Tải bản đầy đủ

Thực trạng về công tác hạch toán doanh thu và xác định kết quả kinh doanh tại công ty Cổ phần Thiết bị điện và Chiếu sáng Hồng

Trang 1
Lời nói đầu
Trên con đường đổi mới, CNH- HĐH đất nước, mục tiêu đặt ra là nhằm
đưa Việt Nam trở thành một nước có nền kinh tế phát triển cùng hội nhập với
kinh tế khu vực và kinh tế thế giới. Để thực hiện mục tiêu đó thì có thể nói
Vốn chính là nguồn lực đầu tiên và cơ bản để thực hiện mục tiêu đó, và
NHTM sẽ là chủ thể chính đáp ứng nhu cầu về vốn cho sản xuất kinh doanh
và cho sự phát triển nền Kinh tế quốc dân nói chung.
Hoà mình với công việc đổi mới chung của đất nước, cùng góp phần vào
những thành tựu đã đạt được trong thập niên qua, ngành Ngân hàng đã phải
vượt qua không ít khó khăn để phấn đấu cho mục tiêu phát triển đất nước. Vì
mục tiêu này, không ai khác mà chính hệ thống Ngân hàng thương mại phải
trở thành bàn đạp vững chắc cho nền kinh tế. Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị
trường đang trong tiến trình mở cửa, hội nhập với thế giới, Ngành ngân hàng
đang phải đối mặt vối vô vàn những khó khăn thách thức cũng như những cơ
hội mới, mà để tồn tại và phát triển, các Ngân hàng thương mại không ngừng
phải nỗ lực hết mình để khắc phục những khó khăn, phát huy những điểm
mạnh, tận dụng những cơ hội. Và một trong những vấn đề được quan tâm
hiện nay của các ngân hàng là hiệu quả của công tác Quản trị Nguồn vốn.
Hoàng Trường Minh Lớp 5012-Học Viện Ngân Hàng
Trang 2

Là một bộ phận cấu thành trong guồng máy của hệ thống ngân hàng.
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội đã góp phần không nhỏ vào sự
phát triển nền kinh tế Việt Nam. Song cũng không tránh khỏi những khó khăn
chung. Việc nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị Nguồn vốn để củng cố sự
tồn tại và phát triển ngân hàng, đã đang và sẽ là vấn đề được quan tâm bởi
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội nói riêng và hệ thống ngân hàng
thương mại nói chung.
Hoàng Trường Minh Lớp 5012-Học Viện Ngân Hàng
Trang 3
Chính vì vậy trong thời gian thực tập tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần
Quân Đội, em đã mạnh dạn đi sâu tìm hiểu và hoàn thành đề tài: "Quản trị
Nguồn vốn kinh doanh và Thực trạng công tác quản trị Nguồn vốn kinh
doanh tại Ngân hàng TMCP Quân Đội". Với cấu trúc như sau:
Chương 1: Một số lý luận cơ bản về Quản trị Nguồn vốn kinh doanh của
Ngân hàng Thương mại.
Chương 2: Thực trạng công tác Quản trị nguồn vốn tại Ngân hàng Thương
mại Cổ phần Quân Đội.
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác Quản trị nguồn vốn
vốn tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội.
Do thời gian có hạn, vấn đề lại rất phức tạp và đa dạng, hơn nữa khả
năng chuyên môn và kinh nghiệm thực tế còn nhiều hạn chế, nên những gì em
trình bày trong chuyên đề khó tránh khỏi sai sót, rất mong có sự bổ sung, góp
ý hướng dẫn của các thầy, cô và cơ sở nơi em thực tập.
Hoàng Trường Minh Lớp 5012-Học Viện Ngân Hàng
Trang 4
CHƯƠNG 1. MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ
QUẢN TRỊ NGUỒN VỐN KINH DOANH CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.

1.1 Các khái niệm và định nghĩa
1.1.1 Ngân hàng thương mại và vai trò của nó trong nền kinh tế
thị trường.
Ngân hàng thương mại (NHTM) là một trong các ngành công nghiệp ra
đời sớm nhất. Ở Mỹ Ngân hàng thương mại đầu tiên được thành lập năm
1782, trước khi Hiến pháp liên bang được thông qua và nhiều Ngân hàng
thương mại được thành lập từ những năm 1800 đến nay vẫn đang hoạt động.
Ở mỗi mỗi một nước, luật Ngân hàng thương mại có quy định khác nhau,
người ta thường dựa vào tính chất và mục đích hoạt động của Ngân hàng trên
thị trường tài chính để đưa ra cách hiểu về Ngân hàng thương mại.
Ở Pháp, theo luật ngân hàng hàng năm 1941 thì "Ngân hàng là những


xí nghiệp hay cơ sở nào hành nghề thường xuyên nhận của công chúng dưới
hình thức ký thác hay hình thức khác, các số tiền mà họ dùng cho chính họ và
các nghiệp vụ chứng khoán tín dụng hay dịch vụ tài chính". Hay như ở Ấn Độ,
luật ngân hàng năm 1950 và được bổ sung năm 1959 đã nêu: "Ngân hàng là
cơ sở nhận các khoản tiền ký thác để cho vay, tài trợ, đầu tư". Và theo luật
ngân hàng của Đan Mạch năm 1930 định nghĩa: "Những nhà băng thiết yếu
gồm các nghiệp vụ nhận tiền ký thác, buôn bán vàng bạc, hàng nghề thương
mại và các giá trị địa ốc, các phương tiện tín dụng và hối phiếu, thực hiện các
Hoàng Trường Minh Lớp 5012-Học Viện Ngân Hàng
Trang 5
nghiệp vụ chuyển ngân, đứng ra bảo hiểm...". Để hiểu về Ngân hàng thương
mại thì có rất nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng ta thấy rằng các Ngân hàng
thương mại không phải là các trung gian tài chính duy nhất và để hiểu được
các Ngân hàng thương mại là như thế nào và để phân biệt các Ngân hàng
thương mại với các trung gian tài chính khác như: Các Công ty bảo hiểm, các
quỹ đầu tư... gọi chung là các tổ chức phi ngân hàng thì cần phải dựa trên
tính chất cơ bản của Ngân hàng thương mại đó là: Ngân hàng thương mại là
nơi nhận tiền ký thác, tiền ký gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn để sử dụng vào
các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu vá các dịch vụ kinh doanh khác của chính
ngân hàng.
Ở Việt Nam, theo Điều 20 Luật tổ chức tín dụng (TCTD) được Quốc
Hội thông qua tháng 12 năm 1997 có nêu: "Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp
được thành lập theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật
để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ Ngân hàng với nội dung nhận tiền
gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung cấp các dịch vụ thanh toán".
Luật chỉ nêu ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ
hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh có liên quan. Theo tổ chức
và mục tiêu hoạt động của các loại hình ngân hàng, hiện nay hệ thống Ngân
hàng Việt Nam bao gồm năm loại ngân hàng: Ngân hàng thương mại, Ngân
hàng đầu tư, Ngân hàng phát triển, Ngân hàng chính sách, Ngân hàng hợp tác,
Ngân hàng thương mại ra đời với tính chất là nhận tiền gửi, sử dụng vào
nhiệm vụ cho vay, chứng khoán và các dịch vụ khác của ngân hàng, ngày
càng thể hiện rõ vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế. Với chức năng
của mình, Ngân hàng thương mại giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế
thể hiện qua các nội dung sau:
Ngân hàng thương mại là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế.
Thực tế cho thấy, để phát triển kinh tế các đơn vị kinh tế cần phải có
một lượng vốn lớn đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh và các hoạt
Hoàng Trường Minh Lớp 5012-Học Viện Ngân Hàng
Trang 6
động khác. Nhưng điều khó khăn hơn lợi íchả là cần có người đứng ra tập
trung tiền nhàn rỗi ở mọi nơi mọi lúc và kịp thời cung ứng cho nơi cần vốn.
Bằng vốn huy động được trong xã hội thông qua hoạt động tín dụng, Ngân
hàng thương mại đã cung cấp vốn cho mọi hoạt động kinh tế, đáp ứng nhu
cầu vốn một cách kịp thời cho quá trình sản xuất. Nhờ có hoạt động của hệ
thống Ngân hàng thương mại và đặc biệt là hoạt động tín dụng, các doanh
nghiệp, cá nhân có điều kiện mở rộng sản xuất, cải tiến máy móc, công nghệ
để tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả kinh tế và chất lượng sản
phẩm cho xã hội.
Ngân hàng thương mại là cầu nối các doanh nghiệp với thị trường.
Bước sang cơ chế thị trường, cạnh tranh đòi hỏi các nhà máy, xí nghiệp
phải đầu tư các dây chuyền sản xuất hiện đại năng suất cao, thực hiện chuyển
giao công nghệ từ các nước tiên tiến. Điều không thể thực hiện bằng vốn tự
có của các doanh nghiệp, vốn dĩ đã rất ít ỏi, và vốn tín dụng ngân hàng là giải
pháp cho vấn đề này. Bên cạnh đó, tín dụng ngân hàng còn cung cấp một
phần vốn không nhỏ trong việc tăng cường nguồn vốn lưu động của các
doanh nghiệp. Một vấn đề luôn là mối lo thường trực của các doanh nghiệp.
Một khía cạnh khác đòi hỏi sự có mặt của tín dụng ngân hàng đối với doanh
nghiệp. Đó là một ngân quỹ để dành cho việc đào tạo đội ngũ lao động phù
hợp với sự phát triển của khoa học - kỹ thuật - công nghệ cao. Đặc biệt trong
điều kiện nước ta vẫn còn thiếu nhiều những chuyên gia đầu ngành, những
cán bộ có năng lực và những công nhân lành nghề.
Ngân hàng thương mại là một công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền
kinh tế.
Cùng với sự vận động của nền kinh tế, hệ thống ngân hàng được chia
làm hai cấp: Ngân hàng Nhà nước và các Ngân hàng chuyên doanh (NHTM).
Các NHTM được Nhà nước sử dụng như công cụ để quản lý hoạt động tiền
tệ, điều tiết chính sách tiền tệ quốc gia. Nhà nước điều tiết ngân hàng, ngân
Hoàng Trường Minh Lớp 5012-Học Viện Ngân Hàng
Trang 7
hàng dẫn dắt thị trường thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán giữa các
Ngân hàng thương mại trong hệ thống từ đó góp phần mở rộng khối lượng
tiền cung ứng trong lưu thông và thông qua việc cung ứng tín dụng cho các
ngành trong nền kinh tế, Ngân hàng thương mại thực hiện việc dẫn dắt các
luồng tiền tập hợp và phân chia vốn của thị trường, điều khiển chúng một
cách có hiệu quả.
Ngân hàng thương mại là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính
quốc tế.
Nhận thức được tầm quan trọng của kinh tế quốc tế, sự hội nhập kinh tế
quốc gia với thế giới đem lại những lợi ích kinh tế to lớn, thúc đẩy nền kinh tế
phát triển nhanh và bền vững. Một trong các điều kiện quan trọng góp phần
thúc đẩy sự hội nhập nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới đó là nền
tài chính quốc gia. Nền tài chính quốc gia là cầu nối với nèn tài chính quốc tế
thông qua hoạt động của Ngân hàng thương mại trong các lĩnh vực kinh
doanh như nhận tiền gửi, cho vay, nghiệp vụ thanh toán, nghiệp vụ ngoại hối
và các nghiệp vụ khác. Đặc biệt là các hoạt động thanh toán quốc tế, buôn bán
ngoại hối, quan hệ tín dụng với các ngân hàng Nhà nước của Ngân hàng
thương mại trực tiếp hoặc gián tiếp tác động góp phần thúc đẩy hoạt động
thanh toán xuất nhập khẩu và thông qua đó Ngân hàng thương mại đã thực
hiện vai trò điều tiết tài chính trong nước phù hợp với sự vận động của nền tài
chính quốc tế.
Chức năng của Ngân hàng thương mại :
Chức năng làm trung gian tín dụng:
Chức năng trung gian tín của Ngân hàng thương mại được thể hiện qua
sơ đồ luân chuyển vốn sau:
Sơ đồ 1: Sơ đồ luân chuyển vốn
Hoàng Trường Minh Lớp 5012-Học Viện Ngân Hàng
Trang 8
Với chức năng trung gian tín dụng, Ngân hàng thương mại làm "cầu
nối" giữa người thừa vốn và người thiếu vốn và nó đã không chỉ đem lại lợi
ích cho những người dư thừa vốn và những người thiếu vốn mà còn đem lại
lợi ích kinh tế cho bản thân nó và nền kinh tế. Đối với ngân hàng, họ sẽ tìm
được lợi nhuận cho bản thân mình từ chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi
suất tiền gửi hoặc hoa hồng môi giới. Lợi nhuận này chính là cơ sở cho Ngân
hàng thương mại tồn tại và phát triển. Đối với nền kinh tế, chức năng này có
vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vì nó đáp ứng nhu
cầu vốn để đảm bảo quá trình sản xuất được thực hiện liên tục và để mở rộng
quy mô sản xuất. Với chức năng này, Ngân hàng đã biến vốn nhàn rỗi không
hoạt động thành vốn hoạt động, kích thích quá trình luân chuyển vốn, thúc
đẩy sản xuất kinh doanh.
Đây chính là chức năng quan trọng nhất của Ngân hàng thương mại, nó
quyết định sự duy trì và phát triển của Ngân hàng đồng thời là cơ sở để thực
hiện các chức năng sau:
Chức năng trung gian thanh toán:
Chức năng trung gian thanh toán có nghĩa là ngân hàng đứng ra thanh
toán hộ cho khách hàng bằng cách chuyển tiền từ tài khoản này sang tài
khoản khác theo yêu cầu của họ. Thông qua chức năng này Ngân hàng đóng
vai trò là người "thủ quỹ" cho các doanh nghiệp và cá nhân bởi ngân hàng là
người giữ tiền của khách hàng, chi tiền hộ cho khách hàng. Nền kinh tế thị
trường càng phát triển thì chức năng này của ngân hàng ngày càng được mở
rộng.
Hoàng Trường Minh Lớp 5012-Học Viện Ngân Hàng

nhân

doanh
nghiệp
Gửi tiền
Uỷ thác đầu tư
Ngân
hàng
thương
mại
Cho vay
Đầu tư

nhân

doanh
nghiệp
Trang 9
Thông qua chức năng trung gian thanh toán, hệ thống Ngân hàng
thương mại góp phần phát triển nền kinh tế. Khi khách hàng thực hiện thanh
toán qua ngân hàng sẽ làm giảm rủi ro, giảm chi phí thanh toán cho khách
hàng đồng thời tốc độ luân chuyển vốn kinh doanh của khách hàng nhanh
hơn, làm cho hiệu quả sử dụng vốn của khách hàng tăng. Đối với Ngân hàng
thương mại chức năng này góp phần tăng lợi nhuận của ngân hàng thông qua
việc thu lệ phí thanh toán. Hơn nữa, nó lại tăng nguồn vốn cho vay của ngân
hàng thể hiện trên số dư có tài khoản tiền gửi của khách hàng. Chức năng này
cũng chính là cơ sở để hình thành chức năng tạo tiền của Ngân hàng thương
mại.
Chức năng tạo tiền:
Đây là hệ quả của hai chức năng trên trong hoạt động ngân hàng: Từ
một số dự trữ ban đầu thông qua quá trình cho vay và thanh toán bằng chuyển
khoản của ngân hàng thì lượng tiền gửi mới được tạo ra và nó lớn hơn so với
lượng dự trữ ban đầu gấp nhiều lần, gọi là quá trình tạo tiền của hệ thống
ngân hàng.
Một ngân hàng sau khi nhận một món tiền gửi, trên tài khoản tiền gửi
của khách hàng tại ngân hàng sẽ có số dư. Với số tiền này sau khi đã để lại
một khoản dự trữ bắt buộc, ngân hàng có thể đem đi đầu tư, cho vay từ đó nó
sẽ chuyển sang vốn tiền gửi của ngân hàng khác. Với vòng quay của vốn
thông qua chức năng tín dụng và thanh toán của ngân hàng. Ngân hàng
thương mại thực hiện được chức năng tạo tiền.
1.1.2 Nguồn vốn - Các thành phần trong Nguồn vốn của một
Ngân hàng thương mại
Hoàng Trường Minh Lớp 5012-Học Viện Ngân Hàng
Trang 10
Nguồn vốn của Ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do Ngân
hàng thương mại tạo lập hoặc huy động được, dùng để cho vay, đầu tư hoặc
thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác.
Nguồn vốn kinh doanh của NHTM bao gồm:
- Vốn tự có
- Vốn huy động
- Vốn đi vay
- Vốn khác
1.1.2.1. Vốn tự có:
Chúng ta có thể thấy rằng không chỉ riêng đối với các NHTM mà ở tất cả
các tổ chức kinh tế hoạt động trong nền Kinh tế, vốn tự có là yếu tố không thể
thiếu được khi khởi đầu thành lập, nó được như tài sản đảm bảo lòng tin của
khách hàng đối với Ngân hàng, nó duy trì khả năng thanh toán trong trường
hợp Ngân hàng gặp thua lỗ.
Vốn chủ sở hữu của Ngân hàng thương mại là vốn tự có do ngân hàng
tạo lập được thuộc sở hữu riêng của ngân hàng, thông qua góp vốn của các
chủ sở hữu hoặc hình thành từ kết quả kinh doanh. Ở những nước khác nhau,
định nghĩa về vốn tự có có thể khác nhau nhưng nét chung nhất vốn tự có bao
gồm các thành phần sau:
1 - Vốn góp của chủ sở hữu để thành lập hoặc mở rộng ngân hàng.
2 - Các quỹ dự trữ được hình thành trong quá trình hoạt động kinh
doanh của Ngân hàng theo cơ chế tài chính hoặc quyết định của chủ
sở hữu vốn như : Quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính....
3 - Lợi nhuận tạo ra từ hoạt động kinh doanh chưa sử dụng
4 - Các khoản nợ được coi như vốn.
Vốn này chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng,
song lại là điều kiện pháp lý bắt buộc khi thành lập một ngân hàng. Do tính
chất ổn định, nó thực hiện chức năng thành lập, chức năng bảo vệ và điều
Hoàng Trường Minh Lớp 5012-Học Viện Ngân Hàng
Trang 11
chỉnh đối với hoạt động ngân hàng. Trong tổng nguồn vốn của ngân hàng, thì
vốn tự có của ngân hàng chiếm dưới 10%, như vậy vốn ký thác của ngân hàng
khoảng trên 90%. Các Ngân hàng Trung Ương quy định mức vốn tự có của
ngân hàng lớn hơn hoặc bằng 8% trên tổng tài sản có rủi ro quy đổi, điều này
muốn nói lên rằng chức năng chủ yếu của khối lượng giới hạn vốn chủ sở hữu
đã được xem như là tài sản bảo vệ cho những người gửi tiền. Chức năng bảo
vệ không chỉ được xem như sự bảo đảm thanh toán cho người gửi tiền khi
ngân hàng vỡ nợ, mà còn góp phần duy trì khả năng trả nợ, bằng cách cung
cấp một khoản tài sản có dự trữ để ngân hàng khỏi bị đe doạ bởi sự thua lỗ, để
có thể tiếp tục hoạt động.
Ngoài việc cung cấp nền tảng cho các hoạt động và để bảo vệ người gửi
tiền. Chức năng điều chỉnh cũng đã được xác định cho vốn chủ sở hữu của
Ngân hàng thương mại. Dựa trên mức vốn tự có của ngân hàng, các cơ quan
quản lý xác định, điều chỉnh hoạt động cho ngân hàng ví dụ như các ngân
hàng chỉ có thể cho một khách hàng lớn nhất vay không quá 15% vốn tự có
của ngân hàng. Nếu như ngân hàng cho vay quá số đó sẽ ảnh hưởng đến hoạt
động an toàn của ngân hàng.
Ở nước ta, Vốn tự có của một NHTM bao gồm các bộ phận sau:
Vốn điều lệ (hay vốn pháp định): là vốn mà ngân hàng thương mại phải
có để đi vào hoạt động được ghi trong văn bản pháp quy. Tùy theo hình
thức sở hữu mà nguồn vốn này được hình thành từ những nguồn khác
nhau: Đối với ngân hàng thương mại quốc doanh, nguồn vốn này do Nhà
nước cấp. Đối với ngân hàng cổ phần, nguồn vốn tự có được hình thành
do phát hành cổ phiếu.
Chẳng hạn, năm 1990, vốn điều lệ của các ngân hàng thương mại quốc
doanh như Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam là:
2.200 tỷ đồng Việt Nam, các Ngân hàng Công thương, Ngoại thương là 1.100
tỷ đồng Việt Nam, đối với ngân hàng cổ phần đô thị ở Hà Nội, thành phố Hồ
Hoàng Trường Minh Lớp 5012-Học Viện Ngân Hàng
Trang 12
Chí Minh là 70 tỷ, tại các tỉnh , thành phố khác là 50 tỷ. Vốn pháp định cho
ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn là 5 tỷ VNĐ.
Các quỹ dự trữ được trích từ lợi nhuận ròng hàng năm bổ sung vào vốn
tự có : quỹ dự trữ để bổ sung vốn pháp định và quỹ dự trữ để dự phòng bù
đắp rủi ro.
Vốn coi như tự có: gồm phần lợi nhuận chưa chia, các quỹ khác chưa sử
dụng có thể xem là phần vốn coi như tự có của ngân hàng thương mại, vì
đó là những khoản tiền mà ngân hàng phải sử dụng vào mục đích nhất
định nhưng chưa sử dụng.
1.1.2.2 Vốn huy động:
Đây là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong ngân hàng. Nó là những
giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từ các tổ chức kinh tế và các cá
nhân trong xã hội thông qua quá trình thực hiện các nghiệp vụ ký thác, các
nghiệp vụ khác và được dùng làm vốn để kinh doanh.
Bản chất của vốn huy động là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau,
ngân hàng chỉ có quyền sử dụng mà không có quyển sở hữu và có trách
nhiệm hoàn trả đúng hạn cả gốc lẫn lãi khi đến kỳ hạn (nếu là tiền gửi có kỳ
hạn) hoặc khi khách hàng có nhu cầu rút vốn (nếu là tiền gửi không kỳ hạn).
Vốn huy động đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của
Ngân hàng. Ngân hàng thương mại huy động vốn dưới các hình thức: Nhận
tiền gửi (tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm); phát
hành các công cụ nợ (tín phiếu, trái phiếu); và nguồn vốn đi vay. Ngoài ra vốn
của ngân hàng còn được hình thành thông qua việc làm uỷ thác, đại lý cho các
tổ chức trong và ngoài nước hoặc cung cấp các phương tiện thanh toán như
thẻ rút tiền tự động từ máy ATM...
Nhìn chung nguồn vốn của ngân hàng được hình thành từ nhiều nguồn
khác nhau nhưng trong đó nguồn vốn huy động từ tiền gửi chiếm tỷ trọng lớn
Hoàng Trường Minh Lớp 5012-Học Viện Ngân Hàng
Trang 13
nhất, chiếm khoảng từ 70% - 80% và nó có tính biến động. Nhất là đối với
loại tiền gửi không kỳ hạn và vốn ngắn hạn, hơn nữa vốn huy động chịu tác
động lớn của thị trường và môi trường kinh doanh trên địa bàn hoạt động. Vì
vậy Ngân hàng thương mại cần phải đi sâu tìm hiểu, phân tích nguồn hình
thành vốn này, dự đoán trước tình hình cung cầu vốn để có đối sách phù hợp.
Vai trò đầu tiên của vốn huy động đó là nó quyết định đến quy mô của
hoạt động và quy mô tín dụng của ngân hàng. Thông thường nếu so với các
ngân hàng lớn thì các ngân hàng nhỏ có khoản mục đầu tư và cho vay kém đa
dạng hơn, phạm vi và khối lượng cho vay của các ngân hàng này cũng nhỏ
hơn. Trong khi các ngân hàng lớn cho vay được ở thị trường trong nước,
ngoài nước thì các ngân hàng nhỏ lại bị giới hạn trong phạm vi hẹp, mà chủ
yếu trong cộng đồng. Mặt khác do khả năng vốn hạn hẹp nên các ngân hàng
nhỏ không phản ứng nhạy bén được với sự biến động về chính sách, gây ảnh
hưởng đến khả năng thu hút vốn đầu tư từ các tầng lớp dân cư và các thành
phần kinh tế.
Thứ hai, vốn huy động quyết định đến khả năng thanh toán và đảm bảo
uy tín của các ngân hàng trên thị trường trong nền kinh tế. Để tồn tại và ngày
càng mở rộng quy mô hoạt động, đòi hỏi ngân hàng phải có uy tín trên thị
trường là điều trọng yếu. Uy tín đó trước hết phải được thể hiện ở khả năng
sẵn sàng thanh toán chi trả cho khách hàng, khả năng thanh toán của ngân
hàng càng cao thì vốn khả dụng của ngân hàng càng lớn, đồng thời với nó tạo
cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng càng lớn, đồng thời với nó tạo cho
hoạt động kinh doanh của ngân hàng với quy mô lớn, tiến hành các hoạt động
cạnh tranh có hiệu quả, đảm bảo uy tín, nâng cao thanh thế của ngân hàng
trên thị trường.

1.1.2.3 Vốn đi vay:
• Vay của Ngân hàng Trung Ương:
Hoàng Trường Minh Lớp 5012-Học Viện Ngân Hàng
Trang 14
Các NHTM được quyền vay tiền tại tại NHTW trong những tình huống thiếu
hụt dự trữ, hoặc quá kẹt tiền mặt thông qua cửa ngõ chiết khấu. NHTW sẽ cấp
Tín dụng cho NHTM qua hình thức chủ yếu sau:
 Tái cấp vốn mà chủ yếu dưới hình thức tái chiết khấu các chứng từ có
giá. Nó được thực hiện theo ba cách:
∗Cho vay lại theo hồ sơ tín dụng.
∗Chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn
khác.
∗Cho vay có đảm bảo bằng cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá
ngắn hạn khác.
 Cho vay thế chấp hay ứng trước.
Khoản vay này liên quan đến lượng tiền trung ương, đến việc thực hiện
chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương.
 Vay trên thị trường qua phát hành các chứng chỉ tiền gửi và trái phiếu:
Thực chất các chứng chỉ tiền gửi đó giống như tín phiếu do các Ngân hàng
trung gian ở Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh đã phát hành trong năm
1995. Nó là loại phiếu Nợ, phiếu vay tiền do Ngân hàng phát ra giống như
Séc chẳng hạn.
Ở Việt Nam hiện nay đã và đang huy động vốn qua các chứng chỉ tiền
gửi có mệnh giá lớn. Các khoản vay trên thị trường chủ yếu thông qua hình
thức phát hành trái phiếu. Đây là một công cụ vay Nợ dài hạn trên thị trường
vốn dưới hình thức ghi nhận giấy Nợ do các tổ chức Tín dụng ( bao gồm các
NHTM ) phát hành.
• Vay từ các tổ chức Tín dụng khác:
Đó là các khoản vay thông thường mà các NHTM vay lẫn nhau trên thị
trường liên Ngân hàng hay thị trường tiền tệ. Đây là hình thức cho vay, nhưng
thực ra nó là hình thức tương trợ giữa các Ngân hàng để có được sự thoả
thuận và sự hợp tác đôi bên cùng có lợi.
Hoàng Trường Minh Lớp 5012-Học Viện Ngân Hàng
Trang 15
• Vay nước ngoài:
Hiện nay các NHTM ở Việt Nam được phép vay vốn của các tổ chức nước
ngoài qua các hình thức:
+ Vay bằng tiền (vay tài chính).
+ Phát hành trái phiếu ra nước ngoài.
+ Thuê tổ chức nước ngoài.
+ Nhập khẩu hàng hoá dịch vụ trả chậm theo phương thức mở thư Tín dụng.
+ Các loại hình vay nước ngoài khác.
Để huy động được nguồn vốn vay nước ngoài, các NHTM cần có những
giải pháp sử dụng nguồn vốn Tín dụng có hiệu quả và đặc biệt nên sử dụng
vào việc triển khai các chương trình quốc gia, tham gia vào các kế hoạch cụ
thể do Thủ Tướng Chính phủ ra quyết định để tranh thủ sự đồng tình ủng hộ
từ phía Nhà nước.
1.1.2.4 Vốn khác:
Đây là phần vốn Ngân hàng được ủy thác đầu tư theo dự án hay mục đích
nào đó, Ngân hàng chỉ là người đại diện thực hiện theo mục đích ủy thác của
Nguồn vốn và thu phí theo hợp đồng, không được chủ động sử dụng nó theo
mục đích kinh doanh riêng của mình.
1.1.3 Tầm quan trọng của Nguồn vốn trong hoạt động kinh doanh
ngân hàng
Trong nền kinh tế thị trường, khi mà quy mô hoạt động của nó càng mở
rộng, các NHTM kinh doanh trên thị trường tiền tệ và thị trường chứng khoán
thì Ngân hàng nào nhiều vốn thì Ngân hàng đó sẽ có nhiều thế mạnh hơn. Do
đó Ngân hàng cần phải thường xuyên chăm lo tới việc tăng trưởng vốn trong
suốt quá trình hoạt động của mình.
Hoàng Trường Minh Lớp 5012-Học Viện Ngân Hàng
Trang 16
Như vậy Vốn chính là cơ sở để NHTM tổ chức mọi hoạt động kinh
doanh, là nhân tố quyết định quy mô hoạt động Tín dụng và các hoạt động
khác của NHTM. Bên cạnh đó vốn còn quyết định năng lực thanh toán, năng
lực cạnh tranh và đảm bảo uy tín của NHTM.
1.2 Các vấn đề về Quản trị Nguồn vốn
Ngân hàng thương mại là tổ chức tài chính trung gian, kinh doanh tiền tệ
dựa vào các vào nguồn vốn vay mượn. Để có nguồn vốn kinh doanh, các
ngân hàng thương mại bán các quyền sử dụng vốn tiền gửi cho các cá nhân,
doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác.
Ngoài ra nếu xét ở góc độ chi phí, nghiệp vụ vay mượn vốn kinh doanh
làm phát sinh, chi phí lớn nhất trong số các khoản mục chi phí hoạt động của
ngân hàng và do đó cũng ảnh hưởng sâu sắc đến thu nhập ròng của ngân
hàng. Chính vì vậy, quản trị nguồn vốn nhằm đảm bảo ngân hàng luôn có đủ
nguồn vốn duy trì và phát triển các hoạt động kinh doanh ở mức độ chi phí
có thể đem lại lợi nhuận tối ưu cho ngân hàng có tầm quan trọng đặc biệt
trong toàn bộ quá trình quản trị tài chính ngân hàng. Việc này đòi hỏi cân
nhắc các rủi ro phụ cũng như khoản chênh lệch giữa chi phí vay vốn(chủ yếu
là lãi suất vay của các ngân hàng khác) và mức lợi nhuận có thể thu được khi
đầu tư vào tín dụng chứng khoán. Mục tiêu chính của phương thức quản lý
nàylà bảo đảm thanh khoản của ngân hàng, đảm bảo đủ vốn cho nhu cầu tín
dụng hợp lệ và duy trì lãi suất cơ bản ròng và doanh lợi.
Ngoài việc coi các khoản tiền gửi có thể phát séc là nguồn vốn tín dụng
hàng đầu, các ngân hàng còn tìm cách thu hút thêm nguồn vốn đi vay mới
bằng cách phát hành các loại phiếu ngân hàng, phát hành tài sản nợ....để tăng
thêm vốn vay.
Quản trị nguồn vốn bao gồm bốn vấn đề chính sau:
• Huy động vốn- Vấn đề then chốt.
Hoàng Trường Minh Lớp 5012-Học Viện Ngân Hàng
Trang 17
• Ước tính chi phí cho nguồn vốn tiền gửi và phi tiền gửi.
• Rủi ro của các loại nguồn vốn - Vấn đề lựa chọn giữa chi phí và rủi ro.
• Rủi ro thanh khoản- Vấn đề quan trọng hàng đầu.
• Giải pháp đối với Vốn tự có.
Hoàng Trường Minh Lớp 5012-Học Viện Ngân Hàng
Trang 18
1.2.1 Huy động vốn- Vấn đề then chốt.
1.2.1.1 Huy động từ các tài khoản tiền gửi
Tiền gửi không kỳ hạn
Là loại tiền gửi khách hàng gửi vào ngân hàng mà khách hàng không
có thoả thuận trước về thời gian rút tiền. Ngân hàng phải trả một mức lãi suất
thấp hoặc không phải trả một lãi cho số tiền gửi này. Bởi vì, tiền gửi không kỳ
hạn của khách hàng rất biến động, khách hàng có thể rút ra bất kỳ lúc nào, do
đó ngân hàng không chủ động sử dụng số vốn này, ngân hàng phải dự trữ một
số tiền để đảm bảo có thể thanh toán ngay khi khách hàng có nhu cầu. Tiền
gửi không kỳ hạn gồm hai loại:
- Tiền gửi thanh toán: Là loại tiền gửi mà khách hàng gửi vào ngân
hàng để thực hiện các khoản thanh toán về tiền mua hàng hoá, dịch vụ và các
khoản thanh toán khác phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh của
khách hàng. Đứng trên góc độ là khách hàng thì đây là tiền khách hàng gửi
vào ngân hàng để sử dụng các công cụ thanh toán không dùng tiền mặt: Séc,
thẻ thanh toán, uỷ nhiệm chi... Họ có quyền rút ra bất kỳ lúc nào thông qua
công cụ thanh toán. Đứng trên góc độ ngân hàng thì ngân hàng coi đây là một
khoản tiền mà họ phải có trách nhiệm hoàn trả cho khách hàng bất kỳ lúc nào.
Tuy nhiên ngân hàng cần tận dụng loại tiền gửi này để làm vốn kinh doanh
của mình bởi vì trong quá trình lưu chuyển vốn của ngân hàng do có sự chênh
lệch giữa các khoản tiền gửi vào và rút ra giữa các tài khoản của khách hàng.
- Tiền gửi không kỳ hạn thuần tuý: Là loại tiền gửi không kỳ hạn,
khách hàng gửi vào ngân hàng nhằm bảo đảm an toàn về tài sản. Tiền gửi
không kỳ hạn thuần tuý cũng là tài sản của người ký thác, họ có quyền rút bất
kỳ lúc nào, ngân hàng luôn luôn phải đảm bảo có thể thanh toán, lãi suất tiền
gửi không kỳ hạn thuần tuý cao hơn lãi suất tiền gửi thanh toán. Mục đích của
người gửi tiền là bảo đảm an toàn vì khách hàng không xác định được thời
Hoàng Trường Minh Lớp 5012-Học Viện Ngân Hàng
Trang 19
gian nhàn rỗi cho số tiền của họ và họ không có nhu cầu sử dụng tiền gửi
thanh toán không dùng tiền mặt của ngân hàng.
Nhìn chung, trước thập niên 70 của thế kỷ XX, tiền gửi không kỳ hạn của
Nhân dân là bộ phận lớn nhất trong tài sản Nợ của các NHTM ở các nước.
Đến những năm 80 và 90 của thế kỷ XX, mặc dầu với việc cải tiến hệ thống
quản lý bằng vi tính, các Ngân hàng dễ dàng vào bất cứ lúc nào chuyển các
khoản gửi từ tài khoản tiết kiệm hoặc tài khoản có kỳ hạn sang tài khoản
không kỳ hạn cho Nhân dân sử dụng Séc một cách tự động nhưng các khoản
gửi không kỳ hạn vẫn chiếm một phần lớn trong tài sản của các Ngân hàng.
Hiện nay ở Việt Nam, các khoản tiền gửi loại này huy động chủ yếu từ
các tổ chức Kinh tế và các cá nhân, tuy nhiên số lượng vẫn còn thấp, bởi lẽ tỷ
trọng thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam còn quá thấp, lãi suất trả
không đáng kể (khoảng 0,1% /tháng), đồng thời, ngân hàng cũng thu phí
thanh toán khi khách hàng thực hiện thanh toán qua ngân hàng.
Tiền gửi có kỳ hạn
Là loại tiền gửi, khách hàng gửi vào ngân hàng có sự thoả thuận trước về
thời hạn rút tiền. Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi tương đối ổn định vì ngân
hàng xác định được thời gian rút tiền của khách hàng để thanh toán cho khách
hàng đúng thời hạn. Do đó ngân hàng có thể chủ động sử dụng số tiền gửi đó
vào mục đích kinh doanh trong thời gian ký kết. Đối với loại tiền gửi này,
ngân hàng có rất nhiều loại thời hạn từ 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng.... mục đích
là tạo cho khách hàng có được nhiều kỳ hạn gửi phù hợp với thời gian nhàn
rỗi của khoản tiền mà họ có. Chính vì là loại tiền gửi mà ngân hàng có quyền
sử dụng nó trong thời gian nhất định nên loại tiền gửi này được trả lãi suất cao
hơn lãi suất tiền gửi không kỳ hạn. Lãi suất mà các NHTM trả cho tiền gửi có
kỳ hạn thường cao hơn nhiều so với tiền gửi không kỳ hạn. Bởi vì với khoản
tiền gửi ổn định này, ngân hàng có thể chủ động sử dụng nó trong thời gian
nhất định để kiếm được nhiều lợi nhuận hơn, ít rủi ro hơn, và do đó Ngân
Hoàng Trường Minh Lớp 5012-Học Viện Ngân Hàng
Trang 20
hàng cũng sẽ trả lãi cao hơn để kích thích khách hàng đến gửi. Tuy nhiên để
tạo tính lỏng cho loại tiền gửi có kì hạn này - nhằm hấp dẫn khách hàng hơn-
ngân hàng có thể cho phép khách hàng rút tiền trước hạn với những khoản
phạt đáng kể (chẳng hạn chỉ được hưởng lãi suất thấp hơn).
Ở nhiều nước phát triển trên thế giới, tiền gửi có kỳ hạn còn được biến
tướng dưới dạng các chứng chỉ tiền gửi (CD), chủ yếu được phát hành cho
các công ty và các ngân hàng khác mua.CD loại lớn là loại có thể đem bán lại
ở các thị trường thứ cấp trước khi đến hạn. Vì lý do đó, loại CD này được các
công ty, các quỹ tương trợ thị trường tiền tệ và các tổ choc tài chính khác nắm
giữ như là tài sản thay thế cho các tín phiếu Kho Bạc và những trái khoán
ngắn hạn khác. Việc xuất hiện CD là một cuộc cách mạng trong hoạt ngân
hàng. Các chủ ngân hàng giờ đây có trong tay công cụ huy động vốn chủ
động theo nhu cầu sử dụng vốn mà không phụ thuộc hoàn toàn vào nhu cầu
gửi của khách hàng.
Tiền gửi tiết kiệm:
Tiền gửi tiết kiệm là tiền đề để dành của dân cư được gửi vào ngân hàng
nhằm mục đích hưởng lãi. Hình thức phổ biến và cổ điển nhất là loại tiền gửi
tiết kiệm có sổ. Đối với loại tiền gửi này, người gửi tiền được ngân hàng cấp
cho một cuốn sổ dùng để ghi tiền gửi vào và tiền rút ra. Đồng thời quyển sổ
này cũng xác nhận số sổ tiền đã gửi. Loại hình này vẫn còn tồn tại cho đến
nay và trong những năm 90 nó có thể chuyển sang tài khoản xéc dễ dàng. Do
vậy nó có khả năng thanh toán rất cao.
Ngoài ra ở nhiều nước còn có các loại tiền gửi tiết kiệm phổ biến chẳng
hạn như chứng chỉ tiền gửi tiết kiệm(savings certificates), trái phiếu tiết
kiệm(saving bands).
Ở Việt Nam, các hình thức tiền gửi tiết kiệm phổ biến là:
- Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Là loại tiền gửi mà khách hàng có thể
gửi nhiều lần và rút ra bất cứ lúc nào.
Hoàng Trường Minh Lớp 5012-Học Viện Ngân Hàng
Trang 21
- Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: là loại tiền gửi được rút ra sau một thời
gian nhất định. Tuy vậy khách hàng có nhu cầu rút tiền trước hạn cũng có thể
được đáp ứng với điều kiện được hưởng lãi suất thấp (thường bằng mức lãi
suất tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn) hoặc thậm chí không được hưởng lãi.
Các ngân hàng có thể áp dụng tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn thông thường
(người gửi chỉ được hưởng lãi trong từng thời kỳ) và có thể áp dụng tiền gửi
tiết kiệm có thưởng kèm theo lãi để khuyến khích nhân dân gửi tiết kiệm vào
ngân hàng.
- Tiền gửi tiết kiệm có mục đích: thường là hình thức tiết kiệm trung và
dài hạn nhằm mục đích xây dựng nhà ở. Nhứng người tham gia loại
hình tiết kiệm này ngoài việc hưởng lãi còn được ngân hàng cho vay
nhằm mục đích bổ sung thêm vốn cho xây dựng nhà ở.
Tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm được gọi chung là tiền gửi phi giao
dịch. Chúng có đặc tính chung là được hưởng lãi và chủ những tài khoản này
không được phát hành séc. Mức lãi suất của chúng thường cao hơn tiền gửi tài
khoản séc bởi vì những người gửi tiền đó không được hưởng nhiều dịch vụ
như đối với tài khoản séc.
Vốn tiền gửi là nguồn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng số nguồn vốn
của ngân hàng thương mại, là nguồn vốn chủ yếu để ngân hàng kinh doanh.
Chính vì vậy người ta gọi ngân hàng thương mại là ngân hàng ký thác hay
ngân hàng tiền gửi.
1.2.1.2 Huy động vốn bằng phát hành giấy tờ có giá
Giấy tờ có giá mà các Ngân hàng thương mại dùng để huy động vốn
thực chất là các giấy nhận nợ mà ngân hàng trao cho những người cho ngân
hàng vay tiền xác nhận quyền đòi nợ của khách hàng đối với ngân hàng ở một
mức lãi suất và ngày hoàn trả nhất định.
Hoàng Trường Minh Lớp 5012-Học Viện Ngân Hàng
Trang 22
Việc phát hành giấy tờ có giá của ngân hàng để hình thành vốn sử dụng
có tính ổn định cao, đồng thời nhằm giải quyết những khoản vốn thiếu hụt có
tính tình thế do khả năng thu hút bằng nguồn tiết kiệm hạn chế. Ngân hàng
thường sử dụng các loại giấy tờ có giá dưới các hình thức:
• Phát hành trái phiếu:
Là một cam kết xác nhận nghĩa vụ trả nợ (cả gốc và lãi) của ngân hàng
phát hành đối với người chủ sở hữu trái phiếu. Mục đích của ngân hàng khi
phát hành trái phiếu là nhằm huy động vốn trung và dài hạn. Việc phát hành
trái phiếu, các Ngân hàng thương mại chịu sự quản lý của Ngân hàng Trung
Ương, của các cơ quan quản lý trên thị trường chứng khoán và có thể bị chi
phối bởi uy tín của ngân hàng.
• Phát hành chứng chỉ tiền gửi.
Nó là những giấy tờ xác nhận tiền gửi định kỳ ở một ngân hàng. người
sở hữu giấy này sẽ được thanh toán tiền lãi theo kỳ và nhận đủ vốn khi đến
hạn. Chứng chỉ sau khi phát hành được lưu thông trên thị trường tiền tệ.
• Phát hành kỳ phiếu.
Đây là loại giấy tờ có giá ngắn hạn (trong 1 năm). Nó có đặc điểm
giống như trái phiếu nhưng có thời hạn ngắn hơn trái phiếu vì vậy nó được sử
dụng cho mục đích huy động vốn ngắn hạn của ngân hàng.
• Giấy tờ có giá khác.
Điển hình là việc phát hành EURO DOLLAR. Đây là hình thức phát hành
phiếu nợ để thu hút vốn ở nước ngoài. Nó có đặc điểm là chỉ dùng huy động
vốn bằng đô la và khi trả lãi và vốn gốc cũng bằng đô la. Đối với loại này
ngân hàng sử dụng để thu hút vốn huy động ngắn hạn (3 tháng). Ở các trung
tâm tài chính, loại phiếu nợ này được chấp nhận như là đô la. Quyền phát
hành ở một số nước trong đó có Việt Nam được giới hạn ở một số ngân hàng
đặc biệt, như Ngân hàng Ngoại thương, Ngân hàng xuất nhập khẩu. Các ngân
Hoàng Trường Minh Lớp 5012-Học Viện Ngân Hàng
Trang 23
hàng trên được phép phát hành phiếu nợ này ở trong nước và nước ngoài, còn
với các ngân hàng khác chỉ được phát hành ở nước ngoài.
Huy động vốn dưới hình thức phát hành giấy tờ có giá các Ngân hàng
thương mại phải trả lãi suất cao hơn lãi suất tiền gửi. Vì vậy khi phát hành
các Ngân hàng thương mại phải căn cứ vào đầu ra để quyết định đến khối
lượng huy động, mức lãi suất và thời hạn, phương pháp huy động phù hợp.
1.2.1.3 Huy động vốn trên thị trường Liên ngân hàng và Vay Ngân hàng
Trung Ương
Đây là nguồn vốn mà Ngân hàng thương mại có được nhờ thông qua
quan hệ vay mượn giữa Ngân hàng thương mại với Ngân hàng Trung Ương
hoặc các Ngân hàng thương mại với nhau hay với các tổ chức tín dụng khác.
Vốn đi vay là nguồn vốn mà ngân hàng chịu chi phí cao hơn vốn huy động vì
vậy chỉ trong trường hợp ngân hàng thiếu vốn khả dụng trong thời gian ngắn
nào đó thì ngân hàng mới tìm đến các Ngân hàng thương mại khác để thoả
mãn nhu cầu vốn khả dụng.
Nếu Ngân hàng thương mại không thoả mãn được nhu cầu đó từ phía
các Ngân hàng thương mại khác thì giải quyết tiếp theo là đi vay của Ngân
hàng Trung Ương. Tuỳ theo mục đích sử dụng và hình thức vay vốn, các
Ngân hàng thương mại có thể vay Ngân hàng Trung Ương các loại vốn: Vốn
vay ngắn hạn bổ sung vốn ngắn hạn còn thiếu của Ngân hàng thương mại
hoặc vốn vay để thanh toán giữa các ngân hàng nhằm bù đắp những thiếu hụt
tạm thời trong thanh toán, hoặc các Ngân hàng thương mại mang các giấy tờ
có giá đến Ngân hàng Trung Ương xin tái chiết khấu (tái cấp vốn).
Ngân hàng Trung Ương thông qua nhu cầu vay vốn của Ngân hàng
thương mại với Ngân hàng Trung Ương nhằm mục đích phát hành thêm tiền
Trung Ương theo kế hoạch, bổ sung lượng vốn khả dụng cho Ngân hàng
thương mại một cách thường xuyên và là cứu cánh cho vay cuối cùng nhằm
Hoàng Trường Minh Lớp 5012-Học Viện Ngân Hàng
Trang 24
cứu nguy cho các Ngân hàng thương mại khi cần thiết, nếu sự đổ vỡ của các
Ngân hàng thương mại có thể gây ảnh hưởng đến sự an toàn của hệ thống
ngân hàng.
1.2.2 Ước tính chi phí cho nguồn vốn tiền gửi và phi tiền gửi
Để có thể gia tăng nguồn vốn bằng các dịch vụ tiền gửi và phi tiền gửi,
ngân hàng cần phải trả lời cho được 2 vấn đề chủ yếu sau đây:
- Chi phí để có thể được có được nguồn vốn là bao nhiêu?
- Mối quan hệ phụ thuộc và rủi ro của mỗi nguồn vốn.
Chúng ta sẽ lần lượt tìm lời giải đáp cho 2 vấn đề trên. Mỗi ngân hàng
thương mại trong môi trường cạnh tranh khốc liệt ngày nay cần phải biết mỗi
khoản mục chi phí bao gồm những gì. Điều này đặc biệt chính xác đối với
huy động vốn bởi vì đối với hầu hết các ngân hàng và tổ chức tín dụng chi phí
trả lãi cho nguồn vốn là cao nhất trên cả chi phí nhân viên, chi phí quản lý
gián tiếp và các khoản chi phí nghiệp vụ khác.
Có ba phương pháp ước tính chi phí thường được sử dụng như sau:
Hoàng Trường Minh Lớp 5012-Học Viện Ngân Hàng
Trang 25
1.2.2.1 Phương pháp chi phí quá khứ bình quân
Phương pháp chi phí quá khứ bình quân là phương pháp phổ biến nhất để
tính chi phí huy động vốn của ngân hàng thương mại.
Phương pháp chú trọng vào cơ cấu hỗn hợp các nguồn vốn mà ngân hàng đã
huy động trong quá khứ và xem cẩn thận mức lãi suất mà thị trường đòi hỏi
mỗi ngân hàng phải trả cho mỗi nguồn vốn đi huy động.Thương số của lãi
suất phải trả và tổng mức vốn đi huy động trong quá khứ tạo thành chi phí
bình quân gia quyền.
Công thức tính chi phí lãi suất bình quân như sau:
Chi phí phải trả bình quân =
Tổng chi phí trả lãi
Tổng vốn huy động
Phương pháp nói trên có ích cho ngân hàng trong việc theo dõi động thái
của chi phí huy động vốn theo thời gian và mức chi phí lãi suất bình quân
cung cấp một chuẩn mực tương đối cho việc ra quyết định nên cho vay và đầu
tư như thế nào. Tuy nhiên, việc tính toán như trên là thật sự chưa hoàn hảo
bởi vì nó chỉ mới dừng lại ở mức độ xem xét giá vốn của nguồn vốn, nghĩa là
vẫn còn có những chi phí khác cần phải tính thêm để thật sự có được nguồn
vốn. Các chi phí cấu thành này bao gồm:
• Chi phí phi lãi suất:
- Tiền lương và chi phí quản lý gián tiếp
- Mức dự trữ bắt buộc theo quy định
- Phí bảo hiểm tiền gửi
Như vậy tỷ suất sinh lời tối thiểu để bù đắp chi phí có thể tính như sau:
Tỉ lệ thu nhập hòa vốn
đối với tài sản sinh lời
=
Tổng chi phí trả lãi+ chi phí phi lãi
Tài sản sinh lời
• Chi phí vốn chủ sở hữu: Thực chất đây là chi phí cơ hội thể hiện lợi
nhuận kỳ vọng của những người góp vốn để hình thành nên ngân hàng.
Hoàng Trường Minh Lớp 5012-Học Viện Ngân Hàng

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×
x