Tải bản đầy đủ

Cơ sở lý luận chung về quan hệ thương mại việt nam- hoa kỳ

Chơng i
cơ sở lý luận chung về quan hệ thơng mại
Việt nam- Hoa kỳ
I. những xu hớng kinh tế thế giới trong giai đoạn hiện nay
1. xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế thế giới
Ngày nay, nền kinh tế thế giới là một chỉnh thể thống nhất, nó là một
thể hữu cơ của nền kinh tế của các quốc gia trên thế giới. Sự thống nhất của
nền kinh tế quốc gia thành một nền kinh tế thế giới thống nhất đó cũng phù
hợp với sự phát triển của quá trình phân công lao động vợt ra khỏi biên giới
của các quốc gia. Cùng với quá trình phát triển mạnh mẽ của khoa học công
nghệ trên toàn thế giới đã thúc đẩy quá trình phân công lao động quốc tế diễn
ra càng mạnh mẽ hơn. Quá trình phân công lao động quốc tế là nguồn gốc của
sự hình thành các mối quan hệ thơng mại quốc tế và nguồn gốc của toàn cầu
hoá. Trong lịch sử kinh tế thế giới cho tới tận bây giờ đã chứng minh rằng,
không một quốc gia nào hiện đang có nền kinh tế hoàn toàn không có quan hệ
với bên ngoài. Các quốc gia muốn phát triển thì nhất định phải tham gia vào
quá trình phân công lao động quốc tế. Quá trình này là một quy luật không thể
phủ định nó đợc.
Dới xu thế này, biên giới kinh tế của các quốc gia sẽ càng giảm do hàng
rào thuế quan và phi thuế quan sẽ bị bãi bỏ dần, một nền kinh tế toàn cầu
không biên giới sẽ xuất hiện, các mối quan hệ tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các nền

kinh tế quốc gia sẽ phát triển, các thể chế kinh tế toàn cầu sẽ hình thành vv.
Trong điều kiện đó , một nền kinh tế muốn không lệ thuộc vào bên ngoài,
muốn đảm bảo lấy các nhu cầu thiết yếu, chắc chắn là sẽ không có chỗ đứng
chân. Một nền kinh tế phát triển hiệu quả sẽ phải là một nền kinh tế gồm
những ngành có lợi thế cạnh tranh cao và đơng nhiên là phải tuỳ thuộc vào thị
trờng thế giới.
1
Trong điều kiên đó, mô hình phát triển kinh tế theo hớng hội nhập nền
kinh tế quốc tế đang xuất hiện. Mô hình này khác hẳn với mô hình kinh tế h-
ớng nội: một bên lấy thị trờng toàn cầu trong đó thị trờng quốc gia làm căn cứ
để phát triển các ngành kinh tếcó lợi thế tranh cạnh, một bên lấy thị trờng
trong nớc làm căn cứ để phát triển những ngành đáp ứng nhu cầu chủ yếu của
đất nớc không tính tới các lợi thế cạnh tranh quốc tế. Đơng nhiên là việc xây
dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ trong mô hình phát triển theo hớng hội
nhập quốc tế cũng khác với cách hiểu độc lập tự chủ trong mô hình kinh tế h-
ớng nội.
Trong mô hình kinh tế có tính tới xu hớng hội nhập kinh tế quốc tế, các
quốc gia không dại gì xây dựng ra một cơ cấu kinh tế hoàn chỉnh và ngày một
hoàn chỉnh cũng không có. Ta có thể lấy ngành sản xuất ôtô là vídụ: không
một quốc gia Châu âu nào kể cả cộng hoà liên bang Đức có thể sản xuất 100%
các linh kiện của ôtô, vì làm nh vậy là một dại dột không có hiệu quả. Các
quốc gia sản xuất ôtô chỉ sản xuất khoảng 30%- 40% các linh kiện, những sản
phẩm có lơị thế nhất, còn lại là họ nhập khẩu của các nớc khác. Ngay công ty
Boing của Hoa kỳ cũng đã nhập khẩu hàng loạt linh kiện từ hàng chục quốc
gia khác hoặc ngay cả các quốc gia có nhiều ngành công nghiệp nền tảng khá
phát triển nh Nhật Bản mà vẫn phụ thuộc vào bên ngoài một cách đáng sợ.
Nhật Bản phải nhập 100% dầu mỏ để có ngành hoá dầu và năng lợng điện,
nhập khẩu phần lớn quặng sắt để có ngành luyện kim, nhập khẩu phần lớn
bằng phát minh sáng chế để có ngành công nghiệp chế tạo. Nếu có chiến tranh
xâỷ ra, các hoạt động nhập khẩu này chỉ ngừng trệ một vài tuần thôi thì những
ngành công nghiệp trên sẽ hoàn toàn tế liệt và nền kinh tế Nhật Bản làm sao
tránh khỏi chấn động và tổn thất. Nếu sợ sự phụ thuộc này, nớc nhật sẽ không
thể phát triển đợc. Nhng để bù lại Nhật Bản lại xuất khẩu ôtô, hàng điện tử và
nhiều loại hàng chất lợng cao khác, buộc các quốc gia khác lệ thuộc vào nhật
về các mặt hàng này. chính mối quan hệ lệ thuộc lẫn nhau này đã làm cho nền
kinh tế Nhật Bản có thể đứng vững ngay cả trong cuộc khủng hoảng dầu lửa
đã xẩy ra trong những năm 70.
2
Nói tóm lại, xu hớng hội nhập kinh tế quốc tế đang trở lên phổ biến và
nó đem lại ích to lớn cho các quốc gia nếu biết phát huy những lợi thế cạnh


tranh của mình. Đối với nớc ta, để phát triển đợc thì không có con đờng nào
khác là phải tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, lợi ích từ quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế đợc chứng minh từ những thành tựu mà nền
kinh tế nớc ta đạt đợc trong giai đoạn vừa qua- từ sau quá trình đổi mới
2. Xu thế hoà bình hợp tác và phát triển.
Xu thế đã trở thành xu thế chính thay cho sự đối đầu giữa các siêu cờng
quốc, sự xung đột, chạy đua vũ trang giữa hai hệ thống xã hội đối lập. Các
hình thức chủ nghĩa thực dân cũ và mới, các cuộc chiến tranh xâm lợc đã bị
lên án khắp nơi. Trên toàn thế giới, các nớc hiện giờ đang lỗ lực tập trung để
phát triển kinh tế. Đây là một điều kiện rất quan trọng để giúp cho các quốc
gia có thể mở cửa đất nớc tham gia hội nhập kinh tế quốc tế phát triển trong
xu thế hoà bình hợp tác đang thay thế cho mô hình kinh tế phát triển trong
tình trạng đối đầu và chiến tranh lạnh. Một nền kinh tế đợc xây dựng trong
điều kiện luôn phải ứng phó với các cuộc chiến tranh lạnh dù là đã khác hoàn
toàn với nền kinh tế phát triển trong xu thế hoà bình hợp tác. một nền kinh tế
có tính chất chiến tranh cho nên tính hiệu quả không cao, chi phí cao, một bên
thực thi chính sách hợp tác, hội nhập quốc tế sâu rộng, lấy việc tăng hiệu quả
kinh tế, tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế là quốc sách hàng đầu.
Đây là một thuận lợi lớn cho nớc ta, với xu thế này khi tham gia vào
quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, các quốc gia sẽ dẹp vấn đề quan điểm đờng
lối, hệ tởng sang một bên trong một chừng mực nào đó và cùng nhau quan tâm
đến hợp tác về kinh tế. Nớc ta là một nớc đi lên con đờng xây dựng chủ
nghĩa xã hội, mặc dù chủ nghĩa xã hội là tốt đẹp tuy nhiên trên thế giới những
nớc đi theo con đờng này vẫn còn rất ít và trên thế giới thì hầu hết các nớc
phát triển lại đi theo con đờng t bản chủ nghĩa. Trong quá trình hợp tác với các
nớc này tuy nhiên do xu thế của thời đại này các nớc đều tập trung vào phát
triển kinh tế cho nên vấn đề này có thể đợc xoa dịu và đây là một điều kiện
3
thuận lợi cho chúng ta có thể đẩy mạnh quá trình hội nhập, tác dụng các hỗ trợ
từ các nớc lớn nhằm tạo động lực cho sự phát triển kinh tế quốc gia
3.Xu thế phát triển công nghiệp chuyển đổi sang nền kinh tế tri thức
Trong những thập kỷ vừa qua sự phát triển của công nghệ đã có những
bớc tiến hết sức to lớn trên nhiều mặt, đặc biệt là công nghệ thông tin đang
chuyển nền kinh tế thế giới từ một nền kinh tế công nghệ sang nền kinh tế tri
thức với những đặc điểm nổi bật sau:
Các ngành công nghiệp truyền thống, sản xuất ra các hàng hoá vật chất
kể các các ngành công nghệ nặng đang ngày càng kém hiệu quả, mất dần vai
trò quan trọng của chúng đối sự phát triển kinh tế. Trong mấy năm gân đây
các sản phẩm không kể dầu mỏ liên tục bị giảm giá,đã giảm giá tới trên 30%
do vâỵ những ngành này lâm vào tình trạng khó khăn ở khắp nơi. Sản phẩm
của các ngành này dù phải hạ giá trên 30% mả vẫn gặp khó khăn trong việc
bán hàng, lợi thế về tài nguyên sẽ ngày càng giảm. Giá của các tài nguyên
trong thập kỷ 90 đã giảm 60% so với thập kỷ 70. lợi thế các nguồn vốn cũng
giảm, vì ngời ta thể hiện có thể dễ dàng vay đợc vốn, do thị trờng vốn đã đợc
toàn cầu hoá. Trong điều kiện đo những quốc gia phát triển đang muốn
chuyển dần các ngành công nghiệp truyền thống tiêu hao nhiều tài nguyên, sử
dụng nhiều vốn đã mất lợi thế cạnh tranh sang các quốc gia kém phát triển.
Do vậy chính sách của các quốc gia kém phát triển phải tính đến sự lựa chọn
xây dựng các ngành này một cách thận trọng.
Các ngành kinh tế tri thức phát triển với tốc độ cao và hiệu quả. Trong
điều kiện hiện nay, các lợi thế về tài nguyên, nguồn vốn, lao động phổ thông
đang giảm dần và lợi thế về tri thức và kỹ năng đang tăng lên. ở Mỹ tỷ lệ
đóng góp của ngành sản xuất điện tử tin học cho tăng trởng kinh tế lên đến
45% trong 3 năm qua, còn mức đóng góp của ngành xây dựng và xe hơi vốn là
trụ cột của kinh tế Mỹ chỉ còn 14% và 4%. Thời kỳ tăng trởng cao kéo dài hơn
10 năm của nền kinh tế Mỹ chính là mở rộng của ngành sử dụng nhiều tri
thức, ở các nớc OCED, sản lợng và việc làm đã đợc tăng lên ở những công
nghệ cao, những ngành kinh tế tri thức. Lợi nhuận từ các ngành kinh tế tri thức
4
là rất cao, lớn hơn nhiều so với các ngành công nghiệp nặng trớc kia. Ví dụ
nh lợi nhuận của hãng Itel, Mircosoft của Hoa kỳ đã đạt đợc mức lợi nhuận
24% trên doanh thu kéo dài trong nhiều năm trong khi đó lợi nhuận của những
ngành công nghiệp nặng trớc kia chỉ chiếm 10% doanh thu .
Nhờ cuộc cách mạng khoa học công nghệ mới, những nớc nghèo nh n-
ớc ta có thể tìm đợc cơ hội để phát triển, nếu tạo đợc nhân lực chất lợng cao,
tiếp cận đợc trình độ khoa học công nghệ hiện đại. Bên cạnh đó thời gian để
tiến hành công nghiệp hoá đợc rút ngắn. nếu ở thế kỷ 18, một nớc muốn công
nghiệp hoá phải mất khoảng 100 năm, cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 thì phải
mất khoảng 50- 60 năm, trong những thập kỷ 70 là khoảng 20-30 năm, đến
cuối thế kỷ 20 thì quãng đờng này còn có thể rút ngắn hơn na. Do vậy, chúng
ta phải có những chiến lợc đi tắt đón đầu, có những thay đổi nhìn nhận lại về
xu hớng xuất hiện kinh tế tri thớc trong giai đoạn hiện nay. Những quan niệm
về quan niệm về mục tiêu, phơng tiện, phạm vi của công nghiệp hoá cần phải
có những thay đổi đòi hỏi cho phù hợp. Quan điểm công nghiệp hoá hiện đại
hoá của Đảng ta đó là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động
sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động
thủ công là chuyển sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với
công nghệ, phơng tiện và phơng pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển
của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã
hội cao. Quan niệm này trong điều kiện của nền kinh tế tri thức cần có sự thay
đổi bổ sung hoặc làm rõ thêm, ít nhất là về mục tiêu của ngành công nghiệp
hoá. Theo cách hiểu của quan niệm trong điều kiện của nền kinh tế tri thức
cần có sự thay đổi bổ sung hoặc làm rõ thêm, theo cách hiểu của quan niệm
trên thì năng suất lao động cao có nghĩa là nhàn nhiều, tốt, rẻ hơn một cách
định lợng thì rõ ràng là không đủ, ở đây có vấn đề thay đổi về chất hoặc về ph-
ơng tiện để tiến hành công nghiệp hoá cũng cần bổ sung vấn đề coi trí tuệ là
nhân tố tăng trởng kinh tế.
4. Xu hớng xuất hiện vòng cung châu á- thái bình dơng
5
Khu vực Châu á - Thái bình dơng là một khu vực gồm nhiều quốc gia
có tiềm lực kinh tế mạnh, có ảnh hởng lớn đến toàn bộ nền kinh tế. Khu vực
này là một thị trờng tiêu thụ rộng lớn bao gồm những thị trờng lớn mạnh nh :
Hoa kỳ, Canađa, Trung quốc, Nhật bản, Hàn quốc, Hồng Kông, Nga và bên
cạnh đó là thị trờng cung cấp những nguôn công nghệ, vốn lớn nhất nhì thế
giới.
Nớc ta có một thuận lợi lớn là nằm trong khu vực phát triển năng động
nhất thế giới. Do đó nó cũng tạo đợc sự hấp dẫn đối với các thi trờng trên khắp
thế giới và bên cạnh đó, do thuận lợi về mặt địa lý, văn hoá, chúng ta có thể
tiếp cận dễ dàng một thị trờng rất rộng lớn, ví dụ nh thị trờng Mỹ.
Ngoài ra, trong khu vực có những nớc có nền kinh tế mạnh nh Hoa kỳ,
Nhật bản, trung quốc những quốc gia này nh là đầu tầu kéo sự phát triển kinh
tế của khu vực. Mô hình đó đợc ví nh là mô hình đàn sếu bay hình chữ V.
Nói tóm lại, những xu hớng trên đây là những xu hớng phổ biến trong
điều kiện ngày nay. Những xu hớng đó đem lại những thời cơ và thách thức
cho bất kỳ quốc gia nào. Đối với nớc ta, nghiên cứu xu hớng trên cho thấy con
đờng hội nhập kinh tế quốc tế của nớc ta là đúng đăn. tuy nhiên nó đặt ra
nhiều thách thức cho chúng ta. Vấn đề đặt ra cho chúng ta bây giờ là tìm ra đ-
ợc con đờng ngắn nhất để hội nhập và rút ngắn và khoảng cách tụt hậu. Muốn
làm đợc nh vậy thì cần phải cho một chiến lợc kinh tế dựa vào tri thức
II. Cơ sở lý luận của thơng mại quốc tế
1. Khái niệm thơng mại quốc tế
a. Khái niệm
Thơng mại quốc tế là quá trình trao đổi hàng hoá giữa các nớc thông
qua buôn bán nhằm mục đích kinh tế tối đa. Trao đổi hàng hoá là một hình
thức của các mối quan hệ kinh tế xã hội và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau
6
giữa những ngời sản xuất kinh doanh hàng hoá riêng biệt của các quốc gia.
Thơng mại quốc tế là lĩnh vực quan trọng nhằm tạo điều kiện cho các nớc
tham gia vào phân công lao động quốc tế, phát triển kinh tế và làm giàu cho
đất nớc.
b.Vai trò và nhiệm vụ của thơng mại quốc tế
Đảng và nhà nớc ta chủ trơng mở rộng và phát triển quan hệ đối ngoại và
kinh tế đối ngoại, trong đó một lĩnh vực cực kỳ quan trọng là thơng mại hàng
hoá và dịch vụ với nớc ngoài. Đó là chủ trơng hoàn toàn đúng đắn và phù hợp
với thời đại, với xu thế phát triển của nhiều nớc trên thế giới trong những năm
gần đây. Thơng mại hàng hoá và dịch vụ với nớc ngoài không thể là quan hệ
ban phát cho không, không phải chỉ có nhập mà phải có xuất, phải cân đối đợc
xuất nhập và tiến tới xuất siêu ngày càng lớn. Tất cả các mối quan hệ đó muốn
lâu bền phải dựa trên các quy luật kinh tế và phải đợc giải quyết thông qua các
quan hệ Thơng mại buôn bán, trao đổi và kinh doanh vì mục tiêu kinh tế, công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, vì dân giầu nớc mạnh và công bằng văn
minh..
Nói đến thơng mại quốc tế không thể không nói đến kinh doanh xuất nhập
khẩu hàng hoá vì dịch vụ và đây là nội dung quan trọng và cốt lõi của quá
trình kinh doanh thơng mại quốc tế. Kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá và
dịch vụ với nớc ngoài đòi hỏi phải đầu t trí lực, sức lực, tiền của, quan hệ và
phơng pháp quản lý để thu đợc kết quả kinh tế tối đa với chi phí tối thiểu. Do
đó, thơng mại quốc tế trang bị những kiến thức cần thiết và lý thuyết thơng
mại quốc tế, thị trờng, hình thức giao dịch hợp đồng, thanh toán, quản lý xuất
nhập khẩu, hiệu quả kinh doanh Th ơng mại quốc tế là lĩnh vực và là ngành
phân phối lu thông hàng hoá và dịch vụ với nớc ngoài. Đây là lĩnh vực kinh
doanh hàng hoá thuộc hai khâu của quá trình tái sản xuất mở rộng, chắp nối
sản xuất và tiêu dùng của nớc ta với sản xuất và tiêu dùng của nớc ngoài, nếu
làm tốt sẽ ảnh hởng rất lớn đến sản xuất và đời sống. Nếu xem xét quá trình
tái sản xuất theo nghĩa liên tục không ngừng và theo ý nghĩa kinh tế mở thì hai
khâu phối và lu thông hàng hoá dịch vụ là những khâu đột phá đầu tiên của
7
tiến trình sản xuất. Nền sản xuất phát triển cao hay thấp, nhanh hay chậm phụ
thuộc một phần rất lớn vào chúng.
Thơng mại quốc tế giới thiệu, thúc đẩy khai thác tiềm năng và thế mạnh
của nớc ta với nớc ngoài một cách có lợi nhất. Trên cơ sở đó tiến hành phân
công lại lao động khai thác mọi tiềm năng để sản xuất nhiều sản phẩm hàng
hoá dịch vụ xuất khẩu.
Mặt khác, cũng không kém phần quan trọng là trang thủ khai thác đợc mọi
tiềm năng và thế mạnh về hàng hoá, công nghệ, vốn.. của các nớc và các khu
vực trên thế giới phù hợp với hoàn cảnh của nớc và các khu vực trên thế giới
phù hợp với hoàn cảnh của nớc ta để thúc đẩy quá trình tái sản xuất, tiêu dùng
phát triển kịp thời với tiến trình tái sản xuất, tiều dùng phát triển kịp thời với
tiến trình chung của nhân loại. Trên cơ sở đó, nền công nghệ của thế giới, sử
dụng những hàng hoá và dịch vụ tốt, rẻ nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, tiêu
dùng.
Nền sản xuất nớc ta hớng ra ngoài và đợc các nớc bầu bạn quốc tế hớng
vào nớc vào nớc ta vừa làm kinh tế vừa hỗ trợ giúp ta thì sẽ có điều kiện cân
đối xuất nhập khẩu, tiến lên có xuất siêu và nh vâỵ là có đợc tích luỹ và tăng
tích luỹ cho tái sản xuất mở rộng. Kinh tế quốc dân vững mạnh thì uy tín
chính trị cao và có điều kiện góp phần thúc đẩy sự tiến bộ của nhân loại.
Thơng mại quốc tế là cho quá trình liên kết kinh tế, xã hội nớc ta với nớc
ngoài chặt chẽ và mở rộng, góp phần vào sự ổn định kinh tế và chính trị của
đất nớc.
Các quốc gia tham gia vào quan hệ thơng mại quốc tế với hai lý do căn
bản: mỗi lý do đều có liên quan đến các lợi ích thu đợc từ thơng mại.
Thứ 1 : các nớc tiến hành buôn bán với nhau vì lợi ích khác nhau. Cũng
nh cá nhân con ngời, các quốc gia có thể thu đợc lợi ích từ những sự khác biệt
giữa họ bằng cách đạt tới các quốc gia qua có thể thu đợc lợi ích từ những gì
mà xét một cách tơng đối nớc đó là tốt hơn.
8
Thứ 2 các nớc tiến hành buôn bán với nhau để đạt đợc lợi thế nhờ
chuyên môn hoá ở một số loại hàng hóa. Nó có thể sản xuất mỗi loại hàng này
ở quy mô lớn hơn và do đó hiệu quả là trong trờng hợp nớc đó sản xuất tất cả
mọi thứ. Hai động cơ trên chính là tiền đề cho các quan hệ giữa các quốc gia
Quan hệ thơng mại quốc tế nằm trong nội dung của quan hệ kinh tế
quốc tế rất rộng lớn và đa dạng gồm có: quan hệ trong lĩnh vực ngoại th-
ơng( quan hệ thơng mại quốc tế) quan hệ trong lĩnh vực dịch vụ nh du lịch
quốc tế, giao thông vận tải quốc tế, bảo hiểm quốc tế, quan hệ trong lĩnh vực
tài chính, quan hệ trong lĩnh vực đầu t quốc tế, quan hệ trong lĩnh vực chuyển
giao công nghệ. Có thể hiểu quan hệ thơng mại quốc tế là quan hệ kinh tế mua
bán, trao đổi hàng hoá của một nớc với nớc các quốc gia khác trên thế giới
bao gồm cả hàng hoá hu hình và hàng hoá vô hình.
Quan hệ thơng mại quốc tế là các mối quan hệ thoả thuận, tự nguyện
giữa các quốc gia. Nó diễn ra theo yêu cầu của các quy luật kinh tế nh : Quy
luật giá trị, Quy luật cạnh tranh, thêm vào đó, quan hệ thơng mại quốc tế còn
chịu sự tác động của hệ thống quan lý khác nhau của các chính sách pháp luật,
thể chế của từng quốc gia cũng nh các điều ớc quốc tế.
ở phần trên chúng ta nghiên cứu những xu hớng chung của nền kinh tế
thế giới, đến phần này, qua nghiên cứu những lý thuyết cơ bản về thơng mại
quốc tế nhằm giải thích bản chất của các hoạt động thơng mại quốc tế cũng
nh giải thích bản chất của quan hệ thơng mại Việt nam Hoa kỳ.
Các lý thuyết thơng mại quốc tế xuất hiện vào thế kỷ 15 và đợc phát
triển liên tục qua mấy năm nay. Theo tiến trình phát triển các lý thuyết khác
nhau về thơng maị quốc tế đã phản ánh từng nấc thang vận động t duy loài ng-
ời trong buôn bán quốc tế. Việc hiểu rõ các lý thuyết này sẽ tạo điều kiện cho
các công ty và các chính phủ xác định tốt hơn vị trí và quyền lơị của mình
trong buôn bán quốc tế, do đó các học thuyết có nhiệm vụ giải đáp những vấn
đề cơ bản.
2. Lý thuyết trọng thơng
9
Chủ nghĩa trong thơng xuất hiện từ giữa thế kỷ 15- 16 ở Châu âu
( mạnh nhất là Anh và Pháp) và thịnh hành vào cuối thế kỷ 17 đến giữa thế kỷ
18, các nhà học giả tiêu biểu của chủ nghĩa trọng thơng là JeanBolin, Colber
ngời pháp và ThomasMun và Josias Child của Anh. T tởng cơ bản chủ nghĩa
trong thơng thể hiện ở quan điểm cho rằng mỗi nớc muốn phát triển thịnh v-
ợng phải gia tăng khối lợng tiền tệ. Chính các chính phủ, chứ không phải các
cá nhân( những ngời không đáng tin cậy) nên tham gia vào việc trao đổi hàng
hoá giữa các nớc để tăng số của cải của mỗi nớc, do vậy phải buôn bán với n-
ớc ngoài. Lợi nhuận buôn bán theo quan niệm của trờng phái này là kết quả
của sự trao đổi không ngang giá và lờng gạt giữa các quốc gia. Thơng mại
quốc tế chỉ có lợi cho một bên và gây thiệt hại cho bên kia, dân tộc này làm
giầu bằng cách huy sinh lợi ích của các dân tộc khác. Theo đó, các chính phủ
phải tạo điều kiện và trợ giúp cho mọi hoạt động xuất khẩu đồng thời hạn chế
nhập khẩu thông qua việc điều chỉnh buôn bán dựa vào độc quyền chính phủ
để can thiệt vào thị trờng bằng cách trợ cấp cho các ngành công nghiệp nội địa
xuất khẩu và phân bổ các quyền đợc tham gia vào buôn bán. ngoài ra các
chính phủ phải tiến hành đánh thuế hoặc hạn ngạch để hạn chế khối lợng nhập
khẩu.
Trong luận thuyết của chủ nghĩa trọng thơng chứa đựng hai sai lầm cơ bản.
Thứ nhất là quan điểm cho rằng chỉ có vàng hoặc kim loại quý mới có
giá trị thực sự, trong khi trên thực tế chúng không thẻ đợc sử dụng kể cả sản
xuất lẫn tiêu dùng.
Thứ hai, chủ nghĩa trong thơng bỏ qua khái niệm hiệu quả sản xuất đợc
nhờ chuyên môn hoá theo quan điểm hiệu quả- chi phí, họ nhấn mạnh đến
khối lợng xuất khẩu và nhập khẩu tuyệt đối và sự cân bằng giữa của cải tích
luỹ đợc với tiềm lực thực tế của nền kinh tế.
Tuy nhiên chủ nghĩa trong thơng cũng có u điểm là thông qua việc xem
xét cán cân thanh toán tổng thể có lợi hay bất lợi đối với tất cả các loại hàng
hoá, nghĩa là các quốc gia phải cố gắng đạt đợc thặng d trong cán cân thơng
10
mại, để toàn bộ quy mô hoạt động xuất khẩu vợt khỏi quy mô hoạt động nhập
khẩu.
Tóm lại, lý thuyết trong thơng đã sớm đánh giá đợc tầm quan trọng của
thơng mại quốc tế, nó khác với trào lu t tởng kinh tế phong kiến thời bấy giờ
đề cao nền kinh tế tự cung tự cấp. Vai trò của nhà nớc với t cách là chủ thể
điều chỉnh quan hệ kinh tế từ nớc này sang nớc khác đã đợc coi trọng. Tuy
vậy, lý luận về thơng mại quốc tế còn đơn giản, ít tính chất lý luận, thờng dợc
nêu lên dới hình thức những lợi khuyên thực tiễn về chính sách kinh tế, lập
luận mang tính chất kinh nghiệm cha thể giải thích đợc bản chất của thơng
mại quốc tế
3.Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối của A.Smith
Lý thuyết này xuất hiện vào đầu thế kỷ 18 cùng thời kỳ nổ ra 3 cuộc
cách mạng công nghiệp, cách mạng Mỹ và cách mạng Pháp xây dựng trên cơ
sở lý thuyết về buôn bán tự do đợc phát triển vào thời kỳ này năm 1776 trong
tác phẩm sự giầu có của các dân tộc. Asmith đã bác bỏ quan niệm coi vàng
đồng nghĩa với của cải và đa ra quan điểm các nớc thu đợc lợi ích lớn nhất khi
tham gia trao đổi các loại hàng hóa có thể sản xuất với hiệu quả tối đa, ông
cho rằng các loại chi phí sản xuất sẽ là căn cứ cho biét từng nớc hoặc buôn
bán nên sản xuất mặt hàng gì
Theo quan điểm về lợi thế tuyệt đối, một nớc chỉ sản xuất các loại hàng
hoá cho phép sử dụng tốt nhất các nguồn tài nguyên của nó. Các nguồn lực đó
là đội ngũ lao động có tay nghề và đợc đào tạo thích hợp, nguồn vốn , tiến bộ
công nghệ hoặc thậm chí cả truyền thống kinh doanh.
Giả sử thế giới chỉ có hai quốc gia và mỗi quốc gia chỉ sản xuất hai mặt
hàng giống nhau. Quốc gia thứ nhất có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất hàng
hoá X và quốc gia thứ hai có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất hàng hoá Y. Nếu
mỗi quốc gia tiến hành chuyên môn hoá trong việc sản xuất một mặt hàng mà
họ có lợi thế tuyệt đối, sau đó trao đổi, thì cả hai quốc gia sẽ đều thu đợc lợi
ích. Trong quá trình này, các nguồn lực sản xuất cả thế giới sẽ tăng. Sự gia
11
tăng các sản phẩm của toàn thế giới là nhờ vào chuyên môn hóa sản xuất và sẽ
đợc phân bổ giữa hai quốc gia theo tỷ lệ trao đổi thông qua ngoại thơng.
Nh vậy, trong khi những ngời theo chủ nghĩa trọng thơng cho rằng
trong thơng mại quốc tế chỉ có một số quốc gia có lợi, còn một số khác bị
thiệt, thì A Smith tin tởng rằng, tất cả các quốc gia đều có lợi từ ngoại thơng
và đã ủng hộ rất mạnh mẽ cho các nguồn tài nguyên của thế giới nói chung đ-
ợc tạo ra ở mức tối đa. Tuy nhiên, ở đây có một số trờng hợp đặc biệt phải
loại trừ khi cần boả vệ một ngành công nghệ non trẻ.
Lợi thế tuyệt đối chỉ tập trung giải thích mối quan hệ thơng mại giữa
các nớc phát triển. Trong khi phần lớn thơng mại quốc tế là diễn ra giữa các n-
ớc phát triển. Lại không thể giải thích bằng lợi thế tuyệt đối. Trong những cố
gắng để giải thích các cơ sở của thơng mại quốc tế, lợi thế tuyệt đối chỉ là tr-
ờng hợp của lợi thế tơng đối .
4. Lý thuyết về lợi thế so sánh
Theo quy luật lợi thế so sách, nếu một quốc gia có hiệu quả thấp hơn so
với các quốc gia khác trong sản xuất hầu hết các loại sản phẩm thì quốc ga đó
vẫn có thể tham gia vào thơng mại quốc tế để tạo ra lợi ích cho mình. Đại
diện tiêu biểu cho lý thuyết này là nhà kinh tế học Anh D.Ricardo. theo ông
mọi quốc gia đều có lợi khi tham gia vào phân công lao động quốc tế, bởi vì
phát triển ngoại thơng cho phép mở rộng khả năng tiêu dùng của một nớc.
Nguyên nhân chính là do chuyên môn hoá sản xuất một số sản phẩm nhất
định của mình để đổi lấy hàng nhập khẩu từ các nớc khác thông qua con đờng
thơng mại quốc tế.
Những nớc có lợi thế tuyệt đối hoàn toàn hơn hẳn các nớc khác hoặc bị
kém lợi thế tuyệt đối hơn so với các nớc khác, vẫn có thể và có lợi khi tham
gia vào phân công lao động quốc tế, vì mỗi nớc đó đều có những lợi thế so
sánh nhất định về một số mặt hàng và kém lợi thế so sánh nhất định về một số
mặt hàng khác.
12
Vậy có thể kết luận rằng một trong những điểm cốt yếu nhất của lý
thuyết lợi thế so sách là những lợi ích do chuyên môn hoá sản xuất và thơng
maị quốc tế phụ thuộc vào lợi thế so sánh chứ không phải lợi thế tuyệt đối .lợi
thế so sánh là điều kiện cần và đủ đối với lợi ích của thơng mại quốc tế.
Tóm lại : lợi ích thơng mại quốc tế bắt nguồn từ sự khác nhau về lợi thế
so sánh ở mỗi quốc gia, mà các lợi thế so sánh đó có thể đợc thể hiện bằng các
chi phí cơ hội khác nhau của mỗi quốc gia, do đó lợi ích của thơng mại quốc
tế cũng chính là bắt nguồn từ sự khác nhau của mỗi quốc gia. Chi phí của th-
ơng mại quốc tế cũng chính là bắt nguồn từ sự khác nhau về chi phí cơ hội của
mỗi quốc gia. Chi phí cơ hội cho ta biết chi phí tơng đối để làm ra các sản
phẩm hàng hoá khác nhau của mỗi quốc gia hay là nói cách khác khi các chi
phí cơ hội ở tất cả các quốc gia đều giống nhau thì không có lợi thế so sánh và
cũng không có khả năng nảy sinh các lợi ích do chuyên môn hoá sản xuất và
thơng mại quốc tế. Quy luật này đợc nhiều nhà kinh tế khác tiếp tục phát triển,
hoàn thiện trở thành một quy luật chi phối động thái phát triển của thơng mại
quốc tế.
3. Lý thuyết về nguồn lực và thơng mại của Hecksher Ohlin
Chúng ta đã thấy rằng lợi thế so sánh là nguồn gốc chính của những lợi
ích của thơng mại quốc tế, những lợi thế so sánh do đâu mà có? Vì sao các n-
ớc khác nhau lại có chi phí cơ hội khác nhau? Lý thuyết so sánh của D.Rcardo
đã không giải thích đợc những vấn đề trên đây. Để khắc phục hạn chế này, hai
nhà kinh tế thuỷ điển là Eli Hecksher và B. Ohlin trong tác phẩm th ơng mại
liên khu vực và quốc tế xuất bản năm 1933 đã phát triển lý thuyết lợi thế so
sánh của D. Ricardo thêm một bớc bằng việc đa ra mô hình H-O để trình bày
lý thuyết u đãi về nguồn lực sản xuất vốn có. Lý thuyết này đã giải thích hiện
tợng thơng mại quốc tế là do trong một nền kinh tế mở cửa, mỗi nớc, mỗi
quốc gia đều hớng đến chuyên môn hoá các ngành sản xuất mà cho phép sử
dụng nhiều yếu tố sản xuất đối với nớc đó là thuận lợi nhất. Nói cách khác,
theo lý thuyết H-O một số nớc này có lợi thế so sánh hơn trong việc sản xuất
và xuất khẩu một số sản phẩm hàng hoá của mình là do việc sản xuất những
13
sản phẩm đó sử dụng nhiều yếu tố sản xuất mà một số nớc đó đợc u đãi hơn so
với một số nớc khác. chính sự u đãi về các lợi thế tự nhiên của các yếu tố sản
xuất này ( bao gồm vốn , lao động, tài nguyên, đất đai, khí hậu ) đã khiến
một số nớc đó có chi phí cơ hội thấp hơn ( so với việc sản xuất các sản phẩm
hàng hóa khác) khi sản xuất những sản phẩm hàng hoá đó.
Nh vây, cơ sở lý thuyết của học thuyết H- O vẫn chính là dựa vào lý
thuyết lợi thế so sánh của D. Ricardo, nhng ở trình độ phát triển cao hơn là đã
xác định đợc nguồn gốc của lợi thế so sánh chính là sự u đãi về các yếu tố sản
xuất mà kinh tế học phát triển đơng đại vẫn gọi là nguồn lực sản xuất vốn có,
đó cũng chính là lý thuyết hiện đại về thơng mại quốc tế. Sau này nó còn đợc
các nhà kinh tế học nổi tiếng khác nh Paul Samuelson, Jame William.. tiếp tục
phát triển và mở rộng nghiên cứu phát triển hơn để khẳng định t tởng khoa học
của định lý H- O hay còn gọi là quy luật H-O về tỷ lệ cân đối các yếu tố sản
xuất, trớc đó đã đợc Hecksher và Ohlin đa ra với nội dung: một nớc sẽ xuất
khẩu loại hàng hoá mà việc sản xuất ra nó cần sử dụng nhiều yếu tố có lợi thế
và tơng đối có sẵn có của nớc đó và nhập khẩu hàng hoá mà việc sản xuất ra
nó cần nhiều yếu tố khan hiếm mà trong nớc không có.
Tuy nhiên những khuyết điểm lý luận trớc thực tiễn phát triển phức tạp
của thơng mại quốc tế ngày nay, song quy luật này là quy luật chi phối động
thái phát triển của thơng mại quốc tế và ý nghĩa chỉ đạo thực tiễn quan trọng
đối với các nớc phát triển nh Việt nam chẳng hạn. Vì nó đã chỉ ra rằng đối với
các nớc này, đa số là những nớc đông dân, nhiêu lao động, nhng nghèo vốn,
do đó trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá đất nớc cần tập trung
xuất khẩu những hàng hoá sử dụng nhiều lao và nhập khẩu những hàng hoá
phù hợp với các lợi thế so sánh về các nguồn lực sản xuất vốn có nh vậy sẽ là
điều kiện cần thiết để các nớc kém phát triển có thể nhanh chóng hội nhập và
sự phân công lao động và hợp tác quốc tế. Đồng thời trên cở sở trên cơ sở lợi
ích thơng mại thu đợc sẽ thúc đẩy nhanh chóng sự tăng trởng và phát triển
kinh tế ở những nớc này.
14
Chơng II
Phân tích quan hệ thơng mại việt nam hoa kỳ
I. Đặc điểm quan hệ thơng mại Việt nam Hoa kỳ
1. Giai đoạn phát triển trớc khi Hoa kỳ huỷ bỏ lệnh cấm vận đối với Việt nam
.1. Lịch sử quan hệ VN - HK
15
a. Trớc năm 1975.
Thời kỳ trớc năm 1975 Hoa kỳ đã có mối quan hệ với chính quyền Sài
Gòn cũ, kim ngạch buôn bán không lớn, chủ yếu là hàng hoá nhập khẩu bằng
viện trợ của Hoa kỳ để phục vụ cuộc chiến tranh xâm lợc . Về xuất khẩu sang
Hoa kỳ có một số mặt hàng nh gỗ, cao su, hải sản với số lợng không đáng
kể.
Từ tháng 5 năm 1994, Hoa kỳ thực thi lệnh cấm vận chống miền Bắc nớc
ta và khi Việt nam trong tất cả các lĩnh vực thơng mại tài chính tín dụng, ngân
hàng, đồng thời Hoa kỳ áp dụng chế tài khống chế các nớc đồng minh và các
tổ chức quốc tế nhằm ngăn cản, thao túng các mối quan hệ kinh tế thơng mại
Việt nam.
Mặc dù bị Hoa kỳ cấm vận, song thông qua con đờng trực tiếp hoặc gián
tiếp Việt nam vẫn có mối quan hệ kinh tế và viện trợ phát triển với nhiều nớc,
nhiều tổ chức và tổ chức phi chính phủ, trong đó có Hoa kỳ, nhiều công ty
Hoa kỳ gián tiếp cũng có mặt hàng hoá xuất khẩu vào nớc ta.
b. Những năm trớc 90.
Theo số liệu thống kê của Việt nam, xuất khẩu sang Hoa kỳ thời kỳ
1986- 1990 hầu nh không có gì về nhập khẩu, mặc dù bị cấm vận chặt chẽ
song hàng nhập khẩu từ Hoa kỳ trong giai đoạn 1986 1990 đạt giá trị 5 triệu
USD
c. Những năm đầu thập kỷ 90.
Bớc sang thập kỷ 90 quan hệ ngoai giao cũng nh quan hệ thơng mại giữa
hai nớc Việt nam Hoa kỳ có những bớc tiến đáng kể, nỗ lực hớng tới các
mối quan hệ hữu nghị hợp tác, bình đẳng cùng có lợi vì lợi ích của mỗi nớc,
khu vực và thế giới.
Nếu theo số liệu thống kê của Việt nam, xuất khẩu sang thị trờng Hoa kỳ
thời kỳ 1986- 1990 hầu nh không có gì, nhng bắt đầu từ đâu những năm 1990,
Việt nam đã xuất khẩu đợc lợng trị giá khoảng 5.000 USD, tăng lên 9.000
16
USD vào những năm 1991 là 11.000 USD vào những năm 1992 và lên đến
58.000 USD vào những năm 1993. Trong thời kỳ 1986- 1990 thì Việt nam vẫn
nhập khẩu từ Hoa kỳ một lợng hàng hoá tri giá gần 5 triệu USD. Sau đó chỉ
trong vòng 3 năm 1991-1993, trị giá lợng hàng nhập khẩu từ Hoa kỳ tăng lên
đến 7 triệu USD. Cũng trong thời kỳ này, lệnh cấm vận của Hoa kỳ vẫn không
ngăn cản đợc một số nớc Châu Mỹ có mối quan hệ với Việt nam nh Canada,
Cuba. Giá trị kim ngạch xuất khẩu từ các quốc gia Châu Mỹ trong cả thời kỳ
1986- 1990 vẫn đạt 47,7 triệu USD, trong năm 1991-1993 đã tăng lên đến
62,6 triệu USD. Giá trị kim ngạch xuất khẩu của Việt nam sang các nứơc này
còn lớn hơn: thời kỳ 1986-1990 đạt 68,1 triệu USD; trong 3 năm 1991-1993 là
73,2 triệu USD. Mặc dù vào thời điểm năm 1991 cũng có biểu hiện chao đảo;
kim ngạch nhập khẩu từ Châu Mỹ đã biều hiện giảm từ 15,7 triêu USD năm
1990 xuống con 5,3 triệu USD vào năm 1991. Những ngay lập tức lại tăng vọt
lên đến 26,6 triệu USD vào năm 1992 và 42.72 triệu vao năm 1993. Điều này
cũng phù hợp với lộ trình hớng tới bãi bỏ câm vận của Hoa kỳ vào tháng 4
1992, bắt đầu từ thời điểm này, Hoa kỳ cho phép các công ty của các nớc xuất
khẩu sang Việt nam các loại hàng hoá đáp ứng nhu cầu tất yếu. Tiếp đó cho
phép các công ty Hoa kỳ tham gia đấu thầu công trình tại Việt nam ra nhng
quy định về việc cấp giấy phép buôn bán với Việt nam
Tháng 7 năm 1993 Hoa kỳ tuyên bố không can thiệp vào các tổ chức tài
chính quốc tế, trớc hết là quỹ tiền tệ IMF, ngân hàng thế giới WB ngân hàng
phát triển Châu á ADB. Tháng 10 năm 1993 quan hệ giữa nớc ta với các tổ
chức tài chính quốc tế đợc nối lại và tháng 11 năm 1993 hội nghị các nhà tài
trợ quốc tế cho Việt nam đã họp tại Paris, đại biểu Hoa kỳ đã tham dự với t
cách là quan sát viên.
2. Đặc điểm quan hệ VN - HK
Vị trí vai trò của Hoa Kỳ và Việt nam đối với nhau ngày càng trở nên
quan trọng
17
Hoa kỳ là một quốc gia giàu với diện tích 9,2 triệu km, dân số 262
triệu ngời, đủ các dân tộc và màu da. Hiện nay nền kinh tế Hoa kỳ là một
trong những nền kinh tế mạnh và hiện đại nhất thế giới. GDP của Mỹ năm
1999 là 9200 tỷ USD chiếm 20% tổng GDP của thế giới. Trong những năm
gần đây kinh tế Hoa kỳ có tốc độ tăng trởng khá cao và liên tục 4% năm 1999,
năm 2000 là 5% trong khi thị trờng Nhật bản và Châu Âu thì tăng trởng chậm.
Tất cả những điều đó cho thấy rằng nhu cầu tiêu dùng của ngời Mỹ vẫn sẽ tiếp
tục tăng cao, mặc dù trớc đây họ vốn đã là một thị trờng tiêu thụ khổng lồ.
Năm 2000, nhập khẩu của Hoa kỳ đã đạt tới con số 1.220 tỷ USD, trong khi
đó nhập siêu lên đến 267 tỷ USD. Có nhiều nhà phân tích đã cho rằng, nền
kinh tế Hoa kỳ là một nền kinh tế đang thách thức với lý luận chu kỳ kinh tế
truyền thống và ký luận kinh tế học phơng Tây. Ví dụ nh tỷ lệ lạm phát thấp
và tỷ lệ thất nghiệp thấp không cùng tồn tại lâu dài. Nhng kinh tế Hoa kỳ lại
đang trong tình trạng tỷ lệ lạm phát thấp và tỷ lệ thất nghiệp thấp. Do nền kinh
tế Hoa kỳ đạt kỷ lục 102 tháng liên tiếp giữ đợc phát triển, nó đã cải biến mối
quan hệ tăng tốc độ kinh tế, thất nghiệp, lam phát. Do đó, kinh tế Hoa kỳ tràn
đầy sức sống, nó thúc đẩy kinh tế thế giới phát triển lành mạnh. Hầu nh hai
phần ba tổng sản lợng kinh tế của đất nớc bao gồm hàng hoá và dịch vụ là do
cá nhân mua cho việc sử dụng các nhân. Một phần ba còn lại là do Chính phủ
và các doanh nghiệp mua. Do tỷ lệ này đôi khi nền kinh tế Hoa kỳ có đặc trng
nh là - nền kinh tế tiêu dùng. Với sức mua nh vậy, thị trờng Mỹ có thể hiện
tiêu thụ nhiều sản phẩm với khối lợng lớn, đặc biệt đã nhiều năm nay, Trung
quốc và các nớc Nam Mỹ là những bạn hàng quan trọng của Hoa kỳ trong
việc cung cấp cho nớc này những sản phẩm sử dụng nhiều lao động và các sản
phẩm kỹ thuật cao, những dịch vụ với công nghệ tiên tiến để thu lợi lớn thì các
sản phẩm trên đợc khuyến khích nhập tối đa. Nh vậy, Hoa kỳ là miền đất hứa
đối với các sản phẩm của Việt nam, các sản phẩm có lợi thế nhờ nguồn lực lao
động rẻ. Chúng ta có thể thu đợc lợi ích rất lớn từ thị trờng này, tuy nhiên
chúng ta cũng gặp nhiều khó khăn đó là phải cạnh tranh với những đối thủ
cũng có những lợi thế nh ta, ví dụ nh Trung quốc, chúng ta đi sau Trung quốc
ngay trong việc ký kết Hiệp định thơng mại với Hoa Kỳ, do đó không còn
cách nào khác là phải nâng cao vị thế của hàng hoá Việt nam trên thị trờng
18
Hoa kỳ nhằm cạnh tranh với hàng Trung quốc và cùng với nhiều mặt hàng
khác của những nớc trong khu vực đối với chúng ta. Mặc dù trớc kia chúng ta
cha giành đợc tối huệ quốc MNF đối với tất cả các mặt hàng của ta xuất sang
thị trờng Hoa kỳ hay quy chế đối sử bình thờng của Hoa kỳ cho nên nhiều mặt
hàng của nớc ta vẫn chịu mức thuê cao khó có khả năng cạnh tranh trên thị tr-
ờng Hoa kỳ. Tuy nhiên một số mặt hàng xuất sang Hoa kỳ không có sự phân
biệt giữa thuế tối huệ quốc và phi tối huệ quốc, nên nhiều doanh nghiệp Việt
nam đã tận dụng để đẩy mạnh xuất khẩu sang Hoa kỳ những mặt hàng nh Cà
phê, Tôm đông lạnh, hạt tiêu. Giờ đây, mặc dù Hiệp định thơng mại Việt Mỹ
đã đợc ký kết nhng Mỹ vẫn gây khó dễ cho ta trong xuất khẩu những mặt
hàng chủ lực sang Mỹ. Bên cạnh đó cũng thấy rằng Hoa kỳ là một cờng quốc
thơng mại hàng đầu với 13,5 % thị trờng xuất khẩu của thế giới và 18% thị tr-
ờng nhập khẩu thế giới. Hiện nay Hoa kỳ không chỉ là một nớc công nghiệp
phát triển nhất thế giới mà cũng là một quốc gia đứng đâù về sản xuất nông
nghiệp, chiếm 40% xuất khẩu ngũ cốc của thế giới, mỗi năm xuất khẩu 50 tỷ
USD sản phẩm nông nghiệp, đồng thời cũng là nớc xuất khẩu gạo và thuỷ sản
lớn trên thế giới chiếm 72% thị trờng đậu tơng thế giới, 70% thị trờng ngô, chi
phối thị trờng nông nghiệp thế giới.
Bảng5 Thống kê kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng của Hoa kỳ trong
năm 2001 ( ĐV tỷ USD)
Mặt hàng Kim ngạch Mặt hàng Kim ngạch
Thịt
3
Phụ liệu quần áo dệt may
35
Hải sản
6.5
Ngọc trai
19
19
Rau quả
5
Kính
3.5
Ngũ cốc và chế phẩm từ ngũ cốc
14
Sắt thép và sản phẩm từ sắt thép
23
Hạt có dầu
0.9
Đồng và sản phẩm từ đồng
4
Dỗu động thực vật 1.5 Dụng cụ và sản phẩm nhỏ tứ kim
loại
4
Đồ uống có cồn và không cồn 6 Lò phản ứng hạt nhân nồi hơi, máy
móc thiết bị
143
Thuốc lá 1.6 Máy móc thiết bị điện tử 122
Nhiên liệu, dầu mỡ 77 Phơng tiện vận tải 114
Hoá chất vô cơ 6 Thiết bị quang học 9
Hoá chất hữu cơ 19 Đồ chơi, dụng cụ thể thao 26
Dợc phẩm 6 Đồ dùng bằng gỗ 16
Phân bón 1.5 Nhôm 14
Nhựa 14 Nicken 7
Hoá phẩmkhác 6 Sứ 1.5
Cao su 8 Giày dép 3
Gỗ và đồ gỗ 12 Da 15
Giấy và bột gỗ 15 Cà phê 7.5
Sách báo 3 4
Sợi 8
Nguồn ( theo số liệu của Bộ thơng mại Hoa kỳ)
Về thơng mại dịch vụ, Hoa kỳ cũng là nớc dẫn đầu thế giới, năm 2000
Hoa kỳ xuất khẩu 271,5 tỷ USD các loại dịch vụ chiếm 19,2% thị phần của
toàn thế giới và nhập khẩu 181 tỷ USD chiếm 12,4 % thế giới. Có thể nói Hoa
kỳ là một thị trờng quan trọng hàng đầu đối với tất cả các nớc nói chung và n-
ớc ta nói riêng. đặc biệt là nớc ta đang theo đuổi chính sách thơng mại hớng
xuất khẩu.
Đối với Hoa kỳ, chính sách ngoại thơng nói riêng mở rộng ảnh hởng
của Hoa kỳ ra bên ngoài, mở rộng thị trờng ngoài nớc. Các chính quyền Hoa
20
kỳ chọn Tây Âu Canada, Nhật bản làm trong điểm. Hiện nay, Hoa kỳ coi
NAFTA là nền tảng để mở rộng thị trờng Mỹ la tinh, đồng thời coi Châu á
Thái Bình Dơng là hạt nhân mới của mình, Hoa kỳ nhấn mạnh sức hấp dẫn
của khu vực là tài nguyên thiên nhiên khổng lồ, lực lợng lao động dồi dào, nền
kinh tế tăng trởng cao và thị trờng tiêu thụ khổng lồ. Khu vực này chiếm 40%
thơng mại của Hoa kỳ so với thơng mại của toàn thế giới, bằng 1,5 lần thơng
mại của Hoa kỳ với EU. Hoa kỳ chủ trơng củng cố các thị trờng của hoa kỳ đã
có, xâm nhập và mở rộng thị trờng mới. Năm 2000 chính quyền Mỹ đa ra khái
niệm 10 thị trờng mới nổi lên làm trong điểm phát triển thị trờng. Tro ng đó
ASEAN, Trung quốc, Hồng kông, Đài loan, ấn độ, Hàn quốc, Autralia,
Achentina, Meixco. Trong chiến lợc này, quan hệ Hoa kỳ ASEAN hết sức
đợc chú trọng bởi theo nhiều chuyên gia Hoa kỳ cho dự bao năm 2010 với 680
triệu dân, việc Hoa kỳ bình thờng hoá quan hệ thơng mại và ký kết Hiệp đinh
thơng mại với Việt nam cũng không năm ngoài chiều hớng trên .đối với Hoa
kỳ Viêt nam cũng lổi lên nh thị trờng nhiều tiềm năng cha khai thác cuối
cùng, có vai trò và vị trí cầu nối giữa vùng Đông Bắc á ( trọng điểm của chính
sách tơng lai của Hoa kỳ trong khu vực Châu á Thái Bình Dơng) vì thế Hoa
kỳ không thể không chú ý
Đối với Hoa kỳ, Châu á có ý nghĩa then chốt đối với đời sống kinh tế
cũng nh đối với cuộc sống hàng ngaỳ của ngơì dân Hoa kỳ. Đó cũng là vùng
đất béo bở nhất xét từ góc độ bảo đảm việc làm và xuất khẩu của ngời dân
Mỹ. Hoa kỳ đã từ lâu quan tâm đến khu vực Đông Nam á, bởi vì 80% thiếu
hụt từ ngoại thơng của Hoa kỳ lại thuộc về 9 nớc ở khu vực Đông Nam á và
Đông á để tạo thế đối trọng với Trung Quốc và Nhật bản, cho phép Hoa kỳ có
thể kiểm soát hiệu quả tiềm lực quân sự của hai nớc này và kinh tế cuả cả khối
cũng nh vị thế của Việt nam trên thị trờng quốc tế cũng không nằm ngoài tính
toán chiến lợc của Việt nam trong việc mở rộng quan hệ thơng mại với Hoa
kỳ.
Trong bối cảnh đó, vị trí địa lý KT- CT của Việt nam đang đợc các nớc
lớn và trung tâm kinh tế thế giới ngày càng coi trọng và dần dần trở thành
21
khâu quan trọng trong chiến lợc của các trung tâm này. Quan hệ thơng mại
Việt nam đang nằm trong chiến lợc thâm nhập vào thị trờng mới nổi lên của
Hoa kỳ ở khu vực này song một nớc Việt nam đổi mới mở cửa đa dạng hoá, đa
phơng hoá các quan hệ đối ngoại, hội nhập vào khu vực và thế giới là không
trái với tính toán chiến lợc của Hoa kỳ ở khu vực này. Hơn nữa, Việt nam với
thị trờng nguyên liệu của Việt nam có nhiều có các cảng biển, mức sống của
dân c đang ngày càng gia tăng, cùng với đó là sự gia tăng nhu cầu làm cho
Việt nam đang trở thành một trong thị trờng đáng kể, là đối tợng đáng quan
tâm tranh giành trong cuộc săn lùng thị trờng mới của Hoa kỳ.
Việc ký hiệp định thơng mại Việt nam Hoa kỳlà những sự kiện quan
trọng đối với cả hai bên và đặc biệt đối với nớc ta trong giai đoạn hiện nay
nhằm tạo điều kiện cho buôn bán hai nớc phát triển. Mục tiêu hai nớc trong
mối quan hệ có thể khác nhau về chiếm lợc nhng có những điểm tơng đồng cơ
bản là lấy sự phát triển thơng mại là chính, tạo dựng các cơ hội tham gia thị tr-
ờng của nhau trên cơ sở bình đẳng cùng có lợi.
Hoa kỳ là một thị trờng quan trọng cho nhiều nớc trên thế giới, có tiềm
năng lớn tiêu thụ. Nhiều nớc trên thế giới coi đây là thị trờng gây ra các động
lực lớn cho phát triển kinh tế của mình. Sau khi tham gia vào thị trờng EU thì
bớc tiếp theo của Việt nam là phải tham gia đợc thị trờng Bắc Mỹ. Đây là
nhiệm vụ chiến lợc quan trọng trong hệ thống chính sách của nớc ta. Để giải
quyết vấn đề này thì cần phải đâỷ mạnh quan hệ thơng mại Việt nam Hoa
kỳ.
Quan hệ thơng mại giữa một nền kinh tế thị trờng phát triển với một nền
kinh tế đang trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trờng, xuất phát
điểm thấp và đang trong thời kỳ đâù quá trình CNH.
Đây là vấn đề dễ thấy nhất, song lạị là vấn đề hết sức quan trọng trong
việc tạo lập các quan hệ hợp tác đích thực. Bởi lẽ, mọi chính sách kinh tế th-
ơng mại của các nền kinh tế này. một ví dụ dễ thấy là sau khi binh thờng hoá
quan hệ Thơng mại Việt nam Hoa kỳ đợc mọi nền kinh tế trên thế giới coi
là hình mẫu của sự phát triển và lợi ích của họ gắn liền với lợi ích của nền
22
kinh tế Hoa kỳ. Nhờ thị trờng Hoa kỳ, các nớc NICS Đông á và ASEAN đều
đã lần lợt thực hiện thành công các tiến trình CNH của mình.
Tầm vóc và động thái phát triển của nền kinh tế Hoa kỳ nh vậy thừa nhận
là đã vợt xa quá so với Việt nam. Khi nền kinh tế Hoa kỳ đang dẫn dắt các nền
kinh tế quốc tế bớc vào giai đoạn CNH thứ t thì Việt nam mới bắt đầu bớc vào
những chặng đờng đầu của giai đoạn CNH. Xuất phát điểm muộn, thấp lại vừa
mới chuyển đổi kinh tế, sự phù hợp tác quan hệ giữa ngời khổng lồ và chú bé
tí hon sẽ khó khăn, thờng là rất không bình đẳng và trong ngày một ngày hai,
nền kinh tế Việt nam sẽ không thể thích nghi đợc mô phỏng hoặc chịu sự dẫn
dắt của Hoa kỳ và các tổ chức quốc tế mà phần lớn luật chơi đợc đợc mô
phỏng hoặc chịu sự dân dắt của Hoa kỳ. Song không thể nói nền kinh tế Việt
nam với những nền tảng hiện nay là quan trọng đối với nền kinh tế Hoa kỳ, kể
cả vấn đề tài nguyên khi mà các tài nguyên chủ lực nh vàng, than, sắt, dầu thô,
của Hoa kỳ đều có trữ lợng lớn vào loại nhất nhì thế giới. Việc Hoa kỳ nối lại
quan hệ thơng mại giữa hai nớc là nhằm tăng cờng ảnh hởng của họ đến Đông
Nam á về mọi phơng diện. Hoa kỳ muốn tạo dựng hình ảnh mới của mình ở
khu vực này sau thời kỳ chiến tranh lạnh bằng việc thể hiện vai trò dẫn dắt
kinh tế của mình trong APEC. Do vậy, mặc dù Hoa kỳ cha đánh giá hết lợi thế
của một nền kinh tế nhỏ bé nh Việt nam, trong chiến lợc Châu á - Thái Bình
Dơng. Điều này đặt ra cho phía Việt Nam trong phơng hớng phát triển quan
hệ thơng mại với Hoa kỳ, quan hệ lợi ích phải đặt cái nhìn dài hạn, rộng lớn
của sự hội nhập. Càng hội nhập thực sự vào khu vực, Việt nam càng trở lên
sáng giá và có nhiều u thế trong tiến trình phát triển quan hệ thơng mại giữa
hai nớc.
Quan hệ thơng mại giữa hai nớc có sự khác biệt về chính sách của nền
kinh tế giữ vai trò chủ đạo và dẫn dắt xu thế tự do thơng mại với một nớc
đang phát triển cận xu thế này .
Mỹ là một nền kinh tế theo xu hớng tự do hoá thơng mại, thúc đẩy mậu
dịch tự do. Đây là động thái chính trong các chính sách thơng mại quốc tế của
Mỹ trong những năm tới. Để tham gia vào quan hệ thơng mại Việt nam
23
Hoa kỳ thì chúng ta cần phải đáp ứng những yêu cầu của Hoa kỳ nh trao cho
Hoa kỳ thuế tối huệ quốc, dỡ bỏ những hàng rào bảo hộ, thực thi chính sách
thị trờng tự do rõ ràng.Đây là những nguyên tắc mà Việt nam đều thấy cần
thiết phải áp dụng để chuyển đổi nền kinh tế của mình. Song là nớc nghèo,
nếu không duy trì sự phân biệt đối xử, không bảo hộ sản xuất trong nớc bằng
tăng thuế, không có sự u đãi các doanh nghiệp trong nớc Việt nam có thể duy
trì đợc sự phát triển ổn định của mình không. Chúng ta coi đây là một vấn đề
nan giải mà hai cách tiếp cận của hai nền kinh tế tất yếu gặp nhau. Đây là một
trở ngại lớn trong thơng mại giữa hai nớc. Tuy nhiên trong Hiệp định thơng
mại vừa qua thì Hoa Kỳ đã trao cho ta những u tiên về mặt thời gian trong việc
thực thi những nguyên tắc đó.
Quan hệ thơng mại Việt nam- Hoa kỳ chịu ảnh hởng của sự khác biệt
về quan điểm chính trị trong nhìn nhận quá khứ
Trong điều kiện ngay nay, kinh tế và chính trị là những nội dung không
thể tách biệt. Vì một bất đồng nhỏ về chính trị, các quan hệ kinh tế có thể bị
đổ vỡ và ngợc lại, từ những hiện tợng xung đột về kinh tế, các quan hệ chính
trị có thể bị biến dạng xấu đi. Nhìn chung, ngời ta vẫn thờng viện dẫn các vấn
đề chính trị bất đồng đợc nguỵ trang dới những lý do kỹ thuật để công khai
thực hiện các công cuộc trừng phạt về kinh tế.
Số lợng việt kiều tại Mỹ
Hiện nay, lực lợng những ngời Việt nam yêu nớc đang sống và làm việc tại
Mỹ là khá đông đảo và nhiều ngời đang chiếm giữ những vị trí quan trọng
trong các công ty của Mỹ. Với trình độ khoa học cao do đợc tiếp xúc nền công
nghệ hiện đại công thêm với sự am hiểu biết về luật pháp của Mỹ thì đây là
nguồn lực đáng kể để doanh nghiệp Việt nam chú ý thu hút và tận dụng. Điều
quan trọng là Nhà nớc nên có chính sách thích để khuyến khích Việt kiều đầu
t vào các lĩnh vực mà Việt nam có khả năng xuất khẩu vào thị trờng Hoa kỳ.
II. Phân tích thực trạng quan hệ Việt nam Hoa kỳ
24
1. Kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt nam và Hoa kỳ
Giai đoạn sau khi cấm vận đợc huỷ bỏ 1995
Ngày 3-2-1994 Tổng thống B. Clinton tuyên bố bãi bỏ cấm vận có hiệu lực
34 công ty Hoa kỳ lập văn phòng đại diện ở Việt nam từ cuối năm 1993
nhanh chóng triển khai hoạt động 11/7/1995 hai nớc thiết lập mối quan hệ
ngoại giao. Từ ngày 21 đến 26 tháng 9 năm 1995 diễn ra vòng đàm phán th-
ơng mại đâù tiên giữa đại diện hai nớc đã mở ra cơ hội thúc đẩy hoạt động
ngoại thơng giữa hai nớc, tuy tỷ lệ tăng cha cao nhng vẫn ở mức ổn định. Sau
đây là bảng số liệu thống kê tình hình thơng mại giữa hai nớc qua một số năm
Bảng1: Tình hình XNK của Việt nam Hoa Kỳ (tính triệu USD)
Năm Xuất Khẩu Nhập Khẩu Tổng Kim Ngach
1994 50.4 172.0 222.4
1995 200 252.0 452.0
1996 319 289.0 608
1997 388.2 278.0 666.2
1998 553.4 269.0 822.4
1999 601.9 277.3 879.2
2000 283.2 291.1 882.1
2001 35.5 28.3 872.8
( nguồn : tạp chí thời báo kinh tế số 2 năm 2001)
Năm 1999 so với năm 1994, xuất khẩu tăng cờng gấp 12 lần, bình quân
tăng 64,2 cao gấp 2,8 lần tốc độ tơng ứng của cả nớc : nhập gấp trên 1,6 lần
bình quân tăng 10% thấp hơn tốc độ tăng 14,8% của cả nớc. So với tổng kim
ngạch xuất khâủ và tổng kim ngạch nhập khẩu thì xuất khẩu sang Hoa kỳ từ
chỗ chỉ chiếm 1,2% năm 1994 đã tăng lên 5,2 % năm 1999.
25

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×