm hai chương:
Chương 1: Thực trạng thu hút và sử dụng ODA ở Thái Bình
Chương 2: Giải pháp thu hút ODA về Thái Bình giai đoạn 2010- 2015

SINH VIÊN: TRẦN THỊ THANH HẢI LỚP: ĐẦU TƯ 48C
1
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP T.S NGUYỄN HỒNG MINH
CHƯƠNG 1:
THỰC TRẠNG THU HÚT VÀ SỬ DỤNG ODA Ở THÁI BÌNH
1. Tính tất yếu phải thu hút ODA ở Thái Bình
1.1.Giới thiệu chung về ODA:
ODA là nguồn vốn hỗ trợ chính thức từ bên ngoài bao gồm các khoản viện trợ
và cho vay với điều kiện ưu đãi. ODA được hiểu là nguồn vốn dành cho các nước
đang và kém phát triển được các các cơ quan chính thức của chính phủ trung ương và
điạ phương hoặc các cơ quan thừa hành của chính phủ, các tổ chức liên chính phủ,
các tổ chức phi chính phủ tài trợ. Vốn ODA phát sinh từ nhu cầu cần thiết của một
quốc gia, được tổ chức quốc tế hay nước bạn xem xét và cam kết tài trợ thông qua
một hiệp định quốc tế được đại diện có thẩm quyền hai bên nhận và hổ trợ vốn ký
kết.Hiệp định ký kết hổ trợ nầy được chi phối bởi công pháp quốc tế.
Theo cách thức hoàn trả ODA có 3 loại:
+ Viện trợ không hoàn lại: là loại mà nước bên nhận không phải hoàn lại,
nguồn vốn này nhằm để thực hiện các dự án ở nước nhận ODA, theo sự thỏa thuận
trước giữa các bên. Có thể xem viện trợ không hoàn lại như một khoản thu ngân sách
của Nhà nước, được cấp phát theo nhu cầu phát triển kinh tế. Viện trợ không hoàn lại
chiếm 25% tổng số vốn ODA trên Thế Giới và được ưu tiên cho những lĩnh vực như
giáo dục, y tế, môi trường…
+ Tín dụng ưu đãi: Vốn ODA có một lãi suất ưu đãi và một thời gian trả nợ
thích hợp, tín dụng ưu đãi chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng số vốn ODA trên Thế
Giới. Nó không được sử dụng cho mục tiêu xã hội, môi trường, mà thường được sủ
dụng cho các dự án về cơ sở hạ tầng thuộc các lĩnh vực giao thông vận tải, nông
nghiệp, thủy lợi, năng lượng…làm nền tảng vững chắc cho ổn định và tăng trưởng
kinh tế. Các ưu đãi bao gồm: lãi suất thấp, thời gian trả nợ dài, có thời gian không trả
lãi hoặc trả nợ.
+ ODA cho vay hỗn hợp: là loại kết hợp cả hai loại trên, một phần không hoàn
lại và tín dụng ưu đãi.
- Đặc điểm của ODA:
+ Vốn ODA mang tính ưu đãi:
Vốn ODA có thời gian cho vay (hoàn trả vốn) dài, thời gian ân hạn dài (chỉ trả
lãi, chưa trả gốc). Đây cũng là một sự ưu đãi dành cho các nước vay. Vốn ODA của
SINH VIÊN: TRẦN THỊ THANH HẢI LỚP: ĐẦU TƯ 48C
2
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP T.S NGUYỄN HỒNG MINH
WB, ADB, ngân hàng hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JBIC) có thời gian hoàn trả là 40
năm và thời gian ân hạn là 10 năm.
Thông thường, trong ODA có thành tố viện trợ không hoàn lại. Thành tố cho
không được xác định dựa vào thời gian cho vay, thời gian ân hạn và so sánh mức lãi
suất viện trợ với mức lãi suất tín dụng thương mại. Sự ưu đãi ở đây là so sánh với tín
dụng thương mại quốc tế với tập quán quốc tế. Cho vay ưu đãi hay còn gọi là cho vay
“mềm”. Các nhà tài trợ thường áp dụng nhiều hình thức khác nhau để làm “mềm” các
khoản vay, chẳng hạn kết hợp một phần ODA không hoàn lại và một phần tín dụng
gần với điều kiện thương mại tạo thành tín dụng hỗn hợp. Vốn ODA còn được thể
hiện ở chỗ nó chỉ dành riêng cho các nước đang phát triển và chậm phát triển, vì mục
tiêu phát triển.
+ Vốn ODA mang tính ràng buộc:
Vốn ODA có thể ràng buộc (hay ràng buộc một phần, hoặc không ràng buộc)
nước nhận viện trợ về địa điểm chi tiêu. Ngoài ra, mỗi nước cung cấp viện trợ đều có
những ràng buộc khác và nhiều khi các ràng buộc này rất chặt chẽ đối với nước nhận.
ODA luôn chứa đựng cả tính ưu đãi cho nước tiếp nhận và lợi ích của nước
viện trợ. Vốn ODA mang yếu tố chính trị. Viện trợ của các nước đang phát triển
không đơn thuần là việc trợ giúp hữu nghị mà còn là một công cụ lợi hại để thiết lập
và duy trì lợi ích kinh tế và vị thế chính trị cho nước tài trợ. Những nước cấp viện trợ
đòi hỏi các nước tiếp nhận phải thay đổi chính sách phát triển cho phù hợp với lợi ích
của bên tài trợ. Khi nhận viện trợ, các nước nhận cần cân nhắc kỹ lưỡng những điều
kiện của các nhà tài trợ. Không vì lợi ích trước mắt mà đánh mất những quyền lợi lâu
dài. Quan hệ hỗ trợ phát triển chính thức phải đảm bảo tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ
của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi.
+ ODA là nguồn vốn có khả năng gây nợ:
Khi tiếp nhận và sử dụng vốn ODA do tính chất ưu đãi nên gánh nặng nợ nần
thường chưa xuất hiện. Một số nước do sử dụng không hiệu quả nên có thể tạo ra sự
tăng trưởng nhất thời, nhưng sau một thời gian lại lâm vào vòng nợ nần do không có
khả năng trả nợ. Sự phức tạp chính là ở chỗ vốn ODA không có khả năng đầu tư trực
tiếp cho sản xuất, nhất là xuất khẩu trong khi việc trả nợ lại dựa vào xuất khẩu thu
ngoại tệ. Do đó, trong việc hoạch định các chính sách sử dụng ODA phải phối hợp
với các loại nguồn vốn để tăng cường sức mạnh kinh tế và khả năng xuất khẩu.
- Ưu điểm của ODA:
+ Lãi suất thấp (dưới 2%, trung bình từ 0,25%/năm)
SINH VIÊN: TRẦN THỊ THANH HẢI LỚP: ĐẦU TƯ 48C
3
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP T.S NGUYỄN HỒNG MINH
+ Thời gian cho vay cũng như thời gian ân hạn dài (25- 40 năm mới phải hoàn
trả và thời gian ân hạn từ 8- 10 năm)
+ Trong nguồn vốn ODA luôn có một phần viện trợ không hoàn lại, thấp nhất
là 25% của tổng số vốn ODA.
- Bất lợi của ODA:
Các nước giàu khi viện trợ ODA đều gắn với những lợi ích và chiến lược như
mở rộng thị trường, mở rộng hợp tác có lợi cho họ, đảm bảo mục tiêu vì an ninh-
quốc phòng hoặc theo đuổi mục tiêu chính trị… vì vậy họ đều có những chính sách
hướng vào một số lĩnh vực mà họ quan tâm hay họ có lợi thế. Ví dụ:
• Về kinh tế, nước tiếp nhận ODA phải chấp nhận dỡ bỏ dần hàng rào thuế
quan bảo hộ các ngành công nghiệp non trẻ và bảng thuế xuất nhập khẩu
hàng hoá của nước tài trợ. Nước tiếp nhận ODA cũng được yêu cầu từng
bước mở cửa thị trường bảo hộ cho những danh mục hàng hoá mới của
nước tài trợ; yêu cầu có những ưu đãi đối với các nhà đầu tư trực tiếp nước
ngoài như cho phép họ đầu tư vào những lĩnh vực hạn chế, có khả năng
sinh lời cao
• Nguồn vốn ODA từ các nước giàu cung cấp cho các nước nghèo cũng
thường gắn với việc mua các sản phẩm từ các nước này mà không hoàn
toàn phù hợp, thậm chí là không cần thiết đối với các nước nghèo. Ví như
các dự án ODA trong lĩnh vực đào tạo, lập dự án và tư vấn kỹ thuật, phần
trả cho các chuyên gia nước ngoài thường chiếm đến hơn 90% (bên nước
tài trợ ODA thường yêu cầu trả lương cho các chuyên gia, cố vấn dự án
của họ quá cao so với chi phí thực tế cần thuê chuyên gia như vậy trên thị
trường lao động thế giới).
• Nguồn vốn viện trợ ODA còn được gắn với các điều khoản mậu dịch đặc
biệt nhập khẩu tối đa các sản phẩm của họ. Cụ thể là nước cấp ODA buộc
nước tiếp nhận ODA phải chấp nhận một khoản ODA là hàng hoá, dịch vụ
do họ sản xuất.
• Nước tiếp nhận ODA tuy có toàn quyền quản lý sử dụng ODA nhưng
thông thường, các danh mục dự án ODA cũng phải có sự thoả thuận, đồng
ý của nước viện trợ, dù không trực tiếp điều hành dự án nhưng họ có thể
tham gia gián tiếp dưới hình thức nhà thầu hoặc hỗ trợ chuyên gia.
• Tác động của yếu tố tỷ giá hối đoái có thể làm cho giá trị vốn ODA phải
hoàn lại tăng lên.
SINH VIÊN: TRẦN THỊ THANH HẢI LỚP: ĐẦU TƯ 48C
4
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP T.S NGUYỄN HỒNG MINH
Ngoài ra, tình trạng thất thoát, lãng phí; xây dựng chiến lược, quy hoạch thu
hút và sử dụng vốn ODA vào các lĩnh vực chưa hợp lý; trình độ quản lý thấp, thiếu
kinh nghiệm trong quá trình tiếp nhận cũng như xử lý, điều hành dự án… khiến cho
hiệu quả và chất lượng các công trình đầu tư bằng nguồn vốn này còn thấp... có thể
đẩy nước tiếp nhận ODA vào tình trạng nợ nần.
- Phân loại ODA:
+ Theo hình thức cung cấp:
• ODA không hoàn lại: là hình thức cung cấp vốn ODA mà nước tiếp nhậ không
phải hoàn trả lại cho các Nhà tài trợ.
• ODA vay ưu đãi (hay còn gọi là tín dụng ưu đãi): là khoản vay với các điều
kiện ưu đãi về lãi suất, thời gian ân hạn và thời gian trả nợ, bảo đảm “yếu tố
không hoàn lại” đạt ít nhất 35% đối với các khoản vay có ràng buộc và 25%
đối với các khoản vay ràng buộc;
• ODA vay hỗn hợp: là các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc các khoản vay
ưu đãi được cung cấp đồng thời với các khoản tín dụng thương mại, nhưng
tính chung lại có “yếu tố không hoàn lại” đạt ít nhất 35% đối với các khoản
vay có ràng buộc và 25% đối với các khoản vay không ràng buộc.
+ Theo phương thức cung cấp:
• ODA hỗ trợ dự án: là hình thức chủ yếu của ODA để thực hiện các dự án cụ
thể. Nó có thể là hỗ trợ cơ bản hoặc hỗ trợ kỹ thuật, có thể là cho không hoặc
cho vay ưu đãi.
• ODA phi dự án: bao gồm hai loại là Hỗ trợ cán cân thanh toán ( thường là hỗ
trợ tài chính trực tiếp hoặc hỗ trợ hàng hóa, hỗ trợ nhập khẩu, ngoại tệ hoặc
hàng hóa được chuyển qua hình thức này có thể được sử dụng để hỗ trợ ngân
sách.
• ODA hỗ trợ chương trình: là khoản vốn ODA dành cho một mục đích tổng
quát với thời gian nhất định mà không phải xác định một cách chính xác nó sẽ
được sử dụng như thế nào.
+ Theo nhà tài trợ:
• ODA song phương: là nguồn vốn ODA của các tổ chức quốc tế cung cấp cho
Chính phủ nước tiếp nhận. So với vốn ODA đa phương ít chịu ảnh hưởng bởi
các áp lực thương mại, nhưng đôi khi lại chịu những áp lực mạnh hơn về
chính trị.
SINH VIÊN: TRẦN THỊ THANH HẢI LỚP: ĐẦU TƯ 48C
5
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP T.S NGUYỄN HỒNG MINH
• ODA đa phương: nhiều nước hình thành một quỹ (hoặc tổ chức) để viện trợ,
tài trợ cho một nước
1.2.Điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội ở Thái Bình:
1.2.1. Vị trí địa lý:
- Thái Bình là một tỉnh ven biển, thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng, nằm
trong vùng ảnh hưởng trực tiếp của tam giác tăng trưởng kinh tế Hà Nội-
Hải Phòng- Quảng Ninh. Cách Thủ đô Hà Nội 110 km.
Phía bắc giáp tỉnh Hưng Yên, Hải Dương và Thành phố Hải Phòng. Phía tây
và tây nam giáp tỉnh Nam Định và Hà Nam. Phía đông giáp Vịnh Bắc Bộ.
- Diện tích đất tự nhiên: 1.647,7 Km2 chiếm 0,5% diện tích đất đai của cả
nước.
- Toàn tỉnh có 7 huyện, 1 thành phố, trong đó có 284 xã, phường, thị trấn.
1.2.2. Đặc điểm địa hình:
Là một tỉnh đông bằng có địa hình tương đối bằng phằng với độ dốc nhỏ hơn
1%, cao trình biến thiên phổ biến từ 1- 2m so với mực nước biển, thấp dần từ bắc
xuống đông nam.
1.2.3. Thủy văn, hải triều:
Thái Bình được bao bọc bởi hệ thống sông biển khép kín, có bờ biển dài trên
50Km và có 4 sông lớn chảy qua địa phận của tỉnh: Phía bắc và đông bắc có sông
Hóa dài 35,3Km, phía bắc và tây bắc có sông Luộc ( phân lưu của sông Hồng) dài
53Km, phía tây và nam đoạn hạ lưu của sông Hồng dài 67Km, sông Trà lý (phân lưu
cấp 1 của sông Hồng) chảy qua giữa tỉnh và từ tây sang đông dài 65Km. Đồng thời
có 5 cửa sông lớn (Văn Úc, Diêm Điền, Ba Lạt, Trà lý, Lân). Các sông này đều chịu
ảnh hưởng của chế độ thủy triều, mùa hè mức nước dâng nhanh, lưu lượng lớn, hàm
lượng phù sa cao, mùa đông lưu lượng giảm nhiều, lượng phù sa không đáng kể.
Nước mặn ảnh hưởng sâu vào đất liền(15-20Km).
1.2.4. Khí hậu:
Thái Bình nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa: mùa nóng, mưa nhiều từ tháng 5
đến tháng 10, mùa lạnh từ tháng 11 đến trước tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình
trong năm là 23- 24 độ C,thấp nhất là 4 độ C, cao nhất là 38độ C. Lượng mưa trung
bình là 1.400mm- 1.800mm. Số giờ nắng trong nắng trong năm 1.600-1800mm. Số
giờ nắng trong năm 1.600- 1800 giờ, lượng bốc hơi là 728mm/năm. Độ ẩm trung
bình vào khoảng 85- 90%.
SINH VIÊN: TRẦN THỊ THANH HẢI LỚP: ĐẦU TƯ 48C
6
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP T.S NGUYỄN HỒNG MINH
1.2.5. Tiềm năng tài nguyên khoáng sản và nguồn nhân lực:
1.2.5.1. Tài nguyên đất:
Đất đai Thái Bình phì nhiêu, màu mỡ, nổi tiếng “bờ xôi, rượng mật” được
bồi tụ bởi hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình. Hệ thống công trình thủy lợi tưới
tiêu thuận lợi, góp phần làm nên cánh đồng 14-15 tấn/ha và đang thực hiện chuyển
đổi cơ cấu nông nghiệp để xây dựng cánh đồng 50 triệu đồng/ha trở lên.
- Tổng diện tích tự nhiên 153,596 ha. Trong đó: Diện tích cây trồng hàng
năm là 94,187 ha; Ao hồ đã đưa vào sử dụng: 6.018 ha. Hầu hết đất đai đã
được cải tạo hàng năm có thể trồng được 3-4 vụ, diện tích có khả năng làm
vụ đông khoảng 40.000 ha.
- Nước mặn chiếm khoảng 17 Km2 chủ yếu giành cho hoạt động khai thác
hải sản. Tổng trữ lượng hải sản vùng ven biển Thái Bình khoảng 26.000
tấn. Trong đó trữ lượng cá 24.000- 25.000 tấn, tôm 600- 1.000 tấn, mực
700-800 tấn…Khả năng khai thác tối đa cho phép 12.000- 13.000 tấn: Các
loại khai thác chính là cá Trích, cá Đé, cá Khoai, cá Đối, cá Vược…các
loài tôm: tôm Vầng, tôm Bộp, tôm He..Hiện tại mới duy trì các hoạt động
đánh bắt nhỏ, khai thác tự nhiên, phần lớn là nguồn cung cấp nguyên liệu
để chế biến các mặt hàng truyền thống như nước mắm, mắm tôm và chế
biến thức ăn thủy sản.
- Vùng nước lợ : Chủ yếu ở các khu vực cửa sông Hồng, sông Thái Bình và
sông Trà lý có các nguồn phù du sinh vật, các loại tảo thực vật, thủy sinh
phong phú làm thức ăn thức ăn tự nhiên cho nuôi trồng thủy sản. Vùng này
có khoảng 20.705 ha( Tiền hải 9.949 ha, Thái thụy 10.756 ha), trong đó
diện tích có khả năng phát huy nuôi trồng thủy sản nước lợ là 15.839 ha
(Tiền Hải 7.179 ha, Thái Thụy 8.660 ha). Hiện đã đưa vào khai thác 3.629
ha để nuôi trồng thủy sản: tôm, cua, sò, hến, trồng rau câu.
Bên cạnh đó Thái Bình còn có các cồn cát ven biển như: Cồn Vành, Cồn Thủ,
Cồn Đen và vùng đất ngập mặn rất thích hợp trồng tập trung cây sú vẹt, bần. Hiện tại
có gần 5.000 ha rừng vừa giữ đất, vừa chắn song, vừa tạo môi trường sinh thái và
cảnh quan thiên nhiên du lịch ven biển.
- Vùng nước ngọt: tổng diện tích có khả năng nuôi thủy sản là 9.256 ha, hiện
mới đưa vào nuôi khoảng 6.020 ha. Ngoài ra còn có trên 3.000 ha vùng lúa
ruộng trũng cấy 1 vụ năng suất thấp có thể chuyển sang nuôi thủy sản.
SINH VIÊN: TRẦN THỊ THANH HẢI LỚP: ĐẦU TƯ 48C
7
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP T.S NGUYỄN HỒNG MINH
- Thái Bình có triền cỏ ven đê, ven sông và hệ thốnng kênh mương ao hồ
rộng khắp là điều kiện phát triển chăn nuôi tray bò, bò sữa, lợn, gà, vịt,
cá…
- Nguồn nước ngọt cho nhu cầu dân sinh và công nghiệp tương đối dồi dào,
chủ yếu là nguồn nước mặt của các sông lớn.
1.2.5.2. Tài nguyên khoáng sản:
Nguồn khí mỏ, nước khoáng: Thái Bình có mỏ khí đốt Tiền Hải ( C) đã được
khai thác từ năm 1986 với sản lượng khai thác bình quân mỗi năm hàng chục triệu
m3 khí thiên nhiên phục vụ cho sản xuất đồ sứ, thủy tinh, gạch ốp lát, xi măng
trắng…thuộc KCN Tiền Hải. Tháng 5-6 năm 2003, Tổng công ty Dầu khí Việt Nam
đã tiến hành khai thác khí ngoài khơi Vịnh Bắc Bộ đưa vào phục vụ phát triển công
nghiệp của tỉnh ( trữ lượng ước tính ban đầu khoảng 7 tỷ m3)
Mỏ nước khoáng Tiền Hải ở độ sâu 450 m có trữ lượng tĩnh khoảng 12 triêụ
m3, đã khai thác từ năm 1992, sản lượng 9,5 triệu lít được trong và ngoài nước biết
đến với các nhãn hiệu nước khoáng Vital và nước khoáng Tiền Hải.
Gần đây vùng đất xã Duyên Hải huyện Hưng Hà đã thăm dò và phát hiện
mỏ nước nóng 57 độ C ở độ sâu 50m và nước nóng 72 độ ở độ sâu 178m đang đầu tư
khai thác phục vụ phát triển du lịch và chữa bệnh cho nhân dân.
Trong lòng đất Thái Bình còn có than nâu thuộc bể than nâu vùng đồng bằng
sông Hồng, được đánh giá có trữ lượng rất lớn (hơn 30 tỷ tấn), nhưng phân bổ ở độ
sâu 600- 1.000 m, hiện chưa đủ điều kiện cho phép khai thác.
1.2.5.3. Tiềm năng du lịch:
Thái Bình có cảnh quan thiên nhiên tương đối thuần khiết của miền đồng bằng
ven biển. Khách du lịch có thể thăm các cồn đảo ven biển- nơi dừng chân của các loài
chim quý, cảnh thiên hoang dã của rừng ngập mặn , cồn đảo có bãi tắm thoải cát
trắng hoặc đi thăm các vùng quê- nơi có cá lễ hội truyền thống và những công trình
văn hóa được xếp hạng như chù Keo nổi tiếng được xây dựng từ thế kỷ thứ XI triều
Lý, đền Tiên La, đền Đồng Bằng, từ đường Lê Quý Đôn, đền thờ, lăng mộ- nơi phát
tích của nhà Trần tại huyện Hưng Hà, nhà lưu niệm Bác Hồ tại xã Tân Hòa, Vũ Thư,
… và có gần 82 lễ hội đặc sắc của quê hương, 16 loại hát múa, trò chơi như: chiếu
chèo “làng Khuốc”, trò múa rối nước “làng Nguyễn”(Đông Hưng) và làng vườn Bách
Thuận ( Vũ Thư)…
SINH VIÊN: TRẦN THỊ THANH HẢI LỚP: ĐẦU TƯ 48C
8
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP T.S NGUYỄN HỒNG MINH
Bộ Quốc Phòng đã phối hợp với UBND tỉnh xây dựng đường ra cồn vành,
biến nơi đây thành khu du lịch kết hợp an ninh quốc phòng. Và dự án đã được triển
khai và đang trong giai đoạn hoàn thành.
Khách sạn du lịch Thái Bình đang được đầu tư nâng cấp thành khách sạn 3-4
sao và một số khách sạn, nhà nghỉ mát tại khu du lịch Đồng Châu đang được cải tạo…
1.2.5.4. Tiềm năng về nhân tố con người:
Thái Bình có cảnh quan thiên nhiên tương đối thuần khiết của miền đồng bằng
ven biển. Khách du lịch có thể thăm các cồn đảo ven biển- nơi dừng chân của các loài
chim quý, cảnh thiên hoang dã của rừng ngập mặn , cồn đảo có bãi tắm thoải cát
trắng hoặc đi thăm các vùng quê- nơi có cá lễ hội truyền thống và những công trình
văn hóa được xếp hạng như chù Keo nổi tiếng được xây dựng từ thế kỷ thứ XI triều
Lý, đền Tiên La, đền Đồng Bằng, từ đường Lê Quý Đôn, đền thờ, lăng mộ- nơi phát
tích của nhà Trần tại huyện Hưng Hà, nhà lưu niệm Bác Hồ tại xã Tân Hòa, Vũ Thư,
… và có gần 82 lễ hội đặc sắc của quê hương, 16 loại hát múa, trò chơi như: chiếu
chèo “làng Khuốc”, trò múa rối nước “làng Nguyễn”(Đông Hưng) và làng vườn Bách
Thuận ( Vũ Thư)…
Bộ Quốc Phòng đã phối hợp với UBND tỉnh xây dựng đường ra cồn vành,
biến nơi đây thành khu du lịch kết hợp an ninh quốc phòng. Và dự án đã được triển
khai và đang trong giai đoạn hoàn thành.
Khách sạn du lịch Thái Bình đang được đầu tư nâng cấp thành khách sạn 3-4
sao và một số khách sạn, nhà nghỉ mát tại khu du lịch Đồng Châu đang được cải tạo…
1.2.5.5. Cơ sở hạ tầng- Giao thông vận tải:
Thái Bình là tỉnh có mạng lưới giao thông đường bộ, đường thủy phát triển
sớm và rất nhanh so với cả nước. Bình quân mật độ lưới đường là 3,72Km/Km2 và
3,12 Km/1.000 người. Toàn tỉnh cso 5.614 Km đường ô tô, trong đó quốc lộ là 98
km, đường tỉnh là 312 km, còn lại là đường giao thông nông thôn.
Hệ thống đường bộ của tỉnh được phân bố hợp lý và từng bước được nâng
cấp. Tỷ lệ rải đá, láng nhựa đường tỉnh, huyện, liên xã chiếm 100%. Tuyến quốc lộ
10 đã được nâng cấp và mở rộng thành đường cấp III Đồng Bằng, cầu Tân Đệ, Triều
Dương, Quý Cao đã nối liền đường bộ với Nam Định vùng tam giác tăng trưởng kinh
tế Hải Phòng, Quảng Ninh, Hà Nội.
Quốc lộ 39 đầu tuyến nối liền đường bộ với HƯng Hà và thông thương
thuận tiện theo quốc lộ 5, cuối tuyến ra cảng biển Diêm Điền, qua trung tâm khu kinh
tế Diêm Điền sang Hải Phòng ( cầu Hồng Quỳnh sang sông Hóa).
SINH VIÊN: TRẦN THỊ THANH HẢI LỚP: ĐẦU TƯ 48C
9
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP T.S NGUYỄN HỒNG MINH
Tuyến sang Hải Dương qua đường 217 đang được nâng cấp thành cấp IV
đồng bằng.
Cảng Diêm Điền là cảng Quốc gia đã được đầu tư xây dựng giai đoạn I cho
tàu 600 tấn ra vào làm hàng. Cảng sông còn có cảng Tân Đệ, cách Thành phố 11km
đã có dự án đầu tư để đón tầu trọng tải 1.000 tấn cập cảng.
Các tuyến đường giao thông thủy bộ của tỉnh đã và đang được đầu tư xây
dựng và cùng các cảng biển, cảng sông rộng khắp đã phá thế “ốc đảo” của Thái Bình
mở ra khả năng giao thông thuận tiện tới các vùng miền trong cả nước, tạo điều kiện
đẩy mạnh phát triển kinh tế và thu hút đầu tư vào tỉnh Thái Bình.
1.2.5.6. Hệ thống điện:
Thái Bình là một trong những tỉnh đứng đầu cả nước về quy mô phát triển
mạng lưới điện phục vụ sản xuất và đời sống. Toàn tỉnh đã có 100% số xã và 99,9%
hộ nông dân nông thôn có điện phục vụ sinh hoạt. Hệ thống lưới điện của tỉnh đã
được nâng cấp thành. Đã xây dựng trạm biến áp 125 MVA cấp điện áp 220 KV cho
các trạm 110 KV của các huyện. Hầu hết các tuyến đường điện của huyện đều là
100KV, 35 KV và mạng lưới điện rộng khắp đủ đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và phát
triển sản xuất kinh doanh của tỉnh trong những năm tới.
1.2.5.7. Hệ thống cấp thoát nước:
Các công trình cấp nước sạch đnag từng bước được đầu tư và xây dựng.
Nhà máy nước TP đã được cải tạo và nâng cấp từ 2 vạn m3/ngày đêm lên đến 4 vạn
m3/ ngày đêm (thiết bị mua từ nguồn vốn vay của Phần Lan).
1.2.5.8. Bưu chính viễn thông:
Các tổng đài kỹ thuật số đã được trang bị ở tất cả các trung tâm Thành phố,
huyện, tiểu vùng kinh tế, 100% xã có điện thoại. Các tuyến truyền dẫn liên tỉnh, nội
tỉnh, vi ba và cáp quang có tiêu chuẩn công nghệ vào loại bậc nhất hiện nay. Các loại
dịch vụ như 1080, chuyển phát nhanh, điện hoa, nhắn tin, tiết kiệm bưu điện, di động,
internet, điện thoại thẻ… Mạng lưới bưu chính viễn thông của Thái Bình có trình độ
công nghệ cao hòa nhập với trong nước, khu vực và Thế Giới.
1.2.5.9.Tài chính ngân hàng:
Ngoài Ngân Hàng Nhà Nước tỉnh thực hiện chức năng quản lý Nhà nước,
còn có các tổ chức tín dụng Nhà nước chi nhánh tại địa phương: Ngân hàng công
thương, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Ngân hàng Đầu tư và phát
triển, Ngân hàng Ngoại thương, Ngân hàng Chính sách XH…76 quỹ tín dụng nhân
SINH VIÊN: TRẦN THỊ THANH HẢI LỚP: ĐẦU TƯ 48C
10
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP T.S NGUYỄN HỒNG MINH
dân cơ sở và 1 quỹ tín dụng khu vực tỉnh; thuộc hệ thống ngân hàng. Các đơn vị trên
đã và đang đổi mới phương thức hoạt động góp phần nâng cao chất lượng phục vụ.
1.2.5.10.Các cơ sở đào tạo:
Trên địa bàn Thái Bình có trường Đại học Y TB, Đại học công nghiệp TP
HCM, trường Cao đẳng Sư phạm, trường Cao đẳng Y, Cao đẳng Kỹ thuật, trường
Công nhân xây dựng và các trung tâm dạy nghề ở các huyện và một số trung tâm
khác…Các cơ sở đào tạo dạy nghề trong tỉnh đang được đầu tư nâng cấp để đáp ứng
yêu cầu của sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội trong tỉnh.
1.3.ODA và sự phát triển của Việt Nam:
15 năm kể từ ngày các nhà tài trợ dành cho Việt Nam họp tại Paris diễn ra vào
tháng 11.1993, đánh dấu mốc Việt Nam bắt đầu nhận viện trợ ODA, nguồn vốn này
đã trở thành một phần không thể thiếu được trong sự phát triển kinh tế - xã hội của
đất nước.
Nhờ có sự hỗ trợ bởi các khoản vốn và những kinh nghiệm phát triển quý báu
từ nguồn vốn ODA, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội của Việt Nam đã được cải thiện và
Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong các lĩnh vực như xã hội, y tế, giáo dục,
tăng cường thể chế, bảo vệ môi trường, phát triển nông thôn, đặc biệt là trong công
tác xóa đói giảm nghèo…
Cũng năm đó, sau khi nối lại quan hệ với các định chế tài chính quốc tế, đến
nay đã có gần 50 nhà tài trợ đa phương và song phương cùng 350 tổ chức chính phủ
với 1.500 chương trình, dự án dành cho Việt Nam. Đứng đầu trong các quốc gia và tổ
chức trên là Nhật Bản, Ngân Hàng Thế Giới, Ngân Hàng Phát triển châu Á với tổng
số vốn cam kết chiếm 70- 80% tổng nguồn vốn ODA hằng năm mà các nhà tài trợ
dành cho Việt Nam. Kể từ đó đến nay, đã có tới 22 tỉ USD được giải ngân tròng tổng
số 42,5 tỷ USD vốn ODA cam kết. Cho đến gần đây, Việt Nam luôn được coi là một
trong những quốc gia sử dụng hiệu quả vốn ODA nhất trên Thế Giới, đưa tỷ lệ xóa đói
giảm nghèo giảm từ khoảng 58% năm 1992 xuống khoảng 15% năm 2007.
Trong giai đoạn năm 2000 đến nay, khi điều kiện nguồn vốn của các nước
phát triển dành cho các nước đang phát triển ngày càng giảm sút thì nguồn vốn cam
kết ODA dành cho Việt Nam năm sau luôn cao hơn năm trước.
Nhìn lại 15 năm tiếp nhận nguồn vốn ODA, bức tranh thu hút và sử dụng
ODA không phải hoàn toàn là màu hồng. Nguyên nhân là do vẫn còn tồn tại một số
vấn đề. Trước tiên là do quy trình và thủ tục nội bộ của Việt Nam đối với việc quản
SINH VIÊN: TRẦN THỊ THANH HẢI LỚP: ĐẦU TƯ 48C
11
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP T.S NGUYỄN HỒNG MINH
lý và sử dụng ODA còn một số điểm gây trở ngại cho quá trình chuẩn bị và thực hiện
dự án.
Các quy trình thủ tục quản lý ODA của Việt Nam và nhà tài trợ chưa hài hòa,
gây chậm trễ trong quá trình thực hiện các chương trình, dự án, làm giảm hiệu quả
đầu tư và tăng chi phí giao dịch. Giám đốc Ngân hàng phát triển châu Á, Ayumi
Konishi đã nhận định: Để đảm bảo phát triển, thu hồi vốn và hoàn trả vốn, VN cần
đảm bảo dự án không bị chậm. Nếu không, khi hết thời gian ân hạn, VN sẽ không thể
hoàn vốn. Nếu giữ nhịp độ giải ngân hiện nay, VN có nguy cơ nợ nước ngoài lớn hơn
khi trở thành nước có thu nhập trung bình.
Người đứng đầu Chính phủ VN đã khẳng định Việt Nam “ luôn trân trọng
từng đồng vốn ODA”. Trong khi đó Bộ trưởng Bộ kế hoạch – Đầu tư Võ Hồng Phúc
sau khi có được cam kết tài trợ ODA năm nay nói rằng ông “rất cảm động” với cam
kết của các nhà tài trợ trong bối cảnh như hiện nay. Hi vọng chính phủ sẽ biến điều
đó thành hành động cụ thể quyết liệt thông qua việc đẩy nhanh tốc độ giải ngân và
nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng đồng vốn quý báu này.
1.4.Sự cần thiết phải thu hút ODA ở Thái Bình:
Trong thời gian qua, ODA đã hỗ trợ thực hiện thắng lợi nhiều nhiệm vụ phát
triển kinh tế - xã hội đất nước thông qua việc cung cấp vốn, bao gồm cả vốn ODA
không hoàn lại và ODA vốn vay ưu đãi để xây dựng các công trình và cung cấp dịch
vụ tư vấn về tăng cường năng lực thể chế (Hỗ trợ xây dựng chính sách, luật pháp,
năng lực quản lý và điều hành kinh tế...) và đào tạo con người.
Những thành tựu đã đạt được trên các lĩnh vực phát triển kinh tế và xã hội, thu
hút các nguồn vốn đầu tư, xoá đói, giảm nghèo, tăng cường năng lực thể chế và năng
lực con người... đều có sự đóng góp không nhỏ của ODA.
Cũng như các tỉnh khác trên đất nước, Thái Bình cũng là một trong những tỉnh
mà những năm gần đây nhờ có nguồn vốn ODA mà nền kinh tế- xã hội của Thái
Bình đã và đang phát triển trên nhiều lĩnh vực và phương diện.
Trước tình hình nguồn vốn đầu tư và phát triển trong nước gặp nhiều khó
khăn, khả năng đầu tư cho các dự án không đáp ứng đủ nhu cầu. Sau nhiều năm được
Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Thương Mại, Bộ Xây dựng, Bộ Nông nghiệp và phát
triển nông thôn, Bộ Y tế... gợi mở và tạo điều kiện, Các Ban, ngành, doanh nghiệp
địa phương đã tiến hành lập các dự án khả thi để trình các cán bộ UBND, Sở Kế
hoạch và đầu tư thẩm định, phê duyệt và kêu gọi các nguồn đầu tư, trong đó ODA là
một nguồn không thể thiếu trong nguồn vốn đầu tư của tỉnh.
SINH VIÊN: TRẦN THỊ THANH HẢI LỚP: ĐẦU TƯ 48C
12
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP T.S NGUYỄN HỒNG MINH
Tuy là một tỉnh nông nghiệp nhưng Thái Bình vẫn đang cố gắng hòa cùng
công cuộc công nghiệp hóa của cả nước và nguồn vốn ODA đã trở thành một trong
những nguồn vốn không thể thiếu trong công cuộc phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh
nói chung và công nghiệp hóa nói riêng.
SINH VIÊN: TRẦN THỊ THANH HẢI LỚP: ĐẦU TƯ 48C
13
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP T.S NGUYỄN HỒNG MINH
2. Thực trạng thu hút, sử dụng và quản lý ODA ở Thái Bình:
2.1.Tổng quan thu hút, sử dụng và quản lý ODA Việt Nam:
2.1.1. Tình hình thu hút, sử dụng và quản lý ODA ở Việt Nam giai đoạn
2001-2005:
Trong thời kỳ 2001-2005 công tác vận động ODA tiếp tục được tiến hành theo
chủ trương đối ngoại của Đảng và Nhà nước: “Việt Nam sẵn sàng là đối tác tin cậy
của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”.
Trong 5 năm qua Việt Nam liên tục duy trì tổ chức Hội nghị Nhóm tư vấn các
nhà tài trợ dành cho Việt Nam (Hội nghị CG). Đây là diễn đàn quan trọng được tổ
chức hàng năm để trao đổi ý kiến giữa Chính phủ và Cộng đồng các nhà tài trợ quốc
tế tại Việt Nam về quá trình phát triển của Việt Nam và hoạt động điều phối ODA để
hỗ trợ quá trình này. Ngoài Hội nghị CG thường niên, còn có các Hội nghị CG giữa
kỳ không chính thức được tổ chức tại các địa phương, tạo điều kiện cho các nhà tài
trợ nắm bắt nhu cầu phát triển ưu tiên, cũng như tiếp xúc với những người thụ hưởng
viện trợ. Nhờ vậy, công tác vận động ODA của Việt Nam sống động và thiết thực.
Công tác vận động ODA cũng còn được thực hiện thông qua các hoạt động đối ngoại
của các lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, Quốc hội và Chính phủ, lãnh đạo các
Bộ, ngành và địa phương, các đoàn thể chính trị, xã hội, các cơ quan đại diện ngoại
giao Việt Nam ở nước ngoài và đã đạt được những kết quả rõ rệt với mức cam kết
ODA hàng năm đều tăng, năm sau cao hơn năm trước, đạt tổng lượng 14.597 triệu
USD trong giai đoạn 2001-2005.
Biểu 1: Tổng cam kết ký và giải ngân ODA của Việt Nam giai đoạn 2001-2005
Tổng hợp Cam kết, ký kết và giải ngân
giai đoạn 5 năm 2001-2005
0
500
1.000
1.500
2.000
2.500
3.000
3.500
4.000
Triệu USD
Cam kết (14.597)
2.356 2.461 2.839 3.441 3.500
Ký kết (11.080)
2.430 1.826 1.761 2.563 2.500
Giải ngân (7.840)
1.500 1.528 1.442 1.650 1.720
2001 2002 2003 2004 2005
SINH VIÊN: TRẦN THỊ THANH HẢI LỚP: ĐẦU TƯ 48C
14
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP T.S NGUYỄN HỒNG MINH
So sánh tỷ lệ ODA ký trên GDP với các nước có trình độ phát triển kinh tế
tương đương, tỷ lệ này của Việt Nam khá thấp trong giai đoạn 2001 - 2005 đạt
trung bình 3,5-4,5% (tỷ lệ này trung bình của các nước tiếp nhận ODA trên thế
giới là 9%).
Trong thời kỳ 2001-2005, tổng vốn ODA giải ngân đạt 7.840 triệu USD,
tương đương 53,73% tổng lượng ODA cam kết cùng kỳ.
Tuy giải ngân ODA hàng năm có tăng, song mới chỉ đạt 70-80% mức kế
hoạch giải ngân đề ra. Tỷ lệ giải ngân ODA của một số nhà tài trợ tại Việt Nam
vẫn thấp hơn so với tỷ lệ giải ngân của những nhà tài trợ đó trong khu vực và
trên thế giới.
Hiện nay ở Việt Nam có 51 nhà tài trợ song phương và đa phương, trong đó
28 nhà tài trợ song phương và 23 nhà tài trợ đa phương có các chương trình ODA
thường xuyên. Tuy tập quán tài trợ phát triển quốc tế không coi tài trợ của các tổ
chức phi Chính phủ nước ngoài (NGO) là ODA, song với một số lượng lớn của các
tổ chức này hoạt động tại Việt Nam (gần 600 tổ chức) và quy mô tài trợ hàng năm
khoảng 100 triệu USD trong nhiều lĩnh vực khác nhau, nhất là ở cấp cơ sở, do vậy
cũng cần được tính đến trong việc thu hút, quản lý và sử dụng viện trợ nước ngoài.
Hầu hết các nhà tài trợ đều có chiến lược hoặc chương trình hợp tác trung hạn
về hợp tác phát triển với Việt Nam. Các mô hình cung cấp ODA và các quy trình, thủ
tục ODA của các nhà tài trợ không giống nhau. Để giảm chi phí giao dịch ODA và
nâng cao hiệu quả nguồn lực này, Việt Nam và các nhà tài trợ đang hợp tác để hài
hoà quy trình và thủ tục ODA, tuân thủ hệ thống quốc gia và nâng cao hiệu quả viện
trợ trong khuôn khổ Tuyên bố của Hội nghị thượng đỉnh Pa-ri về hiệu quả viện trợ
(tháng 3/2005), Cam kết Hà Nội và Kế hoạch hành động về hài hoà quy trình và thủ
tục ODA đã được thoả thuận giữa Việt Nam và các nhà tài trợ hoạt động tại Việt
Nam.
Việc thu hút và sử dụng ODA trong giai đoạn vừa qua đã được Đảng và Nhà
nước đánh giá cao và về cơ bản có hiệu quả. “... Việc thu hút và sử dụng ODA trong
10 năm qua đã được thực hiện theo các quan điểm, chủ trương và đường lối chỉ đạo
của Đảng tại các văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam, phù hợp với chiến lược,
quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước: ưu tiên sử dụng
nguồn lực này để hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, phát triển lực lượng
sản xuất, góp phần tăng trưởng kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân”. Các nhà tài
SINH VIÊN: TRẦN THỊ THANH HẢI LỚP: ĐẦU TƯ 48C
15
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP T.S NGUYỄN HỒNG MINH
trợ cũng thống nhất nhận định ODA ở Việt Nam trong giai đoạn vừa qua đã đóng góp
tích cực cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và xoá đói, giảm nghèo.
* Các thành quả đạt được ở giai đoạn này:
Thứ nhất, việc thu hút và sử dụng ODA trong thời gian qua góp phần quan
trọng trong việc thực hiện thành công chính sách đối ngoại rộng mở, đa dạng hoá, đa
phương hoá, giữ vững độc lập, tự chủ và chủ quyền quốc gia.
Việc nối lại quan hệ hợp tác phát triển với Việt Nam của Cộng đồng tài trợ quốc tế
vào năm 1993 thể hiện sự đúng đắn của chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà Việt Nam,
nhất là trong hoàn cảnh lúc đó Việt Nam còn bị bao vây và cấm vận.
Cam kết tài trợ với quy mô khá lớn, hơn 29 tỷ USD, trong suốt giai đoạn
1993-2004 là một minh chứng về sự đồng tình và ủng hộ chủ trương, chính sách phát
triển kinh tế - xã hội đúng đắn, hợp lòng dân của Đảng và Nhà Việt Nam.
Các khoản vay và viện trợ không hoàn lại có gắn với các điều kiện cam kết chính
sách để hỗ trợ cải cách như Khoản vay tín dụng dự phòng (SBA) và Chuyển đổi cơ cấu
(STF) của IMF, Tín dụng điều chỉnh cơ cấu (SAS) của WB, Khoản vay theo sáng kiến
Myazawa của Nhật Bản hỗ trợ khu vực tư nhân đã hỗ trợ cho ngân sách hơn 1,5 tỷ USD.
Song đây không phải là “sự mặc cả”, là “sự trả giá” để đổi lấy viện trợ. Trái lại, cải cách
của Việt Nam đã tiến hành theo lộ trình đã đặt ra, phù hợp với điều kiện thực tế Việt Nam,
đồng thời đáp ứng nguyện vọng của các nhà tài trợ nên các khoản vay chính sách này đã
đóng góp tích cực cho việc chuyển đổi sang kinh tế thị trường định hướng XHCN có sự
quản lý của Nhà nước.
ODA đã là cầu nối trong quan hệ của Việt Nam với các nước và tổ chức quốc
tế, góp phần củng cố và nâng cao vị thế của Việt Nam ở trong khu vực và trên thế
giới, đồng thời quảng bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới. Một khi nhà tài trợ đã tin
tưởng vào chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đã cam kết mạnh mẽ ủng
hộ công cuộc Đổi mới thì đó là một nhân tố tích cực tác động tới giới đầu tư nước
ngoài an tâm và mạnh dạn đầu tư vào Việt Nam.
Thứ hai, ODA đã bổ sung một nguồn vốn quan trọng cho đầu tư từ ngân sách
để phát triển kinh tế-xã hội.
Trong thời kỳ 2001-2005 nguồn vốn ODA đã bổ sung khoảng 11% cho tổng vốn
đầu tư toàn xã hội và nguồn vốn ODA cấp phát qua ngân sách nhà nước chiếm trung bình
khoảng 17% tổng đầu tư từ ngân sách. ODA đã thực sự trở thành kênh vốn bổ sung quan
trọng cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
SINH VIÊN: TRẦN THỊ THANH HẢI LỚP: ĐẦU TƯ 48C
16
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP T.S NGUYỄN HỒNG MINH
Mặc dù phải huy động nguồn vốn ODA khá lớn, trong đó khoảng 80% là vốn
vay ưu đãi, tính đến ngày 31/12/2004 nợ ODA của Việt Nam khoảng 9 tỷ USD. Theo
chiến lược vay trả nợ nước ngoài đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, hiện nay nợ
nước ngoài của Việt Nam nằm trong ranh giới an toàn. Tổng số nợ nước ngoài của toàn
bộ nền kinh tế năm 2001 (số trong ngoặc là giới hạn tối đa theo kinh nghiệm quốc tế)
bằng 39% GDP (50-60%), bằng 83,7% kim ngạch xuất khẩu (150%), dịch vụ trả nợ (số
tiền trả nợ gốc và lãi) bằng 9,9% kim ngạch xuất khẩu (15%), dịch vụ trả nợ Chính phủ
bằng 6,0% tổng thu ngân sách Nhà nước (10%). WB cũng đánh giá nợ nước ngoài của
Việt Nam nằm trong ranh giới an toàn.
Thứ ba, ODA trong giai đoạn vừa qua đã hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng kinh
tế - xã hội, góp phần tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công
nghiệp hóa và hiện đại hóa, cải thiện các dịch vụ xã hội, xoá đói, giảm nghèo.
Trong thời kỳ 2001-2005, nguồn vốn ODA đã được sử dụng tập trung cao cho
phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội. Trên đại thể cơ cấu nguồn vốn ODA chia
theo các lĩnh vực như sau:
Bảng 1: Cơ cấu ODA ký kết theo ngành, lĩnh vực thời kỳ 2001- 2002 :
CƠ CẤU ODA KÝ KẾT THEO NGÀNH, LĨNH VỰC THỜI KỲ 2001-2005
Đơn vị: triệu USD
Ngành lớn
Tổng
ODA
ODA vay
(ký kết)
ODA viện trợ
(ký kết)
% tổng ODA
NNPTNT và xóa đói giảm
nghèo
1607,43 1299,63 307,80 16,05
Công nghiệp - năng lượng 1582,49 1536,40 46,09 15,80
Giao thông vận tải - Bưu chính
viễn thông
2540,76 2444,61 96,15 25,36
Khoa học công nghệ - Môi
trường
1005,30 725,78 279,52 10,03
Y tế - Giáo dục – Xã hội 1062,67 483,70 578,97 10,61
Ngành khác 2218,85 1804,94 413,91 22,15
Tổng
10017,5
0
8295,06 1722,44 100,00
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư – Riêng 2005, tính hết 6 tháng đầu năm

SINH VIÊN: TRẦN THỊ THANH HẢI LỚP: ĐẦU TƯ 48C
17
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP T.S NGUYỄN HỒNG MINH
Trong cơ sở hạ tầng kinh tế, ngành Giao thông vận tải - Bưu chính viễn
thông được ưu tiên cao nhất với số vốn ODA hơn 2,54 tỷ USD, trong đó chủ yếu
là ODA vốn vay ưu đãi, vốn ODA không hoàn lại chỉ chiếm gần 3,78%. Nhờ tập
trung vốn ODA quy mô lớn nên hầu hết các lĩnh vực của ngành này đều có bước phát
triển khá, nhất là lĩnh vực đường bộ. Nhiều công trình giao thông được cải tạo và xây
dựng mới góp phần quan trọng cho tăng trưởng kinh tế và xoá đói giảm nghèo như hệ
thống đường bộ ở phía Bắc (Quốc lộ 5, 10, 18), Quốc lộ 1A, đường xuyên Á Thành
phố Hồ Chí Minh - Mộc Bài, hầm đường bộ đèo Hải Vân, cảng biển nước sâu Cái
Lân, cải tạo và nâng cấp cảng Hải Phòng, cảng Tiên Sa (Đà Nẵng), cảng Sài Gòn,
nhà ga quốc tế sân bay Tân Sơn Nhất, các cầu lớn như cầu Mỹ Thuận, cầu Cần Thơ,
cầu Thanh Trì (Hà Nội), cầu Bãi Cháy... Ngoài ra, các lĩnh vực khác như đường sắt,
đường thuỷ nội địa cũng có các dự án đầu tư bằng nguồn vốn ODA góp phần cải tạo,
nâng cấp và phát triển.
Lĩnh vực Bưu chính, viễn thông cũng có các dự án hỗ trợ tăng cường cơ sở vật
chất kỹ thuật như dự án cáp quang ven biển, dự án điện thoại nông thôn…
Trong thời kỳ 2001-2005, ngành Công nghiệp - Năng lượng được đầu tư
1,58 tỷ USD vốn ODA để cải tạo, nâng cấp và phát triển mới nhiều nhà máy điện với
công suất lớn (nhà máy nhiệt điện Phú Mỹ 2.1 công suất 288 MW; nhà máy nhiệt
điện Phả Lại II công suất 600 MW; nhà máy thuỷ điện Hàm Thuận - Đa Mi công suất
475 MW; nhà máy nhiệt điện Phú Mỹ I công suất 1.090 MW; nhà máy nhiệt điện Ô
Môn công suất 600 MW; nhà máy thuỷ điện Đại Ninh công suất 360 MW...), cải tạo
và phát triển lưới điện quốc gia, mạng phân phối truyền tải điện cho các thành phố,
khu công nghiệp lớn, đáp ứng nhu cầu phụ tải, xây dựng các trạm biến áp, đường dây
tải điện 500 KV và thực hiện các chương trình điện khí hoá nông thôn.
Ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn và xóa đói giảm nghèo được
khoảng 1,60 tỷ USD vốn ODA, trong đó khoảng hơn 19% là vốn ODA không hoàn
lại. Nguồn vốn này đã được sử dụng cho: phát triển nông nghiệp (17,59%), phát triển
lâm nghiệp (6,57%), xây dựng thuỷ lợi (26,39%), thuỷ sản (0,58%) và phát triển
nông thôn xoá đói giảm nghèo (48,87%). Nhờ sự hỗ trợ của ODA, cơ sở hạ tầng ở
nông thôn đã được cải thiện đáng kể (thuỷ lợi, lưới điện nông thôn, trường học, trạm
y tế, giao thông nông thôn, cấp nước sinh hoạt, tín dụng nông thôn quy mô nhỏ...)
góp phần phát triển nông thôn tổng hợp, xóa đói, giảm nghèo.
Về cơ sở hạ tầng xã hội, ODA đã được ưu tiên sử dụng hỗ trợ phát triển giáo
dục, y tế, xã hội với tổng số vốn là 1,062 tỷ USD trong thời kỳ 2001-2005.
SINH VIÊN: TRẦN THỊ THANH HẢI LỚP: ĐẦU TƯ 48C
18
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP T.S NGUYỄN HỒNG MINH
Trong lĩnh vực giáo dục, trong giai đoạn 2001-2005 Việt Nam đã tranh thủ
được nguồn vốn ODA để đầu tư tăng cường cơ sở vật chất, kỹ thuật cho công tác dạy
và học của tất cả các cấp học (dự án giáo dục tiểu học, dự án trung học cơ sở, dự án
trung học phổ thông, dự án giáo dục đại học, dự án dạy nghề...), đào tạo giáo viên,
tăng cường năng lực công tác kế hoạch và quản lý giáo dục, gửi sinh viên ra nước
ngoài đào tạo đại học và sau đại học, cử hàng nghìn cán bộ, viên chức đi nước ngoài
đào tạo và đào tạo lại về các lĩnh vực kinh tế, khoa học, công nghệ và quản lý. Nhìn
chung lại, ODA đã đóng góp cho ngân sách ngành giáo dục đáng kể từ 8-10% ngân
sách hàng năm của ngành, đã góp phần tăng cường cơ sở vật chất, kỹ thuật cho việc
học và dạy của các trường, tăng cường năng lực con người và thể chế cho ngành giáo
dục.
Trong lĩnh vực y tế, vốn ODA không hoàn lại chiếm tỷ trọng cao, 63,41%
trong tổng vốn ODA trên 0,5 tỷ USD thời kỳ 2001-2005 đã được sử dụng để tăng
cường cơ sở vật chất và kỹ thuật cho công tác khám và chữa bệnh (xây dựng và tăng
cường trang thiết bị y tế cho một số bệnh viện tuyến tỉnh và thành phố, các bệnh viện
huyện và các trạm y tế xã), xây dựng cơ sở sản xuất kháng sinh, trung tâm truyền
máu quốc gia... tăng cường công tác dân số và sức khoẻ sinh sản, phòng chống HIV/
AIDS và bệnh truyền nhiễm như lao, sốt rét...; đào tạo cán bộ y tế, hỗ trợ xây dựng
chính sách và nâng cao năng lực quản lý ngành.
Ngoài ra, trong giai đoạn 2001-2005, ODA đã được sử dụng để xây dựng hệ
thống cấp nước sinh hoạt, thoát nước và xử lý rác thải ở hầu hết các thành phố lớn và
ở nhiều thị xã của các tỉnh, góp phần cải thiện môi trường hiện đang là nhu cầu bức
bách hiện nay của các đô thị và khu dân cư tập trung.
Thứ tư, ODA đã có đóng góp đáng kể để tiếp nhận khoa học công nghệ hiện
đại, kinh nghiệm quản lý tiên tiến, tăng cường nguồn lực con người và phát triển thể chế.
Ngoài các dự án đầu tư bằng nguồn vốn ODA trực tiếp tạo ra cơ sở vật chất,
kỹ thuật cho công tác nghiên cứu khoa học, công nghệ (các phòng thí nghiệm ở các
trường đại học, các viện nghiên cứu khoa học; xây dựng trạm viễn thám...), thông qua
nhiều dự án đầu tư bằng nguồn vốn ODA các công nghệ mới, kỹ năng và kinh
nghiệm quản lý tiên tiến được chuyển giao (công nghệ làm đường, làm cầu hiện đại,
bảo vệ môi trường, chọn giống cây trồng, vật nuôi...).
ODA đã góp phần phát triển thể chế, nhất là hỗ trợ hoàn thiện và xây dựng
mới nhiều bộ luật như Luật Doanh nghiệp, Luật Đất đai, Luật Thương mại, Luật Đầu
SINH VIÊN: TRẦN THỊ THANH HẢI LỚP: ĐẦU TƯ 48C
19
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP T.S NGUYỄN HỒNG MINH
tư, Luật Đấu thầu, Luật Cạnh tranh, Luật Chống tham nhũng... cũng như công tác
tuyên truyền và giáo dục pháp luật.
Các dự án ODA đã giúp nâng cao năng lực quản lý của các Bộ, ngành và các
địa phương, trình độ chuyên môn và tiếng Anh của đội ngũ cán bộ cũng có bước tiến
bộ đáng kể.
Thứ năm, nguồn vốn ODA góp phần phát triển kinh tế - xã hội, xoá đói, giảm
nghèo của nhiều địa phương nhất là các tỉnh nghèo, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng
bào dân tộc.
Bảng 2: Cơ cấu vốn ODA theo vùng do địa phương trực tiếp hưởng thụ
thời kỳ 2001- 2005:
CƠ CẤU VỐN ODA KÝ THEO VÙNG DO ĐỊA PHƯƠNG
TRỰC TIẾP THỤ HƯỞNG THỜI KỲ 2001- 2005
Đơn vị: triệu USD
Vùng ODA ký
Trung du miền núi Bắc Bộ 358,57
Đồng bằng sông Hồng và vùng kinh tế trọng điểm
Bắc Bộ
328,47
Bắc Trung Bộ, duyên hải miền Trung và vùng
kinh tế trọng điểm miền Trung
800,96
Tây Nguyên 95,04
Đông Nam Bộ và vùng kinh tế trọng điểm phía
Nam
791,87
Đồng bằng sông Cửu Long 191,01
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư - Riêng 2005, tính hết 6 tháng đầu năm
Trong thời gian qua thành tích xoá đói, giảm nghèo của Việt Nam giảm tỷ lệ
nghèo từ trên 58% năm 1993 xuống còn khoảng 24% năm 2004 (theo tiêu chuẩn
quốc tế) đã vượt mục tiêu Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc trước 10 năm và gây ấn
tượng mạnh mẽ đối với các nhà tài trợ. Nhiều dự án ODA đã trực tiếp hỗ trợ nhiều
tỉnh và thành phố xây dựng hệ thống cấp nước sinh hoạt, phát triển lưới điện nông
thôn, giao thông nông thôn, xây dựng hệ thống thuỷ lợi, trường học, trạm xá, bệnh
SINH VIÊN: TRẦN THỊ THANH HẢI LỚP: ĐẦU TƯ 48C
20
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP T.S NGUYỄN HỒNG MINH
viện, thực hiện các chương trình khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư và cung cấp
tín dụng quy mô nhỏ,...
* Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn một số hạn chế:
Thứ nhất, thiếu một định hướng tổng thể về thu hút và sử dụng ODA để làm
căn cứ cụ thể hoá các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong việc huy
động nguồn lực này hỗ trợ thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, xoá đói,
giảm nghèo của cả nước, của các Bộ, ngành và địa phương.
Yếu kém này đồng thời là nguyên nhân hạn chế Việt Nam phát huy vai trò làm
chủ và tính chủ động trong việc định hướng thu hút và sử dụng ODA cũng như trong
quá trình tổ chức thực hiện, do vậy làm giảm hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn lực
này.
Thứ hai, hệ thống các văn bản pháp quy liên quan tới quản lý và sử dụng
ODA chưa hoàn chỉnh, thiếu đồng bộ, chưa rõ ràng và có nhiều khác biệt so với các quy
định của bên tài trợ, đồng thời việc thực hiện các văn bản pháp luật chưa nghiêm.
Trong thời kỳ 2001-2005, Chính phủ đã ban hành Nghị định mới về quản lý
và sử dụng ODA. Tuy Nghị định này có nhiều điểm tiến bộ hơn các Nghị định cùng
loại đã được ban hành trước đó, song ODA lại chịu sự chi phối của nhiều văn bản
pháp quy khác (Quản lý đầu tư xây dựng công trình; Đấu thầu; Đền bù, di dân, giải
phóng mặt bằng...) với những nội dung không nhất quán với Nghị định về quản lý và
sử dụng ODA. Hơn thế nữa ODA còn có những đặc thù về mặt pháp lý mà nước
tiếp nhận phải tuân thủ những quy định của nhà tài trợ và các tập quán, thông lệ
quốc tế.
Thứ ba, năng lực con người tham gia quản lý Nhà nước về ODA ở các cấp,
nhất là ở cấp địa phương, cán bộ tham gia quản lý trực tiếp dự án ở cơ sở còn yếu về
trình độ chuyên môn, kỹ năng quản lý, tiếng Anh và kinh nghiệm hợp tác quốc tế...
Thứ tư, cơ cấu tổ chức đầu mối về quản lý, điều phối và sử dụng ODA ở các
cấp chưa được xây dựng thống nhất cả ở Trung ương, địa phương và cơ sở.
Tổ chức đầu mối về ODA ở một số bộ và địa phương còn phân tán, chồng
chéo, gây khó khăn cho công tác điều phối, quản lý cũng như phối hợp với nhà tài
trợ. Hiện chưa có mô hình chuẩn về các Ban quản lý chương trình, dự án ODA với
chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm và quyền hạn được xác định cụ thể, lương và phụ
cấp chậm được cải thiện hiện đang cản trở việc thu hút những cán bộ có năng lực làm
việc cho các chương trình, dự án ODA, trong đó có nhiều dự án vốn vay hàng trăm
triệu USD.
SINH VIÊN: TRẦN THỊ THANH HẢI LỚP: ĐẦU TƯ 48C
21
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP T.S NGUYỄN HỒNG MINH
Thứ năm, công tác theo dõi và đánh giá chương trình, dự án ODA chưa được
quan tâm đúng mức. Chế độ báo cáo, thanh quyết toán tài chính chưa được thực hiện
nghiêm túc và thiếu các chế tài cần thiết.
Những khó khăn, yếu kém và bất cập chủ yếu nói trên đồng thời cũng là
những nguyên nhân chủ quan hạn chế hiệu quả thu hút và sử dụng ODA trong giai
đoạn vừa qua. Bên cạnh đó, cũng có những nguyên nhân khách quan là:
(1) Thời gian tiếp nhận và sử dụng ODA ở Việt Nam mới được hơn 10 năm
(các nước trong khu vực đã tiếp nhận ODA khoảng 30-40 năm), do vậy Việt Nam
còn thiếu quá nhiều kiến thức và kinh nghiệm.
(2) Trong tiếp nhận và sử dụng ODA cũng có những nhà tài trợ vì những lý do
khác nhau chưa tạo điều kiện cho Việt Nam phát huy vai trò làm chủ, có những biểu
hiện áp đặt nội dung, phương thức quản lý và điều kiện tài trợ.
(3) Quy trình và thủ tục ODA của một số nhà tài trợ khá phức tạp, nhiều khi
thiếu rõ ràng. Cung cách quản lý thiếu linh hoạt, chưa phân cấp mạnh cho cơ quan
quản lý viện trợ của mình tại nước tiếp nhận, do vậy gây khó khăn và chậm trễ cho
việc thực hiện các chương trình, dự án ODA.
2.1.2. Tình hình thu hút, sử dụng và quản lý ODA ở Việt Nam giai đoạn 2006- 2008:
Nhằm đạt được mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006-2010 đạt tăng
trưởng GDP bình quân 7,5-8%/năm, đồng thời nỗ lực phấn đấu để đạt 8%/năm, tổng
đầu tư toàn xã hội phục vụ phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2006-2010 ước tính
khoảng 2.200 nghìn tỷ đồng (theo giá 2005), tương đương 139,4 tỷ USD, bằng
khoảng 40% GDP. Nguồn vốn đầu tư này được huy động từ nhiều nguồn khác nhau:
từ ngân sách Nhà nước, từ khu vực tư nhân trong và ngoài nước, từ nguồn vốn ODA
và nhiều nguồn khác. Cơ cấu vốn cho thời kỳ này dự kiến vốn trong nước khoảng
65%, vốn ngoài nước khoảng 35%.
Về vốn ngoài nước, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) dự kiến thực
hiện đạt 17,5-19,5 tỷ USD, các nguồn vốn bên ngoài khác (vay tín dụng ngắn hạn,
trung hạn, chứng khoán,...) dự kiến khoảng 9 tỷ USD và vốn đầu tư từ nguồn kiều hối
là 12 tỷ USD.
Với những ước tính về các nguồn vốn ngoài nước khác như trên, nguồn vốn
ODA trong thời kỳ 2006-2010, kể cả nguồn vốn ODA đã ký nhưng chưa giải ngân
của thời kỳ 2001-2005 chuyển tiếp, được xác định cần bảo đảm thực hiện khoảng
10,9 tỷ USD, bình quân 2,18 tỷ USD/năm so với 1,7 tỷ năm 2005.
SINH VIÊN: TRẦN THỊ THANH HẢI LỚP: ĐẦU TƯ 48C
22
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP T.S NGUYỄN HỒNG MINH
Bước vào thời kỳ 2006-2010 và giai đoạn tới năm 2015, việc thu hút nguồn
vốn ODA của Việt Nam có những thuận lợi rất cơ bản, đồng thời đứng trước những
khó khăn và thách thức không nhỏ.
Trước hết, tình hình chính trị, xã hội của Việt Nam ổn định, an ninh bảo đảm
trong bối cảnh ở nhiều nước đang phát triển khác hệ thống chính trị bất ổn, mâu
thuẫn sắc tộc, tôn giáo, chủ nghĩa ly khai dẫn tới những cuộc xung đột vũ trang đã và
đang ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Trong bối cảnh đó
hỗ trợ phát triển quốc tế rất khó triển khai, ngoại trừ viện trợ nhân đạo.
Tiếp tục duy trì ổn định chính trị, xã hội, bảo đảm an ninh là lợi thế so sánh
của Việt Nam để tranh thủ nguồn ODA trong giai đoạn tới.
Thứ hai, chính sách phát triển kinh tế - xã hội đúng đắn, được sự đồng tình và
ủng hộ của toàn xã hội, công cuộc đổi mới tiếp tục được tăng cường và đẩy mạnh cả
chiều rộng lẫn bề sâu là cơ sở vững chắc để nhà tài trợ cam kết cung cấp ODA cho
Việt Nam.
Thứ ba, nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao và duy trì liên tục trong một thời
gian dài tạo ra những đầu vào cần thiết để tiếp nhận và sử dụng có hiệu quả ODA cũng
như làm cho nhà tài trợ an tâm về khả năng trả nợ ODA vốn vay của ta.
Thứ tư, công cuộc chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực của Việt
Nam đang diễn ra sôi động, Việt Nam sẽ sớm trở thành thành viên WTO và được
công nhận là nền kinh tế thị trường, hệ thống thể chế và văn bản pháp quy sẽ được
hoàn thiện và đồng bộ hơn, góp phần tạo ra một môi trường thông thoáng và hài hoà
hơn với thông lệ và tập quán quốc tế, nhờ vậy các hoạt động thu hút và sử dụng ODA
sẽ thuận lợi hơn.
Thứ năm, năng lực cán bộ ở các cấp sẽ được nâng cao, góp phần thúc đẩy quá
trình thực hiện các chương trình, dự án ODA, nâng cao chất lượng và hiệu quả nguồn
lực này.
Bên cạnh những thuận lợi nêu trên, việc thu hút và sử dụng ODA của Việt
Nam trong giai đoạn mới cũng có những khó khăn và thách thức, đó là:
Về nguồn ODA của thế giới, như đã dự báo ở trên sẽ tăng lên đáng kể trong
giai đoạn tới. Tổng nguồn ODA từ các nước thành viên DAC sẽ tăng trên 1,6 lần vào
năm 2010 so với năm 2003. Tuy nhiên, để hỗ trợ thực hiện mục tiêu phát triển thiên
niên kỷ còn phải cần thêm ít nhất 35 tỷ USD ODA nữa vào năm 2010.
Một thách thức khác là trong nhiều thập kỷ qua một nguồn vốn ODA lớn đổ
vào châu Phi. Năm 2001 viện trợ chiếm 4,6% GNI của châu Phi và Sahara, trong khi
SINH VIÊN: TRẦN THỊ THANH HẢI LỚP: ĐẦU TƯ 48C
23
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP T.S NGUYỄN HỒNG MINH
đó Đông Á và Thái Bình Dương chỉ có 0,5%. Tại Hội nghị G8 các nước thuộc Tổ
chức OECD đã cam kết tăng thêm mỗi năm 50 tỷ USD viện trợ đến năm 2010 cho tất
cả các nước nghèo, trong đó ít nhất 25 tỷ USD dành cho châu Phi. Nhu cầu viện trợ
cho châu Phi vẫn tiếp tục tăng sẽ vẫn là khởi đầu cho cuộc cạnh tranh viện trợ giữa
các nước đang phát triển trong giai đoạn tới.
Năng lực thể chế (Quy định pháp luật và cơ cấu tổ chức quản lý ODA) và
năng lực con người còn nhiều bất cập trước khối lượng nguồn vốn ODA gia tăng
nhanh, tính chất phức tạp của các điều kiện tài trợ và sự đa dạng của các mô hình
viện trợ.
Mặc dù có những khó khăn và thách thức như trình bày ở trên, song những
thuận lợi cho việc thu hút ODA của Việt Nam trong 5 năm tới vẫn là cơ bản và do
vậy có thể nhận định rằng nguồn vốn ODA cam kết dành cho Việt Nam trong thời kỳ
2006-2010 sẽ tăng so với thời kỳ 2001-2005.
Dựa trên thực trạng, những dự tính, đánh giá như trên thì dự báo nguồn vốn
ODA cam kết thời kỳ 2006- 2010 là 4,3 tỷ USD bao gồm cam kết trung hạn của một
số nhà tài trợ như Thụy Điển, Đan Mạch, Phần Lan... Tuy nhiên, những cam kết này
còn tuỳ thuộc vào tình hình chính trị ở các nước này sau mỗi lần bầu cử Quốc hội.
Chính phủ mới lên cầm quyền thường có những chính sách đối ngoại mới, nhất là
chính sách viện trợ cho nước ngoài.
Ngoài nguồn vốn ODA, có thể được một số nhà tài trợ tái cam kết nêu trên,
cam kết ODA thời kỳ 2006-2010 còn bao gồm cam kết hàng năm của nhiều nhà tài trợ
như Nhật Bản, Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), Ngân hàng Thế giới (WB)...
• Khả năng cam kết của một số nhà tài trợ trong giai đoạn tới cụ thể là:
(1) Châu Âu
Châu Âu có hai nguồn hỗ trợ phát triển chính thức dành cho Việt Nam, từ một
số nước thành viên Liên minh châu Âu (EU) và Uỷ ban châu Âu (EC).
Châu Âu dành ODA cho Việt Nam khá sớm, nhiều nước đã nối lại nguồn tài
trợ này trước năm 1993, thậm chí có nước tiếp tục cung cấp ODA ngay cả trong
những năm còn bị bao vây và cấm vận.
Cộng hoà Pháp: Trong chính sách hợp tác phát triển của mình, Pháp coi Việt
Nam là nước ưu tiên “quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác toàn diện, lâu dài, tin
cậy trong thế kỷ XXI”. Những phương thức tài trợ chủ yếu của Pháp đã được sử
dụng tại Việt Nam đó là tín dụng ưu đãi thông qua Nghị định thư tài chính, Quỹ phát
triển Pháp (AFD), và các hình thức viện trợ không hoàn lại thông qua Quỹ đoàn kết
SINH VIÊN: TRẦN THỊ THANH HẢI LỚP: ĐẦU TƯ 48C
24
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP T.S NGUYỄN HỒNG MINH
ưu tiên (FSP), Quỹ môi trường toàn cầu của Pháp, các sáng kiến như Diễn đàn đối
thoại và giao lưu kinh tế tài chính Việt - Pháp, Nhà pháp luật Việt - Pháp, phát triển
hợp tác cấp địa phương.
Cộng hoà Liên bang Đức: Đức nối lại viện trợ phát triển dành cho Việt Nam
từ năm 1990 và đến nay tổng cam kết ODA đạt 597 triệu USD, trong đó khoảng 150
triệu Euro hợp tác kỹ thuật (TA, không hoàn lại) và 300 triệu Euro hợp tác tài chính
(FC vốn vay ưu đãi chiếm khoảng 60% và viện trợ không hoàn lại chiếm khoảng
40%). Tính chung lại trong giai đoạn vừa qua ODA không hoàn lại chiếm khoảng
54% còn lại là ODA vốn vay ưu đãi. Vốn vay ưu đãi của Đức có mức độ ưu đãi cao
(Thời gian trả nợ 40 năm, trong đó có 10 năm ân hạn, lãi suất 0,75%/năm). Dự kiến
trong thời kỳ 2006-2010 và có thể trong giai đoạn đến năm 2015, Đức có thể giữ mức
cam kết ODA ổn định khoảng 45-50 triệu Euro/năm (không hoàn lại khoảng 30% và
vay ưu đãi 70%).
Vương quốc Đan Mạch: Đan Mạch nối lại ODA dành cho Việt Nam vào
năm 1992 sau 13 năm gián đoạn bằng việc ký hiệp định hợp tác phát triển giữa hai
Chính phủ. Kể từ đó, cam kết viện trợ của Đan Mạch tăng đều qua các năm, đạt
1.410 triệu DKK trong 5 năm 2001-2005 (tương đương khoảng hơn 176 triệu USD),
đạt 549 triệu USD trong giai đoạn 1993-2005, trong đó, không hoàn lại chiếm 96%.
Đan Mạch áp dụng cách tiếp cận theo ngành để hỗ trợ 3 ngành chủ yếu là phát triển
ngành thuỷ sản; quản lý nguồn nước và phát triển nông nghiệp và nông thôn. Ngoài 3
chương trình ngành nêu trên, Đan Mạch còn hỗ trợ các lĩnh vực môi trường (Chương
trình nghị sự 21), phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, hỗ trợ cải cách kinh tế, hành
chính và tư pháp.
Dự kiến trong thời kỳ 2006-2010 Đan Mạch có thể cam kết từ các nguồn
khoảng 60 triệu USD/năm ODA không hoàn lại và khoảng 20 triệu USD tín dụng hỗn
hợp. Giai đoạn đến năm 2015, Đan Mạch có thể tiếp tục hỗ trợ Việt Nam với mức
tăng trung bình mỗi năm khoảng 10-15 triệu USD.
Vương quốc Thụy Điển: Quan hệ hợp tác phát triển Việt Nam - Thụy Điển
đã có truyền thống lâu dài, thậm chí cả trong thời gian Việt Nam bị bao vây và cấm
vận. Từ năm 1969 đến nay, Thụy Điển đã cung cấp khoảng hơn 2,5 tỷ USD viện trợ
không hoàn lại. Ngoài ra Thụy Điển cung cấp tín dụng ưu đãi trị giá khoảng 80 triệu
USD để đầu tư cho các lĩnh vực như năng lượng, viễn thông và công nghiệp giấy.
Trong 5 năm 2001-2005, Thụy Điển cam kết ODA trị giá 227 triệu USD (cam kết
năm 2005 là ước tính), bình quân hàng năm khoảng 45 triệu USD. Trong giai đoạn
SINH VIÊN: TRẦN THỊ THANH HẢI LỚP: ĐẦU TƯ 48C
25

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×