Tải bản đầy đủ

Luận văn: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao ở nước ta hiện nay ppt


1

Luận văn

Một số giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả sử dụng đội
ngũ lao động có trình độ
chuyên môn kỹ thuật cao ở
nước ta hiện nay

2
LỜI MỞ ĐẦU
Công nghiệp hoá là nhiệm vụ trung tâm xuyên suốt thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội. Công nghiệp hoá là một quá trình tất yếu tiến lên của mọi
quốc gia phù hợp với xu thế chung của lịch sử phát triển của nhân loại. Tại
hội nghị Trung ương lần thứ VII khoá VII đồng chí Đỗ Mười phát biểu có
đoạn nói "Có thể coi công nghiệp hoá là phương tiện để chuyển tải công nghệ
mới vào cuộc sống, để làm được việc này điều quyết định là ở con người. Qua
đây chúng ta có thể hiểu sâu sắc rằng nâng cao cả mặt bằng dân trí và đỉnh
cao dân trí bồi dưỡng, phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là

nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc CNH - HĐH cũng ghi rõ" đào
tạo bồi dưỡng và phát huy mọi tiềm năng của đội ngũ trí thức để tạo nguồn
lực trí tuệ và nhân tài cho đất nước. Đặc biệt coi trọng việc xây dựng một đội
ngũ công nhân lành nghề, những nhà kinh doanh có tài, những nhà quản lý
giỏi và các nhà khoa học kỹ thuật có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao
Động viên sự cống hiến của đồng bào Việt Nam ở nước ngoài góp phần tích
cực xây dựng quê hương xứ sở".
Nhu cầu lao động lành nghề, lao động có chuyên môn kỹ thuật cao là
nhu cầu tất yếu phổ biến cho mọi thời đại, nhưng trong thời kỳ khoa học kỹ
thuật phát triển như vũ bão thì nhu cầu này ngày càng to lớn và bức thiêtài sản
để thích ứng kịp thời với những biến đổi mới. Do đó, xu hướng chung của thế
giới hiện nay là phải học suốt đời, giáo dục trước, việc làm sau. Vấn đề then
chốt để đứng vững và thắng lợi trong cạnh tranh trước hết là chất lượng: chất
lượng sản phẩm, chất lượng công việc mà chất lượng thì không thể tránh khỏi
chủ thể tạo ra nó là con người, là trình độ chuyên môn kỹ thuật cao. Mọi tài
nguyên đều có hạn, chỉ có sức sáng tạo của con người là vô hạn". Đó là một
triết lý. Vì lẽ đó, khi bàn đến chiến lược phát triển kinh tế ở mọi thời đại
người ta thường nói đến yếu tố con người, đến vai trò của lao động có trình độ
chuyên môn kỹ thuật cao.

3
Việt Nam ta từ xưa có truyền thống coi trọng người hiền tài, ngày nay
càng có nhu cầu to lớn và bức thiết đối với người hiền tài, người lao động có
kỹ thuật cao để vươn tới ngang tầm khu vực và thế giới, đứng vững và cạnh
tranh thắng lợi trong cạnh tranh của nền kinh tế thị trường.
Vì vậy cần đánh giá đúng thực trạng tình hình cung và cầu sức lao động
có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, trên cơ sở đó, phát huy hơn nữa mặt
mạnh, bổ khuyết vào mặt yếu để tiếp tục phát triển bền vững.
Đề tài: "Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đội ngũ
lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao ở nước ta hiện nay" là một
lĩnh vực bao gồm nhiều vấn đề rộng lớn, đa dạng và phức tạp.
Bài viết này chủ yếu tập trung nghiên cứu một số vấn đề nhằm đạt được
những mục tiêu sau:
Phân tích, đánh giá về thực trạng đào tạo và sử dụng có hiệu quả đội
ngũ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao và những yếu tố cơ bản tác
động tới đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao trong nền kinh
tế thị trường.
Khuyến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng lao
động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao ở nước ta trong giai đoạn từ nay
đến 2010.


Đề tài bao gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về lực lượng lao động có trình độ chuyên môn
kỹ thuật cao.
Chương II: Một số nét chủ yếu về thực trạng lao động có trình độ
chuyên môn kỹ thuật cao ở nước ta hiện nay.
Chương III: Một số giải pháp nhằm sử dụng có hiệu quả lực lượng lao
động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao ở nước ta hiện nay.

4
MỤC LỤC
Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LỰC LƯỢNG LAO ĐỘNG CÓ
TRÌNH ĐỘ CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT CAO 7
1. Tầm quan trọng của lực lượng lao động có trình độ chuyên môn
kỹ thuật cao 7
2. Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao 8
2.1. Một số khái niệm có liên quan và đặc trưng của nó 8
2.2. Lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao 11
3. Các yếu tố tác động đến cung cầu của lực lượng lao động có trình
độ chuyên môn kỹ thuật cao. 14
3.1. Các yếu tố tác động đến cung lao động có trình độ chuyên môn kỹ
thuật cao 14
3.2. Các yếu tố tác động đến cầu 15
Chương II: MỘT SỐ NÉT CHỦ YẾU VỀ THỰC TRẠNG LAO
ĐỘNG CÓ TRÌNH ĐỘ CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT CAO 17
I. Cung và các nhân tố tác động tới cung lao động có trình độ
chuyên môn kỹ thuật cao 17
1. Thực trạng về đào tạo nguồn lao động có trình độ chuyên môn
kỹ thuật cao 17
1.1. Đào tạo nguồn lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao trong
giai đoạn trước đổi mới (1986) 17
1.2. Trong giai đoạn sau đổi mới 18
2. Một số mặt hạn chế đối với nguồn cung lao động có trình độ
chuyên môn kỹ thuật cao 19
2.1. Số lượng đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao . 19

5
2.2. Cơ cấu lực lượng lao động có trình độ cao 19
2.3. Chất lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao 21
II. Cầu và các nhân tố tác động tới cầu 22
1. Lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao và sự
phân bố ở nước ta hiện nay. 22
1.1. Lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao 11
1.2. Tình hình phân bố lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao ở
nước ta hiện nay. 23
2. Thực trạng việc làm và sử dụng lao động có trình độ chuyên môn
kỹ thuật cao ở nước ta hiện nay 24
2.1. Thực trạng việc làm 24
2.2. Thực trạng sử dụng đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn kỹ
thuật cao 25
3. Sự dịch chuyển đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn kỹ
thuật cao và tác động của nền kinh tế thị trường đến sự dịch chuyển 26
3.1. Sự dịch chuyển đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao 26
3.2. Tác động của nền kinh tế thị trường đến sự dịch chuyển của lực
lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao 28
3.3. Ưu nhược điểm của sự dịch chuyển lao động có trình độ chuyên
môn kỹ thuật cao 29
4. Nhu cầu lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao thời kỳ
1996 - 2000 31
4.1. Về cơ cấu ngành kinh tế 31
4.2. Về cơ cấu thành phần kinh tế 32
4.3. Về cơ cấu công nghệ 32

6
III. Hệ thống chính sách tác động đến cung cầu lao động có trình
độ chuyên môn kỹ thuật cao ở nước ta hiện nay 33
1. Chính sách về giáo dục - đào tạo 33
2. Chính sách về tiền lương và đãi ngộ đối với lao động có trình độ
chuyên môn kỹ thuật cao. 33
3. Chính sách tuyển dụng, sử dụng và phân bổ lao động có trình độ
chuyên môn kỹ thuật cao. 35
4. Những chính sách về phát triển kinh tế thị trường 36
Chương III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM SỬ DỤNG CÓ HIỆU
QUẢ LỰC LƯỢNG LAO ĐỘNG CÓ TRÌNH ĐỘ CHUYÊN MÔN KỸ
THUẬT CAO Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 37
I. Một số nhận xét cơ bản qua đánh giá thực trạng lực lượng lao
động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao ở nước ta 37
II. Khuyến nghị một số giải pháp nhằm sử dụng có hiệu quả lực
lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao 38
A. Những giải pháp thuộc về GD - ĐT 39
1. Nâng cao hơn nữa chất lượng đào tạo nguồn lao động có trình độ
chuyên môn kỹ thuật cao 39
2. Xã hội hoá sự nghiệp giáo dục - đào tạo, tăng cường phát hiện bồi
dưỡng và đào tạo nhân tài 40
3.Phải gấp rút đào tạo một lực lượng chuyên gia dẫn đầu trong từng
ngành, lĩnh vực, đặc biệt là những ngành mũi nhọn 40
4. Đa dạng hoá nguồn cung ứng lao động có trình độ chuyên môn kỹ
thuật cao 41

7
5. Tăng cường mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế để trao đổi khoa
học với nước ngoài nhằm nâng cao tri thức cho các nhân tài và người lao
động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao 41
B. Những giải pháp nhằm sử dụng, tuyển dụng, phân bổ lực lượng
lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao 42
1. Các ngành các cấp các đơn vị sản xuất kinh doanh phải nhận thức sâu sắc
hơn nữa vai trò của lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao 42
2. Đa dạng hoá cầu về lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao 42
3. Thực hiện tốt khâu tuyển dụng lao động vào khu nvực Nhà nước một
cách chặt chẽ và nghiêm túc 43
4. Tạo điều kiện và môi trường làm việc, sinh hoạt thuận lợi để lao
động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao phát huy tối đa năng lực làm việc
của mình 43
C. Các giải pháp thuộc về chính sách Nhà nước 44
1. Tiến hành rà soát lại để tiếp tục hoàn thiện chế độ tiền lương trong
các doanh nghiệp và cơ quan để có chế độ đãi ngộ xứng đáng đối với tài năng
và lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao nói chung 44
2. Chính sách đầu tư 45
3. Các chính sách khác. 45
D. Các giải pháp khác 46
KẾT LUẬN 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51

8
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LỰC LƯỢNG LAO ĐỘNG CÓ TRÌNH ĐỘ
CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT CAO
1. Tầm quan trọng của lực lượng lao động có trình dodọ chuyên
môn kỹ thuật cao.
Nền kinh tế nước ta hiện nay đang trong giai đoạn tiếp tục đổi mới phát
triển một bước công nghiệp hoá và hiện đại hoá, mở cửa và đang phương hoá,
đa dạng hoá quan hệ đối ngoại. Chúng ta đã là thành viên chính thức của
ASEAN, dang cùng thế giới bước vào thế kỷ 21 trong xu hướng ngày càng
khu vực hoá, quốc tế hoá.
Thế giới đang bước vào kỷ nguyên vi tính, điện tử, thông tin, sinh học,
hoá học, vật lý siêu dẫn làm cơ sở phát triển. Chúng ta phải nhanh chóng
tiếp cận, nắm bắt khoa học công nghệ hiện đại, trước hết là những khâu quyết
định để khỏi bị tụt hậu, phải tạo ra nguồn cung lao động có trình độ chuyên
môn kỹ thuật cao cần thiết và đủ cho những mũi nhọn đã được lựa chọn,
những ngành công nghiệp với công nghệ cao. Phải tạo nội lực mạnh mẽ để
hoàn nhập với các nước trong khu vực và cộng đồng quốc tế. Thông qua hoà
nhập mà làm cho nội lực thêm mạnh, bảo đảm sự phát triển đi lên theo đúng
quy luật. Nội lực đó chính là con người, là nguồn lao động có trình độ chuyên
môn kỹ thuật cao. Bởi vì chúng ta đã biết con người là nhân tố quyết định, là
động lực to lớn nhất, là chủ thể sáng tạo mọi nguồn của cải vật chất và tinh
thần của xã hội. Vì vậy, nếu phát huy cao độ nhân tố con người thì sẽ tạo nên
một đất nước luôn phồn vinh giàu có. Khi đã đánh giá vai trò của con người
chúng ta coi con người là vốn quý nhất thì người lao động có trình độ chuyên
môn kỹ thuật cao lại là vốn quý nhất của những vốn quý nhất. Đó là chân lý
phổ biến xưa kia cũng vậy, ngày nay cũng vậy và sau này cũng vậy.

9
Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao không chỉ là vốn quý
của bản thân người đó mà còn là vốn quý của đơn vị sử dụng, của dân tộc, của
quốc gia. Lao động có trình độ chuyê môn kỹ thuật cao là lực lượng sản xuất,
là động lực quan trọng của sự phát triển kinh tế xã hội, xây dựng bảo vệ tổ
quốc, là quân chủ lực thực hiện các quốc sách hàng đầu, là xúc tác nâng cao
tiềm lực về mặt bằng trí tuệ của các tầng lớp nhân dân.
Một tấm bia ở Văn Miếu ta đã khắc "Các bậc hiền nhân tài giỏi là yếu
tố cốt tử đối với một chỉnh thể. Khi yếu tố này dồi dào thì đất nước ta tăng
tiến mạnh mẽ, phồn vinh. Khi yếu tố này yếu kém thì quyền lực đất nước bị
suy giảm những người tài giỏi là một sức mạnh quan trọng đối với một đất
nước".
Nếu nhìn ra thế giới, chúng ta sẽ thấy được vai trò của người lao động
có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao lớn lao như thế nào, nó luôn là động lực
hàng đầu trong quá trình tăng trưởng và hiện đại hoá nền kinh tế. Không có
đất nước nào phát triển mà không cần đến đội ngũ lao động có trình độ
chuyên môn kỹ thuật cao. Số lượng và chất lượng của đội ngũ lao động này tỷ
lệ thuận với sự phồn vinh, giàu có của mỗi đất nước. Vì vậy nó là trung tâm
của sự quan tâm chú ý, là nguồn tài nguyên quý giá nhất mà tất cả các quốc
gia cần phải khai thác.
2. Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao.
2.1. Một số khái niệm có liên quan và đặc trưng của nó.
a. Thị trường lao động.
Thị trường theo nghĩa hẹp là nơi tiếp xúc giữa người bán và người mua,
là tổng hợp các sự thoả thuận thông qua đó người bán và người mua trao đổi
hàng hoá và dịch vụ. Theo nghĩa rộng là biểu hiện thu gọi của quá trình thông
qua đó các quyết định của các gia đình về tiêu dùng các mặt hàng nào, các
quyết định của các Công ty về sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, và các

10
quyết định của các công nhân về việc làm bao lâu, cho ai đều được trung hoà
bằng sự điều chỉnh của giá cả.
Thị trường lao động là một tất yếu của nền kinh tế thị trường. Cái cần
mua và bán ở đây là sức lao động - một loại hàng hoá đặc biệt, nó không
giống bất cứ một loại hàng hoá thông thường nào, bởi vì bản thân nó trước hết
là có giá trị sử dụng. Người lao động có thể là người chủ sử dụng chính sức
lao động của bản thân hoặc có thể bán sức lao động cho người khác.
b. Lao động.
Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người nhằm tạo ra của
cải vật chất và các giá trị tinh thần để thoả mãn nhu cầu của bản thân và xã
hội, là hoạt động gắn liền với sự hình thành và phát triển của loài người. Lao
động có năng suất, chất lượng, hiệu quả là nhân tố quyết định sự phát triển
của xã hội. Nên lao động được coi là hoạt động chủ yếu, là quyền và nghĩa vụ
cơ bản của con người. Nhờ đó, từ nhiều thế kỷ nay đã hình thành bộ môn
khoa học riêng chuyên nghiên cứu về lao động gọi là khoa học lao động.
c. Sức lao động.
Sức lao động là khả năng về trí lực và thể lực của con người để tiến
hành lao động (được hiểu như là khả năng lao động).
Khả năng về thể lực bao gồm khả năng sinh công của cơ bắp và khả
năng chịu đựng các yếu tố bất lợi đến sức khoẻ do tải trọng công việc cũng
như các yếu tố có hại của điều kiện lao động, được quyết định bởi các tố chất
bẩm sinh của cơ thể, quá trình rèn luyện và môi trường điều kiện sống. Khả
năng về trí lực bao gồm khả năng hoạt động của trí óc, khả năng vận dụng tri
thức, kỹ năng, kỹ xảo, khả năng sáng tạo, tác phong, kỷ luật nghề nghiệp ,
khả năng ứng xử trong quan hệ lao động. Khả năng về trí lực được quyết định
bởi di truyền và các yếu tố bẩm sinh của cơ thể; quá trình học tập, rèn luyện,
tích luỹ kinh nghiệm, điều kiện sống và môi trường tự nhiên xã hội.

11
d. Nguồn nhân lực.
Nguồn nhân lực là tiềm năng về lao động trong một thời kỳ xác định
của một quốc gia, suy rộng ra có thể được xác định trên một địa phương, một
ngành hay một vùng. Đây là nguồn lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế
xã hội.
e. Nguồn lao động.
Nguồn lao động là toàn bộ những người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm
và những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhưng đang thất
nghiệp, đang đi học, đang làm nội trợ trong gia đình mình hoặc chưa có nhu
cầu làm việc và những người thuộc tình trạng khác (những người nghỉ việc
hoặc nghỉ hưu trước tuổi theo quy định của Bộ luật lao động).
f. Lực lượng lao động.
Lực lượng lao động là những người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và
những người thất nghiệp. Lực lượng lao động là bộ phận hoạt động của nguồn
lao động.
g. Việc làm.
Việc làm là mọi hoạt động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật ngăn cấm.
Người có việc làm là người làm việc trong mọi lĩnh vực ngành nghề,
đang hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, mang lại thu nhập nuôi
sống bản thân và gia đình, đồng thời đóng góp một phần cho xã hội.
h. Thất nghiệp.
Thất nghiệp là tình trạng một bộ phận trong lực lượng lao động muốn
làm việc nhưng không thể tìm được việc làm với mức tiền công không thấp
hơn mức lương tối thiểu hiện hành. Thất nghiệp là do cung cầu lao động vượt
quá hoặc không phù hợp về cơ cấu với cầu về lao động, làm cho một bộ phận
người lao động không tìm được việc làm.

12
k. Lao động có đào tạo.
Lao động có đào tạo là lao động có những thể chất cần thết được thông
qua một hoặc nhiều đào tạo về trình độ chuyên môn, tay nghề và có thể đảm
nhiệm những công việc thuộc lĩnh vực chuyên môn của mình.
m. Lao động không có đào tạo hay lao động phổ thông.
Lao động không có đào tạo là lao động có khả năng lao động nhưng
không được đào tạo qua bất kỳ một trường lớp nào, họ chỉ làm được những
công việc giản đơn mà không cần tới trình độ chuyên môn, tay nghề.
n. Lao động kỹ thuật.
Lao động kỹ thuật là lao động được thừa nhận có những thể chất cần
thiết, có sự hiểu biết kỹ năng trong lao động do được đào tạo chuyên môn và
tích luỹ kinh nghiệm trong thực tế để thực hiện công việc theo nguyên tắc với
công nghệ, trang thiết bị, công cụ riêng nhằm đáp ứng các yêu cầu về số
lượng, chất lượng, an toàn
o. Lao động phức tạp.
Lao động phức tạp là lao động kỹ thuật có kỹ năng và kỹ sảo đặc biệt
thông qua đào tạo hoặc tích luỹ kinh nghiệm thực tế, đảm nhận được những
công việc rất phức tạp, đáp ứng được các yêu cầu phát triển của kỹ thuật công
nghệ.
p. Lao động giản đơn.
Lao động giản đơn là lao động có được đào tạo nhưng không chuyên
sâu, họ chỉ đảm nhận được những công việc giản đơn không cần kỹ năng kỹ
sảo đặc biệt.
q. Hiệu quả lao động.
Hiệu quả lao động là lượng giá trị do người lao động sáng tạo ra trong
một đơn vị thời gian lao động.

13
2.2. Lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao.
a. Khái niệm về lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao
Người ta chia lao động ra làm nhiều loại như lao động giản đơn, lao
động phức tạp, lao động trí óc, lao động chân tay Lao động có trình độ
chuyên môn kỹ thuật cao là loại lao động để chỉ những người lao động có
trình độ cao, lao động có chuyên môn kỹ thuật, là tầng lớp, trí thức, lao động
khoa học kỹ thuật, công nhân bậc cao lành nghề
Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao là lao động được thừa
nhận có những thể chất cần thiết, có được trí thông minh và sự giáo dục cần
thiết và đã được sự khéo léo và những trí thức yêu cầu để thực hiện công việc
theo những định chuẩn đầy đủ về an toàn, số lượng và chất lượng.
Theo như luật giữ lao động thương binh xã hội của bộ lao động thương
binh xã hội định nghĩa.
Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao là lao động có trình độ
chuyên môn kỹ thuật có kỹ năng và kỹ xảo đặc biệt thông qua đào tạo hoặc
tích luỹ kinh nghiệm thực tế, đảm nhiệm được những công việc rất phức tạp,
đáp ứng được các yêu cầu phát triển của kỹ thuật công nghệ, có khả năng
truyền nghề và dạy nghề.
Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao bao gồm những người
có trình độ cao đẳng, đại học, trên Đại học, Trung học chuyên nghiệp và công
nhân có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao.
b. Đặc điểm của lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao.
b1. Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao được kết tinh trong
mọi sản phẩm hàng hoá (sản phẩm hàng hoá phải có hàm lượng công nghệ
cao) là yếu tố quyết trịnh trong cạnh tranh của nền kinh tế thị trường.
Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao bao gồm lao động thể lực
và lao động trí óc. Trong nền sản xuất xã hội, lao động thể lực và lao động trí óc

14
được kết hợp chặt chẽ giữa hai loại lao động và trong cùng một người lao động. Nói
cách khác, mọi lao động đều có ý thức, có mục đích lấy chất lượng làm hàng đầu,
dù bằng thể lực hay trí óc là chủ yếu thì đạt trình độ mới cao, mới mong đứng vững
và thắng lợi trong cạnh tranh. Bởi vì muốn sản phẩm đứng vững và cạnh tranh được
trên thị trường quốc tế thì trong sản phẩm phải có hàm lượng trí tuệ cao. Người lao
động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao không chỉ giàu cho mình, mà còn cho
mọi người, cho xã hội. Quốc gia nào có nhiều lao động có trình độ chuyên môn kỹ
thuật cao thì quốc gia ấy thêm sức mạnh, xã hội nào có nhiều lao động có trình độ
thì xã hội đó văn minh.
b2. Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao là lao động thể hiện
chí thông minh, sự sáng tạo, kỹ năng, kỹ sảo của con người trong quá trình lao
động.
Sản phẩm của lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao là sản
phẩm quý giá đưa lại lợi ích to lớn, có tác động mạnh đến sản xuất, công tác
và phát triển kinh tế xã hội. Rõ ràng người công nhân có trình độ cao tiếp thu
được dễ dàng kỹ thuật tiên tiến, làm ra sản phẩm có chất lượng cao, với số
lượng nhiều hơn người khác có trình độ thấp, có lợi cho bản thân, làm lợi cho
doanh nghiệp, cơ quan. Người kỹ sư, người quản lý có trình độ cao thì giảng
giải, điều hành được công nhân và mọi người lao động khác đạt và vượt yêu
cầu về năng xuất, chất lượng hiệu quả. Người thầy giáo có trình độ cao thì mở
rộng kiến thức sâu sắc cho người học, đào tạo ra những thế hệ giỏi giang, làm
nhân tố tích cực và năng động trong lực lượng sản xuất xã hội. Nhà khoa học
có trình độ cao mới tổng kết được thực tiễn đa dạng một cách đúng đắn, cung
cấp được thông tin và kiến giải khách quan có cơ sở khoa học cho Nhà nước,
hoặc cho đơn vị sử dụng lựa chọn giải pháp phù hợp, mới có được những phát
sinh sáng chế có giá trị cao.
b3. Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao là loại lao động cần
được đào tạo và tích luỹ kinh nghiệm suốt đời.

15
Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao không phải tự nhiên bản
thân sinh ra mà có, mà nó phải trải qua những thời gian đào tạo kiến thức nhất
định đồng thời nó còn phải cần có một thời gian dài thực tế với công việc để
có những kinh nghiệm, những kỹ năng, kỹ sảo, những phát hiện, khám phá
Thời gian để một cán bộ khoa học đứng vững trong lĩnh vực của mình,
độc lập trong tư duy sáng tạo và với những kiến thức cùng kinh nghiệm của
mình, sẵn sàng dìu dắt một thế hệ nối tiếp, phải cần tới ít nhất mười năm.
Thực tế cũng xác nhận tốt nghiệp Đại học phải làm việc ít nhất 5 năm liên tục
mới thực phát huy được một phần tác dụng.
3. Các yếu tố tác động đến cung cầu của lực lượng lao động có trình
độ chuyên môn kỹ thuật cao.
3.1. Các yếu tố tác động tới cung lao động có trình độ chuyên môn kỹ
thuật cao.
Khi nói đến cung trên thị trường thì nói đến cung thực tế, cung tiềm
năng và các điều kiện đứng sau cung. Cung lao động đó là số lượng lao động
có thể cung cấp và sẵn sàng cung cấp với một mức lương nhất định. Cung
thực tế bao gồm những người đang đi làm thuê và những người đang tích cực
đi tìm việc để làm thuê. Cung lao động có thể được chia thành cung về lao
động của từng vùng lãnh thổ, của từng khu vực kinh tế, của từng ngành nhất
định hay có thể tính đến cung theo giới tính, tuổi tác, chuyên môn và cơ cấu
ngành nghề.
Nói đến cung lao động, thì điều rất quan trọng đặc biệt phải chú ý đó là
chất lượng của nguồn cung. Chất lượng nguồn cung này thể hiện ở trình độ
đào tạo, trình độ chuyên môn, tay nghề, thể hiện ở kinh nghiệm công tác, làm
việc Nhân tố quan trọng đặc biệt tác động lên chất lượng của cung đó là hệ
thống giáo dục đào tạo. Một hệ thống giáo dục đào tạo mà đáp ứng được về
chiều rộng và chiều sâu sẽ cung cấp được một nguồn lao động có chất lượng.
Ngược lại, một hệ thống giáo dục đào tạo mà yếu kém, định hướng sai lệch

16
sẽ không đáp ứng được cho xã hội nguồn cung lao động đạt yêu cầu: chất
lượng của nguồn lao động là yếu tố quan trọng bậc nhất, là động lực thúc đẩy
nền kinh tế, xã hội của đất nước đi lên hiện đại phồn vinh.
Nguồn lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao là nguồn lao động
có trình độ cao, nguồn lao động phải được trải qua một quá trình đào tạo hoặc
tích luỹ kinh nghiệm lâu dài trong lao động. Trong thực tế ở nước ta, nguồn
lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao được chia làm hai dạng: đó là
lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao trong quản lý, trong quản lý
khoa học và trong sự nghiệp
Dạng thứ nhất được dựa vào các tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật của công
nhân và sử dụng bậc của công nhân làm mốc để xác định nguồn lao động có
trình độ. Với những ngành có thang lương. Thì lao động có trình độ là những
người được xếp ở những bậc cao nhất của thang lương. Những ngành nghề có
bảng lương, thì lao động chất xám thường được xếp ở bậc cao nhất của bảng
lương. Nguồn lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao thuộc loại này
dựa vào hai nguồn:
Nguồn cung từ đào tạo: Có thể từ các trường CĐ - ĐH hoặc THCN, CNKT.
Nguồn cung từ chính nơi sử dụng lao động: tuỳ thuộc vào nhu cầu của
doanh nghiệp.
Dạng thứ hai, căn cứ vào tiêu chuẩn chức danh công chức công nhân
viên chức hiện có, đối với khu vực hành chính sự nghiệp, những người lao
động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao trong thời đại mới đều phải có một
tiêu chuẩn bắt buộc là phải có trình độ khoa học vấn tốt nghiệp đại học hoặc
cao đẳng trở lên. Vì vậy nguồn lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao
trong khối hành chính sự nghiệp chủ yếu và trước hết đưa vào nguồn đào tạo
qua các trường ĐH và CĐ.
3.2. Các yếu tố tác động đến cầu.

17
Cầu lao động là khả năng thuê lao động trên thị trường: đó là số lượng
lao động mà người chủ mong muốn và có khả năng thuê. Cầu lao động cũng
chia ra theo từng vùng, từng ngành nghề, theo thời gian biến động
Bất kỳ một xã hội nào, một đất nước nào, bất kỳ một ngành nghề hay
một doanh nghiệp nào cũng mong muốn có một đội ngũ lao động có trình độ
chuyên môn kỹ thuật cao đủ về số lượng, tốt về chất lượng.
Việc tuyển chọn, bố trí và sử dụng có hiệu quả đội ngũ lao động có
trình độ chuyên môn kỹ thuật cao là một yêu cầu đặt ra hàng đầu đối với mỗi
quốc gia, mỗi ngành, mỗi doanh nghiệp. Không phải cứ đào tạo ồ ạt là sử
dụng được hết.
Trong điều nkiện đất nước hiện nay, do sự phát triển không ngừng của
tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ nên để phù hợp thì nhu cầu về lao động
có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao cũng biến đổi. Đó phải là một đội ngũ
nắm bắt được những kiến thức công nghệ, nghề nghiệp một cách hoàn chỉnh
phải luôn lao động sáng tạo không ngừng. Và đội ngũ này ngày càng phải mở
rộng, phát triển đông đảo.
Các nhân tố thuộc về các chính sách của Nhà nước, nhưng những chính
sách về đầu tư, phát triển công nghệ, thay đổi các cơ chế quản lý hành chính,
các chính sách trả lương, trả công đều tác động không nhỏ tới biến động nhu
cầu về nguồn lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao. Điều này có thể
thấy rõ trong cuộc đổi mới đất nước hiện nay, từ khi chúng ta chuyển đổi cơ
chế kinh tế nhiều thành phần, nhiều lĩnh vực kinh tế mới đã xuất hiện và phát
triển, nó đã thu hút không ít lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ
thuật cao vào làm việc, làm thay đổi không nhỏ nhu cầu hiện nay về lao động
trình độ chuyên môn kỹ thuật cao.


18
CHƯƠNG II
MỘT SỐ NÉT CHỦ YẾU VỀ THỰC TRẠNG LAO ĐỘNG CÓ TRÌNH
ĐỘ CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT CAO Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
I. CUNG VÀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI CUNG LAO ĐỘNG CÓ
TRÌNH ĐỘ CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT CAO.
Cung lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao là số lượng lao
động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao có thể cung cấp và sẵn sàng cung
cấp với mọi chất lượng nhất định. Như vậy, cung lao động có trình độ chuyên
môn kỹ thuật cao thể hiện chính là ở nguồn lao động có trình độ chuyên môn
kỹ thuật cao. Mà nguồn cung ứng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật
cao chủ yếu là nguồn cung từ đào tạo.
1. Thực trạng về đào tạo nguồn lao động có trình độ chuyên môn
kỹ thuật cao.
1.1. Đào tạo nguồn lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao
trong giai đoạn trước đổi mới (1986)
Trong giai đoạn này, kinh tế đất nước chậm phát triển. Lĩnh vực đào
tạo đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao được đào tạo theo
kế hoạch háp tập trung. Số sinh viên học nghề ở các trường đào tạo nghề, cao
đẳng hàng năm biến động không đáng kể. Hàng năm chuyển khoảng 209.000
người/năm.
Đặc biệt trong khi mải lo công cuộc kháng chiến, Đảng và Nhà nước
đã sáng suốt chăm lo đến sự nghiệp kiến quốc không chỉ trước mắt mà cả cho
lâu dài, nên đã chủ chương đứng gửi ra nước ngoài để đào tạo thành người lao
động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao.
Mặc dù kinh tế thời kỳ này có nhiều khó khăn, nhưng Chính phủ đã có
chính sách đầu tư vốn cho đào tạo, các chế độ về tuyển dụng và việc làm.

19
Sinh viên học nghề cũng được hiểu các chế độ vật chất đảm bảo cho việc học
và thực hành nghề đạt kết quả.
1.2. Trong giai đoạn sau đổi mới.
Khi nền kinh tế chuyển sang kinh tế thị trường, lĩnh vực đào tạo đội
ngũ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao gặp nhiều khó khăn.
Kinh phí đào tạo của Nhà nước cấp cho lĩnh vực đào tạo nghề chính
quy (CQ) chỉ chiếm 4% ngân sách giáo dục. Số trường đào tạo, lực lượng
giáo viên dạy nghề cũng còn thiếu. Hiện nay trong cả nước chỉ có 5 trường
chuyên đào tạo giáo viên dạy nghề cho các trường và các trung tâm dạy nghề.
Nguồn nhân lực quan trọng bậc nhất phản ánh chất lượng và khả năng
sử dụng thành tựu khoa học kỹ thuật. Tính đến nay, cả nước có trên 9000 tiến
sỹ, phó tiến sỹ, trên 900.000 có trình độ cao đẳng, ĐH, gần 4 triệu là cán bộ
trung học và công nhân kỹ thuật. Lực lượng lao động này đã và đang tích cực
góp phần vào công cuộc đổi mới đất nước hiện nay. Đội ngũ cán bộ khoa học
kỹ thuật nước ta thông minh, khiêm tốn, hiếu học và có khả năng tiếp thu, ứng
dụng công nghệ mới. Điều đó được các chuyên gia nước ngoài đánh giá cao.
Nhiều công trình kỹ thuật hiện đại, phức tạp của thế giới như các lĩnh vực
điện tử, viễn thông, dầu khí hoặc lắp đặt các công trình lớn , lực lượng lao
động nước ta đã tiếp thu và vận hành một cách có hiệu quả, đồng thời còn cải
tiến nâng cao.
Thực trạng đào tạo đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật
cao trong cả hai giai đoạn đã để lại sự thiếu hụt nghiêm trọng lực lượng lao
động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao cả về số lượng và chất lượng. Hạn
chế đáng kể nguồn cung ứng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao
cho quá trình phát triển lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật
cao. Ở nước ta, tỷ lệ công nhân qua đào tạo còn rất thấp so với lao động có
trình độ THCN - CĐ & ĐH.

20
2. Một số mặt hạn chế đối với nguồn cung lao động có trình độ
chuyên môn kỹ thuật cao.
Tuy đã đạt được những thành tự như trên nhưng vẫn không tránh khỏi
có nhiều tồn tại mà trong giai đoạn phát triển mới, nhất là tromg điều kiện
kinh tế thị trường và kinh tế mở phải được rà soát, bổ khuyết để tăng cường
hơn nữa cả về số lượng và chất lượng đội ngũ lao động có trình độ chuyên
môn kỹ thuật cao.
2.1. Số lượng đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao.
Để đáp ứng nhu cầu về lao động có trình độ cao trong tổng nhu cầu
phát triển nguồn nhân lực phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất
nước, Chính phủ đã có các chỉ tiêu phát triển qua các năm như sau:
So với dân số cả nước thì số lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ
thuật cao quả là rất thấp. Nhưng chính phủ định hướng mục tiêu phát triển đến
năm 2010 là đại học thu hút 20% số người trong độ tuổi từ 18 - 22 tuổi và tập
trung nỗ lực vào vấn đề nâng cao chất lượng.
2.2. Cơ cấu lực lượng lao động có trình độ cao.
a. Tỷ lệ tiến sỹ so với.
ĐH; CĐ so với trung học chuyên nghiệp; ĐH so với công nhân thể
hiện ở giai đoạn trên đã nói rõ điều đó còn thấp, nếu không nói là bất hợp lý
(xem biểu 1).
Năm CNKT THCN/CNKT CĐ - ĐH/CNKT
93 - 94 1 1,07 3,02
94 - 95 1 1,96 1,75
95 - 96 1 1,38 2,17
96 - 97 1 1,32 3,10

21
97 - 98 1 1,38 4,09
Theo kinh nghiệm của các nước phát triển tỷ lệ này là 10 - 4 - 1. Như
vậy, việc đào tạo của nước ta theo hình tháp ngược so với thế giới. Điều đó
chứng tỏ đào tạo của ta chưa có chất lượng. Có thể nói những năm gần đây,
xu hướng là tăng số lượng và tỷ trọng đào tạo của lao động có trình ĐH và
trên ĐH, giảm tỷ trọng của lao động THCN, xu hướng này có những mặt tốt
và mặt xấu: việc tăng trình độ ĐH và trên ĐH tức là chất lượng của lao động
chất xám đã tăng lên, tăng lên trong nghiên cứu KH, trong quản lý và trong sự
nghiệp (trong sản xuất kinh doanh gián tiếp). Giảm đội ngũ công nhân kỹ
thuật tức là giảm lao động trực tiếp lao động làm ra sản phẩm của xã hội gây
ra mất cân đối: số người trực tiếp tham gia sản phẩm ít, còn số người đứng
gián tiếp lại nhiều.
Một cơ cấu hợp lý là phải có hình chóp, số người có trình độ cao thì
càng ít (đỉnh hình chóp) còn dưới hình chóp là người có trình độ thấp hơn.
b. Số lượng người tốt nghiệp đai học trở lên so sánh giữa người kinh
với người dân tộc thiểu số thì trong dân tộc thiểu số còn rất nhiều.
Tính 53 dân tộc thiểu số ở nước ta, số có trình độ Đại học chỉ có 6650
người, tiến sỹ chỉ có 114 người. Trong người kinh, số lượng tương ứng là
608727; tỷ lệ tương ứng là 1,1% và 1,2% (số của dân tộc thiểu số so với số
người kinh). Số sinh viên người dân tộc thiểu số ở các trường Đại học niên
khoá 1993 - 1994 chỉ có 207 người. (Nguồn từ Đề tài, "Cung cầu lao động có
trình độ cao và các chính sách điều tiết")
c. Về cơ cấu theo lĩnh vực đào tạo.
Về cơ cấu lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật theo lĩnh vực hiện
nay, một vấn đề nổi lên là nhiều ngành văn hoá, khoa học và công nghệ thiết
yếu chưa có hoặc thiếu nhiều cán bộ sau Đại học, có nhiều ngành trong các
lĩnh vực: khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, khoa học kỹ thuật chưa có

22
người được đào tạo sau đại học. Trong tất cả những ngành này đều thiếu
những người có khả nưang tìm tòi, khám phá ra những phát minh, sáng chế
mới. Đại đa số lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao chưa phát huy
được hết khả năng, năng lực của mình trong công việc. Số lượng cung cấp thì
rất lớn nhưng chất lượng đáp ứng được yêu cầu lại rất ít.
d. Cơ cấu theo độ tuổi.
Hiện nay độ tuổi của những người có trình độ đại học trở lên rất cao,
lực lượng trẻ có rất ít, nhất là số có trình độ sau đại học và có học hàm. Nói
chung là 20% cán bộ có trình độ đại học, 32% tiến sỹ, 63% tiến sỹ khoa học
đã trên 50 tuổi. Số cán bộ giảng dạy thâm niên trên 20 năm chiếm 29,28%, số
cán bộ giảng dạy Đại học và cao đẳng, ở độ tuổi dưới 35 chiếm 51,65%.
e. Cơ cấu theo giới.
Về cơ cấu theo giới của đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn kỹ
thuật cao, vấn đề nổi bật hiện nay là lao động càng ở trình độ cao thì tỷ lệ nữ
giới càng chiếm tỷ lệ nhỏ.
Mặc dù chiếm một tỷ lệ trong các ngành nghề, các lĩnh vực kinh tế xã
hội nhưng lao động có trình độ nữ không thua kém gì so với nam giới. Lao
động nữ có khả năng tiếp thu và phát huy khả nưng của mình chẳng kém gì
nam giới. Vì vậy cần có những chính sách hỗ trợ, khuyến khích và ưu đãi với
lao động nữ thật phù hợp. Góp phần thực hiện chiến lược "dân giàu, nước
mạnh, xã hội văn minh, công bằng".
2.3. Chất lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao.
Chúng ta đã biết rằng, sinh viên là những người có vai trò quan trọng,
là lực lượng lao động năng động nhất, có trình độ học vấn nhạy cảm với thời
cuộc và những biến động xã hội, là lớp người có khả năng phân tích, xem xét
cuộc sống và xã hội. Là nguồn nhân lực có chất lượng cao cung cấp cho các

23
cơ quan, các đơn vị kinh tế, là những người có trình độ chuyên môn, được đào
tạo có hệ thống trên nhiều lĩnh vực khoa học.
Thời gian qua, sinh viên đã từng bước phát huy được những thế mạnh
của mình, để thực hiện mình sẽ là lực lượng lao động có trình độ chuyên môn
kỹ thuật cao nòng cốt là người chủ tương lai của đất nước. Trong sinh viên
xuất hiện nhiều phong trào học tập ngoại ngữ, tin học, vi tính đã xuất hiện
nhiều tài năng trẻ, chăm học, ham hiểu biết, nghiên cứu. Nhiều sinh viên đã
đạt được các thành tích cao trong các kỳ thi toàn quốc và quốc tế. Nhiều sinh
viên đã năng động hơn trong việc tìm kiếm việc làm sau khi ra trường. Chúng
ta thấy được sự cố gắng rất to lớn của Đảng Nhà nước và nhân dân ta trong sự
nghiệp trồng người, đã từng bước đáp ứng phần nào về yêu cầu lao động
trong số này đã phát huy được vai trò của mình, cống hiến cho sự nghiệp phát
triển của đất nước trong nhiều lĩnh vực sản xuất, kinh doanh hay công tác
nghiên cứu, công tác quản lý nhiều người đã bằng chính sức lực của mình
vươn lên thành những chuyên gia những nhà quản lý những nhà kinh doanh
giỏi, làm giàu cho chính mình, cho đất nước. Tuy nhiên, do nhiều nguyên
nhân khách quan, chủ quan mà đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn kỹ
thuật cao chưa thật sự phát huy hết vao trò của mình, chưa có được những yêu
cầu về chất lượng, về số lượng mong muốn.
Thứ nhất là do hệ thống GD - ĐT còn rất nhiều hạn chế, chưa đào tạo
được đông đảo đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thật cao có năng
lực, trí tuệ cao trong lao động.
Thứ hai do những chính sách chế độ đãi ngộ của Nhà nước đối với đội
ngũ lao động này chưa hợp lý, chưa đảm bảo được về đời sống vật chất cho
họ để họ dốc hết năng lực, tâm huyết của mình vào sáng tạo.
Thứ ba do còn ảnh hưởng nhiều củan cơ chế quản lý bao cấp trớc đây,
đã ăn sâu vào tư tưởng, suy nghĩ của nhiều người của nhiều đơn vị kinh tế.
II. CẦU VÀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI CẦU

24
1. Lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao và sự
phân bố ở nước ta hiện nay.
1.1. Lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao.
Nước ta có nguồn nhân lực rất dồi dào để bổ xung cho lực lượng lao
động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao. Điều đó được thể hiện ở những
khía cạnh chủ yếu sau:
Trình độ văn hoá của nguồn nhân lực không ngừng phát triển. Số học
sinh tốt nghiệp PTTH tăng mạnh. Năm 1995 có 83 ngàn học sinh. Năm 1998
đạt tới 1,39 triệu học sinh, tăng 60%. Dự kiến đến năm 2010 là 2,37 triệu
(10). Nguồn nhân lực trẻ chiếm 65,2% dân số trong độ tuổi từ 16 - 35 khoảng
26 triệu người. Những năm gần đây số lượng công nhân kỹ thuật đã qua đào
tạo kỹ thuật, tay nghề ở các trường dạy nghề chính quy tăng 2,3 lần từ năm
1994 - 1998. Tuy tăng như vậy nhưng so với những năm 1985 - 1986 vẫn
chưa bằng. Sự gia tăng này sẽ tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy sựn phát triển
của lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao trong những năm
tới.
Tính đến năm năm 1995, cả nước có khoảng 2,7 triệu lao động đã được
đào tạo kỹ thuật tay nghề ở các trường dạy nghề và đào tạo tại chỗ. Theo dự
báo số lượng này sẽ tăng lên 19,7 triệu người vào năm 2010. Lực lượng lao
động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao ở nước ta hiện nay chưa được quản
lý chặt chẽ, còn thiếu các số liệu đầy đủ như số lượng, chất lượng, những biến
động.
1.2. Tình hình phân bố lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao
ở nước ta hiện nay.
a. Tình hình phân bố theo vùng.
Thực trạng của sự phân bố đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn kỹ
thuật cao thời gian qua và nay là tập trung quá lớn ở các thành phố lớn. Điều

25
đó gây nên sự mất cân đối giữa các vùng một cách sâu sắc, nhiều vùng, nhiều
địa phương lại không đáp ứng được nhu cầu. Do vậy, đã gây ra tình trạng vừa
thiếu lại vừa thừa đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao giữa
các vùng, gây lên sự lãng phí rất lớn. Đội ngũ lao động này chủ yếu tập tung ở
các thành phố như Hà Nội, TPHCM, Hải Phòng, Quảng Nam Đà Nẵng ở Hà
Nội lực lượng lao động khoa học kỹ thuật chiếm 12,74% lao động của cả
nước. Riêng số lao động có trình độ đại học trở lên chiếm 18,17%. Tỷ lệ này
tương ứng ở TPHCM là 9,45% và 13,96%; Hải Phòng là 3,98% và 3,58%;
Quảnh Nam - Đà Nẵng là 2,31% và 3,01%; ở Lai Châu là 0,42% và0,27%; ở
Minh Hải là 0,45% và 0,45%.
b. Tình hình phân bố theo ngành.
Cùng với số người được tuyển dụng vào các cơ quan Nhà nước, việc
phân bố, sử dụng lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao
trong thời gian qua vẫn còn nhiều bất hợp lý giữa các ngành. Lực lượng lao
động này tập trung ở khu vực phi vật chất và hầu hết các cơ quan trung ương
mà chủ yếu là khối sự nghiệp nghiên cứu và giáo dục đào tạo. Vì vậy bên
cạnh dôi dư lực lượng lao động chất xám ở các cơ quan xí nghiệp thì những
ngành mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội vẫn còn thiếu nhất
là những ngành xã hội cơ bản hay khai thác.
c. Tình hình phân bố theo thành phần kinh tế.
Mặc dù nền kinh tế đã chuyển từ cơ chế tập trung bao cấp với thành
phần kinh tế quốc doanh là chủ yếu sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần đã qua hơn 15 năm, nhưng cho đến nay khi nền kinh tế vận hành theo cơ
chế thị trường lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao vẫn
còn chiếm tỷ lệ khá cao trong các doanh nghiệp Nhà nước. Có tới 80,43% số
lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao ở thành phần kinh tế Nhà nước.
Kế tiếp là ở thành phần kinh tế tập thể 10,71%.

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×