Tải bản đầy đủ

Cuộc cách mạng khoa học & công nghệ hiện đại & sự hình thành nền kinh tế tri thức. Định hướng của Việt Nam

Lời nói đầu
Lịch sử phát triển của xã hội loài ngời đã trải qua nhiều hình thái kinh
tế, từ kinh tế tự nhiên mang nặng tính chất tự cung tự cấp đến kinh tế thị trờng
với vai trò chủ đạo của phân công lao động và trao đổi hàng hóa. Và trong
những năm gần đây, ngời ta lại nhắc nhiều đến thuật ngữ kinh tế tri thức, đó
phải chăng là một bớc phát triển mới trong việc tổ chức kinh tế của xã hội loài
ngời?
Francis Bacon đã nhận định rằng: Tri thức là sức mạnh. Sự thực là, sự
phát triển có tính chất bùng nổ của lực lợng sản xuất trong những năm gần
đây, đặc biệt là ở các nớc phát triển, dới tác động của cuộc cách mạng khoa
học - công nghệ hiện đại, đang làm xuất hiện một hình thái kinh tế mới dựa
chủ yếu trên việc sản xuất, phân bổ và sử dụng tri thức. Nhiều ngời gọi đó là
kinh tế tri thức. ở Bắc Mĩ và một số nớc Tây Âu, kinh tế tri thức bắt đầu đ-
ợc hình thành từ đầu những năm 90 của thế kỉ XX. Hiện nay ở những nớc này,
kinh tế tri thức đã chiếm khoảng 45% - 60% GDP. Ngời ta ớc tính đến khoảng
năm 2030 các nớc phát triển đều trở thành các nền kinh tế tri thức.
Vậy nền kinh tế tri thức thực chất là nh thế nào? Đâu là tiêu chuẩn để
xác định một nền kinh tế tri thức? Và sự hình thành nền kinh tế mới này có tác
động nh thế nào đến nền kinh tế Việt Nam vốn đi lên từ một nền kinh tế nông
nghiệp lạc hậu, đang trong quá trình đổi mới? Đó là vấn đề đợc rất nhiều ngời
Việt Nam quan tâm.

Là sinh viên của một trờng thuộc khối kinh tế, em chọn đề tài: Cuộc
cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại và sự hình thành nền kinh tế
tri thức. Định hớng của Việt Nam. làm đề tài cho đề án của mình với mong
muốn có đợc hiểu biết sâu sắc hơn, có phần nền lí luận để góp phần vào công
cuộc xây dựng đất nớc sau này. Đề án đợc thực hiện trên cơ sở phơng pháp
phân tích tổng hợp các lí luận và có đa ra các ví dụ thực tế, đồng thời có
tham khảo một số sách báo có nội dung liên quan.
Nội dung
I. Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại
Yếu tố tiền đề chủ yếu của kinh tế tri thức
Các Mác từng nói: Khoa học là tinh hoa của tiến trình phát triển
chung của lịch sử. Hơn thế nữa, đó là đòn bẩy mạnh mẽ của lịch sử, là một lực
lợng cách mạng, theo ý nghĩa chính xác nhất của từ đó. Lịch sử phát triển của
xã hội loài ngời đã chứng minh điều đó là đúng.
Ngay từ thế kỉ XVII, khoa học đã từng bớc đa ngành trồng trọt chăn
nuôi trở thành cốt lõi của nền kinh tế nông nghiệp, phát triển chủ yếu dựa vào
tài nguyên thiên nhiên. Đến giữa thế kỉ XVII, nền kinh tế công nghiệp bắt đầu
đợc hình thành. Từ đó đã có hai cuộc cách mạng công nghiệp nổ ra nhờ sự
phát triển vợt bậc của khoa học kĩ thuật, đợc đánh dấu bằng sự ra đời của máy
hơi nớc và máy phát điện. Và đặc biệt, với cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật
đầu thế kỉ XX, loài ngời đã đi sâu nghiên cứu thế giới từ vi mô đến vĩ mô, tất
cả những sự vật nằm ngoài khả năng quan sát của giác quan con ngời. Hàng
loạt những phát kiến vĩ đại về phân tử, nguyên tử, hạt nhân, các hạt cơ bản...
đến những hiểu biết về vũ trụ: các vì sao, thiên hà, đại thiên hà, sự giãn nở của
vũ trụ... Ngời ta ớc tính rằng trong thế kỉ XX toàn bộ lợng thông tin, tri thức
tăng thêm khoảng 1000 lần so với đầu thế kỉ và vợt trội tất cả các tri thức mà
loài ngời tích lũy đợc trong suốt lịch sử phát triển từ thế kỉ XIX trở về trớc.
Cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật đó tất yếu sẽ dẫn đến cuộc cách mạng về
lực lợng sản xuất mà ngày nay chúng ta gọi là cuộc cách mạng khoa học và
công nghệ hiện đại, bắt đầu vào khoảng từ sau đại chiến thế giới lần thứ hai.
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đợc mở đầu bằng
công nghệ thông tin (CNTT). CNTT là nhân lõi của cuộc cách mạng khoa học
và công nghệ hiện đại, nó phản ánh giai đoạn phát triển mới về chất của sản
xuất trong đó hàm lợng trí tuệ là thành phần chủ yếu trong sản phẩm.
CNTT bao gồm từ phần cứng nh chế tạo các mạch vi điện tử, các máy
vi tính, máy siêu tính... các dây chuyền sản xuất tự động hóa, các thiết bị
ngoại vi cho đến các phần mềm ứng dụng và các phần mềm hệ thống. Một
phần quan trọng nữa trong CNTT phải kể đến là các loại thiết bị viễn thông,
điện tử công nghiệp, điện tử tiêu dùng... Mạng máy tính và internet đã và đang
trở thành hệ thống huyết mạch quan trọng trong mọi hoạt động kinh tế, văn
hóa xã hội. Năm 1993 đã có 1 triệu ngời nối mạng, đến tháng 3 2000 số
ngời dùng đã lên tới 280 triệu. Rõ ràng là mạng internet không còn là một ph-
ơng tiện kĩ thuật thuần túy mà đã thành một môi trờng mới cho mọi hoạt động
của con ngời và có tác động rất lớn đến sự chuyển biến nhanh chóng của đời
sống con ngời trên khắp hành tinh.
Thứ đến là công nghệ sinh học (CNSH), đây là một bớc đột phá vào thế
giới đầy bí ẩn của sự sống. Nó bắt đầu bằng việc khám phá ra các phân tử hình
xoắn kép (ADN). Công nghệ cao này đã tạo ra một tiềm năng vô tận cho sản
xuất ra các loại lơng thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh và các vật liệu công
nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con ngời.
Cùng với CNTT và CNSH là một loạt các công nghệ cao khác: công
nghệ vật liệu mới, công nghệ năng lợng công nghệ hàng không vũ trụ...
Nhiều loại vật liệu mới với các tính năng u việt không thể tìm thấy trong tự
nhiên đã đợc tạo ra: vật liệu tổ hợp, vật liệu com-pô-zit, các chất bán dẫn...
Nhiều nguồn năng lợng mới đợc tạo ra để thay thế các nguồn năng lợng tự
nhiên sắp cạn kiệt, đặc biệt là năng lợng nguyên tử. Đáng chú ý là công
nghiệp hàng không-vũ trụ với triển vọng đa con ngời đến với các hành tinh
khác trong vũ trụ....
Nhờ các công nghệ cao đó, nền kinh tế thế giới đạt mức tăng trởng cha
từng có. Ngày nay, tổng sản phẩm của thế giới ớc tính khoảng 30.000 tỉ USD
nghĩa là gấp khoảng 123 lần so với tổng sản phẩm thế giới những năm 50
(1300 tỉ USD). Có thể nói, bộ phận cách mạng nhất tạo ra ngày càng nhiều giá
trị thặng d của lực lợng sản xuất to lớn của loài ngời ngày nay là khoa học
công nghệ. Các Mác đã dự báo rằng khoa học sẽ trở thành lực lợng sản xuất
trực tiếp và đã trở thành hiện thực. Chính điều đó đã tạo tiền đề cho sự hình
thành kinh tế tri thức.
II. Một số vấn đề chung về nền kinh tế tri thức
1. Khái niệm kinh tế tri thức
Kinh tế tri thức là một sản phẩm trực tiếp của cuộc cách mạng khoa học
và công nghệ hiện đại. Nền kinh tế đó đang dần đợc hình thành, có nhiều tên
gọi khác nhau nhng phổ biến hơn cả là thuật ngữ kinh tế tri thức(knowledge
economy) hay kinh tế dựa trên tri thức(knowledge based economy).
Theo cách định nghĩa của tổ chức quốc tế về hợp tác và phát triển kinh
tế (viết tắt là OECD): Kinh tế tri thức là một dạng hình kinh tế trong đó sự sản
sinh, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát
triển của nền kinh tế nhằm tạo ra của cải vật chất, nâng cao chất lợng cuộc
sống con ngời.
Cũng có thể định nghĩa đơn giản hơn: Kinh tế tri thức là nền kinh tế
trong đó khoa học, kĩ thuật và công nghệ trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp,
là yếu tố hàng đầu quyết định việc sản xuất ra của cải, sức cạnh tranh và triển
vọng phát triển.
Nh vậy trong nền kinh tế tri thức, vấn đề không chỉ ở việc tạo ra tri
thức, mà phải thu nhận, sử dụng và truyền bá tri thức. Kinh tế tri thức không
chỉ bao hàm duy nhất các lĩnh vực lao động với công nghệ cao, sử dụng lao
động có tri thức và lao động có kĩ năng cao là chính, mà còn quá trình tri thức
xâm nhập và chi phối tất cả mọi hoat động kinh tế. Nghĩa là không phải tất cả
các ngành đều phải dựa trên nền tảng công nghệ kĩ thuật cao, song điều chắc
chắn là tất cả các ngành đều hoạt động dới sự chi phối của tri thức. Tóm lại, tri
thức vừa là nội dung vừa lầ động lực của nền kinh tế.
Có thể hình dung một cách cụ thể về nền kinh tế tri thức thông qua
bảng so sánh sau:
Stt Hình thái Hình thái thứ Hình thái thứ hai Hình thái thứ
kinh tế Đặc
trng
nhất
(Kinh tế sức ng-
ời)
(Kinh tế tài
nguyên)
ba
(Kinh tế thị tr-
ờng)
1 Định vị
trong sơ đồ
Kinh tế tự nhiên,
tơng đơng với
nền kinh tế nông
nghiệp và xã hội
nông dân cổ
truyền.
Hình thái thị trờng,
tơng đơng với nền
kinh tế thị trờng
của đại công
nghiệp cơ khí và
Xã hội công
nghiệp.
Hình thái Cộng
sản chủ nghĩa
(CSCN), tơng đ-
ơng với nền kinh
tế có tốc độ phát
triển cao và xã
hội tự do chân
chính.
2 Phơng thức
tồn tại
Tự cấp tự túc,
khép kín trong
từng cộng đồng
riêng biệt.
Phân công lao
động và trao đổi bị
giới hạn bởi các
biên giới địa ph-
ơng, quốc gia.
Phân công và
trao đổi phổ biến
thông qua mạng
kiên kết toàn cầu
không biên giới.
3 Lợi thế phát
triển chủ
yếu
Tài nguyên thiên
nhiên
Công cụ kĩ thuật Tri thức của con
ngời (Khoa học
Công nghệ),
kĩ năng lao
động.
4 Tầm quan
trọng của
khoa học
Nhỏ Lớn Rất lớn
5 Tỷ lệ đóng
góp của
khoa học -
công nghệ
Dới 10% Trên 40 % Trên 70%
cho tăng tr-
ởng kinh tế
6 Tầm quan
trọng của
giáo dục
Nhỏ Lớn Rất lớn
7 Bình quân
trình độ văn
hóa
Tỷ lệ mù chữ cao Trung học Trung học
chuyên nghiệp
8 Kết cấu
công nghệ:
- Công nghệ
thông tin
3 -5% 15%
-Công nghệ
sinh học
2% 10%
-Công nghệ
năng lợng
2% 10%
-Công nghệ
biển
2% 10%
- Công nghệ
sạch
1% 5%
- Công nghệ
vật liệu mới
1% 5%
- Công nghệ
không gian
5%
Công nghệ
mềm
5%
9 Vai trò của
truyền thống
Không lớn Lớn Rất lớn
10 Kết cấu sức
lao động:
- Nông
nghiệp
Trên 50% 10 20% Dới 10%
- Công
nghiệp
Khoảng 15 -20% Trên 30% Dới 20%
- Công nghệ
cao
10 -15% Trên 40%
11 Trình độ tổ
chức xã hội
Đơn giản Phức tạp Rất phức tạp
12 Mức độ toàn
cầu hóa
kinh tế thế
giới
Thấp Khá cao Rất cao
2. Một số phạm trù trong kinh tế thị trờng
Mỗi một hình thái kinh tế mới ta đời đều có những phạm trù kinh tế
riêng đặc trng cho nó. Đối với nền kinh tế tri thức, chúng ta có thể tìm hiểu
một số phạm trù sau đây.
Thông tin và tri thức:
- Đây là hai nguồn lực chủ yếu của kinh tế tri thức. Vấn đề đặt ra là
phải phân biệt hai phạm trù này vì nh John Naribett nói: Chìm
ngập trong thông tin mà vẫn thiếu tri thức.
+ Thông tin là dữ liệu đợc xếp thành trật tự có nghĩa, có thể thu nhận đ-
ợc, có thể dùng hoặc không.
+ Tri thức là thông tin đã đợc thu thập, xử lí và nhận thức, là việc áp
dụng và sử dụng một cách có ích các thông tin.
Theo quan điểm triết học, tri thức đợc hiểu là kết quả của quá trình
nhận thức, là phản ánh trung thực của thực tiễn vào t duy con ngời, tính đúng
đắn của nó thể hiện bằng sự kiểm nghiệm thực tế, đồng thời phù hợp với các
nguyên lí của lí luận về nhận thức trên cơ sở phơng pháp duy vật biện chứng.
- Thông tin là nội dung của tri thức đợc truyền đạt nhng khi tri thức
đợc hệ thống hóa lại trở thành thông tin. Thông tin là đầu vào của
quá trình sản xuất ra tri thức.
Sản phẩm tri thức:
Tri thức là sản phẩm của lao động, là biểu hiện cụ thể về năng lực t duy
mà chỉ duy nhất loài ngời mới có. Sản phẩm tri thức có nhiều tính chất đặc
biệt khác với vật thể thông thờng:
- Vì tri thức thuộc phạm trù tinh thần nên nó luôn đợc mang, chứa
trong những hình thức hiện vật nhất định: bộ nhớ trong não, băng
từ, đĩa...
- Đối với sản phẩm thông thờng, ngời mua có quyền sở hữu về nó,
nghĩa là có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt. Còn đối với sản
phẩm tri thức, ngời mua chỉ có quyền sở hữu vật mang nó và có
quyền sử dụng đối với nội dung tri thức. Đặc tính này có nguồn gốc
sâu xa ở chỗ chỉ duy nhất con ngời mới có khả năng t duy.
- Quá trình tiêu dùng sản phẩm tri thức dù là tiêu dùng sản xuất hay
tiêu dùng cho cá nhân, nói chung đều mang tính chất cuả một quá
trình nghiên cứu, học tập và trực tiếp hoàn thiện sản phẩm tri thức
đó. Đôi khi ngời tiêu dùng còn phát hiện ra tính năng mà chính tác
giả của nó không ngờ tới.
- Việc sản xuất ra các loại sản phẩm tri thức thờng tạo ra giá trị gia
tăng rất lớn. Đây là một đặc điểm tạo nên u thế vợt trội của sản
phẩm tri thức so với các sản phẩm thông thờng khác. Chẳng hạn E.
Sanchez và D. Mync sản xuất bộ phim Đồ án Blair Witch bằng kĩ
thuật số, phát hành trên internet, chỉ riêng trong nớc Mĩ đã thu đợc
140 triệu USD, và chỉ với chi phí 500.000 USD, nghĩa là có tỷ suất
lợi nhuận 280. Theo ớc tính, trong ngành chế tạo thiết bị điện tử, tỷ
suất giá trị gia tăng trên giá trị đầu vào là khoảng 300, còn trong
ngành công nghệ phần mềm tỷ suất đó tiến tới vô hạn (!).
Nền kinh tế tri thức đợc nuôi dỡng bằng nguồn năng lợng vô tận và
năng động là tri thức nên phát triển nhanh và khả năng bền vững rất cao.
Công nhân tri thức
Phạm trù này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế tri thức,
bởi đây là lực lợng trực tiếp tiếp thu tri thức, khoa học công nghệ để tiến
hành sản xuất theo phơng thức hiện đại. Sự ra đời của công nhân tri thức là tất
yếu khách quan cùng với sự ra đời của nền kinh tế tri thức đồng thời cũng là
sự phủ định có kế thừa của giai cấp công nhân trong nền kĩ thuật - công nghệ
hiện đại thế kỉ XX. Công nhân tri thức có nhiều điểm tiến bộ so với công nhân
trớc đó, biểu hiện:
- Công nhân tri thức có sở hữu trí tuệ. Sở hữu này cho phép họ có thu
nhập cao hơn công nhân công nghiệp bình thờng khiến họ có t hữu
chứ không còn là vô sản nữa.
- Công nhân tri thức làm chủ một nền kĩ thuật mà phần lớn các ngành
kĩ thuật đều dựa vào các thành tựu mới nhất của khoa học.
- Giai cấp công nhân có sự tăng tiến cả về mặt số lợng lẫn chất lợng.
Trên cơ sở tri thức khoa học đang dần dần trở thành lực lợng sản
xuất trực tiếp, số lợng công nhân có tri thức, có tay nghề cao ngày
càng tăng. Đồng thời nền kinh tế tri thức mang đặc tính sáng tạo,
thích hợp với bản chất của ngời công nhân, do đó sẽ kích thích họ
không ngừng học hỏi, nghiên cứu nâng cao trình độ khoa học kĩ
thuật của mình. Nh vậy, tri thức sẽ đóng vai trò động lực thúc đẩy
sự phát triển chất lợng ngời công nhân.

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×