Tải bản đầy đủ

Mâu thuẫn biện chứng trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.doc

lời mở đầu
Kinh tế thị trờng là của cải chung về sự phát triển của xã hội loài
ngời luôn luôn là vấn đề cần nghiên cứu về lí luận cũng nh trên thực tiễn trên
phạm vi toàn thế giới. Quá trình vận động trong nền kinh tế thế giới những
năm gần đây cho thấy, mô hình phát triển kinh tế theo xu hớng thị trờng có sự
điều tiết vĩ mô từ trung tâm trong bối cảnh của thời đại ngày nay luôn là mô
hình hợp lí hơn cả.
ở nớc ta hiện nay, kinh tế thị trờng cũng đang là một vấn đề thời sự,
việc thực hiện mô hình trên chẳng những là nội dung của công cuộc đổi mới
mà hơn thế nữa còn là công cụ, là phơng thức để đi tới mục tiêu của chủ nghĩa
xã hội. Nền kinh tế của nớc ta đang trong giai đoạn quá độ chuyển tiếp từ nền
kinh tế tập trung, hành chính bao cấp sang nền kinh tế thị trờng theo định hớng
xã hội chủ nghĩa và có sự quản lí của nhà nớc. Đây còn là vấn đề mới trong
lịch sử nớc ta, do vậy bên cạnh những thành tựu to lớn và rất quan trọng đã
đạt đợc, vẫn còn tồn tại những mâu thuẫn làm kìm hãm sự phát triển của đất n-
ớc, của công cuộc đổi mới đòi hỏi phải đợc giải quyết để thúc đẩy sự phát
triển của nền kinh tế nớc ta.
Với đề tài Mâu thuẫn biện chứng trong quá trình xây dựng nền
kinh tế thị trờng theo định hớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam , Tôi mong
rằng chúng ta sẽ hiểu rõ hơn về những xu hớng vận động và phát triển của nền
kinh tế thị trờng, những bản chất và mâu thuẫn cơ bản của nền kinh tế, của

việc hình thành và xây dựng con ngời, xây dựng và phát triển xã hội. Nhận
thức đợc thực chất của giai đoạn quá độ, chi phối đợc nó sẽ tránh đợc những
sai lầm, chủ quan nóng vội duy ý chí hoặc khuynh hớng cực đoan, máy móc,
sao chép, nhập ngoại các mô hình kinh tế thị trờng ngoại lai một cách máy
móc.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc tìm và tham khảo các tài liệu liên
quan nhng bài tiểu luận này cũng không tránh khỏi những thiếu sót . Vì vậy
tôi rất mong nhận đợc sự góp ý của các bạn sinh viên và tất cả các bạn đọc ,
đặc biệt là sự góp ý của các thầy cô giáo .
1
nội dung
I-lí luận chung:
Trong thế giới hiện thực, bất kì sự vật hiện tợng nào cũng chứa đựng
trong bản thân nó những mặt, những thuộc tính có khuynh hớng phát triển ng-
ợc chiều nhau. Sự đấu tranh chuyển hoá của các mặt trong những điều kiện cụ
thể tạo thành mâu thuẫn. Khi mâu thuẫn đợc giải quyết sự vật cũ mất đi, sự vật
mới hình thành. Sự vật mới làm nảy sinh các mặt đối lập và mâu thuẫn mới.
Các mặt đối lập này lại đấu tranh chuyển hoá & phủ định lẫn nhau để tạo
thành sự vật mới hơn. Cứ nh vậy mà các sự vật hiện tợng trong thế giới khách
quan thờng xuyên phát triển và biến đổi không ngừng. Vì vậy mâu thuẫn là
nguồn gốc và động lực của mọi quá trình phát triển.
1) Mâu thuẫn là hiện tợng khách quan và phổ biến
Theo phép biện chứng duy vật tất cả các sự vật, hiện tợng tồn tại trong
thực tại khách quan đều chứa đựng trong nó những mâu thuẫn. Sự hình thành
và phát triển của mâu thuẫn là do cấu trúc tự thân vốn có bên trong của sự vật
hiện tợng quy định. Mâu thuẫn tồn tại không phụ thuộc vào bất kì lực lợng
siêu nhiên nào, kể cả ý chí của con ngời. Mỗi một sự vật, hiện tợng đang tồn
tại đều là một thể thống nhất đợc cấu thành bởi các mặt, các khuynh hớng,
các thuộc tính phát triển ngợc chiều nhau, đối lập nhau. sự liên hệ tác động
qua lại, đấu tranh chuyển hoá, bài trừ và phủ định lẫn nhau tạo thành động lực
bên trong của mọi quá trình vận động và phát triển khách quan của chính bản
thân các sự vật và hiện tợng.
Mâu thuẫn là một hiện tợng có trong tất cả các lĩnh vực tự nhiên, xã hội
và t duy của con ngời, giữa các giai cấp đối kháng nh chủ nô và nô lệ, nông
dân và địa chủ, t sản và vô sản. Hoạt động kinh tế mâu thuẫn cũng mang tính
phổ biến, chẳn hạn nh cung và cầu, tích luỹ và tiêu dùng... trong t duy của con
ngời cũng có những mâu thuẫn nh chân lý và sai lầm,...
Mâu thuẫn tồn tại từ khi sự vật xuất hiện cho đến khi sự vật kết thúc.
trong mỗi sự vật, có thể có rất nhiều mâu thuẫn hình thành, vì sự vật trong
cùng một lúc có rất nhiều mặt đối lập. Mâu thuẫn này mất đi thì mâu thuẫn


khác đợc hình thành. Ăng-Ghen chỉ ra rằng chính sự vận động đơn giản nhất
của vật chất cũng là một mâu thuẫn. vật chất tồn tại ở hình thức vận động cao
hơn, mâu thuẫn càng thể hiện rõ nét hơn. Nó gắn liền với sự vật, xuyên suốt
2
quá trình phát sinh, phát triển và diệt vong của sự vật. Đó chính là những thuộc
tính quy định tính khách quan và phổ biến của mâu thuẫn.
2) Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập
Thế nào là mặt đối lập:
Mặt đối lập là sự khái quát những mặt, những thuộc tính, những khuynh
hớng, sự phát triển ngợc chiều nhau tồn tại trong cùng một sự vật, hiện tợng
tạo nên sự vật, hiện tợng đó.
Không phải bất kỳ hai mặt đối lập nào cũng tạo thành mâu thuẫn. Bởi vì
trong các sự vật, hiện tợng của thế giới khách quan không phải chỉ tồn tại
trong nó hai mặt đối lập, mà có thể cùng tồn tại nhiều mặt đối lập chỉ có
những mặt đối lập nào tồn tại thống nhất trong cùng một sự vật nh một chỉnh
thể, nhng có khuynh hớng phát triển ngợc chiều nhau, bài trừ, phủ định và
chuyển hoá rất nhau ( sự chuyển hoá này tạo thành nguồn gốc, động lực đồng
thời quy định cả bản chất, khuynh hớng phát triển của sự vật ) thì hai mặt đối
lập nh vậy mới gọi là hai mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn. Ví dụ, lực lợng sản
xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt đối lập chính tạo thành mâu thuẫn. Bởi vì
hai mặt đối lập này không chỉ là nguồn gốc, động lực mà còn quy định rõ bản
chất khuynh hớng phát triển của nền sản xuất.
Thống nhất các mặt đối lập
Thống nhất các mặt đối lập đợc hiểu với nghĩa là hai mặt đối lập n-
ơng tựa vào nhau, tạo ra sự phù hợp, cân bằng nhng liên hệ phụ thuộc, quy
định và ràng buộc lẫn nhau. Sự thống nhất của các mặt đối lập là điều kiện
không thể thiếu đợc cho sự tồn tại của bất kì sự vật, hiện tợng nào. Sự thống
nhất này là do những đặc điểm riêng có của bản thân sự vật tạo nên. Tất nhiên,
khái niệm Thống nhất của các mặt đối lập cũng nên hiểu với ý nghĩa tơng
đối mà thôi. Thống nhất của cái độc lập, trong thống nhất đã bao hàm và chứa
đựng trong nó sự đối lập.
Khái niệm sự thống nhất của các mặt đối lập còn đợc dùng cùng một
nghĩa với khái niệm sự đồng nhất của các mặt đối lập. Tuy nhiên trong
những quan hệ xác định, khái niệm đồng nhất và thống nhất không hoàn toàn
đồng nghĩa với nhau. Đó là trong trơng hợp mà các mặt đối lập chuyển hoá lẫn
nhau.
3
Đấu tranh của các mặt đối lập
Sự thống nhất của các mặt đối lập trong cùng một sự vật không tách rời
sự đấu tranh chuyển hoá giữa chúng. Bởi vì các mặt đối lập cùng tồn tại trong
cùng một sự vật thống nhất nh một chỉnh thể trọn vẹn nhng không nằm yên
bên nhau mà đấu tranh chuyển hoá lẫn nhau tạo thành độnglực phát triển của
bản thân sự vật. Sự đấu tranh chuyển hoá, bài trừ, phủ định lẫn nhau giữa các
mặt trong thế giới khách quan thể hiện dới nhiều dạng khác nhau.
Sự đấu tranh của các mặt đối lập đợc chia ra làm nhiều giai đoạn. khi
mới xuất hiện, hai mặt đối lập cha thể hiện rõ sự xung khắc gay gắt, ngòi ta
gọi đó là giai đoạn khác nhau. Chỉ có những mặt khác nhau tồn tại trong một
sự vật nhng liên hệ hữu cơ với nhau, phát triển ngợc chiều nhau, tạo thành
động lực bên trong của sự phát triển, thì hai mặt đối lập ấy mới hình thành bớc
đầu của mâu thuẫn. Khi hai mặt đối lập của mâu thuẫn phát triển đến giai đoạn
xung đột gay gắt nó biến thành đối lập. Nếu hội đủ các điều kiện cần thiết, hai
mặt đối lập sẽ chuyển hoá lẫn nhau. Sau khi mâu thuẫn đợc giải quyết, sự
thống nhất của hai mặt đối lập cũ đợc thay thế bằng sự thống nhất của hai mặt
đối lập mới. Hai mặt đối lập mới lại đấu tranh chuyển hoá tạo thành mâu
thuẫn. Đấu tranh giữa các mặt đối lập làm cho sự vật biến đổi không ngừng từ
thấp đến cao. Sự phát triển là một cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập
. (V.I-Lê-Nin)
Khi bàn về sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, Lê-nin viết:
Sự thống nhất của các mặt đối lập là có điều kiện, tạm thời, thoáng qua t -
ơng đối. Sự đấu tranh của các mặt đối lập bài trừ lẫn nhau là tuyệt đối, cũng
nh sự phát triển, sự vận động là tuyệt đối..
Sự chuyển hoá giữa các mặt đối lập
Không phải bất kỳ sự đấu tranh nào của các mặt đều dẫn đến sự
chuyển hoá giữa chúng. Chỉ có sự đấu tranh của các mặt đối lập phát triển
đến một trình độ nhất định, hội đủ các điều kiện cần thiết mới dẫn đến sự
chuyển hoà bài trừ và phủ định lẫn nhau. Trong giới tự nhiên, chuyển hoá của
các mặt đối lập thờng diễn ra một cách tự phát. Còn trong xã hội, chuyển hoá
của các mặt đối lập nhất thiết phải diễn ra thông qua các hoạt động có ý thức
của con nguời. Chuyển hoá của các mặt đối lập chính là lúc mâu thuẫn đợc
giải quyết. Đó là quá trình diễn biến rất phức tạp với rất nhiều hình thức
phong phú khác nhau.
4
Thông thờng thì mâu thuẫn chuyển hoá theo hai phơng thức: Một là,
mặt đối lập này chuyển hoá thành mặt đối lập kia nhng ở trình độ cao hơn xét
về phơng diện chất của sự vật. Ví dụ, lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất
trong xã hội phong kiến đấu tranh chuyển hoá lẫn nhau để hình thành nên
quan hệ sản xuất mới- quan hệ sản xuất t bản chủ nghĩa và lực lợng sản xuất
mới ở trình độ cao hơn. Hai là, cả hai mặt đối lập chuyển hoá lẫn nhau để
hình thành hai mặt đối lập mới hoàn toàn.
3) ý nghĩa phơng pháp luận của quy luật mâu thuẫn
- Mâu thuẫn là một hiện tợng khách quan và phổ biến hình thành từ
những cấu trúc và thuộc tính bên trong vốn có tự thân của tất cả các sự vật,
hiện tợng trong bản thân thế giới khách quan. Do đó trong hoạt động thực tiễn
phải biết phân tích từng mặt đối lập tạo thnàh mâu thuẫn cụ thể để nhận thức
đợc bản chất, khuynh hớng vận động, phát triển của sự vật, hiện tợng.
- Sự vật khác nhau thì mâu thuẫn cũng khác nhau, mỗi sự vật đều có
nhiều mâu thuẫn , mỗi mâu thuẫn lại có đặc điểm riêng của nó; quá trình phát
triển của một mâu thuẫn, ở mỗi giai đoạn của nó lại có những đặc điểm riêng.
Do đó, phải biết phân tích cụ thể một mâu thuẫn cụ thể, và tìm cách giải quyết
cụ thể từng loại mâu thuẫn.
- Cần nắm vững nguyên tắc để giải quyết mâu thuẫn. Đó là sự đấu tranh
giữa hai mặt đối lập diễn ra theo quy luật phá vỡ cái cũ để thiết lập cái mới
tiến bộ hơn. Vì vậy, trong đời sống xã hội, mọi hành vi đấu tranh cần đợc coi
là chân chính khi nó thúc đẩy sự phát triển.
ii- quá trình xây dựng nền kinh tế thị trờng ở việt nam
1) Chuyển sang nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN là phù hợp
với xu hớng khách quan trong nền kinh tế
Kinh tế thị trờng là nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trờng, ở đó sản
xuất cái gì, nh thế nào,. cho ai, đợc quyết định thông qua thị trờng. Trong kinh
5
tế thị trờng, các quan hệ kinh tế của các cá nhân , các doanh nghiệp đều biểu
hiện thông qua mua bán hàng hoá dịch vụ trên thị trờng.
Kinh tế thị trờng là giai đoạn phát triển cao của nền sản xuất hàng hoá .
Nó nằm trong tiến trình phát triển lịch sử khách quan về kinh tế trong xã hội
loài ngời. Đồng thời nó không phải là sản phẩm riêng của chủ nghĩa t bản mà
là thành tựu chung của nền văn minh nhân loại.
Còn cơ chế thị truờng là tổng thể các nhân tố, quan hệ cơ bản vận động
dói sự chi phối của các quy luật thị truờng. Trong đó quy luật giá trị giữ vai trò
chi phối và trong môi trơng cạnh tranh nhằm phục vụ mục tiêu lợi nhuận.
Nhân tố cơ bản của cơ chế thị trờng là cung, cầu và giá cả thị trờng.
Nh chúng ta biết, trong nền kinh tế tập trung, bao cấp, mọi chức năng
kinh tế xã hội của nền kinh tế đều đợc triển khai trong quá trình kế hoạch
hoá ở cấp độ quốc gia. Tính bao cấp của nhà nớc đối với các hoạt động trong
sản xuất , lu thông, phân phối... khá nặng nề. ở nớc ta trớc đây, chế độ hạch
toán trên thực tế còn nặng nề về hình thức. Lợi ích kinh tế, đặc biệt là lợi ích
cá nhân, ngời lao động, một động lc trực tiếp của hoạt động xã hội cha đợc
quan tâm đúng mức. Vì thế, sự vận động của nền kinh tế nhìn chung là chậm
chạp , kém năng động.
Kể từ đại hội Đảng lần thứ VI (12/1986) đến nay, theo đờng lối đổi mới
đất nớc ta đã từng bớc chuyển sang nền kinh tế thị trờng với định hớng
XHCN, và điều đó có ý nghĩa là chúng ta đã đạt đợc những thành tựu hết sức
quan trọng, những thành tựu cho phép chúng ta điều chỉnh và bổ sung nhận
thức, làm cho quan niệm về CNXH ngày càng cụ thể; đờng lối, chủ trơng,
chính sách ngày càng đồng bộ, có căn cứ khoa học và thực tiễn . Những
thành tựu đó , trong một chừng mực nhất định cũng gián tiếp khả năng của
kinh tế thị trờng trong việc năng động hoá nền kinh tế đất nớc.
Kinh tế thị trờng có các u thế sau đây:
- Nó kích thích việc áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật, tăng năng suất
lao động nâng cao trình độ sản xuất. Kinh tế thị trờng lấy lợi nhuận làm động
lực cho mọi hoạt động. Để thu đợc nhiều lợi nhuận đòi hỏi các nhà doanh
nghiệp phải thờng xuyên áp dụng kĩ thuật mới, hợp lí hoá sản xuất làm năng
suất lao động xã hội và năng suất lao động cá biệt tăng lên.
- Kinh tế thị trờng có tính năng động và khả năng thích nghi nhanh
chóng. ở đây tồn tại nguyên tắc ai đa đợc hàng hoá ra thị trờng trớc tiên sẽ thu
đợc nhiều lợi nhuận hơn. Mặt khác nếu nhận thức đợc sản phẩm của mình
6
không có ngời mua hay lợng cầu đang giảm dần, ngời sản xuất sẽ không sản
xuất nữa. Điều đó dẫn đến sự tiết kiệm hao phí lao động xã hội. Vì vậy kinh tế
thị trờng luôn diễn ra sự đổi mới.
- Trong kinh tế thị trờng có nhiều hàng hoá và dịch vụ, đó là một nền
kinh tế d thừa chứ không phải là một nền kinh tế thiếu hụt. Do vậy, nền kinh tế
thị trờng tạo điều kiện vật chất để thoã mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu vật
chất, văn hoá và sự phát triển toàn diện của con ngời.
Bên cạnh đó kinh tế thị trờng cũng có những khuyết tật: thờng xảy ra
tình trạng khủng hoảng, thất nghiệp, phân hoá giàu nghèo, ô nhiễm môi trờng,
tiêu cực và tệ nạn xã hội phát triển ...
Để phát huy những mặt tích cực, hạn chế những mặt tiêu cực của kinh
tế thị trờng nhà nớc cần phải có sự can thiệp vào nền kinh tế để đảm bảo sự ổn
định, công bằng và hiệu quả. Trong lịch sử nền kinh tế thế giới không ở đâu
và lúc nào có một hệ thống thị trờng thuần tuý. Có nhiều mô hình kinh tế thị
trờng có sự quản lý của nhà nớc nh: Kinh tế thị trờng theo kiểu tự do ở Mĩ,
mô hình kinh tế thị trờng ở Nhật Bản, mô hình kinh tế thị trờng ở Bắc Âu, ở
Cộng hoà liên bang Đức ......
Mô hình kinh tế thị trờng theo định hớng XHCN: Kinh tế thị trờng
XHCN là một kiểu tổ chức, một kiểu vận hành kinh tế mà một mặt tuân theo
những quy luật kinh tế thị trờng, mặt khác dựa trên cơ sở bản chất và nguyên
tắc của CNXH đợc chi phối bởi nguyên tắc, bản chất của CNXH trên cả ba
mặt của một nền kinh tế xã hội: Sở hữu, quản lí và phân phối. Đặc trng chủ
yếu của mô hình kinh tế này là : kinh tế công hữu , kinh tế nhà nớc và kinh tế
hợp tác là chủ thể, kinh tế quốc hữu làm chủ đạo. Chủ thể là nói về quy mô,
định lợng là chính. Chủ đạo là nói về vai trò dẫn đờng, định tính là chính.
Kinh tế cá thể, kinh tế t doanh cùng kinh tế doanh nhân nớc ngoài đợc coi là
thành phần kinh tế bổ sung cần thiết... Về phân phối, thực hiện phân phối theo
lao động là chính, các hình thức phân phối khác là bổ sung. Mở rộng một cách
hợp lí khoảng cách trong thu nhập, nhng không phân hoá theo hai cực, từng b-
ớc thực hiện mục tiêu cùng nhau giàu có (mang màu sắc Trung Quốc).
Đại hội Đảng lần thứ IX của Đảng cộng sản Việt Nam đã nêu rõ mô
hình tổng quát của nền kinh tế nớc ta là nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN
với mục tiêu: phát triển kinh tế để đạt tới một xã hội giàu mạnh, công bằng,
dân chủ, văn minh. Đó là một nền kinh tế mà kinh tế nhà nớc đóng vai trò chủ
đạo; Kinh tế nhà nớc cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng
vững chắc cho nền kinh tế quốc dân. Đây là một trong những yếu tố cơ bản
7
đảm bảo cho nền kinh tế thị trờng giữ vững định hớng XHCN. Các thành phần
kinh doanh theo pháp luật đều là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền
kinh tế thị trờng định hớng XHCN. Vai trò quản lí của nhà nớc trong nền kinh
tế thị trờng rất quan trọng , trong việc tăng trởng kinh tế kết hợp đảm bảo thực
hiện công bằng, dân chủ và văn minh.
2) Thực trạng của nền kinh tế thị trờng ở Việt Nam hiện nay
Nền kinh tế của nớc ta hiện nay đang ở giai đoạn chuyển tiếp từ nền
kinh tế tập trung, hành chính bao cấp sang nền kinh tế thị trờng. Thực chất của
bớc chuyển ấy trớc hết là ở sự đổi mới các quan hệ sỡ hữu. Nếu nh trớc đây,
nền kinh tế nớc ta chỉ có một kiểu sở hữu tơng đối thuần nhất với hai hình thức
nhà nớc và tập thể. Hiện nay cùng với hình thức chủ đạo là sở hữu nhà nớc nền
kinh tế nớc ta còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác. Những hình thức sở
hữu đó trong thực tiễn vận hành của nền kinh tế không hẳn đã đồng bộ với
nhau. song về tổng thể, chúng là những bộ phận khách quan của nền kinh tế có
khả năng đáp ứng những đòi hỏi đa dạng và năng động của nền kinh tế thị tr-
ờng. Điều đó có ý nghĩa đối với việc xác định đặc điểm của nền kinh tế trong
thời kì quá độ ở nớc ta hiện nay có lẽ vần là sự thừa nhận xu hớng trong sự vận
động của nó. Tiếp tục đổi mới và hoạt động có hiệu quả kinh tế nhà nớc để
kinh tế nhà nớc thực sự giữ vai trò chủ đạo, làm đòn bẩy thúc đẩy và điều
chỉnh toàn bộ các hoạt động trong toàn bộ nền kinh tế để trên cơ sở đó, giải
quyết các vấn đề xã hội ở tầng vĩ mô sao cho tăng trởng kinh tế không trở nên
mâu thuẫn gay gắt với trật tự bình thờng của đời sống xã hội.
Đảng ta không coi cơ chế thị trờng là liều thuốc vạn năng và vì vậy
không khuyến khích phát triển nó về mọi phơng diện. Bởi lẽ việc tuyệt đối
hoá vai trò của kinh tế thị trờng sẽ rơi vào một sai lầm nguy hiểm từ phía khác.
Kinh tế thị trờng tuy có điểm mạnh nhng bản thân nó vốn có những giới hạn,
những khuyết tật mang tính tự phát hết sức bớng bỉnh, hơn thế nữa quan hệ
thị tròng còn là môi trờng thuận lợi để phát sinh những tiêu cực và tệ nạn xã
hội. Thực tiễn hơn 15 năm đổi mới cho thấy, bên cạnh tác động tích cực là cơ
bản, những tác động tiêu cực do mặt trái của kinh tế thị trờng gây ra cũng hết
sức nghiêm trọng, đặc biệt trên phơng diện t tởng đạo đức, lối sống do cách
làm ăn thuần tuý chạy theo lợi nhuận đã dẫn đến các hình thức lừa đảo, hối lộ,
trốn thuế, nợ nần khó trả do thơng mại hoá một cách tràn lan , xâm nhập vào
cả lĩnh vực dễ thơng tổn nh y tế, văn hoá, giáo dục ... đã làm cho các giá trị
đạo đức, tinh thần bị băng hoại và xuống cấp, đồng tiền đã chi phối quan hệ
giữa ngời với ngời; sự phân hoá giàu nghèo và bất công xã hội có chiều hớng
tăng lên, lối sống ích kỉ, thực dụng có nguy cơ ngày càng tăng.
8

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×