Tải bản đầy đủ

Những giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình phát triển kinh tế hiện nay, vốn FDI là một bộ phận
quan trọng trong cơ cấu nguồn vốn đầu tư của bất kỳ một quốc gia hoặc một
địa phương nào. Đối với nước ta, một nước đang trong quá trình CNH, HĐH,
chuyển đổi và hội nhập kinh tế, với mục tiêu phát triển kinh tế rất cao, nhu
cầu vốn đầu tư rất lớn, trong đó vốn FDI có vai trò đặc biệt quan trọng.
Dưới góc độ của quốc gia hay một địa phương tiếp nhận vốn, FDI có
mục tiêu và tác động đa chiều. Ngoài tác động phục vụ cho sự nghiệp
CNH, HĐH đất nước, qua các hoạt động FDI còn tạo cơ hội tiếp nhận kỹ
thuật sản xuất, kinh nghiệm kinh doanh, các sáng chế, phát minh, bí quyết
công nghệ, năng lực quản lý, điều hành, giúp các chủ thể trong nước và nền
kinh tế nói chung đẩy nhanh quá trình phát triển những ngành nghề có kỹ
thuật, công nghệ mới, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tăng trưởng
nhanh. FDI còn góp phần quan trọng vào việc giải quyết việc làm, đẩy
mạnh kim ngạch xuất khẩu, góp phần vào việc lành mạnh hoá các cân đối
vĩ mô của nền kinh tế. Ngay từ khi bắt đầu thực hiện công cuộc đổi mới,
vấn đề thu hút vốn FDI đã được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm,
chú ý và đã có nhiều biện pháp tích cực, đổi mới liên tục nhằm thu hút
ngày càng nhiều và ngày càng có chất lượng nguồn vốn quan trọng này.
Đối với Đà Nẵng, một thành phố được tái lập chưa lâu như một thành phố

trực thuộc Trung ương, nằm ở vị trí chiến lược của vùng kinh tế trọng điểm
miền Trung, với nhiều lợi thế, tiềm năng chưa được khai thác đúng mức,
đầu tư FDI lại càng có vai trò quan trọng.
Nghị quyết các Đại hội Đảng, từ Đại hội VI đến Đại hội X đều khẳng
định rằng, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận cấu thành quan
trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta, được khuyến
khích phát triển lâu dài, bình đẳng với các thành phần kinh tế khác. Thu hút
vốn FDI là chủ trương quan trọng của Đà Nẵng, có tác dụng khai thác nguồn
lực vốn ngoài nước, mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế, làm đòn bẩy khai thác
có hiệu quả các nguồn lực trong nước, tạo nên sức mạnh tổng hợp, phục vụ sự
nghiệp CNH, HĐH, phát triển bền vững cho kinh tế thành phố Đà Nẵng nói
riêng và cả vùng kinh tế trọng điểm nói chung.
Thực tế 20 năm đổi mới vừa qua, nhất là 10 năm gần đây cho thấy, với
chính sách thu hút ngày càng cởi mở và minh bạch, vốn FDI đã trở thành một
trong những yếu tố quan trọng để phát triển kinh tế ở nước ta nói chung và
thành phố Đà Nẵng nói riêng. FDI đã có đóng góp quan trọng vào tốc độ tăng
trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu ngân sách, giải quyết việc
làm, xoá đói giảm nghèo trên quy mô toàn bộ nền kinh tế nói chung cũng như
trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nói riêng. Tuy nhiên, ở Đà Nẵng, các biện
pháp thu hút vốn FDI thời gian qua cũng đã bộc lộ nhiều mặt yếu kém, hạn
chế. Kết quả là tốc độ tăng vốn FDI chưa đạt như mong đợi. Số lượng các nhà
đầu tư nước ngoài đến tìm hiểu môi trường đầu tư, số dự án đăng ký dự định
đầu tư khá nhiều nhưng số dự án đầu tư được cấp phép và đi vào hoạt động
vẫn còn thấp, số vốn thực sự đầu tư còn thấp về số lượng. Cơ cấu đầu tư chưa
đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, nhu cầu CNH, HĐH của thành phố với tư
cách là thành phố trọng điểm của miền Trung và đầu mối quan trọng của hành
lang kinh tế Đông - Tây. Ngoài những nguyên nhân khách quan như điều kiện
tự nhiên không thuận lợi, thị trường nhỏ hẹp, sức mua yếu, chi phí vận
chuyển bằng đường biển cao, thời gian vận chuyển lớn, nguồn nguyên liệu và
các ngành công nghiệp phụ trợ còn thiếu và yếu, chất lượng kém, cơ chế
chính sách của Trung ương còn bất cập…, những nguyên nhân chủ quan từ
phía chính quyền Đà Nẵng cũng đã làm ảnh hưởng tiêu cực đến thu hút vốn
FDI trên địa bàn.
Tình hình đó đòi hỏi phải nghiên cứu, tìm kiếm những giải pháp đổi
mới mạnh mẽ hơn nữa để tăng cường thu hút vốn FDI có hiệu quả hơn, xem
đó là vấn đề quan trọng, đột phá để phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn
2006 - 2010 và các giai đoạn tiếp theo. Đó là lý do đề tài: “Những giải pháp
tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Đà Nẵng trong giai
đoạn hiện nay” được chọn làm luận văn thạc sĩ của tác giả.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về FDI nói chung cũng như những
giải pháp thu hút FDI nói riêng. Sau đây là những công trình tiêu biểu:
- “Kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở các nước
ASEAN và vận dụng vào Việt Nam”, Nguyễn Huy Thám, Luận án tiến sĩ Kinh
tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1999.
- “Thực trạng và giải pháp nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài trên địa bàn tỉnh Đồng Nai”, Phan Minh Thành, Luận văn thạc sĩ Kinh
tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2000.
- “Hoàn thiện Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam hiện nay”, Nguyễn Văn Hùng, Luận văn thạc
sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2002.
- “Một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước
ngoài tại thành phố Đà Nẵng”, Ngô Quang Vinh, Luận văn thạc sĩ Kinh tế,
Đại học Đà Nẵng, Đà Nẵng, 2003.
- “Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài - vị trí, vai trò của nó trong
nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam”, Đề tài KH-CN cấp nhà
nước KX01.05, GS.TS Nguyễn Bích Đạt, Hà Nội, 2004.
- “Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Bình Dương - Thực trạng và giải
pháp”, Bùi Thị Dung, Luận văn thạc sĩ Kinh doanh và quản lý, Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2005.
Ngoài ra, còn có nhiều bài viết đăng trên các tạp chí về vấn đề vốn FDI
với những cách tiếp cận và giải quyết ở những khía cạnh khác nhau của vấn
đề thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Các công trình nghiên cứu đã đề
cập đến rất nhiều khía cạnh của đầu tư FDI như tác động của FDI; vị trí, vai
trò của FDI; quản lý nhà nước đối với khu vực này; các biện pháp thu hút FDI
phục vụ phát triển kinh tế… Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình nào
nghiên cứu đầy đủ và có hệ thống về những giải pháp thu hút vốn FDI trong
điều kiện cụ thể của Đà Nẵng.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là hệ thống hoá có cơ sở lý luận và thực
tiễn chính sách thu hút vốn FDI đối với các vùng, địa phương, đánh giá thực
trạng và tìm ra những giải pháp nhằm tăng cường hơn nữa thu hút vốn FDI ở
Đà Nẵng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn của FDI, làm rõ vai trò của nó
đối với sự phát triển kinh tế đối với các vùng, địa phương.
- Phân tích thực trạng đầu tư và đánh giá chính sách thu hút vốn FDI ở
Đà Nẵng thời gian từ năm 1997 đến 2006
- Luận chứng những giải pháp tăng cường thu hút vốn FDI ở Đà Nẵng
trong thời gian tới
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các biện pháp chính sách thu hút
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Đà Nẵng. Các biện pháp này bao gồm 2 bộ
phận: bộ phận triển khai thực hiện các chính sách đầu tư trực tiếp nước ngoài
của Trung ương; bộ phận thực hiện gồm các biện pháp của chính quyền địa
phương trong phạm vi được phân cấp về chính sách. Góc độ tiếp cận của luận
văn chủ yếu là khảo sát các giải pháp của Nhà nước.
4.2. Đối tượng khảo sát của luận văn
Khảo sát các hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Đà Nẵng như là đối
tượng tác động (kết quả) của các biện pháp chính sách. Ngoài ra, luận văn khảo
sát hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước của chính quyền Đà Nẵng.
4.3. Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: thời gian nghiên cứu giới hạn từ năm 1997 đến nay.
Những giải pháp và kiến nghị được đề xuất cho giai đoạn tương lai đến
khoảng 2010.
Về không gian: giới hạn trong phạm vi các hoạt động FDI tại Đà Nẵng. Để
nghiên cứu so sánh, có mở rộng không gian khảo sát ở những chỗ cần thiết.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và phương
pháp duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quan
điểm đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; các thành
tựu khoa học trong kinh tế nói chung và trong lĩnh vực chính sách FDI nói
riêng. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong luận văn là:
phân tích, tổng hợp, so sánh, mô hình hoá; kết hợp nghiên cứu lí luận với tổng
kết thực tiễn, lấy ý kiến chuyên gia, nghiên cứu tài liệu.
6. Những đóng góp của luận văn
- Phân tích, đánh giá thực trạng thu hút vốn FDI ở Đà Nẵng, đánh giá
các biện pháp chính sách đã thực hiện ở Đà Nẵng, tìm ra những bài học thành
công và nguyên nhân không thành công trong thực hiện chính sách thu hút
vốn FDI ở Đà Nẵng.
- Một số giải pháp đặc thù đề xuất được luận chứng với khả năng đóng
góp làm tăng thu hút vốn FDI ở Đà Nẵng.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,
Luận văn được trình bày trong 3 chương, 10 tiết.
Chương 1
SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN TĂNG CƯỜNG THU HÚT
VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở ĐÀ NẴNG
1.1. VAI TRÒ CỦA VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐỐI
VỚI QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.1.1. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ngày nay đã trở thành hình thức đầu
tư phổ biến và đã được định nghĩa bởi các tổ chức kinh tế quốc tế cũng như
luật pháp của các quốc gia.
FDI là một loại hình đầu tư quốc tế, trong đó chủ đầu tư của
một nền kinh tế đóng góp một số vốn hoặc tài sản đủ lớn vào một
nền kinh tế khác để sở hữu hoặc điều hành, kiểm soát đối tượng họ
bỏ vốn đầu tư nhằm mục đích lợi nhuận hoặc các lợi ích kinh tế
khác [20, tr.14].
FDI là sự di chuyển vốn, tài sản, công nghệ hoặc bất kỳ tài sản nào
từ nước đi đầu tư sang nước tiếp nhận đầu tư để thành lập hoặc kiểm
soát doanh nghiệp nhằm mục đích kinh doanh có lãi [48, tr.30-31].
Luật Đầu tư 2005 của Việt Nam cũng có định nghĩa về FDI như sau:
Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt
Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt
động đầu tư [28, tr.8].
Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu
tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư [28, tr.8].
Như vậy, FDI, xét theo định nghĩa pháp lý của Việt Nam, là hoạt động
bỏ vốn đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài vào lãnh thổ Việt Nam với điều kiện
họ phải tham gia quản lý hoạt động đầu tư đó.
Xét về bản chất FDI khác (đối lập) với đầu tư gián tiếp nước ngoài;
đồng thời FDI là đầu tư thuộc kênh tư nhân, khác hẳn với đầu tư tài trợ
(ODA) của Chính phủ hoặc các tổ chức quốc tế.
1.1.1.2. Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài có những đặc điểm chủ yếu sau:
Thứ nhất, gắn liền với việc di chuyển vốn đầu tư, tức là tiền và các loại
tài sản khác giữa các quốc gia, hệ quả là làm tăng lượng tiền và tài sản của
nền kinh tế nước tiếp nhận đầu tư và làm giảm lượng tiền và tài sản nước đi
đầu tư.
Thứ hai, được tiến hành thông qua việc bỏ vốn thành lập các doanh nghiệp
mới (liên doanh hoặc sở hữu 100% vốn), hợp đồng hợp tác kinh doanh, mua lại
các chi nhánh hoặc doanh nghiệp hiện có, mua cổ phiếu ở mức khống chế hoặc
tiến hành các hoạt động hợp nhất và chuyển nhượng doanh nghiệp.
Thứ ba, nhà đầu tư nước ngoài là chủ sở hữu hoàn toàn vốn đầu tư hoặc
cùng sở hữu vốn đầu tư với một tỷ lệ nhất định đủ mức tham gia quản lý trực
tiếp hoạt động của doanh nghiệp.
Thứ tư, là hoạt động đầu tư của tư nhân, chịu sự điều tiết của các quan
hệ thị trường trên quy mô toàn cầu, ít bị ảnh hưởng của các mối quan hệ chính
trị giữa các nước, các chính phủ và mục tiêu cơ bản luôn là đạt lợi nhuận cao.
Thứ năm, nhà đầu tư trực tiếp kiểm soát và điều hành quá trình vận
động của dòng vốn đầu tư.
Thứ sáu, FDI bao gồm hoạt động đầu tư từ nước ngoài vào trong nước
và đầu tư từ trong nước ra nước ngoài, do vậy bao gồm cả vốn di chuyển vào
một nước và dòng vốn di chuyển ra khỏi nền kinh tế của nước đó.
Thứ bảy, FDI chủ yếu là do các công ty xuyên quốc gia thực hiện.
Các đặc điểm nêu trên mang tính chất chung cho tất cả các hoạt động
FDI trên toàn thế giới. Đối với Việt Nam, quá trình tiếp nhận FDI diễn ra đã
được 20 năm và những đặc điểm nêu trên cũng đã thể hiện rõ nét. Chính những
đặc điểm này đòi hỏi thể chế pháp lý, môi trường và chính sách thu hút FDI phải
chú ý để vừa thực hiện mục tiêu thu hút đầu tư, vừa bảo đảm mối quan hệ cân
đối giữa kênh đầu tư FDI với các kênh đầu tư khác của nền kinh tế.
1.1.2. Các hình thức của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Có nhiều tiêu chí khác nhau để phân biệt các hình thức FDI. Có thể hiểu
hình thức đầu tư FDI là cách nhà đầu tư ở một số nước chuyển đổi quyền sở
hữu vốn (tiền hoặc bất kỳ tài sản nào) thành quyền sở hữu và quản lý hoặc
kiểm soát một thực thể kinh tế ở một nước khác. Như vậy, hình thức FDI
được xem như là các cách thức thực hiện những kênh đưa vốn bên ngoài vào
nước tiếp nhận đầu tư, và nó phụ thuộc chủ yếu vào các chính sách, định
hướng thu hút FDI của nước chủ nhà.
Ngày nay, trên thế giới nói chung cũng như ở Việt Nam nói riêng, FDI
được thực hiện thông qua hai kênh chủ yếu: i) đầu tư mới và mở rộng (GI);
ii) mua lại và sáp nhập ( cross-border M & As).
GI là kênh đầu tư mà các chủ đầu tư thực hiện đầu tư ở nước tiếp nhận
vốn thông qua việc xây dựng các doanh nghiệp mới hoặc mở rộng quy mô
doanh nghiệp đã đầu tư từ trước. Hình thức này bổ sung ngay một lượng vốn
đầu tư nhất định cho nước nhận đầu tư, do vậy có hiệu ứng rõ rệt tạo việc làm
và trực tiếp tác động đến thay đổi cơ cấu ngành kinh tế thông qua việc xây
dựng các doanh nghiệp mới hoặc mở rộng quy mô, qua đó, thúc đẩy cạnh
tranh trong nền kinh tế. Đây là kênh đầu tư truyền thống của FDI và là kênh
chủ yếu để các nhà đầu tư của các nước phát triển đầu tư vào các nước đang
hoặc kém phát triển.
Cross-border M & As là kênh đầu tư mà các chủ đầu tư tiến hành đầu tư
thông qua việc mua lại và sáp nhập các doanh nghiệp hiện có ở nước ngoài
hoặc mua cổ phần của các công ty cổ phần. Hình thức này chủ yếu là chuyển
sở hữu của các doanh nghiệp đang tồn tại ở nước chủ nhà sang sở hữu của các
nhà đầu tư nước ngoài. Về lâu dài, hình thức M & As sẽ thu hút được nguồn
vốn từ bên ngoài do mở rộng qui mô hoạt động của doanh nghiệp. Kênh đầu
tư này chủ yếu được thực hiện ở các nước phát triển, các nước mới công
nghiệp hóa, đặc biệt là trong những lĩnh vực công nghệ cao và có xu hướng
tăng mạnh trong những năm gần đây. Luật Đầu tư 2005 của Việt Nam cũng
đã thừa nhận và pháp lý hoá kênh đầu tư này ở Việt Nam. Tuy nhiên, hình
thức đầu tư này vẫn chưa phổ biến ở nước ta do đây là kênh đầu tư FDI mới,
nhà đầu tư còn dè chừng; hơn nữa, Nhà nước vẫn hạn chế về tỷ lệ cổ phần của
người nước ngoài trong các công ty cổ phần trong nước. Như vậy, nếu chỉ thu
hút FDI theo kênh GI thì không đón bắt được xu hướng đầu tư quốc tế ngày
nay, sẽ làm hạn chế khả năng thu hút FDI vào nước ta. Tương lai, với chính
sách đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế, M & As sẽ là kênh đầu tư quan
trọng của FDI ở Việt Nam [31, tr.37].
Với hai kênh đầu tư chính như đã nêu trên, tùy theo mức độ nắm giữ
quyền quản lý, sẽ có các hình thức đầu tư khác nhau. Những hình thức đầu tư
này được quy định bởi thể chế pháp luật về đầu tư, làm cơ sở để các nhà đầu
tư triển khai các hoạt động đưa vốn vào và thực hiện các biện pháp quản lý
của họ.
Luật Đầu tư 2005 đã quy định 5 hình thức FDI cơ bản ở Việt Nam [28, tr.22].
Các hình thức này cũng đã được thừa nhận rộng rãi trên thế giới. Sau đây sẽ
trình bày 5 hình thức này.
a. Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài
Hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là hình thức truyền
thống và phổ biến của FDI. Với hình thức này, các nhà đầu tư, cùng với việc
chú trọng khai thác những lợi thế của địa điểm đầu tư mới, đã nỗ lực tìm cách
áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ, kinh nghiệm quản lý trong hoạt
động kinh doanh để đạt hiệu quả cao nhất. Hình thức này phổ biến ở quy mô
đầu tư nhỏ nhưng cũng rất được các nhà đầu tư ưa thích đối với các dự án quy
mô lớn. Hiện nay, các công ty xuyên quốc gia thường đầu tư theo hình thức
doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và họ thường thành lập một công ty con
của công ty mẹ xuyên quốc gia.
Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài thuộc sở hữu của nhà đầu
tư nước ngoài nhưng phải chịu sự kiểm soát của pháp luật nước sở tại (nước
nhận đầu tư). Là một pháp nhân kinh tế của nước sở tại, doanh nghiệp phải
được đầu tư, thành lập và chịu sự quản lý nhà nước của nước sở tại. Doanh
nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của nhà
đầu tư nước ngoài tại nước chủ nhà, nhà đầu tư phải tự quản lý, tự chịu trách
nhiệm về kết quả kinh doanh. Về hình thức pháp lý, dưới hình thức này, theo
Luật Doanh nghiệp 2005, có các loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn,
doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần… [26, tr.358].
Hình thức 100% vốn đầu tư nước ngoài có ưu điểm là nước chủ nhà
không cần bỏ vốn, tránh được những rủi ro trong kinh doanh, thu ngay được
tiền thuê đất, thuế, giải quyết việc làm cho người lao động. Mặt khác, do độc
lập về quyền sở hữu nên các nhà đầu tư nước ngoài chủ động đầu tư và để
cạnh tranh, họ thường đầu tư công nghệ mới, phương tiện kỹ thuật tiên tiến
nhằm đạt hiệu quả kinh doanh cao, góp phần nâng cao trình độ tay nghề
người lao động. Tuy nhiên, nó có nhược điểm là nước chủ nhà khó tiếp nhận
được kinh nghiệm quản lý và công nghệ, khó kiểm soát được đối tác đầu tư
nước ngoài và không có lợi nhuận.
b. Thành lập doanh nghiệp liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước
và nhà đầu tư nước ngoài
Đây là hình thức được sử dụng rộng rãi trên thế giới từ trước tới nay.
Hình thức này cũng rất phát triển ở Việt Nam, nhất là giai đoạn đầu thu hút
FDI. DNLD là doanh nghiệp được thành lập tại nước sở tại trên cơ sở hợp
đồng liên doanh ký giữa Bên hoặc các Bên nước chủ nhà với Bên hoặc các
Bên nước ngoài để đầu tư kinh doanh tại nước sở tại [31, tr.42].
Như vậy, hình thức DNLD tạo nên pháp nhân đồng sở hữu nhưng địa
điểm đầu tư phải ở nước sở tại. Hiệu quả hoạt động của DNLD phụ thuộc rất
lớn vào môi trường kinh doanh của nước sở tại, bao gồm các yếu tố kinh tế,
chính trị, mức độ hoàn thiện pháp luật, trình độ của các đối tác liên doanh của
nước sở tại... Hình thức DNLD có những ưu điểm là góp phần giải quyết tình
trạng thiếu vốn, nước sở tại tranh thủ được nguồn vốn lớn để phát triển kinh
tế nhưng lại được chia sẻ rủi ro; có cơ hội để đổi mới công nghệ, đa dạng hóa
sản phẩm; tạo cơ hội cho người lao động có việc làm và học tập kinh nghiệm
quản lý của nước ngoài; Nhà nước của nước sở tại dễ dàng hơn trong việc
kiểm soát được đối tác nước ngoài. Về phía nhà đầu tư, hình thức này là công
cụ để thâm nhập vào thị trường nước ngoài một cách hợp pháp và hiệu quả,
tạo thị trường mới, góp phần tạo điều kiện cho nước sở tại tham gia hội nhập
vào nền kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, hình thức này có nhược điểm là thường dễ
xuất hiện mâu thuẫn trong điều hành, quản lý doanh nghiệp do các bên có thể
có sự khác nhau về chế độ chính trị, phong tục tập quán, truyền thống, văn
hóa, ngôn ngữ, luật pháp. Nước sở tại thường rơi vào thế bất lợi do tỷ lệ góp
vốn thấp, năng lực, trình độ quản lý của cán bộ tham gia trong DNLD yếu.
c. Đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC)
Hợp đồng hợp tác kinh doanh là hình thức đầu tư được ký giữa các nhà
đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà
không thành lập pháp nhân [28, tr.10].
Hình thức đầu tư này có ưu điểm là giúp giải quyết tình trạng thiếu vốn,
công nghệ; tạo thị trường mới, bảo đảm được quyền điều hành dự án của nước
sở tại, thu lợi nhuận tương đối ổn định. Tuy nhiên, nó có nhược điểm là nước sở
tại không tiếp nhận được kinh nghiệm quản lý; công nghệ thường lạc hậu; chỉ
thực hiện được đối với một số ít lĩnh vực dễ sinh lời như thăm dò dầu khí.
Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh không thành lập pháp nhân
riêng và mọi hoạt động BCC phải dựa vào pháp nhân của nước sở tại. Do đó,
về phía nhà đầu tư, họ rất khó kiểm soát hiệu quả các hoạt động BCC. Tuy
nhiên, đây là hình thức đơn giản nhất, không đòi hỏi thủ tục pháp lý rườm rà
nên thường được lựa chọn trong giai đoạn đầu khi các nước đang phát triển
bắt đầu có chính sách thu hút FDI. Khi các hình thức 100% vốn hoặc liên
doanh phát triển, hình thức BCC có xu hướng giảm mạnh.
d. Hình thức hợp đồng BOT, BTO, BT
BOT là hình thức đầu tư được thực hiện theo hợp đồng ký kết giữa cơ
quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng, kinh
doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời gian nhất định; hết thời hạn,
nhà đầu tư chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nước Việt
Nam [28, tr.11].
BTO và BT là các hình thức phái sinh của BOT, theo đó quy trình đầu
tư, khai thác, chuyển giao được đảo lộn trật tự.
Hình thức BOT, BTO, BT có các đặc điểm cơ bản: một bên ký kết phải
là Nhà nước; lĩnh vực đầu tư là các công trình kết cấu hạ tầng như đường sá,
cầu, cảng, sân bay, bệnh viện, nhà máy sản xuất, điện, nước...; bắt buộc đến
thời hạn phải chuyển giao không bồi hoàn cho Nhà nước.
Ưu điểm của hình thức này là thu hút vốn đầu tư vào những dự án kết
cấu hạ tầng, đòi hỏi lượng vốn lớn, thu hồi vốn trong thời gian dài, làm giảm
áp lực vốn cho ngân sách nhà nước. Đồng thời, nước sở tại sau khi chuyển
giao có được những công trình hoàn chỉnh, tạo điều kiện phát huy các nguồn
lực khác để phát triển kinh tế. Tuy nhiên, hình thức BOT có nhược điểm là độ
rủi ro cao, đặc biệt là rủi ro chính sách; nước chủ nhà khó tiếp nhận kinh
nghiệm quản lý, công nghệ.
e. Đầu tư mua cổ phần hoặc sáp nhập, mua lại doanh nghiệp
Đây là hình thức thể hiện kênh đầu tư Cross - border M & As đã nêu ở
trên. Khi thị trường chứng khoán phát triển, các kênh đầu tư gián tiếp (FPI) được
khai thông, nhà đầu tư nước ngoài được phép mua cổ phần, mua lại các doanh
nghiệp ở nước sở tại, nhiều nhà đầu tư rất ưa thích hình thức đầu tư này.
Ở đây, về mặt khái niệm, có vấn đề ranh giới tỷ lệ cổ phần mà nhà đầu
tư nước ngoài mua - ranh giới giúp phân định FDI với FPI. Khi nhà đầu tư
nước ngoài tham gia mua cổ phiếu, trái phiếu trên thị trường chứng khoán
nước sở tại, họ tạo nên kênh đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI). Tuy nhiên, khi
tỷ lệ sở hữu cổ phiếu vượt quá giới hạn nào đó cho phép họ có quyền tham
gia quản lý doanh nghiệp thì họ trở thành nhà đầu tư FDI. Luật pháp Hoa Kỳ
và nhiều nước phát triển quy định tỷ lệ ranh giới này là 10%. Đối với Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay, tỷ lệ này được quy định là 30%.
Hình thức mua cổ phần hoặc mua lại toàn bộ doanh nghiệp có ưu điểm
cơ bản là để thu hút vốn và có thể thu hút vốn nhanh, giúp phục hồi hoạt động
của những doanh nghiệp bên bờ vực phá sản. Nhược điểm cơ bản là dễ gây
tác động đến sự ổn định của thị trường tài chính. Về phía nhà đầu tư, đây là
hình thức giúp họ đa dạng hoá hoạt động đầu tư tài chính, san sẻ rủi ro nhưng
cũng là hình thức đòi hỏi thủ tục pháp lý rắc rối hơn và thường bị ràng buộc,
hạn chế từ phía nước chủ nhà.
1.1.3. Tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với quá trình
phát triển kinh tế của các nước đang phát triển (nước tiếp nhận đầu tư)
FDI tác động rất lớn, trực tiếp đối với sự phát triển kinh tế của một quốc
gia, tác động đến mọi mặt của đời sống về kinh tế, văn hóa, xã hội và chính trị
của nước tiếp nhận đầu tư. Trong đó, về kinh tế, FDI tác động đến tăng trưởng
tổng sản phẩm quốc nội (GDP), cán cân thanh toán, thu nhập của người lao
động và các chỉ tiêu kinh tế khác. Để phục vụ cho việc luận chứng các chính
sách thu hút FDI, người ta thường nhìn nhận các tác động kinh tế này thành
hai nhóm: tác động tích cực và tác động tiêu cực.
1.1.3.1. Những tác động tích cực
Thứ nhất, FDI bổ sung nguồn vốn cho phát triển kinh tế. Một nền kinh
tế đang phát triển, nếu có nguồn vốn đầu tư càng cao thì tăng trưởng sẽ càng
cao. Vốn đầu tư hình thành từ nguồn vốn đầu tư trong nước và vốn đầu tư
nước ngoài, bao gồm vốn vay thương mại, đầu tư gián tiếp và FDI. Các quốc
gia, nhất là các nước đang phát triển, nhu cầu vốn đầu tư rất lớn và FDI là một
trong những nguồn vốn rất quan trọng. Vốn FDI có nhiều lợi thế vì không tạo
ra khoản nợ giữa nước đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư, khi dự án tạo ra lợi
nhuận thì được chuyển về nước và một phần được dùng để tái đầu tư, có tính
ổn định cao hơn so với các khoản đầu tư khác.
Thứ hai, FDI góp phần vào sự phát triển công nghệ, kỹ thuật mới, góp
phần cải thiện đáng kể kết cấu hạ tầng. Đồng thời, FDI tạo nền tảng vững
chắc về khoa học và công nghệ để thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ; giảm tỷ trọng nông nghiệp
trong cơ cấu GDP.
Các nước đang phát triển có đặc điểm là sử dụng công nghệ lạc hậu, do
đó năng suất lao động thấp, hiệu quả và sức cạnh tranh sản phẩm yếu. Xét về
nhu cầu, cần có quá trình chuyển giao công nghệ từ các nước phát triển sang
các nước đang phát triển. Có hai hình thức chuyển giao công nghệ là trực tiếp
và gián tiếp, trong đó FDI là hình thức chuyển giao công nghệ trực tiếp và có
hiệu quả nhất. Bằng hình thức này, công nghệ được các công ty nước ngoài
chuyển giao trực tiếp cả phần cứng (máy móc, thiết bị) lẫn phần mềm là bí
quyết công nghệ. Đây là ưu điểm của chuyển giao công nghệ bằng con đường
FDI so với các hình thức chuyển giao công nghệ khác. Việc tiếp nhận công
nghệ từ chủ đầu tư sẽ giúp các doanh nghiệp FDI trong nước tiếp cận với
công nghệ từ công ty mẹ, đồng thời rút ngắn khoảng cách công nghệ giữa
nước đang phát triển với trình độ công nghệ tiên tiến của thế giới.
Thứ ba, FDI góp phần giải quyết việc làm và nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực. Các dự án FDI mới tạo ra nhiều việc làm mới cho người lao
động, và thông qua việc thực hiện các dự án đó, làm thay đổi cơ cấu lao động,
nâng cao năng lực, kỹ năng lao động, năng lực quản lý doanh nghiệp, tác
phong công nghiệp, phù hợp với nền sản xuất hiện đại.
Như trên đã nói, FDI luôn gắn liền với chuyển giao công nghệ mới so
với công nghệ trong nước, cho nên lao động của nước tiếp nhận đầu tư được
đào tạo để sử dụng và quản lý công nghệ, tiếp cận với phương pháp quản lý
chất lượng, tổ chức và quản lý công nghệ, biện pháp tiếp thị, tiếp cận với các
tiêu chuẩn chất lượng quốc tế. Thông qua đó, trình độ và kỹ năng của người
lao động trong nước được nâng lên rõ rệt.
Ngoài việc tạo ra việc làm trực tiếp, FDI còn gián tiếp tạo ra nhiều việc
làm thông qua những ngành công nghiệp phụ trợ như cung cấp nhiên, nguyên,
vật liệu, dịch vụ phục vụ cho các doanh nghiệp FDI và các nhà đầu tư nước
ngoài. Các hoạt động công nghiệp phụ trợ này cũng đòi hỏi chất lượng cao, tổ
chức tốt, do đó có tác dụng nâng cao trình độ, kỹ năng sản xuất và kinh doanh
ở các ngành công nghiệp phụ trợ.
Thứ tư, FDI góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nước tiếp nhận
đầu tư, thúc đẩy xuất khẩu, cải thiện cán cân thanh toán, mở rộng hợp tác kinh tế
quốc tế. Thực vậy, hoạt động FDI chủ yếu phát triển ở các ngành công nghiệp,
dịch vụ mới, do đó có tác động lớn đến cơ cấu ngành kinh tế, góp phần hình
thành cơ cấu kinh tế hiện đại của nước tiếp nhận đầu tư. Thực tiễn cho thấy, FDI
ở Việt Nam cũng tập trung vào hai ngành chủ yếu là công nghiệp và dịch vụ, ít
đầu tư vào nông nghiệp, do đó, góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng
tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ và giảm tỷ trọng nông nghiệp.
Hầu hết các doanh nghiệp FDI về lĩnh vực sản xuất chủ yếu là sản xuất
hàng hóa xuất khẩu, do vậy góp phần tăng năng lực xuất khẩu. Đồng thời,
thông qua các chi nhánh của các công ty nước ngoài hoặc các công ty xuyên
quốc gia để mở rộng thị trường xuất khẩu. Hầu hết các nước đang phát triển
đều nhập khẩu máy móc thiết bị và xuất khẩu các sản phẩm thô, do đó cán
cân thương mại thường thâm hụt, mất cân đối trong cán cân thanh toán. FDI
góp phần làm tăng thu ngoại tệ, góp phần cải thiện cán cân thanh toán.
Ngày nay, quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra nhanh chóng và cạnh
tranh rất quyết liệt, đầu tư là một trong những lĩnh vực được các quốc gia cam
kết tự do hóa. FDI làm cho sự phân công lao động quốc tế diễn ra theo chiều
sâu, những cam kết về tự do hóa FDI được coi như là những quan điểm hội
nhập kinh tế quốc tế của từng quốc gia.
1.1.3.2. Những tác động tiêu cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Bên cạnh những tác động tích cực nêu trên, FDI còn có những tác động
tiêu cực đến nước tiếp nhận đầu tư. Sau đây là những tác động tiêu cực mang
tính phổ biến:
- Đối với các nền kinh tế có quy mô thị trường nhất định, các nhà đầu tư
nước ngoài, sau một thời gian hoạt động, có khả năng sẽ kiểm soát thị trường
địa phương, như vậy làm suy yếu các doanh nghiệp trong nước, làm cho nền
kinh tế của nước nhận đầu tư ngày càng phụ thuộc vào các nhà sản xuất nước
ngoài. Ngày nay, trong điều kiện mở cửa và hội nhập quốc tế, tác động này có
xu hướng ngày càng mạnh nhưng các nước tiếp nhận đầu tư cũng đã có đối
sách thích hợp nhằm hạn chế tác động này.
- Về chuyển giao công nghệ, FDI có khả năng chuyển giao các công
nghệ lạc hậu sang các nước đang phát triển, biến các nước tiếp nhận đầu tư
thành "bãi thải công nghệ". Mặt khác, có một số công ty xuyên quốc gia lại
chuyển giao những công nghệ quá hiện đại, không thích hợp với trình độ, tay
nghề nhân lực của nước nhận đầu tư.
- Lợi nhuận của các doanh nghiệp FDI có xu hướng chuyển ra nước
ngoài, do vậy FDI tuy tác động đẩy mạnh tăng trưởng ngắn hạn và trung hạn
nhưng có khả năng làm giảm tiềm lực tăng trưởng dài hạn.
- Tạo nên những vấn đề phức tạp mới trong quản lý như biến động thị
trường ngoại hối, trốn thuế thông qua chuyển giá, tăng mức độ gây ô nhiễm
môi trường...
- Làm tăng các vấn đề xã hội mới như phân hoá xã hội, giàu nghèo, nạn
"chảy máu chất xám" trong nội bộ nền kinh tế...
1.1.4. Xu hướng của FDI hiện nay trên thế giới
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế và thương mại thế giới, FDI của
thế giới trong những năm gần đây cũng có nhiều biến động. Nhiều nghiên cứu
đã chỉ ra các xu hướng này [20]. Toàn cầu hóa kinh tế thế giới ngày càng thúc
đẩy sự phát triển các luồng vốn FDI nhằm tối đa hóa lợi nhuận của vốn đầu tư
thông qua di chuyển sản xuất, kinh doanh đến địa điểm có lợi nhất về chi phí
và tiêu thụ, trở thành một hình thái quan trọng trong hoạt động đầu tư quốc tế
của các quốc gia trên thế giới. Vai trò của các công ty xuyên quốc gia ngày
càng tăng lên trong quá trình phân bổ và di chuyển các dòng vốn FDI trên thế
giới. Sự phân bổ dòng vốn FDI không đều, phần lớn tập trung ở các nước
công nghiệp phát triển, dòng vốn FDI chảy vào các nước đang phát triển tuy
có chiều hướng tăng lên nhưng tỷ trọng vẫn còn rất nhỏ bé. Tính cạnh tranh
giữa các nước đầu tư và giữa các nước tiếp nhận đầu tư với nhau ngày càng
cao. Quá trình luân chuyển FDI giữa các đối tác tham gia quá trình luân
chuyển này vừa có tính quốc tế hóa, vừa có tính cục bộ hóa. Hầu hết các nước
đều tham gia vào cả hai quá trình đầu tư và tiếp nhận đầu tư.
Về xu hướng ngắn hạn gần đây, có thể thấy rõ, năm 2005 là năm thứ hai
liên tiếp FDI thế giới tăng trưởng, và đó là một hiện tượng mang tính toàn
cầu. Theo báo cáo của UNCTAD [58], FDI thế giới năm 2005 tăng 29%, đạt
916 tỷ USD (năm 2004 tăng 27%). Dòng vào FDI tăng trưởng ở hầu hết các
khu vực, trong đó một số vùng có sự tăng trưởng chưa từng có trước đây, và ở
126 trong số 200 nền kinh tế được kiểm soát bởi UNCTAD. Tuy nhiên, dòng
chảy FDI thế giới còn cách xa đỉnh điểm đạt được vào năm 2000 với 1.400 tỷ
USD là năm có nhiều cuộc đầu tư lớn thông qua hình thức M & As. Sự bùng
nổ trong FDI chủ yếu do sự gia tăng của hình thức đầu tư M & As, đặc biệt ở
các nước phát triển. Xu hướng FDI thế giới cũng cho thấy sự xuất hiện ngày
càng nhiều các nền kinh tế có FDI lớn, vốn trước đây là các nước đang phát
triển và các nền kinh tế chuyển đổi.
Năm 2005, FDI tiếp tục mở rộng nhanh chóng. Các nước phát triển vẫn
là những nước đầu tư, đồng thời là nước tiếp nhận FDI nhiều nhất. Các nước
này tiếp nhận khoảng 542 tỷ USD, tăng 37% so với năm 2004; trong khi đó, các
nước đang phát triển, FDI gia tăng ở mức kỷ lục, đạt 334 tỷ USD. Xét về tỷ lệ
phần trăm, các nước phát triển chiếm 59% tổng dòng FDI của thế giới. Các nước
đang phát triển chiếm 36%, và các nước khu vực Đông – Nam Châu Âu và các
quốc gia thuộc khối thịnh vượng chung (CIS) chiếm khoảng 4% [58].
Vương quốc Anh là nước tiếp nhận đầu tư lớn nhất thế giới trong năm
2005 với 165 tỷ USD. Mặc dù có giảm về mức độ tiếp nhận FDI nhưng Hoa
Kỳ vẫn là nước đứng thứ nhì. Đối với các nền kinh tế đang phát triển, so với
năm 2004, danh sách các quốc gia và vùng lãnh thổ tiếp nhận FDI lớn nhất
vẫn không thay đổi: Trung Quốc (bao gồm cả Hồng Kông) đứng đầu, tiếp
theo là Singapore, Mexico và Brazil. Tính theo khu vực, EU với 25 thành viên
là địa điểm hấp dẫn đầu tư nhất, với dòng đầu tư vào năm 2005 đạt 422 tỷ
USD, gần bằng 50% tổng dòng vào FDI thế giới. Các nước khu vực Đông Á,
Nam Á và Đông Nam Á tiếp nhận 165 tỷ USD, vào khoảng 1/5 toàn thế giới,
trong đó Đông Á chiếm 3/4 của khu vực. Tiếp theo là Bắc Mỹ với 133 tỷ USD,
và Trung, Nam Mỹ với 65 tỷ USD. Khu vực Tây Á có mức tiếp nhận không cao
nhưng lại đạt tỷ lệ tăng trưởng FDI cao nhất với 85%, vào khoảng 34 tỷ USD.
Châu Phi đạt 31 tỷ USD, cũng là mức lớn nhất từ trước đến nay [58].
Xét về chủ đầu tư, năm 2005, dòng FDI đầu tư của thế giới khoảng 779
tỷ USD. Các nước phát triển vẫn đứng đầu về đầu tư ra nước ngoài. Năm
2005, nếu trừ Hoa Kỳ thì Hà Lan đứng đầu, với 119 tỷ USD, tiếp theo là Pháp
và Vương Quốc Anh. Tuy vậy, dòng đầu tư ra nước ngoài tăng đáng kể ở các
nền kinh tế đang phát triển. Dẫn đầu nhóm này là Hồng Kông (Trung Quốc)
với 33 tỷ USD. Thật sự, vai trò của các nền kinh tế đang phát triển và nền
kinh tế chuyển đổi đối với hoạt động FDI được tăng lên. Từ chỗ có dòng đầu
tư ra FDI không đáng kể và rất nhỏ bé ở những năm 80, đến nay dòng ra FDI
ở các nền kinh tế này đạt 133 tỷ USD (năm 2005), tương đương khoảng 17%
tổng dòng FDI đầu tư ra nước ngoài của thế giới [58].
Xu hướng năm 2005 cũng cho thấy, hình thức M & As được thúc đẩy
mạnh mẽ bởi sự giao dịch cũng như thực hiện của các quỹ đầu tư tập thể, đặc
biệt ở các nước phát triển, đã thúc đẩy sự gia tăng FDI trong thời gian gần
đây. Giá trị đầu tư thông qua hình thức M & As tăng 88% so với năm 2004,
đạt 716 tỷ USD. Về lĩnh vực đầu tư, hầu hết dòng vào của FDI chủ yếu là
ngành dịch vụ nhưng sự tăng đột biến của FDI là ở lĩnh vực khai thác các
nguồn lực tự nhiên. Các dịch vụ đạt thành quả đáng kể trong thu hút FDI là tài
chính, viễn thông và bất động sản.
Một xu hướng đáng lưu ý nữa là sự gia tăng đầu tư FDI của các công ty
xuyên quốc gia. Sự xuất hiện của các công ty xuyên quốc gia cấu trúc dạng
tập đoàn ở các nền kinh tế đang phát triển ngày càng gia tăng đáng kể. Các
tập đoàn này bao gồm các công ty mẹ và các công ty con của chúng ở các
nước trên thế giới. Công ty mẹ là công ty kiểm soát toàn bộ tài sản của chúng
ở nước sở hữu hơn là ở nước ngoài. Công ty con là các công ty hoạt động ở
nước ngoài dưới sự quản lý của công ty mẹ và thường được gọi chung là chi
nhánh ở nước ngoài. Có các loại công ty con dưới đây:
* Phụ thuộc (subsidiary): chủ đầu tư (thuộc công ty mẹ) sở hữu hơn
50% tổng tài sản của công ty. Họ có quyền chỉ định hoặc bãi nhiệm các thành
viên bộ máy tổ chức và quản lý điều hành của công ty.
* Liên kết (associate): chủ đầu tư sở hữu 10%-50% công ty, tỷ lệ này
chưa đủ để có quyền hạn như trường hợp công ty phụ thuộc [3, tr.54].
Các nước công nghiệp phát triển OECD vẫn là các nước có ảnh hưởng
quyết định đối với sự phát triển của FDI ở các nước. Đã từ lâu, bộ ba kinh tế
EU, Hoa Kỳ và Nhật Bản là những nhà đầu tư ra nước ngoài và là nơi tiếp
nhận vốn FDI lớn nhất thế giới [58].
1.1.5. Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với Đà Nẵng
Từ ngày 1/1/1997, Đà Nẵng đã trở thành đơn vị hành chính trực thuộc
Trung ương, tạo cơ hội và khả năng mới cho sự phát triển kinh tế - xã hội của
thành phố. Trong những năm qua, FDI góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế
của thành phố theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ và thực hiện
chiến lược kinh tế hướng về xuất khẩu của thành phố.
Xét về tổng thể, FDI là nguồn vốn đầu tư quan trọng trong tổng vốn đầu
tư phát triển của thành phố, giải quyết một phần nhu cầu thiếu vốn đầu tư
nghiêm trọng của thành phố. Đối với một số ngành trọng điểm, FDI còn có
vai trò là nguồn vốn quyết định đến quy mô và tốc độ phát triển ngành.
FDI còn góp phần tăng trưởng kinh tế, là bộ phận đóng góp chủ yếu cho
ngân sách thành phố, góp phần đáng kể giải quyết việc làm, người lao động
làm việc trong các doanh nghiệp FDI có thu nhập bình quân tương đối cao và
ổn định.
FDI còn có vai trò làm cho nền kinh tế thành phố thâm nhập vào thị
trường quốc tế, các doanh nghiệp địa phương buộc phải thích ứng để tồn tại
và phát triển, đồng thời phải có các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh
của mình trên tất cả các mặt liên quan đến sản xuất kinh doanh, như vậy làm
cho kinh tế thành phố nói chung năng động hơn, có sức cạnh tranh tốt hơn.
Các doanh nghiệp có vốn FDI góp phần nâng cao trình độ và tạo điều
kiện cho người lao động tiếp cận với công nghệ, kỹ thuật cao. Đến nay, các
dự án FDI trên địa bàn thành phố giải quyết việc làm cho gần 25.000 lao động
trực tiếp và hàng chục ngàn lao động thời vụ khác.
Cơ cấu vốn FDI phù hợp với xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế
thành phố từ nay đến năm 2010 là công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp theo
đúng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của thành phố. Mặt khác,
FDI còn góp phần vào việc khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên của
thành phố một cách hiệu quả.
1.2. NHU CẦU THU HÚT VỐN VÀ SỰ CẦN THIẾT ĐẨY MẠNH
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở ĐÀ NẴNG
1.2.1. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Đà Nẵng từ 2006 đến 2010
1.2.1.1. Điều kiện, vị trí của Đà Nẵng
Đà Nẵng là thành phố được phát triển mạnh từ thời Pháp thuộc, trở
thành đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương từ 1/1/1997. Đà Nẵng có diện
tích tự nhiên 1.256,4 km
2
, dân số năm 2005 là 779.017 người. Đà Nẵng hiện
nay có 6 quận và 2 huyện (huyện Hoà Vang và huyện đảo Hoàng Sa). Phía
Bắc giáp với tỉnh Thừa Thiên - Huế, phía Nam và phía Tây giáp với tỉnh
Quảng Nam, phía Đông giáp với biển Đông. Đà Nẵng là đầu mối quan trọng
của hệ thống giao thông vận tải quốc gia bao gồm đường bộ, đường không và
đường biển.
Đà Nẵng nằm ở vị trí trung tâm của cả nước, có mối giao lưu kinh tế,
văn hoá mật thiết với các trung tâm lớn ở hai miền là thủ đô Hà Nội và thành
phố Hồ Chí Minh. Nằm giữa vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, cách khu
kinh tế Dung Quất (thuộc tỉnh Quảng Ngãi) 120 km và khu kinh tế mở Chu
Lai (thuộc tỉnh Quảng Nam) 90 km về phía Nam, Đà Nẵng hiện nay và trong
tương lai sẽ là đô thị hạt nhân của khu vực. Về bưu chính viễn thông, Đà
Nẵng có trạm cáp quang biển gần bờ là cầu nối hệ thống viễn thông quốc tế
của Việt Nam với xa lộ thông tin toàn cầu. Đà Nẵng cũng là một trong số các
trung tâm giao lưu quốc tế ở Việt Nam, là điểm cuối của hành lang kinh tế
Đông – Tây của Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng, rất thuận lợi cho việc
giao lưu với các địa phương trong nước và các nước láng giềng như Lào, Thái
Lan, Myanmar. Nguồn điện cung cấp cho thành phố từ hệ thống điện lưới
quốc gia 500KV Bắc – Nam đủ khả năng đáp ứng nhu cầu điện cho sản xuất
và sinh hoạt. Đà Nẵng có hệ thống kết cấu hạ tầng có lợi thế lớn ở miền
Trung, được coi là ưu thế trong thu hút vốn FDI. Đà Nẵng là một trong
những địa phương có chỉ số phát triển con người (HDI) cao nhất nước, hệ
thống giáo dục hoàn chỉnh từ bậc mầm non đến đại học. Đại học Đà Nẵng
là một trong những trường đại học lớn nhất của khu vực miền Trung và cả
nước, là nơi đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao phục vụ cho sự
nghiệp CNH, HĐH Đà Nẵng nói riêng và khu vực miền Trung nói chung.
Đà Nẵng cũng có hệ thống các trường dạy nghề rất tốt, đáp ứng đòi hỏi của
các nhà đầu tư trên nhiều lĩnh vực khác nhau.
1.2.1.2. Định hướng chiến lược của Đà Nẵng
Đại hội Đảng bộ thành phố Đà Nẵng lần thứ XIX đề ra:
Với yêu cầu phát triển của 10 năm đầu thế kỷ XXI và Tầm
nhìn 2020, Đà Nẵng sẽ phát triển thành một trong những đô thị lớn
của cả nước với quy mô dân số khoảng 1,5 triệu người; không gian
đô thị ngày càng mở rộng. Đà Nẵng sẽ phát huy vai trò là đô thị
trung tâm của miền Trung, đầu mối giao thông quan trọng và cửa
ngõ chính ra biển của các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên và hành
lang Đông – Tây; cùng với Khu kinh tế mở Chu Lai, Khu kinh tế
Dung Quất, đóng vai trò động lực phát triển vùng kinh tế trọng điểm
miền Trung; là địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng về quốc
phòng – an ninh của khu vực và cả nước. Trong cơ cấu kinh tế của
Đà Nẵng vào năm 2020, ngành dịch vụ sẽ chiếm tỷ trọng trên 60%
GDP. GDP bình quân đầu người đến năm 2020 phấn đấu đạt mức
5000USD/người. Đà Nẵng phấn đấu để trở thành thành phố công
nghiệp vào năm 2015 [40, tr.53-54].
a. Mục tiêu chung
Nghị quyết 33 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Đà
Nẵng trong thời kỳ CNH, HĐH nêu rõ mục tiêu chung về phát triển thành phố:
Xây dựng thành phố Đà Nẵng trở thành một trong những đô
thị lớn của cả nước, là trung tâm kinh tế - xã hội lớn của miền Trung
với vai trò là trung tâm công nghiệp, thương mại, du lịch và dịch vụ;
là thành phố cảng biển, đầu mối giao thông quan trọng về trung
chuyển vận tải trong nước và quốc tế; trung tâm bưu chính - viễn
thông và tài chính - ngân hàng; một trong những trung tâm văn hoá -
thể thao, giáo dục - đào tạo và khoa học công nghệ của miền Trung;
là địa bàn giữ vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng, an ninh
của khu vực miền Trung và cả nước [16, tr.332].
b. Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu giai đoạn 2006 - 2010
Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XIX đề ra một số chỉ tiêu chủ yếu
sau [40]:
- Nhịp độ tăng GDP trung bình: 14% - 15%.
- GDP bình quân đầu người đến năm 2010 đạt: 2.000 USD.
- Tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp: 22% - 23%.
- Tốc độ tăng giá trị sản xuất các ngành dịch vụ: 14% - 15%.
- Tốc độ tăng giá trị sản xuất nông nghiệp: 5% - 6%.
- Kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân: 23% - 24% /năm.
- Thu ngân sách chiếm 22% - 23% GDP.
- Giảm tỷ lệ sinh bình quân hàng năm: 0,03%.
- Hàng năm giải quyết thêm việc làm khoảng 3,2 - 3,5 vạn lao động.
- Năm 2010 tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn thành phố sẽ giảm xuống còn 0,5%.
- Cơ cấu kinh tế đến năm 2010: công nghiệp - xây dựng: 46,7%; dịch vụ:
50,1%; thuỷ sản, nông, lâm nghiệp: 3,2%.
c. Định hướng phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Đà Nẵng đến
năm 2010
Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XIX đã đề ra định hướng chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội thành phố đến 2010, trong đó bao gồm những nội
dung chủ yếu sau [40]:
- Xây dựng thành phố Đà Nẵng trở thành đô thị hiện đại, văn minh có
môi trường văn hoá - xã hội lành mạnh, phát triển trong thế ổn định và bền
vững, giữ vai trò trung tâm của miền Trung và Tây Nguyên với cơ cấu kinh tế
công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch, thuỷ sản, nông lâm nghiệp, trong
mối quan hệ với cả nước, khu vực hành lang Đông - Tây và ASEAN.
- Tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH. Tăng tỷ
trọng phát triển công nghiệp hướng mạnh vào công nghiệp chế biến, công
nghiệp hàng tiêu dùng phục vụ cho xuất khẩu, công nghiệp vật liệu xây dựng,
công nghiệp hoá chất, từng bước tăng tỷ trọng dịch vụ và du lịch.
- Phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường sinh thái nhằm đảm bảo
sự phát triển bền vững của thành phố, bảo vệ sức khoẻ và nâng cao chất
lượng cuộc sống cho nhân dân.
- Gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội. Tạo nhiều
việc làm cho người lao động, nâng cao trình độ dân trí. Tăng cường đầu tư
công cộng cho khu vực nông thôn, miền núi, vùng xa nhằm làm cho mức
sống của các tầng lớp dân cư ngày càng nâng cao.
- Phát huy sức mạnh tổng hợp của mọi thành phần kinh tế; đa dạng hoá
các loại hình sản xuất kinh doanh; phát huy nội lực, tạo ra môi trường đầu tư
thuận lợi thông thoáng, để thu hút vốn và công nghệ mới từ bên ngoài, tăng
cường giao lưu kinh tế với các địa phương trong nước và quốc tế.
- Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu
phát triển; nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, tham mưu chính
sách, đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp và công nhân kỹ thuật; có chính
sách phát triển, sử dụng nhân tài. Coi trọng ứng dụng những thành tựu khoa
học công nghệ mới. Phát huy truyền thống văn hoá, dũng cảm, cần cù của
nhân dân Đà Nẵng và hoà nhập với các thành phố lớn trong nước và khu vực.
- Phát triển kinh tế - xã hội bền vững gắn kết với nhiệm vụ bảo vệ quốc
phòng, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.
1.2.2. Nhu cầu vốn đầu tư phát triển của Đà Nẵng và nhu cầu vốn
đầu tư trực tiếp nuớc ngoài
1.2.2.1. Tổng vốn đầu tư phát triển cần thiết cho giai đoạn 2006 - 2010
Báo cáo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của UBND thành phố trình
bày tại Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XIX nêu rõ: Để phát triển kinh tế -
xã hội, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ, mục tiêu đã đề ra, thành phố Đà
Nẵng cần phải có một nguồn vốn đầu tư rất lớn. Để đạt mức tăng trưởng GDP
bình quân 14% - 15%/năm cần huy động tổng vốn đầu tư toàn xã hội khoảng
63.200 tỷ đồng, bình quân tăng 15,8%/năm (hệ số suất đầu tư ICOR dự kiến
là 3,86 lần). Trong đó, nhu cầu vốn đầu tư thời kỳ 2006 - 2010 cho ngành
nông nghiệp là 1.303,8 tỷ đồng; ngành công nghiệp, xây dựng là 19.018,9 tỷ
đồng và ngành dịch vụ là 42.877,3 tỷ đồng [49].
So sánh với thời kỳ 2001 - 2005, dự kiến tổng vốn đầu tư phát triển thời
kỳ 2006 - 2010 gấp 2,6 lần; trong đó vốn đầu tư phát triển ngành dịch vụ là
lớn nhất (bảng 1.1).
Bảng 1.1. Cơ cấu vốn đầu tư phát triển của Đà Nẵng thời kỳ 2001 - 2005
và nhu cầu thời kỳ 2006 - 2010
Đơn vị tính: tỷ đồng
Chỉ tiêu 2001 - 2005 2006 - 2010
Tổng số 23.912,0 63.200,0
Nông nghiệp 493,3 1.303,8
Công nghiệp 7.195,9 19.018,9
Dịch vụ 16.222,8 42.877,3
Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư Đà Nẵng.
1.2.2.2. Cân đối các nguồn vốn, nhu cầu thu hút vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XIX đã nêu rõ nhu cầu
vốn FDI của thành phố như sau:
Để thực hiện được mục tiêu đề ra về tổng nguồn vốn đầu tư
phát triển nêu trên, thành phố cần tăng cường huy động nhiều
nguồn vốn đầu tư theo nhiều hướng khác nhau; vận động các dự án
lớn của các Bộ, Ngành Trung ương đầu tư vào thành phố; tranh thủ
nguồn vốn vay dài hạn, trả chậm hàng năm của Nhà nước và các tổ
chức tài chính, tín dụng; đẩy mạnh thu hút vốn FDI, vốn đầu tư của
khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Phấn đấu trong 5 năm (2006 -
2010) thu hút vốn FDI đạt 1.640 triệu USD, chiếm 40% tổng nhu
cầu vốn đầu tư phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ này, chủ yếu tập
trung vào các ngành công nghiệp và du lịch [40, tr.150].
Như vậy, nhu cầu bình quân mỗi năm thành phố phải thu hút vốn FDI
là 328 triệu USD. Trong các năm gần đây, Đà Nẵng luôn dẫn đầu miền Trung
về thu hút FDI. Tuy nhiên, so với các địa phương ở hai đầu của đất nước, kết
quả thu hút FDI vào thành phố Đà Nẵng còn quá khiêm tốn, chưa xứng đáng
với tiềm năng và vị thế của thành phố Đà Nẵng. Với khả năng tích lũy vốn
nội bộ còn hạn chế như hiện nay thì việc thu hút nguồn vốn FDI cho sự phát
triển kinh tế - xã hội ở Đà Nẵng trong thời gian tới là một vấn đề quan trọng
mang tính chiến lược.
1.3. CHÍNH SÁCH THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC
NGOÀI CỦA NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
1.3.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về thu hút vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài
FDI là một lĩnh vực hoạt động gắn liền với chủ trương “đổi mới và mở
cửa” của Đảng và Nhà nước ta. Qua 20 năm thực hiện Luật Đầu tư nước
ngoài, chúng ta đã đạt được một số thành tựu đáng kể. Nước ta đã kí kết các
hiệp định song phương và tham gia các điều ước quốc tế có liên quan đến
FDI, bao gồm các cam kết thực hiện điều ước quốc tế, các hiệp định song
phương, các cam kết về đầu tư đa phương. Nước ta đã tham gia một số hiệp
định đầu tư đa phương như: Hiệp định khung về khu vực đầu tư ASEAN,
chương trình hành động về xúc tiến đầu tư trong khuôn khổ diễn đàn hợp tác
Á-Âu - ASEAN và nhất là các qui định của WTO có liên quan đến đầu tư khi
nước ta đã trở thành thành viên chính thức của tổ chức này. Đến nay, khi nước ta
trở thành viên chính thức của WTO, các cam kết gia nhập WTO, trong đó có các
cam kết về đầu tư, đang được thực hiện theo lộ trình đã cam kết.
Đảng ta luôn có nhận thức đúng đắn về vai trò, vị thế của thành phần
kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà
nước luôn nhất quán. Ngày 29 tháng 12 năm 1987, Quốc hội nước Cộng hoà
XHCN Việt Nam thông qua Luật Khuyến khích đầu tư nước ngoài. Vào thời
điểm đó, Luật này được dư luận quốc tế đánh giá là một luật đầu tư thông
thoáng nhất trong khu vực [20, tr.186].
Điều 1 của Luật này qui định:
Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoan nghênh
và khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vốn và kỹ
thuật vào Việt Nam trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của Việt
Nam, tuân thủ pháp luật của Việt Nam, bình đẳng và các bên cùng
có lợi. Nhà nước Việt Nam bảo đảm quyền sở hữu đối với vốn đầu
tư và các quyền lợi khác của các tổ chức, cá nhân nước ngoài, tạo
những điều kiện thuận lợi và qui định các thủ tục dễ dàng cho tổ
chức, cá nhân đó đầu tư vào Việt Nam [27].
Hơn nữa, hoạt động FDI còn được đưa vào Hiến pháp của nước ta. Điều
25 của Hiến pháp hiện hành qui định:
Nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu
tư vốn, công nghệ vào Việt Nam phù hợp với pháp luật Việt Nam,
pháp luật và thông lệ quốc tế; bảo đảm quyền sở hữu hợp pháp đối
với vốn, tài sản và các quyền lợi khác của các tổ chức, cá nhân nước
ngoài. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không bị quốc hữu
hoá. Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để người
Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư về nước [21, tr.23].

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×