Tải bản đầy đủ

Một số giải pháp chủ yếu phát triển ngành công nghiệp Dệt May từ nay đến năm 2010 để đáp ứng yêu cầu hội nhập WTO

Mục lục
Trang
Mục lục..............................................................................................................1
Trang................................................................................................................1
Bảng 3 : Năng lực sản xuất toàn ngành Dệt May năm 2000..................27
Bảng 15 : Các chỉ tiêu của ngành Dệt May năm 2005 và 2010...................................57
Bảng 16 : Biểu thuế đối với những mặt hàng có thuế suất t = 20%......60
Bảng 17 : Biểu thuế đối với những mặt hàng có thuế suất t = 10%......60
Bảng 19 : Biểu thuế đối với những mặt hàng Dệt May có thuế suất là t =
50%..............................................................................................................61
Bảng 20 : Biểu thuế EU dành cho ngành Dệt May giai đoạn 2000 - 2005
......................................................................................................................62
1
lời mở đầu
Ngành công nghiệp Dệt May là một ngành có truyền thống lâu đời ở Việt Nam và là
một ngành công nghiệp mũi nhọn đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế.
Thực tế các năm qua đã chứng minh điều này. Sản xuất của Ngành tăng trởng nhanh
; kim ngạch xuất khẩu không ngừng gia tăng với nhịp độ cao ; thị trờng luôn đợc mở rộng,
tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển góp phần cân bằng cán cân xuất nhập khẩu theo h-
ớng có tích luỹ ; thu hút ngày càng nhiều lao động, giải quyết công ăn việc làm, góp phần
quan trọng vào việc ổn định chính trị xã hội đất nớc và đóng góp ngày càng nhiều cho ngân

sách Nhà nớc.
Tuy nhiên, trong xu thế hội nhập với thế giới và khu vực, để phát triển ngành Dệt
May Việt Nam phải đối mặt với nhiều thách thức lớn. Theo Hiệp định ATC/WTO, từ
1/1/2005 các nớc phát triển sẽ bãi bỏ hạn ngạch nhập khẩu cho các nớc xuất khẩu hàng Dệt
May là thành viên của Tổ chức Thơng mại Thế giới (WTO), khi đó các cờng quốc xuất
khẩu hàng Dệt May nh ấn Độ, Indonesia, HongKong, Đài Loan, Hàn Quốc... và đặc biệt là
Trung Quốc sẽ có lợi thế xuất khẩu thế giới. Theo Hiệp định AFTA, từ 1/1/2006, thuế xuất
nhập khẩu hàng Dệt May từ các nớc ASEAN vào Việt Nam sẽ giảm xuống từ 40 50%
nh hiện nay xuống còn tối đa là 5%, khi đó thị trờng nội địa hàng Dệt May Việt Nam
không còn đợc bảo hộ trớc hàng nhập từ các nớc trong khu vực. Nh vậy, hàng Dệt May Việt
Nam sẽ phải cạnh tranh rất khốc liệt so với các nớc xuất khẩu hàng Dệt May.
Có thể thấy rằng ngành Dệt May Việt Nam đang thiếu chiều sâu cho sự phát triển
của Ngành. Trong khi ở các nớc phát triển lợi thế cạnh tranh trong ngành Dệt May mà họ
có đợc thông qua vốn và công nghệ thì ngành công nghiệp Dệt May Việt Nam vẫn chỉ là
ngành sử dụng lao động rẻ.
Do vậy, trớc những thách thức trong tình hình mới, việc đa ra những giải pháp thiết
thực nhằm làm cho ngành Dệt May phát triển đúng hớng, có đủ khả năng cạnh tranh trên
thị trờng thế giới cũng nh thị trờng nội địa là một yêu cầu thực sự cấp bách. Đó là lý do để
2
tôi chọn đề tài : Một số giải pháp chủ yếu phát triển ngành công nghiệp Dệt May từ
nay đến năm 2010 để đáp ứng yêu cầu hội nhập WTO làm chuyên đề tốt nghiệp.
Bố cục chuyên đề đợc chia làm 3 phần :
Phần I : Vai trò của ngành công nghiệp Dệt May Việt Nam trong quá trình công
nghiệp hóa hiện đại hoá.
Phần II : Thực trạng của ngành công nghiệp Dệt May Việt Nam từ 1996 2001.
Phần III : Một số giải pháp chủ yếu phát triển ngành công nghiệp Dệt May Việt
Nam từ nay đến 2010 để đáp ứng yêu cầu hội nhập WTO.
Phần I
vai trò của ngành công nghiệp dệt - may việt nam đối
với quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá
I) Vai trò của ngành công nghiệp Dệt May Việt Nam
đối với quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá
1.
Xu thế chuyển dịch sản xuất hàng Dệt May trên thế giới
Ngành công nghiệp Dệt May gắn liền với nhu cầu không thể thiếu đợc
của mỗi con ngời. Vì vậy từ rất lâu trên thế giới, ngành công nghiệp này đợc
hình thành và đi lên cùng với sự phát triển ban đầu của chủ nghĩa t bản. Bên
3
cạnh đó, ngành công nghiệp Dệt May là ngành thu hút nhiều lao động với yêu
cầu kỹ năng không cao, vốn đầu t không lớn và có điều kiện mở rộng quan hệ


quốc tế. Do đó, trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá t bản, từ các
nớc phát triển nh Nhật, Mỹ, Anh, Pháp cho đến các n ớc công nghiệp mới
(Nics) nh Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Singarpo, , ngành công nghiệp
Dệt May thờng phát triển mạnh và có hiệu quả cao trong quá trình công nghiệp
hoá của họ. Khi một nớc đã có công nghiệp phát triển, có trình độ công nghiệp
cao, giá lao động cao thì sức cạnh tranh trong sản xuất hàng Dệt May giảm, lúc
đó sẽ chuyển sang những ngành công nghiệp khác có hàm lợng kỹ thuật cao
hơn, sử dụng lao động ít mà mang lại lợi nhuận cao.
Lịch sử phát triển của ngành công nghiệp Dệt May thế giới cũng là sự
chuyển dịch cơ cấu công nghiệp Dệt May từ khu vực phát triển sang khu vực
khác kém phát triển hơn do tác động của lợi thế so sánh. Sự dịch chuyển này đợc
gọi là hiệu ứng chảy tràn hay làn sóng cơ cấu. Có thể nói ngành công
nghiệp Dệt May đã tạo nên một làn sóng, sóng lan tới đâu thì nớc đó phát triển
kinh tế vợt bậc.Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là sản xuất Dệt May không
còn tồn tại ở các nớc phát triển mà thực tế ngành này đã tiến đến giai đoạn cao
hơn, sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng cao.
Sự dịch chuyển thứ nhất vào những năm 1840 từ nớc Anh, cha đẻ của
ngành công nghiệp Dệt sang các nớc ở châu Âu, khi ngành công nghiệp Dệt
May đã trở thành động lực chính cho sự phát triển thị trờng sang các khu vực
mới khai phá ở Bắc và Nam Mỹ.
Sự chuyển dịch lần thứ hai là từ châu Âu sang Nhật Bản vào những năm
1950, trong thời kỳ hậu chiến thứ hai.
Từ những năm 1950, khi chi phí sản xuất ở Nhật tăng cao và thiếu nguồn
lao động thì công nghiệp Dệt May lại đợc chuyển dịch sang các nớc mới công
nghiệp hoá (NICs) nh Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc. Quá trình chuyển dịch
4
đợc thúc đẩy mạnh bởi nguồn đầu t trực tiếp nớc ngoài nhằm khai thác lợi thế về
nguyên liệu tại chỗ là giá nhân công thấp. Cho đến nay công nghiệp Dệt May
không còn giữ vai trò thống trị trong nền kinh tế nhng vẫn còn đóng góp rất lớn
về nguồn thu ngoại tệ thông qua xuất khẩu của các nớc này.
Vào nhứng năm 1980, khi các nớc Đông á dần chuyển sang sản xuất và
xuất khẩu các mặt hàng có công nghệ và kỹ thuật cao hơn nh hàng điện tử, ô
tô,... thì lợi thế so sánh của ngành Dệt May đã bị mất đi ở các nớc này. Các nớc
NICs buộc phải chuyển những ngành này sang các nớc ASEAN, Trung Quốc và
tiếp tục sự chuyển đổi này từ các nớc này sang các nớc Nam á.
Vào cuối những năm 1990, tất cả các nớc ASEAN đều đạt mức cao về
xuất khẩu sản phẩm Dệt May, vị trí của các nớc này trong mậu dịch thế giới
tăng đáng kể so với trớc đây. Cùng trong xu hớng dịch chuyển này, Dệt May
Việt Nam đang hoà nhập với lộ trình của ngành Dệt May thế giới.
Là nớc đi sau, Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi trong việc kế thừa
thành tựu của các nớc công nghiệp phát triển. Tận dụng đợc xu thế dịch chuyển
nh vậy đã tạo cho ngành Dệt May Việt Nam nhiều cơ hội để phát triển. Việt
Nam cần thực hiện các chính sách đi tắt, đón đầu, một mặt tiếp nhận nhanh
chóng quá trình dịch chuyển ngành từ các nớc, mặt khác phải tiếp tục đào tạo
đội ngũ công nhân lành nghề, đầu t khoa học công nghệ để sản xuất ra các sản
phẩm có hàm lợng trí tuệ cao, sản phẩm có giá trị gia tăng đóng góp vào GDP
lớn bắt kịp công nghiệp Dệt May của các nớc phát triển.
2. Vai trò của ngành công nghiệp Dệt May Việt Nam đối với quá
trình CNH HĐH
2.1) Đặc điểm của ngành công nghiệp Dệt May :
Thứ nhất, ngành Dệt May là ngành thu hút nhiều lao động :
5
Do tính chất đặc thù của mình, ngành công nghiệp Dệt May đòi hỏi số l-
ợng lao động lớn, từ lao động thủ công giản đơn nh thợ may ráp nối không cần
phải đào tạo công phu đến lao động yêu cầu kỹ thuật cao nh vẽ kiểu, giác sơ đồ,
cắt bằng máy tính.
Trên phạm vi ngành công nghiệp Dệt May thế giới, các nớc phát triển th-
ờng nắm những khâu kỹ thuật cao, thu nhiều lợi nhuận nhất là khoán lại cho các
nớc đang phát triển những khâu kỹ thuật thấp mà phổ biến nhất là ráp nối hàng
may mặc với mẫu mã và nguyên phụ liệu đợc cung cấp sẵn. Tuy nhiên với các
nớc đang phát triển, trong điều kiện rất thiếu vốn để tiến hành đầu t thì may gia
công cũng góp phần thu ngoại tệ, tạo vốn cho công cuộc công nghiệp hoá - hiện
đại hoá, đồng thời giải quyết nhiều việc làm cho ngời lao động (đặc biệt là lao
động ở nông thôn).
Hiện nay, lao động trong ngành Dệt May chủ yếu tập trung ở châu á
(chiếm tới 57%) vì đây là khu vực có nguồn lao động dồi dào, giá nhân công
thấp, phù hợp cho việc phát triển của ngành Dệt May
Đối với Việt Nam, một quốc gia có dân số đông và trẻ so với trong khu
vực và trên thế giới. Tính đến ngày 31/12/2000, dân số cả nớc là 77.685.000 ng-
ời, trong đó số ngời trong độ tuổi lao động khoảng 43,8 triệu ngời. Hàng năm có
khoảng từ 1,5 đến 1,7 triệu thanh niên bớc vào tuổi lao động, tạo thành đội ngũ
dự bị hùng hậu bổ sung liên tục vào lực lợng lao động vốn đã đông đảo. Với một
lực lợng lao động dồi dào nh vậy, nếu đợc đào tạo và sử dụng hợp lý, hiệu quả
ngành Dệt May Việt Nam rất có điều kiện để phát triển. Đồng thời đó cũng là
một thị trờng tiêu thụ hàng Dệt May tiềm năng. Tuy nhiên, là một ngành thu hút
nhiều lao động cũng có nghĩa là Ngành phải chịu gánh nặng xã hội và nhiều áp
lực từ phía Chính phủ về việc thực hiện các mục tiêu xã hội. Nếu một doanh
nghiệp phá sản kéo theo hàng trăm ngời thất nghiệp và những hậu quả sau đó
cần giải quyết.
6
Thứ hai, sản phẩm của ngành Dệt May mang tính chất thời trang :
Sản phẩm của ngành Dệt May là sản phẩm tiêu dùng, phục vụ cho nhu
cầu của tất cả mọi ngời. Ngời tiêu dùng khác nhau về văn hoá, phong tục tập
quán, tôn giáo, khu vực địa lý, khí hậu, giới tính, tuổi tác... nên sẽ có nhu cầu rất
khác nhau về trang phục. Do đó đòi hỏi sản phẩm ngành Dệt May phải phong
phú và đa dạng.
Sản phẩm Dệt May là sản phẩm tiêu dùng nhng mang tính thời trang cao,
thờng xuyên phải thay đổi mẫu mã, kiểu dáng, màu sắc, chất liệu để đáp ứng
nhu cầu tâm lý thích đổi mới, độc đáo và gây ấn tợng cho ngời tiêu dùng. Do
vậy vòng đời sản phẩm Dệt May thờng ngắn.
Trong sản phẩm Dệt May, nhãn mác sản phẩm có ý nghĩa quan trọng
trong việc tiêu thụ sản phẩm. Ngời tiêu dùng thờng căn cứ vào nhãn mác để
phán xét chất lợng sản phẩm.
Với sản phẩm Dệt May, yếu tố thời vụ liên quan chặt chẽ đến thời cơ bán
hàng. Với các nhà xuất khẩu điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong vấn
đề giao hàng đúng thời hạn.
Việt Nam là quốc gia có nền văn hóa đa dạng và phong phú, ngời Việt
Nam rất nhạy cảm và tinh tế trong việc ăn mặc. Khi sản phẩm Dệt May chuyển
sang sản phẩm có hàm lợng trí tuệ cao và có chứa đựng yếu tố văn hóa thì đây
chính là lợi thế không kém phần quan trọng cho các doanh nghiệp Dệt May khai
thác thị trờng trong nớc, nâng cao tỷ trọng hàng xuất khẩu mang nhãn mác Việt
Nam.
Thứ ba, ngành Dệt May là ngành đợc bảo hộ cao :
Trớc khi có Hiệp định về hàng Dệt May - kết quả quan trọng trong vòng
đàm phán Uruguay, việc buôn bán quốc tế các sản phẩm Dệt May đợc điều
chỉnh theo những thể chế thơng mại đặc biệt mà theo đó phần lớn các nớc nhập
7
khẩu thiết lập các hạn chế về số lợng hàng Dệt May nhập khẩu và mức thuế
đánh vào hàng Dệt May còn cao hơn so với các hàng hoá công nghiệp khác.
Bên cạnh đó, từng nớc nhập khẩu còn đề ra những điều kiện riêng đối với
hàng Dệt May nhập khẩu. Tất cả những rào cản đó ảnh hởng rất nhiều đến sản
xuất hàng Dệt May trên thế giới.
Với Hiệp định về hàng Dệt May, Việt Nam vừa có nhiều cơ hội nhng
đồng thời cũng phải chịu những quy định chặt chẽ, những yêu cầu cao hơn khi
xuất khẩu hàng Dệt May.
Do đó, muốn thành công trong việc xuất khẩu hàng Dệt May ra thị trờng
nớc ngoài, cần phải có sự hiểu biết rất rõ về những chính sách bảo hộ, u đãi của
từng quốc gia và của thế giới với ngành Dệt May. Có nh vậy thì kết quả thu đợc
mới đạt hiệu quả cao, tránh đợc những lãng phí và sai lầm không đáng có.
2.2) Vai trò của ngành công nghiệp Dệt May Việt Nam trong quá trình
CNH HĐH
Từ sau khi đất nớc tiến hành công cuộc đổi mới nền kinh tế sang cơ chế
thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc, với đờng lối phát triển kinh tê mở (đa dạng
hoá các thành phần kinh tế, mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế với nhiều nớc trên
thế giới, không phân biệt chế độ chính trị trên nguyên tắc sản xuất hai bên cùng
có lợi, chú trọng phát triển các ngành công nghiệp nhẹ sản xuất hàng tiêu dùng
phục vụ nhu cầu trong nớc và xuất khẩu, quan tâm đến phát triển nông nghiệp
và nông thôn), ngành công nghiệp Dệt May đã thể hiện đợc là một trong những
ngành công nghiệp mũi nhọn, đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của nớc
ta.
Trong những năm gần đây, ngành công nghiệp Dệt May Việt Nam đã và
đang có những bớc phát triển mạnh mẽ, thu hút đợc nhiều lao động. Đến nay lực
lợng lao động trong Ngành có khoảng 1.600.000 ngời, chiếm 22,7% lao động
8
công nghiệp toàn quốc, góp phần giải quyết công ăn việc làm cho ngời lao động,
tạo sự ổn định chính trị - kinh tế - xã hội. Theo dự đoán, đến năm 2005 và 2010,
lao động trong ngành Dệt May sẽ tăng lên tơng ứng là 3.000.000 và 4.000.000
ngời.
Sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp Dệt May đã bắt đầu tạo ra
các mối liên kết kinh tế, có ý nghĩa trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế đất n-
ớc theo hớng công nghiệp hoá. Ngành công nghiệp Dệt May tăng trởng nhanh
tạo ra nhu cầu lớn về nguyên liệu nh bông, tơ tằm, do đó đã khuyến khích nông
dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ sản xuất độc canh cây lơng thực sang trồng
bông, trồng dâu nuôi tằm, mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn, nâng cao thu nhập
cho ngời nông dân. Đồng thời, với việc mở rộng sản xuất, nhu cầu về máy móc
thiết bị và phụ tùng thay thế của Ngành cũng tăng lên, do đó có tác động khuyến
khích ngành cơ khí mở rộng sản xuất cung cấp phụ tùng thay cho ngành Dệt
May (do trình độ công nghệ còn hạn chế, ngành cơ khí Việt Nam cha đủ sức
cung cấp dây chuyền đồng bộ hiện đại cho ngành Dệt May). Tất cả đều đóng
góp cho sự tăng trởng kinh tế chung của đất nớc, cải thiện đời sống nhân dân.
Trong các năm qua, kim ngạch xuất khẩu hàng Dệt May liên tục tăng từ
năm 1992 đến nay với tốc độ cao và luôn là một trong 10 mặt hàng xuất khẩu
chủ lực của Việt Nam. Đặc biệt từ năm 1994, kim ngạch xuất khẩu của ngành
Dệt May luôn đứng thứ hai về giá trị, chỉ sau dầu thô. Kim ngạch xuất khẩu
hàng Dệt May tăng nhanh qua các năm cả về giá trị tuyệt đối (năm 1991 đạt 189
triệu USD ; đến năm 1995 đã đạt 850 triệu USD và đến năm 2001, kim ngạch
xuất khẩu đạt 1.975 triệu USD) lẫn tốc độ tăng trởng (trong giai đoạn 1995
2000 tốc độ tăng trởng bình quân giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng Dệt May là
17,4%). Hiện nay Ngành tạo ra khoảng 14,5% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả
nớc, 41% kim ngạch xuất khẩu của ngành công nghiệp chế tác, mang lại nguồn
ngoại tệ rất quý giá cho đất nớc trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp
9
hóa. Đồng thời thông qua xuất khẩu, nền kinh tế Việt Nam mới có thể hội nhập
vào nền kinh tế trong khu vực và trên thế giới.
Với xu hớng hội nhập kinh tế, ngành Dệt May Việt Nam đang đứng trớc
một cơ hội phát triển thị trờng xuất khẩu hết sức to lớn : thị trờng Châu Âu (chủ
yếu là EU), Nhật Bản, Trung Đông, Châu á, Châu Mỹ và đặc biệt là Hoa Kỳ mà
chúng ta mới đạt đợc Hiệp định Thơng mại với họ. Đối với thị trờng Hoa Kỳ,
trong thời gian đầu cha có hạn ngạch, ngành Dệt May Việt Nam cần tranh thủ
xuất khẩu tối đa để tạo cơ sở ấn định hạn ngạch thuận lợi vì đây là thị trờng có
sức mua hàng Dệt May lớn lại dễ tính. Đối với thị trờng Châu á (các nớc
ASEAN), ngành Dệt May Việt Nam cần nâng cao sức cạnh tranh để đối phó với
sản phẩm của các nớc trong khối này có điều kiện xâm nhập vào thị trờng Việt
Nam với thuế suất thấp sau năm 2000, vì Dệt May cũng là mặt hàng xuất khẩu
chủ yếu của các nớc này. Đối với thị trờng EU, ngành Dệt May Việt Nam cần
nâng cao chất lợng sản phẩm để tăng sức cạnh tranh với các nớc xuất khẩu hàng
Dệt May khác và đáp ứng đợc đòi hỏi cao về sản phẩm của thị trờng này.
Trên con đờng phát triển trong thời gian tới, ngành Dệt May Việt Nam
đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn, xuất phát từ cạnh tranh ngày một
gay gắt hơn trong xu thế hội nhập khu vực và trên thế giới. Trong khi đó, ngành
Dệt May Việt Nam hiện còn quá nhỏ bé so với tiềm năng của nó và so với ngành
Dệt May của một số nớc trong khu vực (năng lực của ngành Dệt May Việt Nam
hiện chỉ bằng 1/10 so với Thái Lan, 1/15 so với Indonesia, 1/30 so với ấn Độ và
1/50 so với Trung Quốc). Việc thực hiện Hiệp định ATC/WTO ở giai đoạn cuối
cùng từ nay đến năm 2004 sẽ càng làm cho vị trí cạnh tranh của hàng Dệt May
Việt Nam trên các thị trờng Châu Âu và Bắc Mỹ thêm khó khăn do nớc ta cha
phải là thành viên của Tổ chức Thơng mại Thế giới (WTO). Việc thực hiện
AFTA/CEFT từ nay đến cuối năm 2005 sẽ làm giảm dần và đến loại bỏ hoàn
10
toàn vào năm 2006 việc bảo hộ hàng Dệt May Việt Nam tại thị trờng nội địa tr-
ớc hàng nhập khẩu của các nớc Đông Nam á.
Yêu cầu nâng cao sức cạnh tranh trên thị trờng trong bối cảnh đó đặt ra
cho các doanh nghiệp Dệt May Việt Nam nhiều bài toán hết sức khó khăn. Đó là
làm sao để vừa phát triển mở rộng đợc sản xuất, vừa nâng cấp và khai thác tối đa
năng lực sản xuất hiện có. Làm sao trong thời gian ngắn (từ 3 đến 5 năm), các
doanh nghiệp Dệt May Việt Nam phải đa ra đợc năng lực quản lý sản xuất và
tiếp thị lên ngang tầm với các nớc xuất khẩu trong khu vực để có thể cạnh tranh
đợc về năng suất lao động, giá thành và chất lợng sản phẩm, uy tín nhãn hiệu,
thiết kế sản phẩm, giao hàng nhanh đúng tiến độ và khả năng sản xuất đợc các
lô hàng nhỏ. Vì vậy, ngay từ bây giờ ngành công nghiệp Dệt May Việt Nam cần
phải có những giải pháp cụ thể để đa Ngành có đủ năng lực cạnh tranh với các
nớc khác trên thế giới vào thời điểm 2006 và những năm sau đó.
Hiện nay, ngành công nghiệp Dệt May Việt Nam đã trở thành thành viến
chính thức của Hiệp hội Dệt May Đông Nam á (aftex), tham gia vào Hiệp
hội bông Liperpool và quan hệ Thơng mại Việt Mỹ đã và đang diễn ra theo
hớng tích cực. Cùng với đờng lối đối ngoại mở rộng, chúng ta có thể tin tởng
rằng ngành công nghiệp Dệt May Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ hơn
nữa và trở thành một ngành kinh tế chủ lực của đất nớc.
II. sự cần thiết phát triển ngành công nghiệp Dệt
May Việt Nam
1) Ngành công nghiệp Dệt May cần đợc u tiên phát triển và đợc coi là một
trong những ngành trọng điểm của quá trình công nghiệp hoá - hiện đại
hoá nớc ta trong những năm tiếp theo.
11
Trong 4 năm qua (1996 2000), kim ngạch xuất khẩu hàng Dệt May đều
tăng và đã vơn lên hàng thứ hai (sau dầu khí) trong 10 mặt hàng xuất khẩu chủ
lực của đất nớc.
Mặt khác, ngành công nghiệp Dệt May là ngành thu hút nhiều lao động, vốn
đầu t không lớn và đang trong xu hớng tiếp nhận sự chuyển dịch từ các nớc
Đông á và các nớc Đông Nam á. Nớc ta là một nớc có nguồn lao động dồi dào
và lành nghề nên có thể coi đây là một trong các lĩnh vực lớn có khả năng phát
triển nhất.
Dự báo tốc độ tăng trởng của ngành công nghiệp Dệt May là trên 10% trong
giai đoạn 2000 2010. Đó là tỷ lệ tăng trởng cao so với nhiều ngành công
nghiệp khác. Nh vậy, trong những năm tiếp theo của quá trình công nghiệp hóa
hiện đại hoá ngành công nghiệp Dệt May phải đợc u tiên phát triển.
2) Phát triển ngành công nghiệp Dệt May theo phơng châm "hớng ra xuất
khẩu với thay thế nhập khẩu".
Hớng mạnh về xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu có hiệu quả, đó là
kinh nghiệm của nhiều nớc công nghiệp mới (NICs) và ở nớc ta cũng đã đợc xác
nhận. Đó là một trong những chiến lợc cơ bản của quá trình công nghiệp hoá -
hiện đại hoá trong những điều kiện của thế giới hiện nay. ở nớc ta, phải tận
dụng các lợi thế so sánh về lao động và tài nguyên để đẩy mạnh nhịp độ phát
triển của các ngành và sản phẩm công nghiệp xuất khẩu, xem đây là mục tiêu
hàng đầu. Xuất khẩu càng nhiều, kinh tế tăng trởng càng nhanh, có hiệu quả bền
vững, đồng thời càng có thêm khả năng thay thế nhập khẩu có hiệu quả, không
mẫu thuẫn với hớng về xuất khẩu.
Ngành công nghiệp Dệt May là một trong những ngành có khả năng làm đợc
điều đó. Thực tế trong những năm qua cho thấy, chiến lợc hớng ra xuất khẩu đã
thu đợc nhiều kết quả khích kệ, tốc độ tăng bình quân của kim ngạch xuất khẩu
12
của hàng Dệt May giai đoạn 1995 - 2000 là 17,4%/năm. Nhờ nguồn ngoại tệ thu
đợc, ngành có điều kiện tái đầu t để hiện đại hoá thiết bị công nghệ, đẩy mạnh
sản xuất.
Song song với xu thế đẩy mạnh xuất khẩu, cần kết hợp sản xuất các mặt hàng
thay thế nhập khẩu. Thị trờng trong nớc với dân số đông và sức mua ngày càng
lớn là đối tợng rất quan trọng mà công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng nói
chung và công nghiệp Dệt May nói riêng phải đáp ứng cho đợc các nhu cầu cơ
bản, từ những sản phẩm Dệt May bình thờng, phù hợp với đa số ngời dân lao
động đến các sản phẩm cao cấp hơn phục vụ những nhóm ngời có thu nhập cao.
Để làm đợc điều này, vấn đề quyết định là phải nâng cao sức cạnh tranh của sản
phẩm Dệt May ở thị trờng trong nớc, thị trờng các nớc trong khu vực và trên thế
giới trên cơ sở nâng cao năng suất, chất lợng và hiệu quả. Trớc mắt cần có sự
phối hợp giữa các nhà sản xuất, những ngời làm công tác nghiên cứu, lựa chọn
những mặt hàng thích hợp đang đợc nhập khẩu nhiều mà năng lực sản xuất và
trình độ kỹ thuật, công nghệ của các doanh nghiệp trong nớc có khả năng đáp
ứng. Sau đó, các doanh nghiệp trong nớc phối hợp với nhau tập trung vào sản
xuất các mặt hàng này.
Hiện tại, các sản phẩm Dệt May của Việt Nam bị cạnh tranh gay gắt bởi các
sản phẩm nhập khẩu chủ yếu ở giá cả. Mặc dầu chất lợng có kém hơn, song do
thắng áp đảo về giá nên họ vẫn chiếm lĩnh đợc thị trờng rộng lớn ở nông thôn.
Đây là điểm yếu quan trọng buộc các nhà sản xuất phải bằng nhiều cách để tiết
kiệm chi phí, giảm giá thành sản phẩm thì mới có thể cạnh tranh đợc.
3) Phát triển ngành công nghiệp Dệt May theo hớng hiện đại và đa dạng
hoá về sản phẩm.
Công nghệ hiện đại ngày nay đã trở thành một yếu tố quyết định cho sự phồn
vinh của một quốc gia, hay sức cạnh tranh của một sản phẩm trên thị trờng quốc
tế. Chúng ta chỉ có thể rút ngắn khoảng cách với các nớc phát triển và tham gia
13
vào phân công lao động quốc tế thông qua việc tiếp cận và làm chủ công nghệ
tiên tiến của thế giới.
Từ nhận đinh đó, ngành công nghiệp Dệt May đợc phát triển theo hớng hiện
đại hoá và đa dạng về sản phẩm.
Trong thời gian tới, cùng với sự phát triển kinh tế của cả nớc, nhu cầu hàng
tiêu dùng sẽ tăng lên không chỉ thuần tuý về mặt số lợng mà nhu cầu tăng cả về
chất lợng, mẫu mã, chủng loại. Theo quy luật tiêu dùng thì khi thu nhập tăng
lên, tỷ lệ chi cho ăn uống sẽ giảm tơng đối còn tỷ lệ tiêu dùng hàng hoá sẽ tăng
lên rất nhanh. Nh vậy, cùng với việc tăng dân số và tăng thu nhập, trong những
năm tới, thị trờng trong nớc sẽ là tiền đề phát triển cho công nghiệp sản xuất
hàng tiêu dùng nói chung và công nghiệp Dệt May nói riêng.
Đối với thị trờng nớc ngoài, để tiếp nhận thành công sự dịch chuyển kinh tế
từ các nớc phát triển hơn và nhanh chóng thay thế họ thâm nhập vào các thị tr-
ờng quốc tế mới, ngành Dệt May càng cần phải trang bị lại theo hớng hiện đại.
Có nh vậy mới có thể đáp ứng đợc những đòi hỏi ngày càng cao, càng đa dạng
của cả thị trờng trong nớc và ngoài nớc.
Tất cả những yếu tố đó đòi hỏi Ngành phải có kế hoạch hiện đại hoá từng b-
ớc, kết hợp giữa thay thế và hiện đại hoá, đồng thời nhanh chóng tiếp thu công
nghệ mới để giảm bớt khoảng cách tụt hậu.
4) Phát triển công nghiệp Dệt May gắn liền với sự phát triển của ngành
nông nghiệp và các ngành kinh tế khác, góp phần thúc đẩy quá trình
công nghiệp hoá - hiện đại hoá và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nớc ta.
Trong chiến lợc phát triển kinh tế xã hội từ nay đến năm 2010, Đảng ta đã
chỉ rõ : cần phải đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá nền kinh tế
mà trớc hết là công nghiệp hoá nông thôn.
14
Nh vậy, đối với tất cả các ngành công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp Dệt
May (là ngành sử dụng nhiều nguồn nguyên liệu từ nông nghiệp nh bông, tơ
tằm,...), trong chiến lợc phát triển của mình cần phải xác định đợc hớng phát
triển là gắn liền với sự phát triển của ngành nông nghiệp.
Trong suốt quá trình phát triển của mình, ngành công nghiệp Dệt May Việt
Nam luôn ở trong tình trạng bị động về nguyên liệu. Hầu hết các loại nguyên
liệu đều phải nhập khẩu : kể cả xơ bông là loại nguyên liệu mà ta có khả năng
cung cấp một phần, tơ tằm tuy không phải nhập khẩu nhng nguồn tơ sản xuất bị
hạn chế cả về số lợng lẫn chất lợng nên giá xuất khẩu thấp.
Do vậy, muốn từng bớc tiến tới sự phát triển ổn định và bền vững, ngành Dệt
May phải tạo đợc cho mình một cơ sở nguyên liệu thích hợp và ổn định.
Phát triển công nghiệp Dệt May còn gắn liền với sự phát triển của một loạt
các ngành công nghiệp khác nh : Công nghiệp hoá chất, hoá dầu để tạo ra các
dạng nguyên liệu tổng hợp, nhân tạo, các loại hoá chất, thuốc nhuộm... ; Công
nghiệp cơ khí chế tạo để sản xuất ra các phụ tùng thay thế, tiến tới sản xuất ra
các loại máy móc từ đơn giản đến phức tạp cho Ngành ; ngoài ra còn kéo theo
sự phát triển của các ngành sản xuất phụ liệu, bao bì.
Để làm đợc những điều trên, điều quan trọng là phải xây dựng đợc hệ thống
các quy hoạch phát triển ngành và liên ngành, tạo ra sự liên kết ngang chặt chẽ
giữa các ngành công nghiệp Dệt May với nông nghiệp và các ngành công
nghiệp khác. Các quy hoạch này cần đợc phối hợp bảo đảm tính cân đối, ăn
khớp giữa chúng với nhau. Đặc biệt, nông nghiệp thì phải có quy hoạch từ khâu
sản xuất nguyên liệu, sơ chế đến tiêu thụ sản phẩm.
Làm đợc nh vậy thì ta sẽ đáp ứng đợc những yêu cầu phát triển của bản thân
ngành công nghiệp Dệt May, đồng thời kéo theo quá trình công nghiệp hoá -
hiện đại hoá nhiều ngành khác.
15
5) Phát triển ngành công nghiệp Dệt May theo hớng đa dạng hoá sở hữu
và tập trung vào các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ.
Xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trờng có sự
quản lý của Nhà nớc theo định hớng XHCN là chiến lợc phát triển kinh tế của
Đảng ta.
Thực tế cho thấy, ở bất cứ một ngành kinh tế kỹ thuật nào, nếu không có
nhiều thành phần kinh tế tham gia thì sẽ không tạo ra đợc môi trờng cạnh tranh,
mà cạnh tranh chính là động lực của sự phát triển.
Trong tổ chức sản xuất của ngành công nghiệp Dệt May đã có những mô
hình có quy mô lớn nhng hiệu quả kém. Qua nhiều lần tiến hành đổi mới tổ
chức quản lý và qua hoạt động thực tiễn cho thấy : các doanh nghiệp Dệt May
có quy mô vừa và nhỏ là những mô hình hoạt động tốt.
Về cơ cấu sở hữu, trong ngành Dệt May trớc kia, đặc biệt là ngành Dệt
chỉ tồn tại hai loại hình doanh nghiệp là doanh nghiệp Nhà nớc và các hợp tác
xã. Những năm gần đây, với chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nớc, đã xuất
hiện các doanh nghiệp t nhân, các công ty TNNH tham gia sản xuất cả ở những
lĩnh vực mà trớc đây không có do đòi hỏi kỹ thuật cao nh kéo sợi. Đặc biệt trong
lĩnh vực công nghiệp May, đã có tới hàng trăm công ty TNNH, công ty cổ phần
và các tổ hợp.
Nh vậy, phát triển ngành công nghiệp Dệt May ở Việt Nam theo hớng đa
dạng hoá sở hữu và tập trung vào các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ là cần
thiết.
16
Phần II
Thực trạng của ngành công nghiệp Dệt - may
việt nam từ năm 1995 đến năm 2000
I) Thực trạng về tình hình sản xuất và tiêu thụ
sản phẩm của ngành Dệt - May
1. Tình hình sản xuất giai đoạn 1995-2001
Theo thống kê kết quả sản xuất của Ngành qua các năm nh sau:
Bảng 1: Kết quả sản xuất của ngành Dệt May Việt Nam giai đoạn
1995 2001
Chỉ tiêu
Đơn
vị
1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001
Tăng
BQ(%)
Doanh thu
Tỷ
đồng
4567 4954 5462 5882 6579 8083 9566 13,2
Nộp ngân sách
Tỷ
đồng
162,4 163,5 134,3 140,6 209,0 259 298,6 10,6
KNXK
Triệu
USD
850 1150 1503 1450 1747 1900 1975,4 9,25
Sản phẩm chính
Sợi
1000
tấn
59,2 65 67,5 69 74 80 86 6,41
Vải
Triệu
met
263 285 298 315 317 376 402 7,32
Hàng may mặc
Triệu
SP
172 206,9 302 275 305 334 367 13,48
Nguồn: Niên giám thống kê 2001
17
Qua bảng số liệu ta thấy nhìn chung các chỉ tiêu toàn Ngành đều có mức
tăng trởng khá từ 6% đến 14%/năm, đặc biệt là trong mấy năm gần đây tốc độ
tăng kim ngạch xuất khẩu và số lợng sản phẩm may mặc có sự tăng lên đột biến.
Điều này cho thấy làn sóng Dệt May đã thực sự xâm nhập vào nớc ta và đang
phát triển với tốc độ cao.
Từ năm 1993 đến năm 1997 : Giai đoạn này thị trờng xuất khẩu của ngành Dệt
May gặp nhiều thuận lợi nh Hiệp định Thơng mại hàng Dệt May Việt Nam
EU đợc mở, các thị trờng phi hạn ngạch nh Nhật Bản, Canada cũng phát triển
nhanh và bắt đầu tiếp cận đợc với thị trờng Mỹ.
Từ năm 1997 đến năm 1999 : Giai đoạn mà cơn khủng hoảng tài chính khu vực,
đặc biệt là khủng hoảng tài chính từ Hàn Quốc và Nhật Bản đã ảnh hởng đến sản
xuất và kinh doanh hàng Dệt May của Việt Nam. Giá gia công giảm sút, đầu t
của nớc ngoài vào Việt Nam và vào khu vực cũng giảm nhanh. Mức độ cạnh
tranh găy gắt hơn. Nhiều công ty Dệt May trong khu vực lâm vào tình trạng phá
sản, khó khăn về tài chính kéo dài... Tuy nhiên, trong giai đoạn này, thị trờng
EU có thuận lợi hơn, tiếp cận đợc với thị trờng Mỹ nhiều hơn, chuẩn bị điều
kiện để nối lại thị trờng Nga và các nớc SNG.
Từ năm 2000 đến 2001 : Chuyển sang năm 2001, năm mở đầu cho thời kỳ kế
hoạch 2001 2005, các doanh nghiệp Dệt May có một số thuận lợi cơ bản nh
kinh tế nớc ta đang có đà hồi phục, Nhà nớc tăng cờng các hoạt động đối ngoại
mở rộng thị trờng, ngành Dệt May đợc Chính phủ quan tâm phê duyệt chiến lợc
phát triển kèm theo các chính sách u đãi tạo điều kiện vơn lên hội nhập với khu
vực và thế giới. Tuy nhiên Ngành cũng gặp phải những khó khăn lớn và những
biến động phức tạp nh :
- Kinh tế thế giới tiếp tục trì trệ và suy giảm sau sự kiện ngày 11/9. Thị trờng
các nớc nhập khẩu hàng Dệt May lớn nh Nhật, Mỹ bị thu hẹp. Cạnh tranh gay
gắt dẫn đến giá xuất khẩu giảm mạnh. Một số thị trờng xuất khẩu bị thu hẹp.
18
Một số thị trờng xuất khẩu tiềm năng của Việt Nam (Mỹ, Đông Âu, SNG) cha
đủ điều kiện để khai thác có hiệu quả.
- Thiên tai năm 2000 và 2001 liên tiếp xảy ra để lại hậu quả nặng nề, các mặt
hàng nông sản rớt giá làm thị trờng trong nớc kém sôi động. Thêm vào đó, hàng
Dệt May nhập lậu trốn thuế với số lợng lớn gây ảnh hởng xấu đến sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp
- Các chính sách u đãi tại Quyết định số 55 của Chính phủ cha đợc các cơ quan
quản lý Nhà nớc hớng dẫn kịp thời.
- Vốn lu động thiếu, vốn vay đầu t lớn, chi phí đầu vào tăng đã làm tăng giá
thành, giảm khả năng cạnh tranh của sản phẩm.
Cũng theo bảng số liệu ta thấy : Sản lợng hàng may mặc có tốc độ tăng tr-
ởng bình quân cao hơn hẳn so với tốc độ tăng trởng của sản lợng sợi và sản lợng
vải (tốc độ tăng bình quân của hàng may mặc là 13,4%, trong khi đó tốc độ tăng
bình quân của sợi và vải chỉ có 6,41 và 7,32%). Điều này phản ánh đợc phần
nào có sự tăng trởng không cân đối giữa ngành Dệt và ngành May, Dệt không
theo kịp May, May tăng trởng nhanh lại không kéo theo đợc sự tăng trởng nhanh
cho Dệt. Tức là sự liên hệ giữa May và Dệt còn rất lỏng lẻo, hiệu quả của toàn
ngành còn thấp do ngành May phải nhập nguyên liệu cho sự tăng trởng nhanh
của mình.
2. Tình hình tiêu thụ sản phẩm của ngành Dệt - May
Tình hình tiêu thụ sản phẩm là vấn đề cốt lõi, có ý nghĩa quyết định sự
tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Nhng để tạo lập đợc thị trờng tiêu thụ thì
cần phải nghiên cứu và dự báo đợc nhu cầu thị trờng, từ đó lựa chọn và tìm ra
các biện pháp thích hợp để điều khiển các dòng hàng hoá nhằm thoả mãn nhu
cầu của ngời tiêu dùng. Ngày nay, các nhà sản xuất phải tìm hiểu và nắm bắt
19
nhu cầu thị trờng, sản xuất ra những gì mà thị trờng đòi hỏi. Với ý nghĩa đó, thị
trờng có vai trò quyết định đối với sản xuất kinh doanh của ngành Dệt - May.
a) Tình hình tiêu thụ sản phẩm trong nớc
Việt Nam là một nớc đông dân, hiện nay khoảng gần 80 triệu ngời, dự
tính đến năm 2010 dân số nớc ta vào khoảng 100 triệu ngời. Đây là một thị tr-
ờng đầy tiềm năng cho các doanh nghiệp Dệt - May Việt Nam vì hiện nay mức
tiêu dùng hàng Dệt - May trên đầu ngời còn rất thấp: 0,8 kg/ngời, so với mức
trung bình trên thế giới là 7,2 kg/ngời. Hơn nữa, với hơn 80% dân số sống bằng
nghề nông, hàng năm khu vực kinh tế - nông nghiệp đã tiêu thụ một khố lợng
lớn hàng công nghiệp trong đó có hàng Dệt May.
Trong những năm gần đây, các doanh nghiệp Dệt - May Việt Nam đã có
một số hoạt động tích cực trong việc tiêu thụ hàng hoá ở thị trờng nội địa nh tổ
chức các hội chợ hàng tiêu dùng, hội chợ thời trang, tổ chức các buổi biểu diễn
thời trang, mở đại lý, cửa hàng giới thiệu sản phẩm cho ngời tiêu dùng trong n-
ớc. Những hoạt động này thực sự đã gây đợc sự chú ý đối với khách hàng. Hơn
nữa, chất lợng hàng May Việt Nam giờ đây cũng đã đợc nâng lên rõ rệt, một số
mặt hàng đợc nhiều ngời trong nớc chấp nhận nh áo sơ mi của Công ty May 10,
Công ty May Việt Tiến, áo thu đông của Công ty May Thăng Long, áo jacket
của Công ty May Đức Giang, hàng dệt kim của Dệt kim Hà Nội, Dệt 8/3, Việt
Thắng Những kết quả đó thể hiện sự cố gắng lớn của các doanh nghiệp Dệt -
May Việt Nam và sự quan tâm đúng mức đối với thị trờng trong nớc.
Hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp Dệt - May Việt Nam từ trung ơng
đến địa phơng chỉ chú trọng vào việc sản xuất hàng hoá xuất khẩu, những sản
phẩm dành để tiêu thụ trong nớc chủ yếu là những sản phẩm không xuất đợc
(sản phẩm tồn kho, sản phẩm kém chất lợng ). Điều này thể hiện qua các gian
hàng "giới thiệu sản phẩm" của một số doanh nghiệp, đa ra những sản phẩm bị
loại, không xuất khẩu đợc ra bán. Do vậy, việc tiêu thụ sản phẩm may mặc nội
20
địa đã có sự sắp xếp một cách tự phát: ở khu vực thành thị, đặc biệt là ở các
thành phố lớn, các cơ sở sản xuất hàng may mặc t nhân ra đời rất nhanh với
nhiều quy mô khác nhau dần thay thế cho may quốc doanh. Sự chuyển đổi này
làm cho nhu cầu của ngời thành thị có vẻ là đợc đáp ứng đầy đủ, thuận tiện, hợp
túi tiền của mọi đối tợng. ở khu vực nông thôn, miền núi thì ngợc lại, thị trờng
gần nh bị bỏ trống bởi khả năng thanh toán của thị trờng quá thấp, không đủ sức
hấp dẫn các t thơng đầu t.
Xét một cách tổng thể, có thể thấy tình hình tiêu thụ sản phẩm Dệt May
trong nớc diễn ra rất chậm chạp là do thị trờng hàng Dệt May trong nớc đã bị
coi thờng. Tính tới thời điểm hiện nay, hệ thống tổ chức bán buôn, bán lẻ hàng
Dệt May đều do t thơng thao túng, trong khi đó các nhà sản xuất và hệ thống th-
ơng nghiệp quốc doanh vẫn cha tìm ra đợc phơng thức hoạt động phù hợp.
b) Tình hình tiêu thụ sản phẩm ở nớc ngoài
Trong những năm vừa qua, kim ngạch xuất khẩu của ngành Dệt May liên
tục tăng, với mức tăng trởng bình quân 17,4%. Hiện nay, mỗi năm Việt Nam
xuất khẩu trên 1,5 tỷ USD hàng Dệt May, trong đó thị trờng EU chiếm 40% kim
ngạch xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam, sau đó đến Nhật chiếm 23%,
ASEAN với 18%, Mỹ chiếm 2% và các khu vực khác chiếm 17%.
Bảng 2: Thị trờng xuất khẩu hàng Dệt May Việt Nam (1995-2000)
Danh mục Đơn vị 1995 1996 1997 1998 1999 2000
Tăng
BQ
1. Tổng KNXK Tr.USD 850 1150 1503 1450 1747 1892 17,4
2. Thị trờng XK
chủ yếu
+) EU Tr.USD 350 420 450 620 700 726
+) Nhật Tr.USD 290 315 325 32 417 430
+) ASEAN Tr.USD 21 70 42 68 70
+) Mỹ Tr.USD 15 20 23 27 70 91
Nguồn: Tổng cục hải quan
21
a) Thị trờng Châu Âu (EU):
Châu Âu từng đợc mệnh danh là lục địa già nhng lại là một khu vực thị tr-
ờng rộng lớn, là nơi cung cấp các trang thiết bị, công nghệ hiện đại, là một trung
tâm tài chính - kinh tế lớn, với dân số trên 360 triệu ngời và có GDP hơn 9.000
tỷ USD, EU thực sự là một thị trờng có đầy tiềm năng, có mức tiêu dùng hàng
Dệt May khá cao so với thế giới (chỉ sau Mỹ và Nhật Bản) 17 kg/ngời/năm.
Giá cả, chất lợng hàng Dệt May Việt Nam xuất khẩu sang EU đợc đánh
giá là khá tốt. Do vậy, giá trị xuất khẩu tăng đáng kể trong những năm gần đây:
năm 1998 đạt 546 triệu USD, năm 1999 đạt 605 triệu USD và năm 2000 đạt 650
triệu USD. Hiện EU là thị trờng xuất khẩu chủ yếu của hàng Dệt May Việt
Nam. Hàng năm, hàng Dệt May xuất khẩu sang EU chiếm trên dới 40% tổng
kim ngạch xuất khẩu toàn ngành. Sau hơn 7 năm xâm nhập vào thị trờng EU,
hàng Dệt May Việt Nam đã có một chỗ đứng khá vững chắc. Nếu nh năm 1993,
muốn xuất khẩu sang EU, Việt Nam phải xin hạn ngạch cho 151 mặt hàng nhng
đến nay số mặt hàng quản lý bằng hạn ngạch chỉ còn 29 mặt hàng. Đây là một
thuận lớn cho các doanh nghiệp Dệt May trong việc từng bớc thâm nhập thị tr-
ờng này, mặc dù biết rằng thị trờng EU là một thị trờng khó tính, luôn đòi hỏi
chất lợng cao, mẫu mã đổi mới liên tục, số lợng đơn hàng chia nhỏ. Hơn nữa,
hàng Dệt May Việt Nam còn phải chịu sự cạnh tranh từ các nớc Châu á khác và
Châu Mỹ.
Hàng năm, EU nhập khẩu 63 tỷ USD hàng Dệt May các loại, trong đó
Đức là thị trờng lớn nhất chiếm 36,1%, tiếp theo là Pháp 12,15%, Hà Lan
9,41%, Thụy Sỹ 7,46%, Anh 7,06%, còn lại là các nớc khác. Điều này cho thấy
tỷ trọng hàng Dệt May của Việt Nam xuất khẩu sang EU luôn còn quá ít, mặc
dù phải thừa nhận rằng Hiệp định buôn bán hàng Dệt May giai đoạn thứ hai
1998 - 2000 giữa Việt Nam và EU (ký kết vào ngày 17.11.1997) đã tạo ra một
bớc tiến trong xuất khẩu hàng Dệt May của nớc ta. Do vậy, điều quan trọng để
22
thâm nhập và tăng cờng xuất khẩu vào thị trờng này là phải không ngừng cải
tiến chất lợng hàng hoá, mẫu mã hấp dẫn thì mới có thể cạnh tranh đợc với các
nớc khác.
Hiện EU dành cho hàng Dệt May Việt Nam đợc hởng quy chế tối huệ
quốc (MFN) nhng phải chịu hạn ngạch. Đây là một thuận lợi lớn cho hàng Dệt
May Việt Nam khi vào thị trờng vì chỉ bị đánh thuế thấp, nâng cao đợc khả năng
cạnh tranh về giá.
b) Thị trờng Nhật Bản:
Nhật Bản là một cờng quốc về công nghiệp Dệt May. Song do giá nhân
công tại Nhật ngày càng cao và lại thiếu nhân công, đồng Yên lại tăng giá nên
Nhật Bản đã chuyển đổi chiến lợc là giảm sản xuất hàng Dệt May trong nớc và
tăng nhập khẩu hàng Dệt May từ nớc ngoài mà chủ yếu là từ các nớc đang phát
triển.
Với dân số 120 triệu ngời và khí hậu 4 mùa rõ rệt nên nhu cầu hàng Dệt
May của Nhật Bản là rất lớn (20,3 kg/ngời/năm) và thay đổi liên tục. Kim ngạch
nhập khẩu hàng Dệt May của Nhật Bản rất lớn, phần lớn là nhập từ Trung Quốc
(hơn 50%). Mặc dù vậy, Nhật Bản vẫn đợc xem là thị trờng nhập khẩu hàng Dệt
May lớn nhất của Việt Nam. Năm 1999, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam
sang Nhật Bản là 417 triệu USD (chiếm 3% trong tổng kim ngạch nhập khẩu
của Nhật và 23% tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn Ngành). Ưu thế của thị tr-
ờng Nhật là không có hạn ngạch, thuế nhập khẩu lại thấp, địa lý lại gần nên
hàng Dệt May nớc ta có khả năng cạnh tranh với các nớc xuất khẩu khác. Đây là
thị trờng đầy hứa hẹn đối với các mặt hàng Dệt May Việt Nam trong cả trớc mắt
và lâu dài mà chúng ta cần đầu t để duy trì và phát triển lên một mức cao hơn.
Tuy nhiên, Nhật Bản lại là thị trờng rất "khó tính", đòi hỏi cao về chất lợng hàng
hoá, thời gian giao hàng cũng nh dịch vụ sau khi bán hàng. Hơn nữa lại bị cạnh
tranh quyết liệt của hàng Dệt May Trung Quốc. Do đó, việc mở rộng thị trờng
23
này phụ thuộc rất lớn vào uy tín của sản phẩm. Điều này đòi hỏi các doanh
nghiệp Dệt May Việt Nam phải nâng cao chất lợng sản phẩm và giữ uy tín đối
với khách hàng.
c) Thị trờng Mỹ và Bắc Mỹ:
Với dân số khoảng 350 triệu ngời, trong đó Mỹ là 272 triệu ngời, ít hơn
các nớc EU nhng mức tiêu thụ hàng Dệt May lại gấp rỡi EU (27 kg/ngời/năm)
nên tổng nhu cầu sử dụng hàng Dệt May ở thị trờng này là rất lớn, lại mang tính
đa dạng và phong phú. Năm 2000, Mỹ nhập khẩu trên 70 tỷ USD, chiếm khoảng
20% tổng nhập khẩu hàng Dệt May của thế giới. Nhu cầu lớn lại đợc đáp ứng
chủ yếu bằng hàng nhập khẩu nên đây đợc xem là một thị trờng tiềm năng rất
lớn không những đối với Việt Nam mà cả các nớc sản xuất và xuất khẩu hàng
Dệt May trên thế giới.
Sau quyết định bỏ cấm vận với Việt Nam của Chính phủ Mỹ (tháng
2/1994) và trong những năm qua, mặc dù cha đợc hởng u đãi thuế quan phổ cập
(GSP) và quy chế tối huệ quốc (MFN) của Mỹ nhng các doanh nghiệp Dệt May
Việt Nam đã bắt đầu tiếp cận đợc với thị trờng Mỹ. Kim ngạch xuất khẩu hàng
Dệt May Việt Nam sang Mỹ tuy còn thấp nhng có tốc độ tăng trởng cao
Năm 1998, trong khi nhiều thị trờng xuất khẩu phi hạn ngạch của Việt
Nam giảm mạnh thì thị trờng Mỹ khá ổn định và đạt kim ngạch xuất khẩu
27,343 triệu USD, chiếm tỷ lệ rất nhỏ so với tổng kim ngạch hàng Dệt May của
Mỹ là 53,769 tỷ USD.
Mỹ là thị trờng có sức mua các loại hàng Dệt May lớn nhất thế giới bao
gồm nhiều chủng loại khác nhau, kể cả các sản phẩm trung bình. Ngày
13/7/2000 Hiệp định thơng mại Việt - Mỹ đã đợc ký kết nhng hàng may mặc
của Việt Nam cha đợc hởng thuế suất MFN khi xuất khẩu sang Mỹ. Hiện hàng
Dệt May của Việt Nam vẫn thuộc đối tợng chịu thuế suất cao (50%). Tuy nhiên,
24
theo dự báo thì kim ngạch xuất khẩu hàng Dệt May vào thị trờng Mỹ năm nay
có thể lên tới 400 triệu USD. Ngay sau Tết, nhiều doanh nghiệp của ngành đã
liên tiếp xuất đợc nhiều lô hàng sang thị trờng mới này.
Kim ngạch xuất khẩu của hàng Dệt May sang Mỹ hiện còn rất thấp so với
tiềm năng, đặc biệt là khi hàng của Việt Nam đợc hởng các u đãi thuế quan của
Mỹ nh các nớc ASEAN đã đợc hởng. Nhng đó là bớc khởi đầu hết sức quan
trọng để làm quen với thị trờng Mỹ. Các chuyên gia thơng mại quốc tế dự đoán
tốc độ tăng trởng hàng Dệt May của Việt Nam vào thị trờng Mỹ sẽ tăng mạnh
ngay năm đầu tiên khi đợc hởng quy chế MFN, trớc khi Mỹ ấn định hạn ngạch.
Cũng theo tính toán của Bộ thơng mại Mỹ và Ngân hàng thế giới, ngay năm đầu
tiên sau khi đợc hởng quy chế MFN, kim ngạch xuất khẩu hàng Dệt May của
Việt Nam sang Mỹ gia tăng khoảng 8% tổng kim ngạch xuất khẩu, tơng đơng
800 triệu USD.
Điều đáng lu ý đối với thị trờng Mỹ đó là khách hàng Mỹ chỉ mua hàng
thành phẩm không qua gia công. Vì vậy, hàng Dệt May của Việt Nam muốn đợc
hởng thuế suất u đãi khi xuất khẩu vào thị trờng Mỹ phải sản xuất bằng các loại
vải và nguyên liệu tại Việt Nam.
Thực trạng về thị trờng Mỹ cho thấy trong thời gian tới, đầu ra là có triển
vọng rất lớn. Do vậy, ngành Dệt May Việt Nam ngay từ bây giờ phải nhanh
chóng đầu t đổi mới công nghệ sản xuất nguyên phụ liệu cho may mặc xuất
khẩu để chuẩn bị cho thị trờng Mỹ sắp tới.
d) Thị trờng ASEAN:
Sau khi là thành viên chính thức của ASEAN vào năm 1995, quan hệ th-
ơng mại giữa Việt Nam và các nớc ASEAN khác tăng lên không ngừng. Hiện
kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN chiếm khoảng 1/3 tổng kim
ngạch xuất khẩu của cả nớc. Tuy vậy, kim ngạch xuất khẩu hàng Dệt May của
25

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×