Tải bản đầy đủ

Mở rộng hoạt động cho vay đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Nam Hà Nội


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DNN&V: Doanh nghiệp nhỏ và vừa
BIDV : Ngân hàng Đầu Tư và Phát triển Việt Nam
NHTM : Ngân hàng thương mại
WTO : Tổ chức thương mại quốc tế
1

DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Bảng 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức Ngân hàng Đầu tư và Phát triển
Bảng 2.2: Kết quả huy động vốn của Chi nhánh trong giai đoạn 2005 - 2007
Bảng 2.3: Kết quả hoạt động cho vay của Chi nhánh giai đoạn 2005 - 2007
Bảng 2.4: Kết quả hoạt động thu phí dịch vụ Chi nhánh giai đoạn 2005 - 2007
Bảng 2.5: Kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển
Chi nhánh Nam Hà Nội giai đoạn 2005 - 2007
Bảng 2.6 : Số lượng Doanh nghiệp nhỏ và vừa vay vốn tại Chi nhánh
giai đoạn 2005- 2007
Bảng 2.7: Doanh số cho vay theo quy mô Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Chi
nhánh giai đoạn 2005 - 2007
Bảng 2.8: Doanh số cho vay đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa theo thành
phần kinh tế tại Chi nhánh giai đoạn 2005 - 2007

Bảng 2.9: Doanh số cho vay đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa theo thời hạn
cho vay tại Chi nhánh giai đoạn 2005 – 2007
Bảng 2.10: Dư nợ cho vay theo quy mô DNN&V tại Chi nhánh
Bảng 2.11: Dư nợ cho vay đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa theo
thành phần kinh tế tại Chi nhánh
Bảng 2.12: Dư nợ cho vay đối với DNN&V theo thời hạn cho vay
B ảng 3.1: Kế hoạch kinh doanh năm 2008
2

Biểu 2.1: Kết quả huy động vốn của Chi nhánh giai đoạn 2005 - 2007
Biểu 2.2: Kết quả hoạt động tín dụng của Chi nhánh giai đoạn 2005 - 2007
Biểu 2.3: Kết quả hoạt động thu phí dịch vụ của Chi nhánh
Biểu 2.4: Số lượng Doanh nghiệp nhỏ và vừa vay tại Chi nhánh giai đoạn
2005- 2007
Biểu 2.5: Doanh số cho vay theo quy mô Doanh nghiệp nhỏ và vừa vay tại
Chi nhánh giai đoạn 2005- 2007
Biểu 2.6: Doanh số cho vay đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa theo thành
phần kinh tế giai đoạn 2005- 2007
Biểu 2.7: Doanh số cho vay đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa theo thời hạn
cho vay tại Chi nhánh giai đoạn 2005 – 2007
Biểu 2.8: Dư nợ cho vay theo quy mô Doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn
2005- 2007
Biểu 2.9: Dư nợ cho vay đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa theo thành phần
kinh tế giai đoạn 2005- 2007
Biểu 2.10: Dư nợ cho vay đối với DNN&V theo thời hạn cho vay
Biểu 2.11: Tỷ lệ nợ quá hạn của DNN&V tại Chi nhánh giai đoạn 2005-2007
3

LỜI MỞ ĐẦU
Xu thế toàn cầu hóa đã và đang diễn ra mạnh mẽ, Việt Nam đã chính thức
trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại quốc tế WTO. Sự kiện
này đánh dấu bước ngoặt quan trọng của nền kinh tế Việt Nam “Việt Nam –
Ngôi sao đang lên” tạo ra vô vàn cơ hội phát triển, hội nhập kinh tế nhưng
cũng đặt Việt Nam trước không ít thách thức, trở ngại lớn. Hòa trong bối cảnh
đó các Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam cần phải nâng cao năng lực cạnh
tranh một cách hoàn hảo, và vốn là vấn đề thiết yếu quan trọng trước hết. Về
phía ngành Ngân hàng nói chung và Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Chi
nhánh Nam Hà Nội nói riêng nhận thấy rõ nhu cầu vay vốn của các doanh
nghiệp nhỏ và vừa. Cùng với yêu cầu cấp bách phát triển không ngừng để tồn
tại và khẳng định mình Ngân hàng đã đang và sẽ mở rộng hoạt động cho vay


vốn đối với loại hình doanh nghiệp này.
Qua quá trình thực tập ở Chi nhánh và với các lý do trên em nhân thấy
vấn đề “Mở rộng hoạt động cho vay đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại
Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Nam Hà Nội” đang được chú
trọng và còn nhiều bức xúc. Em muốn nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng, rút ra
các kết quả đạt được, các mặt còn hạn chế từ đó nhìn nhận đưa ra một số giải
pháp về hoạt động này.
Kết cấu chuyên đề ngoài phần mở đầu và kết luận gồm có 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về mở rộng cho vay đối với Doanh nghiệp nhỏ và
vừa tại Ngân hàng thương mại.
Chương 2: Thực trạng mở rộng cho vay đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Chi nhánh Nam Hà Nội.
Chương 3: Giải pháp mở rộng cho vay đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Chi nhánh Nam Hà Nội.
4

Chương 1: Lý luận chung về mở rộng cho vay đối với Doanh nghiệp
nhỏ và vừa tại Ngân hàng thương mại
1.1. Tổng quan về Ngân hàng thương mại
1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển Ngân hàng thương mại
Lịch sử hình thành và phát tiển của Ngân hàng thương mại gắn liền với
lịch sử phát triển của nền sản xuất hàng hóa. Quá trình phát triển kinh tế là
điều kiện đòi hỏi sự phát triển của Ngân hàng và ngược lại chính sự phát triển
của hệ thống ngân hàng lại thúc đẩy kinh tế phát triển.
Nghề ngân hàng bắt đầu với nghiệp vụ đổi tiền, đúc tiền của thợ vàng
thông qua nhu cầu lưu hành đồng tiền của mỗi một quốc gia, vùng lãnh thổ
kết hợp với giao thương quốc tế. Người đổi tiền, đúc tiền kinh doanh tiền tệ
bằng cách đổi bản tệ lấy ngoại tệ và ngược lại để được hưởng lợi nhuận từ
chênh lệch giá.
Trong điều kiện lưu thông tiền kim loại các chủ cửa hàng vàng, bạc vừa
thực hiện đổi tiền, đúc tiền, cất giữ hộ, thanh toán hộ hình thành nên các ngân
hàng của những thợ vàng. Nghề ngân hàng cũng bắt đầu từ những người cho
vay nặng lãi với các nghiệp vụ: đổi tiền, cất trữ hộ, thanh toán hộ.
Những ngân hàng đầu tiên đã dùng vốn tự có để cho vay nhưng không
lâu sau từ hoạt động thực tiễn, các chủ ngân hàng nhận thấy tính vô danh của
tiền cho phép các ngân hàng được sử dụng tạm thời tiền gửi của khách hàng
để cho vay. Hoạt động cho vay tạo ra lợi nhuận lớn do đó ngân hàng ngày
càng tăng cường thu hút tiền gửi.
Hình thức ngân hàng sơ khai – Ngân hàng của các thợ vàng, Ngân hàng
của những người cho vay nặng lãi, chủ yếu cho những người giàu có, vay
dưới hình thức thấu chi (tức là Ngân hàng cho phép khách hàng chi trội trên
số tiền gửi của họ tại ngân hàng). Chạy theo lợi nhuận cao khiến các chủ
Ngân hàng phát hành chứng từ tiền gửi khống để cho vay dẫn đến hậu quả
5

nhiều Ngân hàng bị phá sản do mất khả năng thanh toán. Kéo theo hàng loạt
các khó khăn trong hoạt động thanh toán, thương mại, lãi suất cao… Trước
thực tế đó các nhà buôn tự thành lập ngân hàng gọi là ngân hàng thương mại.
Ngân hàng thương mại vẫn thực hiện các nghiệp vụ truyền thống của ngân
hàng bao gồm: huy động tiền gửi, thanh toán, cất trữ hộ và cho vay nhưng
khách hàng của ngân hàng thương mại phần lớn là các nhà buôn và dưới hình
thức chiết khấu thương phiếu.
Sau đó đến lượt các ngân hàng tiền gửi, ngân hàng tiết kiệm, ngân hàng
đầu tư, ngân hàng trung ương … ra đời. Duy chỉ có Ngân hàng Trung Ương
có chức năng xây dựng, điều hành chính sách tiền tệ quốc gia còn các loại
hình ngân hàng khác đều thực hiện kinh doanh tiền tệ.
Cùng với sự phát triển của kinh tế và công nghệ thúc đẩy Ngân hàng
phát triển về nhiều mặt. Trong quá trình tích tụ tập trung vốn hình thành lên
Ngân hàng tư nhân, Ngân hàng cổ phần; về mặt quan hệ sở hữu quản lý hình
thành nên Ngân hàng Quốc doanh, Ngân hàng liên doanh… Các nghiệp vụ
Ngân hàng cũng theo đó phát triển đa dạng, phong phú. Về quy mô Ngân
hàng ngày càng được mở rộng.
Trong quá trình đó cũng đã có nhiều Ngân hàng lâm vào tình trạng phá
sản, nhiều cuộc khủng hoảng, hoảng loạn Ngân hàng lớn nhỏ khác nhau gây
ra những tổn thất, ảnh hưởng lớn nghiêm trọng cho nền kinh tế trong phạm vi
của quốc gia, khu vực và thậm chí toàn thế giới. Nhưng ngược lại nhiều Ngân
hàng cũng đã trưởng thành và lớn mạnh lên. Và các chính sách quản lý Ngân
hàng được đặt ra hợp lý và chính xác hơn nhằm hạn chế sự sụp đổ và thúc đẩy
hỗ trợ sự phát triển của ngân hàng.
Tóm lại, Ngân hàng là một loại hình tổ chức quan trọng đối với nền kinh
tế. Có nhiều định nghĩa về ngân hàng, nếu căn cứ vào những loại hình dịch
vụ: Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài
6

chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực
hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kì một tổ chức kinh doanh nào
trong nền kinh tế. Theo Luật Các tổ chức tín dụng của nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam: “ Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ
và các dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sủ
dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán.”
1.1.2. Chức năng của Ngân hàng thương mại
1.1.2.1.Trung gian tài chính
Ngân hàng là tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chính là chuyển
tiền tiết kiệm sang hoạt động sử dung vốn mà chủ yếu là tín dụng để đầu tư.
Ngân hàng là tổ chức trung gian giữa hai đối tượng: Một là, các cá nhân
tổ chức (tạm thời) thặng dư trong chi tiêu nghĩa là thu nhập của đối tượng này
lớn hơn các chi tiêu của họ trong một khoảng thời gian do đó họ có tiền để tiết
kiệm; Hai là, các cá nhân tổ chức thiếu hụt chi tiêu nghĩa là chi tiêu cho tiêu
dùng, đầu tư lớn hơn thu nhập và họ có nhu cầu bổ sung vốn.
Nếu xét hai đối tượng này quan hệ trực tiếp với nhau trên cơ sở cả hai
bên cùng có lợi ( thu nhập gia tăng) tiền sẽ được chuyển từ nhóm một sang
nhóm thứ hai theo quan hệ tín dụng, cấp phát hoặc hùn vốn. Ta lấy quan hệ
tín dụng làm ví dụ. Người có tiền cho vay đòi 2% chi cho chi phí giao dịch,
chi phòng rủi ro 3% và yêu cầu thu nhập ròng cho số tiền cho vay là 5%.
Tổng cộng người có tiền tiết kiệm đòi 10% mới cho vay. Người đi vay muốn
vay phải chi 2% cho chi phí giao dịch và 10% trả cho người có tiền tiết kiệm
cho vay. Tổng cộng chi phí của khoản tiền vay là 12%. Nếu việc sử dụng tiền
vay có thể tạo ra cho người đi vay tỷ suất thu nhập lớn hơn 12% ( giả thiết
như 15%) thì quan hệ tín dụng trên được lập.
Mặc dù quan hệ tín dụng trực tiếp đã và đang tồn tại nhưng nó bộc lộ
nhiều hạn chế do thiếu phù hợp và bị giới hạn về mặt thời gian, không gian,
7

giá trị khoản vay và khả năng cho vay … Và Ngân hàng thương mại- trung
gian tài chính đã giải quyết được điều đó. Ngân hàng tập hợp các người có
tiền tiết kiệm và đầu tư. Với sự chuyên môn hoá, khả năng phân tích thẩm
định thông tin chuyên nghiệp giúp Ngân hàng có thể giảm các chi phí xuống.
Xét ví dụ trên với chức năng trung gian tài chính của ngân hàng. Ngân hàng
làm giảm chi phí giao dịch từ 4% xuống 2%, giảm chi phí rủi ro từ 3% xuống
2% và trả cho người có tiền tiết kiệm 6% với cam kết không có rủi ro ( lớn
hơn 5%) và đòi người đi vay 10% ( nhỏ hơn 12%). Phần chênh lệch 10% -
6% = 4% là thu nhập mà ngân hàng – trung gian tài chính được hưởng. Như
vậy Ngân hàng với chức năng trung gian tài chính đã làm giảm chi phí tín
dụng, tăng thu nhập cho người đầu tư, thúc đẩy đầu tư đồng thời làm tăng thu
nhập cho người có tiền tiết kiệm và khuyến khích tiết kiệm.
1.1.2.2. Tạo phương tiện thanh toán
Phương tiện thanh toán là một chức năng quan trọng của tiền – vàng. Các
Ngân hàng ngay từ ban đầu đã tạo ra phương tiện thanh toán qua việc phát
hành giấy nhận nợ. Khi Ngân hàng Trung ương, Bộ tài chính đảm nhiệm vai
trò in tiền giấy chức năng phương tiện thanh toán của Ngân hàng được thực
hiện qua hoạt động cho vay (tạo tín dụng). Ngân hàng cho vay làm số dư trên
tài khoản tiền gửi của khách hàng tăng lên cho phép khách hàng dùng để chi
tiêu, đầu tư … Sự phát triển mạnh mẽ của Ngân hàng, toàn bộ hệ thống Ngân
hàng phối hợp tạo phương tiện thanh toán khi các khoản tiền gửi thanh toán
được mở rộng từ Ngân hàng này đến Ngân hàng khác dựa trên hoạt động cho
vay. Khi Ngân hàng cho một khách hàng vay để chi trả thì số dư trên tài
khoản tiền gửi của khách hàng có khoản phải thu trên tăng lên tại một ngân
hàng khác và tiếp tục tạo ra các khoản cho vay mới …
8

1.1.2.3.Trung gian thanh toán
Hiện nay, Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất. Ngân hàng
thay mặt khách hàng các khoản chi, chi phí. Hoạt động trung gian thanh toán
của Ngân hàng thực hiện ngày càng nhanh chóng, chính xác và chi phí hợp lý
thuận tiện; bằng các hình thức thanh toán ưu viết, được chuẩn hoá và thống
nhất như : thanh toán bằng séc, uỷ nhiệm chi, nhờ thu, thẻ … ; với các công
nghệ thanh toán hiện đại. Các Ngân hàng còn thực hiện thanh toán bù trừ qua
tài khoản tiền gửi thanh toán tại Ngân hàng Trung ương hoặc qua các trung
tâm thanh toán. Việc quốc tế hoá hệ thống Ngân hàng tạo điều kiện cho Ngân
hàng trở thành tổ chức trung gian thanh toán quan trọng và có hiệu quả bậc
nhất cho nền kinh tế toàn cầu.
1.1.3. Các hoạt động cơ chính của Ngân hàng thương mại
1.1.3.1. Hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thương mại
Tín dụng được coi là hoạt động sinh lời cao nhất do đó Ngân hàng
thương mại ngày càng chú trọng tới hoạt động huy động vốn.
Nguồn vốn của Ngân hàng thương mai bao gồm vốn chủ sở hữu và vốn
nợ. Để bắt đầu hoạt động kinh doanh tiền tệ Ngân hàng thương mại thì trước
tiên chủ Ngân hàng phải có một lượng vốn nhất định (phải lớn hơn hoặc bằng
vốn pháp định). Đây là vốn mà Ngân hàng có thể sử dụng lâu dài, mua sắm
trang thiết bị, xây dựng trụ sở …Vốn chủ sở hữu bao gồm nguồn vốn hình
thành ban đầu, nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động, các quỹ, nguồn
vay nợ có thể chuyển thành cổ phần.Tuỳ tính chất sở hữu, năng lực tài chính
mà có các nguồn hình thành vốn chủ sở hữu khác nhau. Song nguồn vốn chủ
sở hữu thường chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng nguồn vốn mà chủ yếu là vốn nợ.
Vốn nợ gồm có: tiền gửi của khách hàng, tiền vay và vốn nợ khác. Huy
động vốn nợ đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động kinh
doanh tiền tệ của Ngân hàng thương mại.
9

* Ngân hàng thương mại huy động tiền gửi của khách hàng
Tiền gửi của khách hàng là nguồn vốn huy động quan trong bậc nhất của
Ngân hàng thương mại, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền của Ngân
hàng. Theo luật các Tổ chức Tín dụng số 07/ 1997/ QHX “ Ngân hàng thương
mại được nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác
dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi
khác.” Nắm bắt được nhu cầu tiết kiệm, thanh toán không dùng tiền mặt,
thanh toán hộ … của khách hàng và mục đích huy động vốn cho kinh doanh
của ban thân ngân hàng, các ngân hàng thương mại ngày càng đa dạng các
hình thức huy động tiền gửi khác nhau đa dạng với sự cạnh tranh mạnh mẽ về
lãi suất, kỳ hạn, thái độ phục vụ và chính sách khuyến mại …và luôn phải
đảm bảo khả năng thanh toán khi khách hàng có yêu cầu rút tiền ngay cả
trường hợp khách hàng yêu cầu rút tiền trước hạn. Ngân hàng thương mại huy
động tiền gửi phải dự trữ bắt buộc, tốn chi phí cất trữ, bảo quản và có thể phải
mua bảo hiểm tiền gửi.
* Ngân hàng thương mại huy động tiền vay
Huy động vốn dưới hình thức tiền gửi là nguồn chính, tuy nhiên khi cần
Ngân hàng thường huy động tiền vay thêm để đáp ứng nhu cầu nguồn tiền của
Ngân hàng. Ngân hàng thương mại có thể vay Ngân hàng nhà nước, vay các
tổ chức tín dụng khác, vay trên thị trường vốn và các vốn nợ khác.
Ngân hàng thương mại có thể vay Ngân hàng nhà nước để giải quyết cầu
tiền cấp bách trong chi trả đảm bảo tính thanh khoản, bù đắp thiếu hụt dự trữ
bắt buộc, dự trữ thanh toán. Ngân hàng thương mại được Ngân hàng Nhà
nước cho vay dưới hình thức tái cấp vốn, tái chiết khấu và phải đảm bảo thực
hiện được các điều kiện chặt chẽ trong sự kiểm soát chặt chẽ phụ thuộc vào
chính sách tiền tệ của từng thời kì, từng quốc gia. Mặc dầu các khoản vay này
lãi suất thấp nhưng thời hạn ngắn.
10

Ngân hàng thương mại cũng có thể vay các tổ chức tín dụng khác trên thị
trường liên ngân hàng. Các khoản vay này nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu
dự trữ, chi trả cấp bách mà có thể không cần bảo đảm hoặc được đảm bảo
bằng chứng khoán của kho bạc nhà nước. Ngoài ra vay các tổ chức giúp Ngân
hàng thương mại có thể không phải dự trữ bắt buộc và bảo hiểm tiền gửi.
Ngân hàng thương mại huy động vốn trên thị trường vốn bằng cách phát
hành các giấy nợ (kì phiếu, tín phiếu, trái phiếu). Khi vay trên thị trường vốn
các Ngân hàng thương mại luôn phải nghiên cứu kĩ thị trường để quyết định
quy mô, mệnh giá, lãi suất và thời hạn vay nhằm ổn định nguồn trung và dài
hạn của Ngân hàng.
* Ngân hàng thương mại huy động vốn nợ
Ngoài ra Ngân hàng thương mại còn huy động vốn từ các nguồn khác
như là nguồn uỷ thác, nguồn trong thanh toán và các nguồn khác. Phần lớn
đây là nguồn không phải trả lãi hay lãi suất danh nghĩa bằng không nhưng chi
phí để có và duy trì thường không nhỏ.
1.1.3.2. Hoạt động sử dụng vốn của Ngân hàng thương mại
Ngân hàng kinh doanh tiền tệ dưới hình thức huy động, cho vay, đầu tư
và cung cấp các dịch vụ khác. Huy động vốn là hoạt động tạo nguồn vốn cho
Ngân hàng. Nhưng hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng chính là hiệu quả sử
dụng vốn hay chính là quá trình tạo ra các loại tài sản của Ngân hàng thương
mại như: ngân quĩ, chứng khoán, tín dụng và các loại tài sản khác.
* Ngân qũi thường gồm: tiền mặt trong két và tiền gửi tại Ngân hàng khác.
Ngân qũi của Ngân hàng thương mại là tài sản có tính thanh khoản cao nhất
được thành lập nhằm duy trì khả năng chi trả thường xuyên và các yêu cầu
khác của Ngân hàng. Nhìn chung ngân qũi của Ngân hàng là tài sản không
sinh lãi hoặc thấp khi gửi tiền tại ngân hàng khác. Vì vậy các Ngân hàng
11

thương mại luôn cố gắng duy trì ngân quĩ ở mức thấp nhất mà vẫn đảm bảo
an toàn thanh khoản phù hợp với từng thời kỳ.
* Ngân hàng thương mại nắm giữ chứng khoán của Chính phủ, địa phương
(do Kho bạc Nhà nước phat hành); chứng khoán của các Ngân hàng khác,
công ty tài chính,các công ty khác. Với mục đích nhằm đảm bảo thanh khoản
và đa dạng hoá danh mục tài sản và mang lại thu nhập cho Ngân hàng.
* Hoạt động tín dụng
Tín dụng là tài sản chiếm tỷ trọng lớn nhất ở phần lớn các Ngân hàng
thương mại (khoảng 70% trong tổng tài sản) phản ánh hoạt động đặc trưng
của Ngân hàng. Loại tài sản này được phân chia theo nhiều tiêu thức khác
nhau. Theo Nghị định số 49/2000/NĐ- Chính phủ ngày 12/09/2000 của Chính
phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về tổ chức và hoạt động của
Ngân hàng thương mại quy định: “Ngân hàng thương mại được cấp tín dụng
cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và
giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo
quy định của Ngân hàng Nhà nước.”. Trong đó hoạt động cho vay chiếm tỷ
trọng cao nhất và quan trọng nhất. Ngân hàng thương mại cấp tín dụng nhằm
mục tiêu thu lời mang lại thu nhập lớn nhất cho Ngân hàng, đồng thời cũng là
hoạt động chứa đựng rủi ro rất lớn.
* Các hoạt động sử dụng vốn khác: Ngoài hoạt động sử dụng vốn trên
Ngân hàng thương mại còn thực hiện các hoạt động uỷ thác, hùn vốn …
1.1.3.3. Các hoạt động khác
Bên cạnh hai hoạt động chính huy động vốn và sử dụng vốn Ngân hàng
thương mại còn thực hiện các hoạt động mua bán ngoại tệ, bảo quản vật có
giá, cung cấp các tài khoản giao dịch và hoạt động thanh toán … nhằm phong
phú danh mục hoạt động và lợi nhuận của Ngân hàng.
12

1.2. Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại đối với Doanh nghiệp
nhỏ và vừa
1.2.1. Khái quát về Doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.2.1.1. Khái niệm Doanh nghiệp nhỏ và vừa
Doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, hoạt động
kinh doanh trên thị trường nhằm làm tăng giá trị của chủ sở hữu. Theo Điều 4
luật Doanh nghiệp Việt Nam (thông qua ngày 29/11/2005) “ Doanh nghiệp là
tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng
ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt
động kinh doanh - tức là thực hiện một, một số hay tất cả các công đoạn trong
quá trình đầu tư, sản xuất, tiêu thụ sản phẩm đến cung ứng dịch vụ trên thị
trường nhằm sinh lời.”
Phân loại Doanh nghiệp rất đa dạng tuỳ theo từng tiêu trí khác nhau có
các loại hình Doanh nghiệp khác nhau. Theo qui mô Doanh nghiệp có Doanh
nghiệp lớn, Doanh nghiệp vừa và Doanh nghiệp nhỏ. Nhìn chung ở nước ta
hiện nay tỷ trọng các Doanh nghiệp vừa và nhỏ tương đối lớn và có vị trí
quan trọng đến phát triển nền kinh tế. “ Doanh nghiệp nhỏ và vừa là các cơ sở
sản xuất kinh doanh độc lập, đã dăng ký kinh doanh theo qui định hiện hành;
có vốn đăng kí kinh doanh không quá 10 tỷ VND và có số lượng lao động
trung bình hàng năm không quá 300 người.” (theo luật Doanh nghiệp Việt
Nam hiện hành). Trong đó lao động trung bình hàng năm là số lao động bình
quân mà Doanh nghiệp đã đăng kí với cơ quan quản lí lao động và có tham
gia đóng Bảo hiểm xã hội (đã trừ đi số lao động Doanh nghiệp kí hợp đồng
thời vụ, hợp đồng công việc). Vốn đăng kí đối với Doanh nghiệp Nhà nước là
vốn điều lệ được nhà nước cấp, đối với các Doanh nghiệp còn lại là vốn ghi
trên đăng kí kinh doanh, giấy phép đầu tư.
13

Nhìn chung loại hình Doanh nghiệp nhỏ và vừa có các đặc điểm riêng
biệt như: quy mô nhỏ; năng động, dễ thích nghi với những sự biến động của
tình hình kinh tế xã hội; khả năng cạnh tranh không cao do tiềm lực tài chính
nhỏ; chất lượng tay nghề lao động chưa cao; ít có lợi thế về công nghệ.
1.2.1.2. Đặc điểm của Doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam
Doanh nghiệp nhỏ và vừa Năng động, linh hoạt, sáng tạo trong kinh
doanh. Với quy mô vừa, nhỏ và mô hình tổ chức đơn giản vì vậy dễ dàng
chuyển hướng sản xuất kinh doanh phù hợp với tình hình biến động của thị
trường, để hoạt động đạt được hiệu quả kinh doanh tốt nhất. Việc chuyển
hướng này cũng không khó khăn và tốn nhiều chi phí như các doanh nghiệp
lớn. Với đặc điểm này Việt Nam luôn chú trọng phát triển các Doanh nghiệp
nhỏ và vừa.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể tiếp cận, thích ứng công nghệ hiện đại
nhanh chóng. Vì các trang thiết bị máy móc phục vụ sản xuất kinh doanh của
các Doanh nghiệp nhỏ và vừa có chi phí không quá cao, công nghệ đơn thuần.
Áp dụng được công nghệ hiện đại vào sản xuất kinh doanh giúp các Doanh
nghiệp nhỏ và vừa tăng nhanh năng suất. Phần lớn Doanh nghiệp vừa và nhỏ
ở Việt Nam công nghệ đã được cải thiện nhưng vẫn còn lạc hậu so với các
nước phát triển trên thế giới
Các Doanh nghiệp nhỏ và vừa có tổ chức sản xuất quản lý gọn nhẹ, hợp
lý không cồng kềnh dễ kiểm soát. Số lượng lao động không nhiều, việc tổ
chức sản xuất cũng như bộ máy quản lý trong các Doanh nghiệp nhỏ và vừa
tương đối nhỏ gọn, không có nhiều các khâu trung gian làm tăng hiệu quả
hoạt động doanh nghiệp. Các quyết định chế độ, chỉ tiêu… đến với người lao
động cũng nhanh chóng vì thế mà công tác kiểm tra giám sát tiến hành thuận
lợi, không phải qua nhiều khâu trung gian, tiết kiệm được chi phí, thời gian
quản lý doanh nghiệp.
14

Doanh nghiệp nhỏ và vừa có vốn chủ sở hữu tương đối nhỏ.Theo thống
kê kinh tế số lượng Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 97% trên tổng
số doanh nghiệp cả nước; nhưng số vốn đăng ký của các doanh nghiệp chỉ
chiếm khoảng 50% trên tổng số vốn kinh doanh của các doanh nghiệp cả
nước. Trong đó có tới 40% các Doanh nghiệp nhỏ và vừa có số vốn dưới 5 tỷ
đồng là doanh nghiệp ở quy mô nhỏ. Điều này cho thấy các Doanh nghiệp
nhỏ và vừa có vốn kinh doanh rất nhỏ.
1.2.1.3. Vai trò của các Doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế
Ngày nay, nền kinh tế không ngừng phát triển, xuất hiện ngày càng
nhiều tập đoàn kinh tế lớn. Các tập đoàn này đã, đang và sẽ đóng góp vai trò
to lớn đến sự hội nhập và sự phát triển kinh tế toàn cầu. Bên cạnh đó, sự tồn
tại của các Doanh nghiệp nhỏ và vừa là rất quan trọng vì:
* Sự cần thiết phải tiếp cận gần với thị trường.
* Hoạt động sản xuất cần phải có sự chuyên môn hoá cao.
* Sự biến động của môi trường đòi hỏi tính linh hoạt, năng động mà doanh
nghiệp lớn khó có thể đạt đến.
* Một số chủ doanh nghiệp muốn hạn chế sự phát triển của doanh nghiệp
để không mất đi quyền làm chủ doanh nghiệp.
* Một doanh nghiệp lớn luôn thúc đẩy xây dựng mạng lưới doanh nghiệp
với quy mô nhỏ hơn để phân phối và sử dụng sản phẩm của họ.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ kích thích nền kinh tế, bởi vì có nhiều lĩnh
vực kinh tế mà các Doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động rõ ràng hiệu quả hơn
các tập đoàn lớn. Thật vậy, các Doanh nghiệp nhỏ và vừa đang dần khẳng
định vị thế và vai trò của mình trong nền kinh tế quốc gia trong hiện tại và
tương lai. Với sự phát triển bùng nổ về khoa học và công nghệ, các Doanh
15

nghiệp nhỏ và vừa có thể tận dụng cơ hội này để tăng năng suất lao động và
cạnh tranh với các doanh nghiệp khác trên thị trường. Hơn nữa, quá trình toàn
cầu hoá trong lĩnh vực kinh tế không cho phép bất kỳ doanh nghiệp nào tự
khép kín chu trình sản xuất kinh doanh một cách có hiệu quả. Chính vì vậy,
các Doanh nghiệp nhỏ và vừa là một nhân tố tác động tích cực đến sự phát
triển kinh tế mỗi quốc gia. Điều này được thể hiện cụ thể qua các mặt sau:
* Các Doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng góp một phần đáng kể vào sự tăng
trưởng GDP của toàn nền kinh tế. Thực tế, không chỉ ở các nước đang phát
triển mà ở cả các nước phát triển, số lượng các Doanh nghiệp nhỏ và vừa
chiếm một tỷ lệ khá lớn trong số các doanh nghiệp và chủ yếu hoạt động
trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ. Chúng đáp ứng khá tốt nhu cầu tiêu thụ
hàng hoá của các doanh nghiệp lớn cũng như nhu cầu tiêu dùng đa dạng trong
xã hội mà bản thân các doanh nghiệp lớn khó có thể đáp ứng được ngay. Do
đó, thu nhập từ loại hình doanh nghiệp này chiếm phần lớn trong tổng thu
nhập quốc dân. Theo số liệu thống kê, hiện nay nước Việt Nam có 200.000
doanh nghiệp thì trong đó có 97% các Doanh nghiệp nhỏ và vừa (hơn 55% số
này hoạt động trong lĩnh vực thương mại - dịch vụ) và đóng góp hơn 26%
GDP của nền kinh tế.
* Có thể nói, số lượng các Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm số lượng rất
lớn trong nền kinh tế. Mặt khác, các doanh nghiệp này có khả năng tận dụng
hiệu quả các nguồn lực xã hội sẵn có để phát triển và mở rộng sản xuất kinh
doanh. Do đó, vô hình chung các Doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng góp vào sự
phát triển chung của nền kinh tế. Chẳng hạn, theo như các nhà phân tích kinh
tế cho thấy các Doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam có thể tận dụng tối ưu
thế mạnh của từng vùng từng địa phương để phát triển hay thu hút được nhiều
lao động trong xã hội: tạo ra việc làm cho hơn 95% lao động xã hội, theo kế
hoạch đến năm 2010, chúng ta sẽ có 500.000 Doanh nghiệp nhỏ và vừa và tạo
16

việc làm cho 20 triệu người. Từ đó, góp phần thực hiện mục tiêu chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo vùng lãnh thổ.
* Hơn nữa, các Doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ góp phần duy trì và phát triển
những ngành nghề truyền thống (chẳng hạn như ngành sản xuất các mặt hàng
thủ công mỹ nghệ). Bởi vì, để sản xuất các loại mặt hàng này phải sử dụng lao
động địa phương và quy mô doanh nghiệp thuộc loại nhỏ và vừa là thích hợp
nhất. Bên cạnh đó, bản thân sản phẩm của ngành nghề này có thị trường tiêu
thụ mạnh trong và ngoài nước. Chính vì vậy, chính sách hỗ trợ các Doanh
nghiệp nhỏ và vừa ở các nước đang phát triển cũng như các nước phát triển là
hướng đi chính xác để chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành .
* Mặt khác, cơ cấu tổ chức bộ máy hoạt động trong các Doanh nghiệp nhỏ
và vừa thì đơn giản và gọn nhẹ nên chúng dễ thích ứng với những biến động
của thị trường cũng như dễ đáp ứng nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng
hơn các doanh nghiệp lớn. Chính đặc điểm này giải thích sự tồn tại của các
Doanh nghiệp nhỏ và vừa song song với các doanh nghiệp lớn, đồng thời tạo
sự linh hoạt hay sự năng động trong nền kinh tế, góp phần chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo khu vực. Thực tế, chúng ta thấy sự xuất hiện của các Doanh
nghiệp nhỏ và vừa giúp nền kinh tế của các quốc gia thoát khỏi những cuộc
khủng hoảng nặng nề, tạo một luồng sinh khí mới cho nền kinh tế.
Vai trò của các Doanh nghiệp nhỏ và vừa đối với sự phát triển kinh tế của
nhiều nước ngày càng trở nên quan trọng.
1.2.1.4. Nhu cầu vốn của Doanh nghiệp nhỏ và vừa
Bất cứ doanh nghiệp nào muốn tồn tại cũng phải có sự hỗ trợ vốn của
Ngân hàng đặc biệt là với các Doanh nghiệp vừa và nhỏ vì đặc điểm của loại
hình doanh nghiệp này là quy mô về vốn là hết sức nhỏ bé. Nhờ vốn của ngân
hàng mà doanh nghiệp có thể tự chủ trong việc sản xuất kinh doanh và có khả
17

năng chống chịu trước những biến động của thị trường. Do đó, nhu cầu vốn
của doanh nghiệp là một điều kiện không thể thiếu của doanh nghiệp vừa và
nhỏ. Không có một Doanh nghiệp nào hiện nay phát triển nếu không chỉ dùng
vốn tự có, vay vốn Ngân hàng phục vụ hoạt động snr xuất kinh doanh, đầu tư
là nhu cầu đương nhiên.
1.2.2. Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại đối với Doanh nghiệp
nhỏ và vừa
Doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng là một loại hình Doanh nghiệp do đó
mang đầy đủ các đặc điểm của Doanh nghiệp nói chung. Vì vậy xét về tính
tổng quát hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại đối với Doanh
nghiệp nhỏ và vừa cũng tương đồng với đối với Doanh nghiệp.
1.2.2.1. Khái niệm cho vay của Ngân hàng thương mại đối với Doanh nghiệp
Theo mục 1, Điều 3, Quyết định số 1627/2001/QĐ- NHNN về quy chế
cho vay của Tổ chức tín dụng đối với khách hàng quy định: “Cho vay là một
hình thức cấp tín dụng, theo đó Tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử
dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian theo thoả thuận
với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.”
1.2.2.2. Các nguyên tắc cho vay của Ngân hàng thương mại đối với Doanh
nghiệp
Với mục đích đảm bảo tính an toàn và sinh lời, hoạt động cho vay của
Ngân hàng thương mại dựa trên ba nguyên tắc cơ bản sau:
Nguyên tắc thứ nhất, khách hàng phải cam kết hoàn trả cả gốc và lãi vay
theo đúng thời hạn đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng. Nguyên tắc này
vừa phản ánh hoạt động chủ yếu của Ngân hàng là huy động vốn để cho vay;
là điều kiện để tồn tại và phát triển.
18

Nguyên tắc thứ hai, khách hàng phải cam kết sử dụng vốn vay đúng mục
đích đã được thoả thuận trong hợp đồng tín dụng và được phép theo quy định
của luật pháp hiện hành.
Nguyên tắc thứ ba, Ngân hàng căn cứ vào phương án kinh doanh, dự án
đầu tư có hiệu quả để cho vay. Nguyên tắc này là cơ sở phản ánh khả năng
thu hồi gốc và lãi vay của Ngân hàng. Để đảm bảo tính an toàn cho khoản vay
Ngân hàng yêu cầu khách hàng phải đảm bảo tiền vay.
1.2.2.3. Quy trình cho vay của Ngân hàng thương mại đối với Doanh nghiệp
Tuỳ theo đặc điểm quản trị mà mỗi một Ngân hàng tự xây dựng cho minh
một qui trình cho vay (quy trình tín dụng) riêng; song tựu chung lại quy trình
tín dụng cơ bản gồm có 6 giai đoạn chính.
* Lập hồ sơ đề nghị cấp tín dụng
Lập hồ sơ tín dụng là khâu căn bản đầu tiên của qui trình tín dụng, nó
được thực hiện ngay sau khi cán bộ tín dụng tiếp xúc với khách hàng có nhu
cầu vay vốn. Lập hồ sơ tín dụng là khâu quan trọng vì nó là khâu thu nhập
thông tin làm cơ sở để thực hiện các khâu sau, đặc biệt là khâu phân tích và ra
quyết định cho vay.
Tuỳ theo quan hệ giữa khách hàng và ngân hàng, loại tín dụng yêu cầu và
qui mô tín dụng, cán bộ tín dụng hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ với những
thông tin yêu cầu khác nhau. Nhìn chung, một bộ hồ sơ đề nghị cấp tín dụng
cần thu nhập từ khách hàng những thông tin sau:
Thông tin về năng lực pháp lý và năng lực hành vi của khách hàng.
Thông tin về khả năng sử dụng và hoàn trả vốn của khách hàng.
Thông tin về bảo đảm tín dụng. Để thu thập được những thông tin căn
bản như trên, ngân hàng thường yêu cầu khách hàng phải lập và nộp cho ngân
hàng các loại giấy tờ sau:
• Giấy đề nghị vay vốn
19

• Giấy tờ chứng minh tư cách pháp nhân của khách hàng, ví dụ như
giấy phép thành lập, quyết định bổ nhiệm giám đốc, điều lệ hoạt
động…
• Phương án sản xuất kinh doanh và kế hoạch trả nợ hay dự án đầu tư.
• Báo cáo tài chính của thời kỳ gần nhất.
• Các giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh …
• Các giấy tờ liên quan cần thiết khác.
* Phân tích tín dụng: là phân tích khả năng hiện tại và tiềm tàng của khách
hàng về sử dụng vốn tín dụng, khả năng hoàn trả và khả năng thu hồi vốn tín
dụng, khả năng hoàn trả nợ. Mục tiêu phân tích tín dụng là tìm kiếm những
tình huống có thể dẫn đến rủi ro cho ngân hàng, dự đoán rủi ro và kiểm soát
rủi ro đó đồng thời đưa ra các biện pháp phòng ngừa. Mặt khác phân tích tín
dụng còn quan tâm đến tính xác thực của hồ sơ vốn vay mà khách hàng cung
cấp, qua đó nhận định về thái độ trả nợ của khách hàng, phòng ngừa rủi ro
đạo đức tín dụng. Phân tích tín dụng bao gồm phân tích tư cách pháp nhân
của khách hàng, năng lực quản lý của người điều hành doanh nghiệp, tình
hình tài chính, tính khả thi của phương án sản xuất, dự án đầu tư, uy tín của
khách hàng. Trong đó phân tích, thẩm định tình hình tài chính là quan trọng
nhất. Xét đối với doanh nghiệp, Ngân hàng phải tiến hành thẩm định mức độ
tin cậy của các báo cáo tài chính; phân tích các báo cáo tài chính và đánh giá
tình hình tài chính doanh nghiệp về khả năng thanh toán, hiệu quả hoạt động

* Quyết định và ký hợp đồng tín dụng
Quyết định tín dụng là quyết định cho vay hoặc từ chối cho vay đối với
hồ sơ vay vốn của khách hàng. Đây là bước rất quan trọng, quyết định tín
dụng tác động lớn đến các bước tiếp theo đồng thời ảnh hưởng đến uy tín,
hình ảnh của Ngân hàng. Có hai rủi ro rất dễ xảy ra ở bước này: một là quyết
20

định cho vay đối với khách hàng không tốt gây thiệt hại tài chính do không
thu được nợ; hai là quyết định từ chối cho vay đối với khách hàng tốt tức là
Ngân hàng đã mất một cơ hội sinh lời, mất một mối quan hệ khách hàng, mất
uy tín.
* Giải ngân. Sau khi kí hợp đồng tín dụng, Ngân hàng tiến hành giải ngân –
là phát tiền vay chi khách hàng theo như cam kết trong hợp đồng. Ngân hàng
giải ngân dựa trên nguyên tắc luôn luôn đối ứng dòng tiền với hàng hoá hoặc
dịch vụ. Đồng thời qua cách thức giải ngân ngân hàng còn kiểm tra được
khách hàng có sử dụng vốn vay đúng mục đích đã cam kết hay không và tạo
điều kiện để khách hàng kinh doanh có lợi.
* Giám sát tín dụng là bước nhằm đảm bảo cho vốn vay được sử dụng đúng
mục đích đã được cam kết trong hợp đồng tín dụng, phát hiện và có các biện
pháp kịp thời.
* Thanh lý hợp đồng tín dụng: là bước cuối trong qui trình tín dụng bao
gồm các nội dung sau: thu nợ, tái xét hợp đồng tín dụng, thanh lý hợp dồng
tín dụng.
1.2.2.4. Các loại hình cho vay của Ngân hàng thương mại đối với Doanh
nghiệp
Ngân hàng có nhiều tiêu chí để phân loại cho vay đối với Doanh nghiệp
nhằm đa dạng hoá các loại hình cho vay đáp ứng nhu cầu vay vốn phong phú
của khách hàng.
* Phân loại theo thời hạn cho vay:
Theo mục 2, điều 3/ QĐ 1627/2001/QĐ-NHNN về quy chế cho vay của
tổ chức tín dụng đối với khách hàng “thời hạn cho vay là khoảng thời gian
được tính từ khi khách hàng ban đầu nhận được vốn vay cho đến thời điểm trả
hết nợ gốc và lãi vốn vay đã được thoả thuận trong hợp đồng tín dụng giữa tổ
chức tín dụng và khách hàng”. Theo đó, Ngân hàng chia thành 3 hình thức:
21

- Cho vay ngắn hạn: Là các khoản vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng
- Cho vay trung hạn: Là các khoản vay có thời hạn cho vay trên 12 tháng đến
60 tháng
- Cho vay dài hạn: Là các khoản vay có thời hạn cho vay trên 60 tháng
Cách thức phân loại này nhằm đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất, kinh doanh,
đầu tư dự án…Đồng thời, về phía Ngân hàng quản lý các món vay hiệu quả,
quản lý cơ cấu cho vay ngắn hạn, dài hạn…..
* Phân loại theo hình thức bảo đảm tiền vay
Bảo đảm tiền vay là thiết lập những ràng buộc pháp lý của khoảng vay
với những tài sản hoặc doanh thu kinh doanh của người vay hay người thứ 3
để khi không thu được nợ có thể dựa vào việc bán tài sản để thu hồi nợ. Theo
đó cho vay được chia thành 2 loại:
Một là cho vay có tài sản bảo đảm như cho vay được bảo đảm bằng tài
sản của khách hàng vay vốn hay bằng tài sản hình thành từ vốn vay. Cho vay
có tài sản đảm bảo là hình thức cho vay mà khách hàng phải có tài sản thế
chấp, cầm cố hay bảo lãnh của bên thứ ba cho khoản tiền vay. Đây là loại
hình cho vay giảm được rủi ro và an toàn hơn cho Ngân hàng nhưng tốn kém
chi phí đinh giá, bảo quản và có thể có rủi ro giảm giá, không có thị trường
tiêu thụ tài sản đảm bảo…
Hai là hình thức cho vay không có tài sản đảm bảo. Đó là các khoản cho
vay được bảo đảm bằng uy tín, độ tín nhiệm của khách hàng, hay của bên thứ
ba với cam kết bên thứ ba sẽ chịu trách nhiệm trả thay cho khách hàng vay
nếu khách hàng vay không trả được nợ cho Ngân hàng. Ngoài ra hình thức
nay còn áp dụng đối với các khoản cho vay không có tài sản bảo đảm theo
Chỉ định của Chính phủ. Cho vay không có tài sản đảm bảo chứa đựng nhiều
0rủi ro cho nên đối tượng Ngân hàng cho vay theo hình thức này thường là
những khách hàng có độ tín nhiệm cao, có quan hệ tốt lâu dài với Ngân hàng.
22

* Phân loại theo cách thức cho vay có hai loại:
Cho vay trực tiếp là cách thức cho vay phổ biến nhất chủa Ngân hàng.
Ngân hàng và khách hàng trực tiếp quan hệ cho vay với nhau, Ngân hàng có
trách nhiệm tín dụng và khách hàng phải có nghĩa vụ với khoản tiền vay.
Cho vay gián tiếp là Ngân hàng và khách hàng vay vốn quan hệ thông
qua các tổ chức trung gian, thường được Ngân hàng áp dụng đối với các món
vay nhỏ, phân tán, không thuận tiện về khoảng cách, giảm bớt rủi ro hay đem
lại lợi ích chung cho cả ba bên. Ví dụ: khi các thành viên trong một hội cùng
muốn vay vốn với mục đích vay giống nhau, Ngân hàng thay vì việc kí hợp
đồng với từng thành viên trong hội mà tiến hành cho vay gián tiếp qua hội…
* Phân loại theo phương thức cho vay
- Cho vay thấu chi là phương thức mà Ngân hàng cho phép khách hàng vay
được phép chi trội trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn
nhất định và trong khoảng thời gian cụ thể xác định - theo hạn mức thấu chi.
- Cho vay theo món có đặc điểm là doanh nghiệp mỗi lần vay vốn thì khách
hàng và Ngân hàng đều phải thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký hợp
đồng tín dụng. Phương thức cho vay này buộc khách hàng xin vay món nào
thì phải làm hồ sơ xin vay món đó. Nếu trong một quý khách hàng có bao
nhiêu món vay, thì cũng phải làm bấy nhiêu hồ sơ xin vay và Ngân hàng cũng
phải tiến hành đầy đủ quy trình tín dụng.
Trong đó vốn cho vay được tính theo công thức sau:

Trong đó nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh được tính theo công thức sau:
Mức Nhu cầu vốn Vốn chủ Các nguồn vốn
cho vay = cho sản xuất - sở hữu - khác tham gia
kinh doanh tham gia
23

Nếu dựa trên giá trị tài sản đảm bảo mức cho vay theo đó là:
Cho vay theo món có ưu điểm là Ngân hàng chủ động sử dụng vốn và thu
lãi suất cao; nhưng thủ tục phức tạp, tốn nhiều chi phí về phía khách hàng
thiếu tính chủ động về vốn … Phương thức cho vay theo món thường được
áp dụng trong các trường hợp sau: Khách hàng vay không thường xuyên;
Khách hàng vay thường xuyên nhưng độ tín nhiệm chưa cao; cho vay dài hạn
hoặc cho vay dự án; yêu cầu phải có bảo đảm tiền vay.
* Cho vay theo hạn mức là phương thức cho vay mà khách hàng và Ngân
hàng cùng thoả thuận và đi đến xác định hạn mức tín dụng trong một khoảng
thời gian xác định. Đây là phương thức cho vay mà một bộ hồ sơ xin vay vốn
được dùng để cho vay cho nhiều món vay của khách hàng trong phạm vi hạn
mức tín dụng. Hạn mức tín dụng là tổng mức dư nợ vay tối đa được duy trì
trong một thời hạn xác định theo thoả thuận giữa Ngân hàng và khách hàng
trong hợp đồng tín dụng. Ngân hàng xác định hạn mức tín dụng theo công
thức sau:
Cho vay theo hạn mức áp dụng phổ biến với các Doanh nghiệp có nhu
vầu vay vốn thường xuyên và có độ tín nhiệm tốt với Ngân hàng. Phương
thức cho vay này có các ưu điểm nổi bật sau: thủ tục đơn giản, chi phí lãi vay
Nhu cầu vốn Nhu cầu vốn Giá trị TS và chi phí
cho sản xuất = đầu tư cho TSLĐ - không thuộc đối tượng
kinh doanh và TSCĐ tài trợ của Ngân hàng
Mức vốn Giá trị TS Tỷ lệ cho vay trên
cho vay đảm bảo * giá trị tài sản đảm bảo
Hạn mức tín dụng = nhu cầu vốn lưu động -VCSH tham gia
Nhu cầu Giá trị Nợ ngắn hạn Nợ dài hạn
vốn lưu = tài sản + phi Ngân hàng + có thể
động lưu động sử dụng
24

thấp, khách hàng chủ động được việc sử dụng vốn vay, Ngân hàng hầu như
không yêu cầu đảm bảo tín dụng.
- Cho vay luân chuyển là phương thức cho vay dựa trên quá trình luân
chuyển của hàng hoá của Doanh nghiệp, kế hoạch lưu chuyển hàng hoá, dòng
tiền vào ra của Doanh nghiệp. Phương thức này hàng hoá mua vào hợp lệ về
hoá đơn, giá trị là đối tượng được Ngân hàng cho vay luân chuyển, nguồn trả
nợ là các khoản thu nhập do bán hàng hoá. Phương thức cho vay luân chuyển
thích hợp với các Doanh nghiệp thương nghiệp và Doanh nghiệp sản xuất có
chu kì tiêu thụ hàng hóa ngắn ngày, có quan hệ tín dụng thường xuyên và tốt
với Ngân hàng.
- Cho vay theo dự án đầu tư là Ngân hàng cho doanh nghiệp vay khi khách
hàng có kế hoạch mua sắm tài sản cố định nhằm phục vụ cho quá trình thực
hiện dự án đầu tư. Các hoạt động đầu tư bao gồm: đầu tư dây chuyền sản suất,
mở rộng quy mô, lắp đặt cải tiến công nghệ; đầu tư hoàn thiện môi trường
hoạt động; mua cổ phần, góp vốn; đầu tư theo hình thức BOT, BTO, BT
(Nguồn Nghị định 51/ 1999/NĐ- CP). Ngân hàng tiến hành cho vay dựa trên
phân tích và thẩm định dự án và xác định khả năng trả nợ của khách hàng,
trong đó nhu cầu đầu tư dự án của doanh nghiệp được tính như sau:
* Cho vay hợp vốn là phương thức cho vay mà nhiều tổ chức tín dụng ( từ
hai tổ chức tín dụng trở lên) cùng cho vay đối với một dự án của khách hàng.
Cho vay hợp vốn thường được áp dụng trong các trường hợp sau: nhu cầu xin
vay của doanh nghiệp vượt trên giới hạn cho vay của một Ngân hàng; Nguồn
vốn của Ngân hàng không đủ khả năng cho vay để đáp ứng nhu cầu vay của
khách hàng; Ngân hàng muốn phân tán rủi ro.
Nhu cầu Nhu cầu Nhu cầu
đầu tư = đầu tư vào + đầu tư vào
theo dự án tài sản cố định tài sản lưu động
25

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×
x