Tải bản đầy đủ

Công tác thẩm định dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam – Thực trạng và giải pháp.doc

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Để có thể tạo ra được những tài sản vật chất cụ thể cho nền kinh tế
quốc gia, nhất thiết phải cần tới việc sử dụng vốn đầu tư thông qua hoạt động
đầu tư. Vốn đó có thể xuất phát từ nội lực nền kinh tế trong nước, cũng có
thể thu hút từ nước ngoài và đi vào phục vụ nền kinh tế chủ yếu thông qua
các dự án đầu tư.
Một dự án đầu tư có thể được xác định theo nhiều cách. Các dự án có
thể do các Bộ, Ngành hữu quan đề xuất, chúng có thể bắt nguồn từ quá trình
xây dựng các kế hoạch kinh tế quốc gia, hoặc cũng có thể được đề xướng bởi
các động lực chính trị. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp nhà nước, tư nhân và
nước ngoài khi đầu tư cũng đòi hỏi chính phủ phải trợ giúp hoặc phê chuẩn
trước khi thực hiện.
Trong bất kể một dự án đầu tư nào, bao giờ cũng có sự mâu thuẫn
tiềm ẩn về lợi ích giữa những người đề xuất dự án hay chương trình và
toàn xã hội. Sự mâu thuẫn này không phải là một chuyện gì mới lạ: lợi
ích của các dự án thường được tập trung cho một bộ phận tương đối hạn
hẹp (thường là các chủ đầu tư) trong khi những chi phí về môi trường,
chi phí cơ hội cho nguồn lực thì lại phân bổ cho toàn bộ xã hội. Do vậy
mà không một cá nhân nào thấy mình phải chịu gánh nặng chi phí mà các
dự án đem lại. Kết quả có thể đoán trước được là những người được

hưởng lợi từ dự án có xu hướng tận dụng triệt để các ưu đãi về nguồn lực
và cố gắng giảm tối thiểu các chi phí bằng cách chuyển các gánh nặng
chi phí. Trong khi đó nhóm người có khả năng bị thiệt hại (là những
người phải gánh chịu chi phí ) lại quá phân tán và những mất mát của
từng cá nhân trong số họ lại quá nhỏ, bởi vậy họ không thể trở thành một
SVTH Trần Xuân Thuận GVHD Th.s Đặng Thị Lệ Xuân
1
đối trọng hiệu quả chống lại nhóm hưởng lợi có tính tập trung cao. Theo
cách này, cán cân chính trị thường nghiêng về phía chấp thuận các dự án,
ngay cả các dự án có thể gây thiệt hại cho sự phát triển chung của cả
quốc gia. Để ngăn chặn điều này xảy ra cần phải có sự can thiệp của
chính phủ thông qua các quy định về đầu tư, ban hành các tiêu chuẩn
định mức, và chỉ cấp phép cho các dự án đầu tư đủ tiêu chuẩn. Muốn làm
được như vậy cần thông qua công tác thẩm định, giám sát đầu tư để làm
căn cứ quyết định.
Trên thực tế, công tác thẩm định dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài còn
khá sơ sài, các khía cạnh nghiên cứu, đánh giá phần lớn chỉ mang tính phân
tích định tính, thiếu tính định lượng nên mang tính phiến diện trong đánh giá.
Thêm vào đó, cơ sở lý luận về vấn đề này lại rất thiếu thốn bởi những vấn đề
lý luận chỉ dừng lại ở việc đưa ra các khái niệm, vấn đề liên quan đến tính
hiệu quả xã hội của dự án chứ chưa phân tích sâu hơn trong khía cạnh thẩm
định…Điều này đặt ra một vấn đề bức thiết đó là phải nâng cao chất lượng
công tác thẩm định các dự án đầu tư. Cũng bởi vậy mà tôi đã chọn đề tài:
“Công tác thẩm định dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam –
Thực trạng và giải pháp” để nghiên cứu và làm chuyên đề thực tập tốt
nghiệp.
2. Mục tiêu nghiên cứu
a. Mục tiêu tổng quát:
- Tổng hợp cơ sở lý luận cho việc thành lập 1 khung thẩm định hoàn
thiện cho công tác thẩm định các dự án đầu tư. Đồng thời tạo cơ sở quản trị
rủi do cho các dự án đầu tư.
- Đánh giá thực trạng công tác thẩm định trong thời gian qua, các mặt
được cũng như hạn chế, làm cơ sở đề ra các giải pháp hoàn thiện hơn nữa
công tác thẩm định dư án.
SVTH Trần Xuân Thuận GVHD Th.s Đặng Thị Lệ Xuân
2
b. Mục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hoá và bổ sung các vấn đề lý luận liên quan đến công tác
thẩm định kinh tế dự án đầu tư nước ngoài.
- Phân tích thực trạng và đánh giá những kết quả đạt được của công tác
thẩm định dự án đầu tư FDI.
- Dựa trên những đánh giá, phân tích thực trạng để làm cơ sở đề ra các
giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quản lý nhà nước với công tác
Thẩm định dự án đầu tư nước ngoài. Tức là đề tài chỉ đi sâu nghiên cứu công
tác thẩm định tính kinh tế đối với các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Phạm vi về không gian nghiên cứu của đề tài là các dự án đầu tư nước
ngoài đầu tư tại Việt Nam, với phạm vi thời gian từ năm 1988 ( năm bắt đầu
thực hiện luật đầu tư nước ngoài) đến nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài chủ yếu sừ dụng các phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp
phân tích định tính (gồm các chỉ tiêu định tính, thể hiện các chủng loại hiệu
quả đạt được: hiệu quả kinh tế, hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả xã hội, hiệu quả
quốc gia và cộng đồng); phương pháp phân tích định lượng (gồm các chỉ tiêu
định lượng, thể hiện quan hệ giữa chi phí và kết quả đạt được của dự án) và
phương pháp phân tích dòng tiền, phân tích chi phí – lợi ích.
5. Kết cấu đề tài
Từ vai trò của các dự án đầu tư, từ đó là vai trò của công tác thẩm
định, giám sát đầu tư đối với nền kinh tế Việt Nam, cùng với yêu cầu cấp
thiết đặt ra cho hoàn thiện hệ thống thẩm định trong tình hình hiện nay, tôi
chọn đề tài “Công tác thẩm định dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào
SVTH Trần Xuân Thuận GVHD Th.s Đặng Thị Lệ Xuân
3
Việt Nam - Thực trạng và giải pháp” để nghiên cứu làm chuyên đề thực
tập tốt nghiệp. Tôi mong muốn đề tài có thể đóng góp một chút công sức vào
việc nghiên cứu, hệ thống vấn đề, đề xuất các giải pháp và cải thiện được
công tác thẩm định dự án về dự án đầu tư ở Việt Nam.
Ngoài Lời mở đầu và Kết luận, kết cấu của đề tài bao gồm ba chương:
Chương 1: Lý luận chung về công tác thẩm định dự án đầu tư
trực tiếp nước ngoài.
Chuơng 2 : Thực trạng công tác thẩm định các dự án đầu tư FDI
vào Việt Nam.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư nước
ngoài.
SVTH Trần Xuân Thuận GVHD Th.s Đặng Thị Lệ Xuân
4
Chương I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH DỰ ÁN
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
I. Dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài.
1. Khái niệm và đặc điểm dự án đầu tư
1.1. Khái niệm dự án đầu tư :
Từ khi thuật ngữ dự án ra đời, người ta thường dùng nó để chỉ những
hoạt động, những quá trình rất khác nhau trong từng lĩnh vực cụ thể. Chúng
ta đã được biết đến các dự án như dự án “đường dây cao thế 500kw xuyên
Bắc Nam”, dự án “Xây dựng đường cao tốc Thăng Long-Nội Bài”, dự án
đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, dự án cải cách hệ thống hành chính, dự
án cải tạo và nâng cấp môi trường đô thị, dự án tăng cường tiềm lực và phát
triển công nghệ quốc phòng tới năm 2010…Các dự án được tiến hành trong
các lĩnh vực rất khác nhau, với các nội dung và các hoạt động cụ thể cũng rất
khác nhau, nhưng chúng đều được gọi là dự án. Mỗi một dự án đều được xác
định rõ thời gian bắt đầu và kết thúc, cũng như thoả mãn các yêu cầu cụ thể
của nền kinh tế hoặc của một tổ chức nhất định.
Từ trước tới nay có rất nhiều các nhà khoa học kinh tế cũng như các nhà
quản lý đã đưa ra khái niệm rất khác nhau về dự án. Mỗi một quan niệm
nhấn mạnh về một số các khía cạnh của một dự án cùng các đặc điểm quan
trọng của nó trong từng hoàn cảnh cụ thể.
Nếu xét về hình thức, dự án là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách
chi tiết và có hệ thống một dự kiến đầu tư trong tương lai.
Nếu xét về góc độ nội dung, dự án được hiểu là một ý đồ tiến hành một
công việc cụ thể nào đó nhằm đạt mục tiêu xác định trong khuôn khổ nguồn
SVTH Trần Xuân Thuận GVHD Th.s Đặng Thị Lệ Xuân
5
lực nhất định và khoảng thời gian nhất định.
Nếu xét ở góc độ kế hoạch, dự án được hiểu là một chi tiết đầu tư về phát
triển, là đơn vị kế hoạch độc lập nhỏ nhất trong hệ thống kế hoạch hoá, làm
cơ sở cho việc ra quyết định về đầu tư phát triển.
Nếu từ giác độ quan sát các hoạt động cần thiết cho một dự án thì dự án
được hiểu là hàng loạt các hoạt động cần thiết nhằm xác định mục tiêu, tiến
hành các nghiên cứu khả thi, dự đoán chi phí, hoàn thiện các thủ tục và thiết
kế cuối cùng, cũng như việc lắp đặt và hoàn thiện các điều kiện làm việc.
Một dự án nhất định sẽ bị giới hạn về thời gian, con người cùng các nguồn
lực khác để hoàn thành mục tiêu đã được xác định.
Như vậy, một dự án có thể được xem xét như là một chuỗi các công việc
và các nhiệm vụ:
Có mục tiêu cụ thể được hoàn thành trong những điều kiện nhất định
Được xác định rõ thời gian bắt đầu và kết thúc.
Có giới hạn nhất định về tài chính
Sử dụng các nguồn lực nhất định về phương tiện, thiết bị, con người…
Từ các định nghĩa khái quát về dự án như trên, đến nay dự án đã được
dùng rất rộng rãi và phổ biến cho tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Vỡi
mỗi lĩnh vực, dự án sẽ được cụ thể hoá một cách chi tiết hơn cho phù hợp
với đặc điểm riêng có của lĩnh vực đó. Tuy nhiên, những tính chất chung vốn
có của dự án thì vẫn tồn tại và được thể hiện rõ nét ở tất cả các lĩnh vực.
1.2. Dự án đầu tư có các đặc điểm sau:
• Dự án có tính thống nhất: dự án là một thực thể độc lập trong một môi
trường xác định với các giới hạn nhất định về quyền hạn và trách
nhiệm.
SVTH Trần Xuân Thuận GVHD Th.s Đặng Thị Lệ Xuân
6
• Dự án có tính xác định: dự án được xác định rõ ràng về các mục tiêu
phải đạt được, thời hạn bắt đầu và thời hạn kết thúc cũng như nguồn
lực cần có với một số lượng, cơ cấu, chất lượng và thời điểm giao
nhận.
• Dự án có tính logic: Tính logic của dự án được thể hiện ở mối quan hệ
biện chứng giữa các bộ phận cấu thành dự án. Một dự án thường có 4
bộ phận sau:
Mục tiêu của dự án: một dự án thường có hai cấp mục tiêu: mục tiêu phát
triển và mục tiêu trực tiếp.
- Mục tiêu phát triển: là mục tiêu mà dự án góp phần thực hiện. Mục tiêu
phát triển được xác định trong kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế xã
hội của đất nước, của vùng.
- Mục tiêu trực tiếp: là mục tiêu cụ thể mà dự án phải đạt được trong
khuôn khổ nguồn lực nhất định và trong khoảng thời gian nhất định.
Kết quả của dự án: là những đầu ra cụ thể của dự án được tạo ra từ các
hoạt động của dự án. Kết quả là điều kiện cần thiết để đạt được mục tiêu trực
tiếp của dự án.
Các hoạt động của dự án: là các đầu vào về vật chất, tài chính, sức lao
động cần thiết để tiến hành các hoạt động của dự án.
Nguồn lực cho dự án: là các đầu vào về vật chất, tài chín, sức lao động
cần thiết để tiến hành các hoạt động của dự án. Nguồn lực là tiền đề tạo nên
các hoạt động của dự án.
Bốn bộ phận trên của dự án có quan hệ logic chặt chẽ với nhau:
Nguồn lực của dự án được sử dụng để tạo ra các hoạt động của dự án. Các
SVTH Trần Xuân Thuận GVHD Th.s Đặng Thị Lệ Xuân
7
hoạt động tạo nên các kết quả (đầu ra). Các kết quả là điều kiện cần thiết để
đạt được mục tiêu trực tiếp của dự án. Đạt được mục tiêu trực tiếp là tiền đề
để góp phần đạt được mục tiêu phát triển.
2. Dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài
2.1. Khái niệm dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI = Foreign Direct Investment) là
hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác
bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh. Cá nhân hay công ty nước
ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này.
Theo quỹ tiền tệ quốc tế IMF, FDI được định nghĩa là “một khoản đầu
tư với những quan hệ lâu dài, theo đó một tổ chứ trong một nền kinh thế (nhà
đầu tư trực tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền
kinh tế khác. Mục đích của nhà đầu tư trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởng
trong việc quản lý doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế khác đó.
Các nhà kinh tế quốc tế định nghĩa : “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là
người sở hữu tại nước này mua hoặc kiểm soát một thực thể kinh tế của nước
khác. Đó là một khoản tiền mà nhà đầu tư trả cho một thực thể kinh tế của
nước ngoài để có ảnh hưởng quyết định đổi với thực thể kinh tế ấy hoặc tăng
thêm quyền kiểm soát trong thực thể kinh tế ấy”.
Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đưa ra khái niệm: “Đầu tư trực
tiếp nước ngoài là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn
bằng tiền nước ngoái hoặc bất kì tài sản nào được chính phủ Việt Nam chấp
thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp
liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài theo quy định của luật
này”
Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đưa ra khái niệm: “ một
SVTH Trần Xuân Thuận GVHD Th.s Đặng Thị Lệ Xuân
8
doanh nghiệp đầu tư trực tiếp là một doanh nghiệp có tư cách pháp nhân
hoặc không có tư cách pháp nhân trong đó nhà đầu tư trực tiếp sở hữu ít nhất
10% cổ phiếu thường hoặc có quyền biểu quyết. Điểm mấu chốt của đầu tư
trực tiếp là chủ định thực hiện quyền kiểm soát công ty”. Tuy nhiên không
phải tất cả các quốc gia nào cũng đều sử dụng mức 10% làm mốc xác định
FDI. Trong thực tế có những trường hợp tỷ lệ sở hữu tài sản trong doanh
nghiệp của chủ đầu tư nhỏ hơn 10% nhưng họ vẫn được quyền điều hành
quản lý doanh nghiệp, trong khi nhiều lúc lớn hơn nhưng vẫn chỉ là người
đầu tư gián tiếp.
Từ những khái niệm trên có thể hiểu một cách khái quát về đầu tư trực
tiếp nước ngoài như sau: “đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI tại một quốc gia
là việc nhà đầu tư ở một nước khác đưa vốn bằng tiền hoặc bất kì tài sản nào
vào quốc gia đó để có được quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát
một thực thể kinh tế tại quốc gia đó, với mục tiên tối đa hoá lợi ích của
mình”.
Tài sản trong khái niệm này, theo thông lệ quốc tế, có thể là tài sản
hữu hình (máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ, bát động sản, các loại hợp
đòng và giáy phép có giá trị …), tài sản vô hình (quyền sở hữu tí tuệ, bí
quyết và kinh nghiệm quản lý…) hoặc tài sản tài chính (cổ phần, cổ phiếu,
trái phiếu, giấy ghi nợ…). Như vậy FDI bao giờ cũng là một dạng quan hệ
kinh tế có nhân tố nước ngoài. Hai đặc điểm cơ bản của FDI là: có sự dịch
chuyển tư bản trong phạm vi quốc tế và chủ đầu tư (pháp nhân, thể nhân)
trực tiếp tham gia vào hoạt động sử dụng vốn và quản lí đối tượng đầu tư.
2.2. Vai trò của các dự án FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài ngày càng có vai trò to lớn đối với việc
thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế ở các nước đầu tư và các nước nhận đầu
tư . Cụ thể là:
SVTH Trần Xuân Thuận GVHD Th.s Đặng Thị Lệ Xuân
9
- Giúp đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế thông qua việc tạo ra những
doanh nghiệp mới, thu hút thêm lao động, giải quyết một phần nạn thất
nghiệp. Theo thống kê của Liên hợp quốc, số người thất nghiệp và bán thất
nghiệp của các nước đang phát triển chiếm khoảng 35- 38% tổng số lao
động.
- Giúp các nước đang phát triển khắc phục tình trạng thiếu vốn kéo
dài. Nhờ vậy, mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển to lớn với nguồn tài chính
khan hiếm được giải quyết, đặc biệt là thời kỳ đầu của quá trình công nghiệp
hoá - thời kỳ mà thông thường đòi hỏi đầu tư một tỷ lệ vốn lớn hơn các giai
đoạn về sau và càng lớn hơn nhiều lần khả năng tự cung ứng từ bên trong.
FDI là phương thức đầu tư phù hợp với các nước đang phát triển, tránh tình
trạng tích luỹ quá căng thẳng dẫn đến những méo mó về kinh tế không đáng
xảy ra.
- Sự xuất hiện của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã tạo
nên sự cạnh tranh mạnh mẽ, làm cho không khí hoạt động của các doanh
nghiệp trong nước ''nóng lên'', buộc họ phải hoàn thiện và nâng cao sức cạnh
tranh để tồn tại và phát triển.
- Theo sau FDI là máy móc, thiết bị và công nghệ mới giúp các nước
đang phát triển tiếp cận với khoa học kỹ thuật mới. Quá trình đưa công nghệ
vào sản xuất giúp tiết kiệm chi phí và nâng cao khả năng cạnh tranh của các
nước đang phát triển trên thị trường quốc tế.
- Cùng với FDI, những kiến thức quản lý kinh tế xã hội hiện đại được
du nhập vào các nước đang phát triển, các tổ chức sản xuất trong nước bắt
kịp phương thức quản lý công nghiệp hiện đại, lực lượng lao động quen dần
với phong cách làm việc công nghiệp cũng như hình thành dần đội ngũ
những nhà doanh nghiệp giỏi.
- FDI giúp các nước đang phát triển mở cửa thị trường hàng hoá nước
SVTH Trần Xuân Thuận GVHD Th.s Đặng Thị Lệ Xuân
10
ngoài và đi kèm với nó là những hoạt động marketing được mở rộng không
ngừng. Do các công ty tư bản độc quyền quốc gia đầu tư trực tiếp vào các
nước đang phát triển mà các nước này có thể bước vào thị trường xa lạ, thậm
chí có thể xem như “ lãnh địa cấm kỵ ” đối với họ trước kia.
- FDI giúp tăng thu ngân sách nhà nước thông qua thu thuế các công
ty nước ngoài. Từ đó các nước đang phát triển có nhiều khả năng hơn trong
việc huy động nguồn tài chính cho các dự án phát triển.
II. Công tác thẩm định dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài.
1. Tổng quan về thẩm định dự án đầu tư
1.1. Khái niệm:
Thẩm định kinh tế dự án đầu tư (sau đây gọi tắt là thẩm định dự án) là
việc tổ chức xem xét một cách khách quan, có khoa học và toàn diện các nội
dung cơ bản ảnh hưởng trực tiếp tới tính khả thi của một dự án xét trên khía
cạnh kinh tế - xã hội, tức là xem xét dự án dưới góc độ chi phí – lợi ích mà
toàn xã hội thu được khi thực hiện dự án. Thẩm định dự án tạo ra cơ sở vững
chắc cho hoạt động đầu tư có hiệu quả về mặt xã hội. Các kết luận rút ra từ
quá trình thẩm định sẽ là cơ sở để các cơ quan có thẩm quyền của nhà nước
ra quyết định đầu tư và cho phép đầu tư .
1.2. Tính thiết yếu phải thẩm định dự án đầu tư:
Thẩm định dự án đầu tư là cần thiết, nó bắt nguồn từ vai trò quản lý vĩ
mô của nhà nước đối với các hoạt động đầu tư. Nhà nước với chức năng
quản lý của mình sẽ can thiệp vào quá trình lựa chọn các dự án được đầu tư.
Bởi một dự án đầu tư dù được tiến hành soạn thảo kỹ lưỡng đến đâu cũng
vẫn mang tính chủ quan của người soạn thảo, để đảm bảo tính khách quan
cần thiết phải thẩm định khía cạnh kinh tế của dự án.
Thẩm định kinh tế dự án là cần thiết, có tính quyết định trong việc trả
lời dự án có được chấp nhận và cấp phép đầu tư hay không. Nó là một bộ
SVTH Trần Xuân Thuận GVHD Th.s Đặng Thị Lệ Xuân
11
phận của công tác quản lý Nhà nước nhằm đảm bảo cho hoạt động đầu tư
thực sự có hiệu quả.
1.3. Mục đích của thẩm định dự án
Đánh giá tính khả thi của dự án nhằm đưa ra quyết định cấp phép hay
không đối với một dự án. Hai tiêu chí được đánh giá là:
• Đánh giá tính hợp lý của dự án: được biểu hiện ở từng nội dung và
cách thức tính toán của dự án, tính phù hợp của dự án với các chương trình
phát triển...
• Đánh giá tính hiệu quả của dự án: hiệu quả của dự án được xem xét
trên hai phương diện đó là hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế - xã hội của
dự án.
1.4. Ý nghĩa của việc thẩm định dự án đầu tư
Thẩm định dự án có ý nghĩa rất lớn, giúp bảo vệ các dự án lớn tốt khỏi
bị bác bỏ, ngăn chặn những dự án phi hiệu quả, góp phần đảm bảo cho việc
sử dụng có hiệu quả các nguồn lực. Cụ thể là, thẩm định dự án giúp cho các
cơ quan quản lý vĩ mô của nhà nước đánh giá được tính phù hợp của dự án
với quy hoạch phát triển chung của ngành, vùng, lãnh thổ và của cả nước
trên các mặt, mục tiêu, quy mô, quy hoạch. Xác định được hiệu quả của việc
sử dụng các nguồn lực xã hội của dự án; những cái lợi, cái hại của dự án trên
các mặt khi đi vào hoạt động, từ đó có biện pháp khai thác các khía cạnh có
lợi và hạn chế các mặt có hại…
2. Quy trình thẩm định các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài
Khâu có ý nghĩa quan trọng trong quá trình thẩm định dự án là thực
hiện các công việc thẩm định. Thực hiện tốt khâu này sẽ đảm bảo được
những yêu cầu đặt ra trong công tác thẩm định. Để thực hiện tốt khâu này
cần phải có một quy trình thẩm định hợp lý, khoa học.
Vì nhiệm vụ tổng quát của công tác thẩm định dự án là: Phân tích,
SVTH Trần Xuân Thuận GVHD Th.s Đặng Thị Lệ Xuân
12
đánh giá tính khả thi của dự án về công nghệ, kinh tế, xã hội, môi trường và
đề xuất kiến nghị với nhà nước chấp nhận hay không chấp nhận dự án nên về
cơ bản, quy trình thẩm định phải bao gồm các bước sau:
• Cán bộ thẩm định phải xem xét tính hợp lệ của hồ sơ, tính pháp
nhân của chủ đầu tư, đánh giá tính phù hợp của lĩnh vực đầu tư đối với sự tác
động đến phát triển kinh tế- xã hội.
• Cán bộ thẩm định phải xác minh tính hợp lý, chính xác của các
thông tin do chủ đầu tư đưa ra. Từ đó làm cơ sở cho việc thẩm định có hiệu
quả dự án đàu tư.
• Thành lập các tổ, nhóm chuyên gia, hoặc hội đồng thẩm định (với
các dự án lớn) nhằm xem xét đóng góp của dự án đến việc thực hiện các mục
tiêu tăng trưởng, phát triển; đánh giá hiệu quả kinh tế- xã hội mà dự án đem
lại, đồng thời đánh giá tính hợp lý của dự án theo các quy chuẩn, chỉ tiêu về
công nghệ kĩ thuật, môi trường...
• Cơ quan thẩm định tổng hợp, đánh giá ý kiến thẩm tra, trình báo
cáo, kiến nghị cho các cơ quan quản lý, đồng thời đề nghị cơ quan quản lý
cấp hoặc không cấp giấy phép đầu tư cho dự án.
3. Cơ sở phân tích và nội dung thẩm định các dự án đầu tư trực tiếp
nước ngoài.
3.1. Cơ sở phân tích:
Trong phạm vi giới hạn, đề tài chỉ đi sâu nghiên cứu thẩm định dự án
dưới giác độ nhà quản lý, tức là thẩm định kinh tế đối với dự án đầu tư.
Thẩm định khía cạnh kinh tế nhằm đánh giá dự án từ quan điểm của
toàn bộ nền kinh tế để xác định xem việc thực hiện dự án có cải thiện được
phúc lợi kinh tế quốc gia hay không.
Sự khác biệt chủ yếu giữa phân tích kinh tế và phân tích tài chính là ở
SVTH Trần Xuân Thuận GVHD Th.s Đặng Thị Lệ Xuân
13
chỗ: Phân tích kinh tế gộp chung lợi ích và chi phí trên tất cả dân cư quốc gia
để xác định xem dự án có cải thiện được mức phúc lợi kinh tế quốc gia như
là một tổng thể hay không, trong khi phân tích tài chính xem xét dự án từ
quan điểm phúc lợi của một nhóm nhỏ dân cư. Chính vì điểm khác nhau căn
bản của phân tích kinh tế so với phân tích tài chính nêu trên, nên đối tượng
quan tâm tới phân tích kinh tế thường là: Chính phủ, chính quyền địa phương
nơi đặt dự án, các cơ quan quản lý nhà nước; đôi khi các tổ chức tín dụng và
chủ đầu tư cũng quan tâm tới kết quả phân tích kinh tế của dự án.
Một số nội dung chính, các qui ước, nguyên tắc cần quan tâm trong
phân tích kinh tế là:
• Qui ước về giá kinh tế: Mọi lượng nhập, xuất đều được tính toán
bằng giá kinh tế. Giá kinh tế được xác định trên cơ sở giá tài chính, thông
qua hệ số điều chỉnh để xét đến những biến dạng của thị trường do sự can
thiệp của chính sách: Thuế, mậu dịch, giá trần, giá sàn, quota, trợ giá, trợ
cấp;…
• Ngoại ứng: Trong phân tích kinh tế, cần bổ sung thêm ngoại ứng về
lợi ích hoặc chi phí mà dự án tạo ra cho con người, môi trường xung quanh
vùng dự án. Theo quan điểm toàn quốc gia, các hoạt động phải hy sinh để
thực hiện dự án phải được xem và tính như là một khoản chi phí.
Nguyên tắc tính toán: Thay vì dựa hoàn toàn vào các nguyên lý kế
toán để phân tích lợi ích - chi phí như trong phân tích tài chính, phân tích
kinh tế còn đòi hỏi sử dụng kỹ thuật tính toán kinh tế (chủ yếu là kiến thức
cơ bản về kinh tế vĩ mô), phương pháp phân tích dòng tiền, chiết khấu để bổ
sung vào khung kế toán. Thay vào đó, các hạng mục đầu tư sau khi được
điều chỉnh sang giá bóng ( thay cho giá thị trường).
Những vấn đề căn bản được nêu ra trong thẩm định kinh tế của một dự
SVTH Trần Xuân Thuận GVHD Th.s Đặng Thị Lệ Xuân
14
án đầu tư có thể được trình bày như sau:
Mức độ khác biệt như thế nào giữa các giá trị kinh tế và giá trị tài
chính của các biến số.
Nguyên nhân của những khác biệt này.
Giá trị của các khác biệt này với mức độ chắc chắn như thế nào.
 Nhằm đảm bảo tính khả thi của dự án về mặt kinh tế, cần phải tính
đến các loại tác động ngoại ứng nào.
Chính những nội dung, phương pháp và nguyên tắc phân tích nêu trên,
dẫn tới hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế của dự án về cơ bản là không
như nhau, thậm chí đôi khi còn trái chiều nhau.
3.2. Nội dung thẩm định kinh tế dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài:
Vì thẩm định dự án là việc cơ quan thẩm định kiểm tra mức độ phù
hợp của thiết kế dự án với các mục tiêu kinh tế - xã hội nên về cơ bản, người
làm công tác thẩm định sẽ phải rà soát lại tất cả các khía cạnh mà chủ đầu tư
đã đề cập trong thiết kế dự án. Tuy nhiên, với tư cách là người đề xuất quyết
định có cấp giấy phép đầu tư cho các dự án hay không, cơ quan thẩm định sẽ
phải đánh giá giá trị thực sự mà dự án mang lại cho xã hội, chứ không phải
trên quan điểm chủ đầu tư. Điều này nghĩa là, cơ quan thẩm định sẽ phải
đánh giá giá trị thực sự mà dự án đem lại cho xã hội, xét xem nó có tuân thủ
theo các yêu cầu về kĩ thuật, thể chế, tổ chức như quy định hay không, hoạt
động của dự án có làm nguy hại tới lợi ích xã hội, môi trường hay không và
nếu có thì biện pháp khắc phục là gì, lợi ích mà dự án tạo ra được phân phối
như thế nào giữa các dối tượng thụ hưởng…Do vậy, công tác thẩm định dự
án sẽ bao gồm một số nội dung cơ bản:
SVTH Trần Xuân Thuận GVHD Th.s Đặng Thị Lệ Xuân
15
3.2.1. Thẩm định khía cạnh thể chế, tổ chức, quản lý của dự án
a. Mục tiêu thẩm định:
Thẩm định từ khía cạnh thể chế, tổ chức, quản lý của dự án nhằm rà
soát lại một cách chính thức tính hợp lệ của hồ sơ thiết kế dự án, cũng như
các vấn đề chung nhất về tổ chức và quản lý của dự án. Căn cứ pháp lý của
dự án là điều kiện tiên quyết để xem xét dự án có được chấp nhận hay
không. Dự án sẽ chỉ tiếp tục được xem xét nếu thoả mãn các yêu cầu pháp lý,
các thủ tục quy định cần thiết.
b. Qui trình thẩm tra:
Bước 1: Kiểm tra hồ sơ trình duyệt:
Đây là bước đầu tiên, cần phải kiểm tra xem hồ sơ trình duyệt đã đủ
chưa, các hồ sơ chứng nhận có phù hợp hay không.
Nhìn chung, bộ hồ sơ xin cấp giấy phếp đầu tư bao gồm:
• Đơn xin cấp giấy phép đầu tư
• Hợp đồng liên doanh (nếu có)
• Giấy phép thành lập doanh nghiệp
• Giấy phép kinh doanh
• Điều lệ doanh nghiệp
• Văn bản xác nhận tư cách pháp lý, tình hình tài chính của các
chủ đầu tư.
• Giải trình kinh tế - kỹ thuật.
• Các hồ sơ về công nghệ: hồ sơ xin thuê đất, báo cáo đánh giá
tác động môi trường, chứng chỉ quy hoạch và thiết kế sơ bộ
của dự án.
Bước 2: Đánh giá tư cách pháp nhân của chủ đầu tư:
Việc thẩm định này là khó khăn và phức tạp nhất và cán bộ thẩm định
cần phải có các thông tin sau:
SVTH Trần Xuân Thuận GVHD Th.s Đặng Thị Lệ Xuân
16
- Công ty đầu tư là độc lập hay là đại diên cho 1 công ty khác, là công
ty tài chính hay đầu tư.
- Mục tiêu, thế mạnh của họ là gì? Mục đích đầu tư có phù hợp mục
đích kinh doanh và khả năng hay không?
Tư cách pháp nhân thể hiện ở giấy phép đăng kí do cơ quan có thẩm
quyền cấp và ngoài ra còn được xem xét trong tính phù hợp với chương
trình, kế hoạch phát triển kinh tế chung của cả vùng, cả nước.
3.2.2. Thẩm định hiệu quả kinh tế-xã hội của dự án:
Đây là nội dung quan trọng nhất trong thẩm định dự án đầu tư.
a. Mục tiêu:
Đứng trên giác độ chủ đầu tư, mục đích quy tụ luôn là lợi nhuận. Khả
năng sinh lợi của dự án chính là thước đo chủ yếu quyết định sự chấp nhận
mọi việc làm mạo hiểm của nhà đầu tư. Khả năng sinh lợi càng cao thì càng
hấp dẫn các nhà đầu tư.
Tuy nhiên, không phải mọi dự án có khả năng sinh lợi cao đều tạo ra
những ảnh hưởng tốt đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội mà đôi khi
nó cũng tạo ra những trở ngại cho quá trình phát triển. Do đó, trên giác độ
quản lý vĩ mô cơ quan thẩm định phải xem xét, đánh giá việc thực hiện dự án
đầu tư có những tác động gì đối với việc thực hiện mục tiêu phát triển kinh
tế, xã hội; có nghĩa là phải xem xét những lợi ích kinh tế - xã hội do thực
hiện dự án đem lại. Điều này giữ vai trò quyết định để các cấp có thẩm
quyền chấp nhận cho phép đầu tư.
Lợi ích kinh tế - xã hội của dự án đầu tư là chênh lệch giữa các lợi ích
mà nền kinh tế và xã hội thu được so với các đóng góp mà nền kinh tế và xã
hội phải bỏ ra khi thực hiện dự án.
b. Các tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội:
Đối với mọi quốc gia, mục tiêu chủ yếu của nền sản xuất xã hội là tối
SVTH Trần Xuân Thuận GVHD Th.s Đặng Thị Lệ Xuân
17
đa hoá phúc lợi xã hội. Mục tiêu này thường thể hiện trong các chủ trương
chính sách và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước. Với các
nước đang phát triển, lợi ích kinh tế - xã hội thường được đề cập đó là :
• Nâng cao mức sống dân cư: thể hiện gián tiếp qua các số liệu cụ
thể về mức gia tăng sản phẩm quốc dân, mức gia tăng tích luỹ vốn, mức gia
tăng vốn đầu tư, tốc độ phát triển, tốc độ tăng trưởng kinh tế…
• Phân phối lại thu nhập: thể hiện qua sự đóng góp của dự án vào
việc phát triển các vùng kinh tế kém phát triển, nâng cao đời sống của tầng
lớp dân cư nghèo.
• Gia tăng số lao động có việc làm. Đây là một trong những mục
tiêu chủ yếu của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của các nước thừa lao
động, thiếu việc làm.
• Tăng thu và tiết kiệm ngoại tệ. Những nước đang phát triển
không chỉ nghèo mà còn là các nước nhập siêu. Do đó, đẩy mạnh xuất khẩu,
hạn chế nhập khẩu là những mục tiêu quan trọng trong kế hoạch phát triển
kinh tế quốc dân.
• Các mục tiêu khác:
Mức độ khai thác và tận dụng tài nguyên.
Nâng cao năng suất lao động, nâng cao trình độ, tay nghề lao động,
tiếp nhận chuyển giao kỹ thuật để hoàn thiện cơ cấu sản xuất của nền kinh tế
Phát triển các ngành công nghiệp chủ đạo có tác dụng gây phản ứng
dây chuyền thúc đẩy phát triển các ngành nghề khác
Phát triển các địa phương nghèo, các vùng xa xôi dân cư thưa thớt
nhưng có nhiều triển vọng về tài nguyên, có vị trí chiến lược quan trọng.
c. Phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội do thực hiện dự
án đầu tư :
Đối với các cấp quản lý về vĩ mô của nhà nước, khi xem xét lợi ích
SVTH Trần Xuân Thuận GVHD Th.s Đặng Thị Lệ Xuân
18
kinh tế - xã hội của dự án phải tính đến mọi chi phí, lợi ích; cả trực tiếp và
gián tiếp có liên quan đến việc thực hiện dự án đem lại. Để xác định các chi
phí, lợi ích đầy đủ của các dự án đầu tư, cần phải sử dụng các báo cáo tài
chính, thêm bớt các hạng mục chi phí và lợi ích kinh tế, tính lại các giá đầu
vào và đầu ra theo giá xã hội ( giá bóng). Không thể sử dụng giá thị trường
để tính thu chi và lợi ích kinh tế - xã hội vì giá thị trường không phản ánh
đúng chi phí xã hội thực tế, nó chịu sự chi phối của các chính sách tài chính,
kinh tế, hành chính của nhà nước, các ảnh hưởng ngoại ứng và thất bại của
thị trường. Khi tính toán hiệu quả kinh tế - xã hội của những dự án có tầm cỡ
lớn phải điều chỉnh lại các giá này theo giá xã hội, cần phải lưu ý đến các
yếu tố bên ngoài có ảnh hưởng đến dự án và ngược lại.
Các nguyên tắc cần quán triệt trong điều chỉnh là :
Đối với đầu ra:
• Để xuất khẩu dùng giá FOB để điều chỉnh. Đây là giá xã hội
thực tế sử dụng trong nước.
• Để tiêu thụ nội địa thay thế nhập khẩu dùng giá CIF để điều
chỉnh. Đây là giá xã hội thực tế sử dụng trong nước.
• Để tiêu thụ nội địa:
Nếu là hàng thiết yếu thì dùng giá thị trường trong nước điều chỉnh.
Giá này bằng giá thị trường trong nước cộng với trợ giá (nếu có).
Nếu là hàng thông thường thì dùng giá thị trường trong nước điều
chỉnh. Giá này bằng giá thị trường trong nước cộng với thuế gián thu (nếu
có).
Đối với dịch vụ hạ tầng tiêu thụ nội địa (nếu không thể xuất khẩu như
điện, nước, khí đốt, vận tải…) thì dùng giá thị trường trong nước điều chỉnh
hoặc chi phí sản xuất tuỳ thuộc loại nào cao hơn.
SVTH Trần Xuân Thuận GVHD Th.s Đặng Thị Lệ Xuân
19
Đối với đầu vào:
• Nhập khẩu (vật tư, thiết bị) dùng giá CIF để điều chỉnh. Giá này
bằng giá CIF cộng với cước phí vận tải, phí bảo hiểm… trong nước. Đây là
giá xã hội thực tế thanh toán ở trong nước.
• Sản xuất nội địa:
Loại đầu vào sản xuất nội địa có thể xuất khẩu dùng giá thị trường
trong nước điều chỉnh hoặc giá FOB điều chỉnh tuỳ thuộc giá nào cao hơn.
Loại đầu vào sản xuất nội địa có thể nhập khẩu dùng giá thị trường
trong nước điều chỉnh hoặc giá CIF điều chỉnh tuỳ thuộc giá nào thấp hơn.
Các loại đầu vào khác dùng giá thị trường trong nước điều chỉnh (giá
thị trường cộng với trợ giá).
Dich vụ hạ tầng tạo ra trong nước nếu không thể xuất hoặc nhập khẩu
được dùng giá thị trường trong nước điều chỉnh hoặc chi phí sản xuất tuỳ
thuộc mức nào cao hơn.
Đất đai: dùng giá thị trường trong nước điều chỉnh đối với đất để xây
dựng nhà máy .
Lao động: gồm tiền lương, tiền thưởng và phụ cấp…..
Để điều chỉnh giá FOB và CIF về tiền nội địa cần sử dụng tỷ giá hối
đoái có điều chỉnh. Tỷ giá hối đoái có điều chỉnh là thước đo giá trị xã hội
thực tế của ngoại tệ khi tỷ giá chính thức bị sai lệch không phản ánh đúng
giá trị thực tế của ngoại tệ.
d. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế:
• Giá trị hiện tại ròng kinh tế (ENPV – Economic Net Present Value)
Giá trị hiện tại ròng kinh tế là tổng lãi ròng kinh tế của cả đời dự án
được qui đổi về năm đầu tiên theo tỷ lệ chiết khấu kinh tế cho trước. Chỉ tiêu
này được tính như sau:
SVTH Trần Xuân Thuận GVHD Th.s Đặng Thị Lệ Xuân
20

( )

=
+

=
n
0t
t
)r(1
EC
t
EB
t
ENPV
e

Trong đó: EB
t
là lợi ích kinh tế của dự án năm t
EC
t
là chi phí kinh tế của dự án năm t
n : Thời đoạn phân tích dự án
r
e
– Tỷ lệ triết khấu kinh tế.
Chỉ tiêu này nói lên lãi ròng kinh tế của dự án, phản ánh đóng góp của
dự án vào phúc lợi xã hội nói chung.
Đánh giá chỉ tiêu ENPV:
Nếu dự án có ENPV > 0 thì dự án được chấp nhận
• Nếu có nhiều phương án loại bỏ lẫn nhau, phương án nào có ENPV
lớn hơn thì được đánh giá cao hơn.
• Tỷ số Lợi ích/ Chi phí kinh tế (EBCR):
Tỷ số lợi ích/ Chi phí kinh tế (EBCR – Economic Benefit Cost Rate)
là tỷ lệ giữa giá trị hiện tại của lợi ích kinh tế thu được với giá trị hiện tại của
chi phí kinh tế bỏ ra theo tỷ lệ chiết khấu kinh tế nhất định.
Chỉ tiêu này được tính như sau:
( )
( )


+
+
=
n
0=t
t
t
n
0=t
t
t
r1
EC
r1
EB
EBCR
e
e
Đánh giá chỉ tiêu EBCR:
Nếu dự án có EBCR

1 thì dự án có hiệu quả về mặt kinh tế
• Tỷ suất nội hoàn kinh tế ( Economic Internal Rate of Return- EIRR)
Tỷ suất nội hoàn kinh tế là tỷ lệ chiết khấu kinh tế làm giá trị hiện tại
ròng kinh tế của dự án bằng 0. Chỉ tiêu này được tính như sau:
SVTH Trần Xuân Thuận GVHD Th.s Đặng Thị Lệ Xuân
21
( )

=
+

=
n
0t
t
IRR)(1
EC
t
EB
t
ENPV
E
( )
( )
NPVENPV
ENPV
21
E1E2
1
E1
rr
r
EIRR


+=

Tiêu chuẩn đánh giá: Bản chất của EIRR thể hiện mức sinh lời mà dự
án đem lại cho toàn xã hội, bởi vậy nhà quản lý luôn luôn mong muốn dự án
có EIRR càng cao càng tốt. Có một mốc chuẩn để nhà quản lý quyết định có
nên cấp phép thực hiện dự án hay không, đó là so sánh EIRR của dự án với
suất sinh lợi tối thiểu chấp nhận được.
e
rIRR ≥
là điều kiện để kết luận dự án
đáng giá.
• Việc làm do dự án tạo ra: số lao động có việc làm nếu dự án được
triển khai.
• Đóng góp của dự án cho ngân sách nhà nước: được thể hiện ở số
tiền thuế mà ngân sách thu trực tiếp từ dự án và thể hiện ở số tiền thuế thu
thêm được từ các dự án khác nhờ có sự tác động của dự án đang xét.
• Đóng góp của dự án vào việc cải thiện cán cân thanh toán:
Đóng góp của dự án vào cải thiện cán cân thanh toán thể hiện qua chỉ
tiêu thu nhập ngoại hối thuần do dự án tạo ra.
Thu nhập ngoại hối thuần bao gồm 2 bộ phận:
• Số thu nhập ngoại hối tăng thêm do dự án tạo ra.
• Thu nhập ngoại hối do sản xuất những hàng hoá thay thế nhập khẩu.
3.2.3. Phân tích độ nhạy và rủi do dự án về khía cạnh kinh tế
Các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế của dự án nêu trên thường tính toán dựa
trên các giá trị có nhiều khả năng xảy ra nhất của các biến số dự án. Các biến
số này thường khó dự đoán trước và kết quả dự án tạo ra cũng không hoàn toàn
SVTH Trần Xuân Thuận GVHD Th.s Đặng Thị Lệ Xuân
22
chắc chắn. Vì thế trong thẩm định kinh tế, người ta cũng phải tiến hành phân
tích độ nhạy và rủi do của dự án nhằm đưa ra các biện pháp quản trị rủi do.
Việc tính toán các chỉ tiêu ENPV, EIRR thì phải căn cứ vào các dòng
lợi ích-chi phí dự tính và các giả định để tính toán được coi là tình huống cơ
sở. Việc tính toán độ nhạy của dự án đựơc thực hiện bằng cách đưa ra các
kịch bản: dự báo các rủi ro có thể xảy ra trong khi thực hiện dự án, thay đổi
một hoặc một số thông số đầu vào tăng hay giảm và tính toán các chỉ tiêu
phản ánh hiệu quả của dự án, hậu quả thông tin không chính xác… Nếu hầu
hết các tình huống đưa ra đều cho kết quả ENPV > 0 thì có thể tiến hành cấp
phép thực hiện dự án. Trường hợp ENPV ≤ 0 thì tạm kết luận mức rủi ro dự
tính cao và cần xem xét lại trước khi ra quyết định và do đó có thể điều chỉnh
lại tỷ lệ chiết khấu kinh tế của dự án cho phù hợp.
Việc thẩm dịnh mức độ tin cậy của dự án giúp cho nhà quản lý có cái
nhìn toàn diện về dự án đầu tư để từ đó bảo đảm tính hiệu quả kinh tế - xã
hội của dự án.
3.2.4. Thẩm định về công nghệ, tác động môi trường
Đây là một công việc khá phức tạp, tốn kém vì phải kiểm tra các phép
tính toán, xem xét toàn bộ các kết quả giải trình kinh tế- kỹ thuật. Phải xem
xét đến công nghệ và phương pháp sản xuất, chuyển giao công nghệ đặc biệt
là công nghệ cao. Công nghệ chuyển giao phải đạt được các yêu cầu sau:
• Công nghệ tạo ra sản phẩm mới và cần thiết hoặc sản xuất hàng
xuất khẩu.
• Nâng cao tính năng kỹ thuật, chất lượng sản phẩm, nâng cao
năng lực sản xuất.
• Tiết kiệm nguyên liệu, nhiên liệu, khai thác và sử dụng có hiệu
quả tài nguyên thiên nhiên.
Đồng thời nghiêm cấm việc chuyển giao công nghệ có ảnh hưởng xấu
đến môi trường sinh thái và an toàn lao động. Với công nghệ từ các nước G7
SVTH Trần Xuân Thuận GVHD Th.s Đặng Thị Lệ Xuân
23
thì không quá 10 năm, từ các nước khác không quá 8 năm, chất lượng còn lại
phải lớn hơn hoặc bằng 80% máy mới, không được tiêu hao nguyên liệu quá
10%. Phải xem xét về công suất máy móc thiết bị, công suất khả thi, mức sản
xuất dự kiến. Đặc biệt cần quan tâm là giá cả thiết bị công nghệ (kể cả phần
cứng và phần mềm). Những yếu tố nhập khẩu do lượng thông tin không đầy
đủ hoặc thiếu kinh nghiệm, các nhà quản lý thường dễ bị sơ hở nên cần được
kiểm tra kỹ lưỡng.
Khi thẩm định phải rất quan tâm xem xét đến:
• Ảnh hưởng của dự án đến môi trường và cách xử lý các chất có
khả năng gây ô nhiễm qua nước thải, chất thải rắn, khí thải.
• Các giải pháp mà dự án sử dụng để chống ô nhiễm, các thiết bị
sẽ sử dụng để thực hiện các giải pháp đó.
• Các giải pháp xử lý cuối cùng (phân huỷ, chôn cất) các chất độc
hại thu hồi từ khí thải, nước thải, chất thải rắn của dự án.
• Thành phần khí thải, nước thải, chất thải rắn sau khi áp dụng
các biện pháp trên?
Đồng thời cần xem xét những ảnh hưởng khác đến môi trường và các
biện pháp khắc phục bao gồm:
 Ảnh hưởng đến mặt bằng ( khi khai thác đá, khoáng sản…)
 Ảnh hưởng đến môi trường sinh thái ( khi khai thác sử dụng tài
nguyên rừng, biển…)
 Ảnh hưởng của bụi, tiếng ồn,…
 Giải pháp khắc phục.
Ngoài vấn đề công nghệ và ảnh hưởng đến môi trường của dự án,
thẩm định kỹ thuật, công nghệ đồng thời cũng xem xét đến các mặt:
- Các nguyên liệu đầu vào:
• Cơ sở pháp lý, kỹ thuật để xác định quy mô, trữ lượng và khả năng
SVTH Trần Xuân Thuận GVHD Th.s Đặng Thị Lệ Xuân
24
tiềm tàng của các yếu tố đầu vào, xem xét nguyên liệu đầu vào thuộc loại gì,
lấy ở đâu, giá cả như thế nào, tỷ lệ nhập nguyên liệu ra sao. Nhìn chung,
nguyên liệu trong nước có tỷ lệ cao thì tốt, tuy nhiên cũng tránh khia thác
quá mức các nguồn tài nguyên.
• Chất lượng của các yếu tố đầu vào, các căn cứ đánh giá.
• Hình thức khai thác, cung cấp, khả năng bảo đảm ổn định của
nguyên vật liệu đầu vào.
• Về cơ sở hạ tầng cung cấp: dự án sẽ sử dụng năng lượng gì, có liên
tục không.
• Nguồn nước cung cấp và nguồn nước thải có phù hợp với môi
trường xung quanh không
• Cơ sở hạ tầng khác như thông tin, chất thải, an toàn, phòng cháy
chữa cháy…
• Thẩm tra về địa điểm: bao gồm cả văn bản pháp lý và địa điểm cụ thể
• Tìm hiểu kỹ về chính sách kinh tế- xã hội của Chính phủ, địa
phương về khu vực đó.
• Dự án không được mâu thuẫn với quy hoạch tổng thể.
• Tuân thủ luật xây dựng, các quy định về quy hoạch xây dựng và
kiến trúc của địa phương, các quy định của các cơ quan quản lý nhà nước có
thẩm quyền về phòng cháy, chữa cháy, quản lý di tích lịch sử, an ninh quốc
phòng…
• Các chất phế thải, nước thải độc hại đều phải qua khâu xử lý và gần
tuyến thải cho phép.
• Về nguồn nhân lực: khi thẩm định cần xem xét về:
• Dân số trong khu vực và trình độ văn hoá
• Số lao động có thể thu hút và sử dụng cho dự án
• Chi phí cho sử dụng lao động.
SVTH Trần Xuân Thuận GVHD Th.s Đặng Thị Lệ Xuân
25

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×