Tải bản đầy đủ

Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng Hải Việt Nam

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Trong điều kiện hiện nay, khi khu vực hoá, toàn cầu hoá đang trở thành xu
hướng phổ biến thì bên cạnh quá trình hợp tác theo nguyên tắc hai bên cùng có lợi,
giữa các quốc gia luôn kèm theo quá trình cạnh tranh gay gắt, khốc liệt. Để có thể
vực dậy và phát triển một nền kinh tế với một cơ sở hạ tầng yếu kém về mọi mặt, để
có thể thắng được trong cạnh tranh, chúng ta cần có rất nhiều vốn. Kênh dẫn vốn
trong nước quan trọng nhất cho nền kinh tế là hệ thống ngân hàng. Để có thể thu hút
được nhiều vốn thì một trong những điều cần phải làm là làm tốt công tác tạo đầu ra,
tức là cấp tín dụng cho nền kinh tế.
Tín dụng Ngân hàng được coi là đòn bẩy quan trọng cho nền kinh tế. Nghiệp
vụ này không chỉ có ý nghĩa với nền kinh tế mà nó còn là nghiệp vụ hàng đầu, có ý
nghĩa quan trọng, quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của từng ngân hàng.
Chính vì vậy, làm thế nào để củng cố và nâng cao chất lượng tín dụng là điều mà
trước đây, bây giờ và sau này đều được các nhà quản lý Ngân hàng, các nhà chính
sách và các nhà nghiên cứu quan tâm.
Với ngân hàng thương mại cổ phần Hàng Hải Việt Nam, Hoạt động tín dụng
trong những năm gần đây là khá tốt, dư nợ qua các năm tăng cao, tỷ lệ nợ quá hạn
giảm. Tuy nhiên hoạt động tín dụng vẫn còn một số vấn đề cần quan tâm, cung như
kết quả hoạt động tín dụng vẫn chưa cao như mong muốn. Trước xu thế hội nhập và
cạnh tranh, ngân hàng cần nâng cao hơn nữa chất lượng tín dụng.

Xuất phát từ thực tiễn đó, em đã chọn đề tài “Giải pháp nâng cao chất
lượng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng Hải Việt
Nam” nhằm mục đích đưa ra những giải pháp có căn cứ khoa học và thực tiễn, góp
phần giải quyết những vấn đề còn hạn chế để nâng cao hơn nữa chất lượng tín dụng
tại ngân hàng Hàng Hải Việt Nam.
Hoạt động tín dụng bao gồm nhiều hoạt động như chiết khấu, bảo lãnh, cho
thuê, cho vay… Nhưng trong chuyên đề này, em chỉ đề cập tới chất lượng tín dụng ở
góc độ cho vay.
Nguyễn Anh Tuấn Quản lý công 48
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bản chuyên đề được chia làm 3 chương:
Chuơng 1: Ngân hàng thương mại và chất lượng tín dụng của ngân hàng
thương mại.
Chương II: Thực trạng hoạt động kinh doanh và chất lượng tín dụng tại ngân
hàng thương mại cổ phần Hàng Hải Việt Nam.
Chương III: Những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng tại ngân
hàng thương mại cổ phần Hàng Hải Việt Nam.
Nguyễn Anh Tuấn Quản lý công 48
2
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHUƠNG 1: NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ CHẤT LƯỢNG
TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
I. Những hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại.
1. Khái quát về ngân hàng thương mại.
Ngân hàng Thương mại (NHTM) là tổ chức tài chính trung gian có vị trí quan
trọng nhất trong nền kinh tế, nó là một loại hình doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh
vực tiền tệ - tín dụng. Theo pháp lệnh ngân hàng ngày 23-5-1990 của Hội đồng Nhà
nước xác định: "Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động
chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và
sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện
thanh toán".
Như vậy NHTM làm nhiệm vụ trung gian tài chính đi vay để cho vay qua đó
thu lời từ chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi, nó thực sự là một loại hình
doanh nghiệp dịch vụ tài chính, mặc dù giữa NHTM và các tổ chức tài chính trung
gian khác rất khó phân biệt sự khác nhau, nhưng người ta vẫn phải tách NHTM ra
thành một nhóm riêng vì những lý do rất đặc biệt của nó như tổng tài sản có của
NHTM luôn là khối lượng lớn nhất trong toàn bộ hệ thống Ngân hàng, hơn nữa khối
lượng séc hay tài khoản gửi không kì hạn mà nó có thể tạo ra cũng là bộ phận quan
trọng trong tổng cung tiền tệ M1 của cả nền kinh tế. Cho thấy NHTM có vị trí rất
quan trọng trong hệ thống ngân hàng cũng như trong nền kinh tế quốc dân.
2. Nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng thương mại.
Các NHTM có 3 loại nghiệp vụ chính, đó là nghiệp vụ huy động vốn, nghiệp
vụ sử dụng vốn và nghiệp vụ trung gian (thanh toán hộ khách hàng).
2.1. Nghiệp vụ huy động vốn.
Đây là nghiệp vụ huy động tạo nguồn vốn dùng cho các hoạt động của ngân
hàng, bao gồm các nguồn vốn sau:
2.1.1. Nguồn vốn tự có, coi như tự có và vốn dự trữ.
- Vốn điều lệ: Đây là số vốn ban đầu được hình thành khi NHTM được thành
lập, nó có thể do Nhà nước cấp đối với NHTM quốc doanh, có thể là vốn đóng góp
của các cổ đông đối với NHTM cổ phần, có thể là vốn góp của các bên liên doanh đối
với NHTM liên doanh, hoặc vốn do tư nhân bỏ ra của NHTM tư nhân. Mức vốn điều
lệ là bao nhiêu tuỳ theo quy mô của NHTM được pháp lệnh quy định cụ thể.
Nguyễn Anh Tuấn Quản lý công 48
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Vốn coi như tự có: bao gồm lợi nhuận chưa chia, tiền lương chưa đến kỳ
thanh toán, các khoản phải nộp nhưng chưa đến hạn nộp, các khoản phải trả nhưng
chưa đến hạn trả.
- Vốn dự trữ: Vốn này được hình thành từ lợi nhuận ròng của ngân hàng được
trích thành nhiều quỹ trong đó quan trọng nhất là quỹ dự trữ và quỹ đề phòng rủi ro,
được trích theo quy định của ngân hàng trung ương.
2.1.2. Nguồn vốn quản lý và huy động.
Nguồn vốn này chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong nguồn vốn của ngân
hàng. Đây là tài sản của các chủ sở hữu khác, ngân hàng có quyền sử dụng có thời
hạn cả vốn lẫn lãi. Nó bao gồm các loại sau:
- Tiền gửi không kỳ hạn của dân cư, doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế. Nó
có mục đích chủ yếu là để bảo đảm an toàn tài sản và giao dịch, thanh toán không
dùng tiền mặt, tiết kiệm chi phí lưu thông.
- Tiền gửi có kỳ hạn của dân cư, doanh nghiệp và các tổ chức khác. Đây là
khoản tiền gửi có thời gian xác định, về nguyên tắc người gửi chỉ được rút tiền khi
đến hạn, nhưng thực tế ngân hàng cho phép người gửi có thể rút trước với điều kiện
phải báo trước và có thể bị hưởng lãi suất thấp hơn Mục đích của người gửi chủ yếu
là lấy lãi.
- Tiền gửi tiết kiệm: đây là khoản tiền để dành của cá nhân được gửi vào ngân
hàng nhằm mục đích hưởng lãi theo định kỳ. Có 2 hình thức: một là, tiền gửi tiết
kiệm không kỳ hạn là loại tiền gửi mà người gửi có thể ký thác nhiều lần và rút ra
theo nhu cầu sử dụng và không cần báo trước; hai là, tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn, là
tiền gửi đến kỳ mới được rút.
- Tiền phát hành trái phiếu, kỳ phiếu theo mức cho phép của Ngân hàng Nhà
nước. Trái phiếu, kỳ phiếu có thời hạn cụ thể và chỉ đến thời hạn đó mới được thanh
toán. Hình thức kỳ phiếu thường được áp dụng theo 2 phương thức, một là: phát hành
theo mệnh giá (người mua kỳ phiếu trả tiền mua theo mệnh giá và được trả cả gốc
lẫn lãi khi đến hạn); hai là: phát hành dưới hình thức chiết khấu (người mua kỳ phiếu
sẽ trả số tiền mua bằng mệnh giá trừ đi số tiền chiết khấu và sẽ được hoàn trả theo
đúng mệnh giá khi đến hạn).
Nguyễn Anh Tuấn Quản lý công 48
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2.1.3. Vốn vay.
Bao gồm vốn vay của ngân hàng trung ương dưới hình thức tái chiết khấu
hoặc cho vay ứng trước, vay ngân hàng nước ngoài, vay các tổ chức tín dụng khác và
các khoản vay khác trên thị trường như: phát hành chứng chỉ tiền gửi, phát hành hợp
đồng mua lại, phát hành giấy nợ phụ, các khoản vay USD ngoài nước ... Với nguồn
vốn này NHTM có trách nhiệm sử dụng có hiệu quả và hoàn trả đúng hạn cả vốn lẫn
lãi.
2.1.4. Các nguồn vốn khác.
Bao gồm các nguồn vốn tài trợ, vốn đầu tư phát triển, vốn uỷ thác đầu tư.
Vốn này để cho vay theo các chương trình, dự án xây dựng cơ bản tập trung của Nhà
nước hoặc trợ giúp cho đầu tư phát triển những chương trình dự án có mục tiêu riêng.
2.2. Nghiệp vụ có.
Đây là những nghiệp vụ sử dụng nguồn vốn của mình để thực hiện kinh
doanh tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng.
2.2.1. Nghiệp vụ ngân quỹ.
- Tiền két: tiền mặt hiện có tại quỹ nghiệp vụ. Nhu cầu dự trữ tiền két cao hay
thấp phụ thuộc vào môi trường nơi ngân hàng hoạt động và thời vụ.
- Tiền dự trữ: gồm tiền dự trữ bắt buộc là số tiền bắt buộc phải giữ lại theo tỷ
lệ nhất định so với số tiền khách hàng gửi được quy định bởi ngân hàng trung ương;
tiền dự trữ vượt mức là số tiền dự trữ ngoài tiền dự trữ bắt buộc; và tiền gửi thanh
toán tại ngân hàng trung ương và các ngân hàng đại lý, tiền gửi loại này được sử
dụng để thực hiện các khoản thanh toán chuyển khoản giữa các ngân hàng khi khách
hàng tiến hành các thể thức thanh toán không dùng tiền mặt như séc, uỷ nhiệm chi,
thẻ thanh toán...
2.2.2. Nghiệp vụ cho vay và đầu tư.
- Nghiệp vụ cho vay: hoạt động cho vay rất đa dạng và phong phú, nó là hoạt
động quan trọng nhất, mang lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng và có tỷ lệ sinh lợi
cao nhất của các NHTM, nó gồm các loại hình sau:
+ Tín dụng ứng trước: đây là thể thức cho vay được thực hiện trên cơ sở hợp
đồng tín dụng, trong đó khách hàng được sử dụng một mức cho vay trong một thời
hạn nhất định. Có 2 loại là: ứng trước có bảo đảm như thế chấp, cầm cố, bảo lãnh;
ứng trước không bảo đảm là việc cho vay chỉ dựa trên uy tín của khách hàng.
Nguyễn Anh Tuấn Quản lý công 48
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
+ Thấu chi (tín dụng hạn mức): là hình thức cấp tín dụng ứng trước đặc biệt
được thực hiện trên cơ sở hợp đồng tín dụng, trong đó khách hàng được phép sử
dụng dư nợ trong một giới hạn và thời hạn nhất định trên tài khoản vãng lai.
+ Chiết khấu thương phiếu: khách hàng chuyển nhượng quyền sở hữu thương
phiếu chưa đáo hạn cho ngân hàng để nhận một số tiền bằng mệnh giá của thương
phiếu trừ đi lãi chiết khấu và hoa hồng phí.
+ Bao thanh toán: là nghiệp vụ đi mua lại các khoản nợ của doanh nghiệp nào
đó để rồi sau đó nhận các khoản chi trả của yêu cầu đó.
+ Tín dụng thuê mua: là hình thức tín dụng trung và dài hạn được thực hiện
thông qua việc cho thuê máy móc thiết bị, động sản và bất động sản khác. Khi hết
hạn thuê bên thuê được chuyển quyền sở hữu, mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó.
+ Tín dụng bằng chữ ký: gồm tín dụng chấp nhận, tín dụng chứng từ và tín
dụng bảo lãnh.
+ Tín dụng tiêu dùng: là hình thức tín dụng nhằm tài trợ cho nhu cầu tiêu dùng
của dân cư, có 2 loại: một là, tín dụng tiêu dùng trực tiếp là việc ngân hàng cho vay
trực tiếp khách hàng để tiêu dùng. Hai là, tín dụng tiêu dùng gián tiếp là việc ngân
hàng mua các phiếu mua bán hàng từ những người bán lẻ hàng hoá, tức là hình thức
tài trợ bán trả góp của NHTM.
- Nghiệp vụ đầu tư: NHTM dùng vốn để kinh doanh bất động sản, góp vốn
liên doanh và kinh doanh chứng khoán. Trong đó đầu tư vào chứng khoán là một
hình thức khá phổ biến, nó mang lại thu nhập cho ngân hàng, nâng cao khả năng
thanh khoản (vì chứng khoán rất đa dạng, nhiều thể loại và có tính thanh khoản cao).
NHTM có thể mua chứng khoán ngắn hạn của Chính phủ, nó vừa tăng thu nhập cho
ngân hàng, vừa góp phần cân bằng thu chi ngân sách thường xuyên. NHTM còn được
phép mua cổ phiếu, trái phiếu của các doanh nghiệp tham gia vào việc thành lập và
quản lý các doanh nghiệp. Tuy nhiên NHTM chỉ được đầu tư chứng khoán có giới
hạn không được để hoạt động này lấn át hoạt động cho vay.
Nghiệp vụ đầu tư đã giúp cho ngân hàng có thể đa dạng hoá các hoạt động
kinh doanh của ngân hàng nhằm phân tán rủi ro và nâng cao hiệu quả hoạt động
kinh doanh của ngân hàng đồng thời khai thác và sử dụng tối đa nguồn vốn đã huy
động.
2.3. Nghiệp vụ trung gian.
Ở đây ngân hàng thực hiện nhiệm vụ phục vụ khách hàng, thực hiện các
nhiệm vụ theo sự uỷ thác của khách bao gồm:
Nguyễn Anh Tuấn Quản lý công 48
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Nghiệp vụ thanh toán: ngân hàng là một trung tâm thanh toán không bằng
tiền mặt, nó thanh toán dưới các hình thức: séc, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, thư tín
dụng, thẻ thanh toán, ngân phiếu thanh toán.
- Nghiệp vụ thu hộ: ngân hàng thay mặt khách hàng nhận tiền theo các chứng
khoán khác nhau như séc, kỳ phiếu, các chứng từ hàng hoá và chứng khoán có giá.
- Nghiệp vụ thương mại: ngân hàng mua hộ hoặc bán hộ khách hàng, hàng
hoá ở đây chủ yếu là các chứng khoán.
- Nghiệp vụ phát hành chứng khoán: đây là một nghiệp vụ quan trọng và
ngày càng phát triển. Các công ty cổ phần, các doanh nghiệp muốn phát hành chứng
khoán có giá trị như cổ phiếu, kỳ phiếu đầu tư có mục đích... nhằm thu hút vốn để
tăng nguồn vốn, hay khi Nhà nước phát hành công trái thì thường nhờ các ngân hàng,
thông qua NHTM làm trung gian tiêu thụ các chứng khoán đó và được nhận số tiền
thù lao theo tỷ lệ quy định từ người phát hành.
- Nghiệp vụ uỷ thác: làm theo các uỷ thác của khách hàng như bảo quản tài
sản( đá quý, chứng khoán...), khách hàng phải trả lệ phí cho việc bảo quản; thực hiện
các uỷ nhiệm về chuyển quyền thừa kế tài sản: khách hàng nhờ ngân hàng thực hiện
các di chúc sau khi họ qua đời.
3. Vai trò của ngân hàng thương mại.
3.1. Vai trò tập trung vốn của nền kinh tế.
Trong nền kinh tế có những chủ thể có dư tiền và khoản tiền đó chưa được sử
dụng một cách triệt để (ví dụ như vẫn còn cất giấu trong nhà chưa được mang ra lưu
thông) nhưng họ cũng muốn tiền này sinh lời cho mình và họ nghĩ là cho vay và có
những chủ thể cần tiền để hoạt động kinh doanh. Nhưng những chủ thể này không
quen biết nhau và cũng có thể không tin tưởng nhau nên tiền vẫn chưa được lưu
thông. Ngân hàng thương mại với vai trò trung gian của mình, nhận tiền từ người
muốn cho vay, trả lãi cho họ và đem số tiền ấy cho người muốn vay.
Thực hiện được điều này NHTM huy động và tập trung các nguồn vốn nhàn
rỗi trong nền kinh tế; mặt khác với số vốn này NHTM sẽ đáp ứng được nhu cầu vốn
của nền kinh tế để sản xuất kinh doanh. Qua đó nó thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
NHTM vừa là người đi vay vừa là người cho vay và với số lãi suất chênh lệch
có được nó sẽ duy trì hoạt động của mình.
Vai trò trung gian này trở nên phong phú hơn với việc phát hành thêm cổ
phiếu, trái phiếu,… NHTM có thể làm trung gian giữa công ty và các nhà đầu tư;
Nguyễn Anh Tuấn Quản lý công 48
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
chuyển giao mệnh lệnh trên thị trường chứng khoán; đảm nhận việc mua trái phiếu
công ty…
3.2.Chức năng làm trung gian thanh toán và quản lý các phương tiện thanh
toán.
Chức năng này có nghĩa là ngân hàng tiến hành nhập tiền vào tài khoản hay
chi trả tiền theo lệnh của chủ tài khoản. Khi các khách hàng gởi tiền vào ngân hàng,
họ sẽ được đảm bảo an toàn trong việc cất giữ tiền và thực hiện thu chi một cách
nhanh chóng tiện lợi, nhất là đối với các khoản thanh toán có giá trị lớn, ở mọi địa
phương mà nếu khách hàng tự làm sẽ rất tốn kém khó khăn và không an toàn (ví dụ:
chi phí lưu thông, vận chuyển, bảo quản…)
Khi làm trung gian thanh toán, ngân hàng tạo ra những công cụ lưu thông và
độc quyền quản lý các công cụ đó (sec, giấy chuyển ngân, thẻ thanh toán..) đã tiết
kiệm cho xã hội rất nhiều vể chi phí lưu thông, đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn,
thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hóa. Ở các nước phát triển phần lớn thanh toán
được thực hiện qua sec và được thực hiện bằng việc bù trừ thông qua hệ thống ngân
hàng thương mại. Ngoài ra việc thực hiện chức năng là thủ quỹ của các doanh nghiệp
qua việc thực hiện các nghiệp vụ thanh toán đã tạo cơ sở cho ngân hàng thực hiện các
nghiệp vụ cho vay.
Hiện nay ở các nước công nghiệp phát triển việc sử dụng hình thức chuyển
tiền bằng đện tử là chuyện bình thường và chính điều này đưa đến việc không sử
dụng sec ngân hàng mà dùng thẻ như thẻ tín dụng. Họ thanh toán bằng cách nối mạng
các máy vi tính của các ngân hàng thương mại trong nước nhằm thực hiện chuyển
vốn từ tài khoản người này sang người khác một cách nhanh chóng.
3.3. Chức năng tạo ra tiền ngân hàng trong hệ thống ngân hàng hai cấp.
Vào cuối thế kỉ 19 hệ thống ngân hàng hai cấp được hình thành, các ngân
hàng không còn họat động riêng lẽ nữa mà tạo thành hệ thống, trong đó ngân hàng
trung ương là cơ quan quản lý về tiền tệ, tín dụng là ngân hàng của các ngân hàng.
Các ngân hàng còn lại kinh doanh tiền tệ, nhờ họat động trong hệ thống các NHTM
đã tạo ra bút tệ thay cho tiền mặt.
Quá trình tạo ra tiền của NHTM được thực hiện thông qua tín dụng và thanh
tóan trong hệ thống ngân, trong mối liên hệ chặt chẽ với hệ thống ngân hàng trung
ương mỗi nước. Vậy tiền “bút tệ” được NHTM tạo ra bằng cách nào? Bây giờ chúng
ta giả sử rằng tất cả các NHTM đều không giữ lại tiền dự trữ quá mức quy định, các
Nguyễn Anh Tuấn Quản lý công 48
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
sec không chuyển thành tiền mặt và các yếu tố phức tạp khác bị bỏ qua thì quá trình
tạo thành tiền như sau:
Tên các ngân hàng Tiền gửi mới Thanh toán cho
vay mới
Dự trữ bắt buộc
Ngân hàng A 1.000.000 900.000 100.000
Ngân hàng B 900.000 810.000 90.000
Ngân hàng C 810.000 729.000 81.000
… … … …
Tiền toàn hệ thống
ngân hàng
10.000.000 9.000.000 1.000.000
Giả sử ngân hàng A có khoản tiền gửi mới là 1.000.000đ, dự trữ bắt buộc là
10% thì số tiền nó có thể cho vay là 900.000. Khoản tiền cho vay đó được đưa đến
người vay, người vay tiền không bao giờ vay tiền về mà cất trong nhà vì như thế họ
phải chịu lãi một cách vô ích, họ dùng tiền đó chi trả các khoản. Và số tiền đó đến tay
người được chi trả, người chi trả đem số tiền đó gửi vào ngân hàng B, ngân hàng B
lúc này sẽ có một lượng tiền gửi mới là 900.000. Dự trữ bắt buộc là 10%, số tiền có
thể cho vay là 810.000. Số tiền này được cho người cần vay vay, người cho vay chi
trả các khỏan đến người được chi trả, người được chi trả đem số tiền được trả gửi
vào ngân hàng C. Lúc này ngân hàng C sẽ có số tiền gửi mới là 810.000. Và cứ như
thế tiếp tục… cho đến khi lượng tiền gửi mới bằng 0. Người ta tính được rằng lượng
tiền gửi mới trong tòan hệ thống ngân hàng là 10.000.000, lượng tiền dự trữ bắt buộc
là 1.000.000 và tiền cho vay là 9.000.000. Và do cách thức này mà tiền đã được tạo
ra trong hệ thống ngân hàng 2 cấp.
II. Chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại.
1. Chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại.
Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp muốn đứng vững và phát triển, tất
yếu phải không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động. Trong các yếu tố như: chất
lượng, giá cả... mà doanh nghiệp phải cạnh tranh trên thị trường, thì chất lượng là yếu
tố quan trọng nhất. Chất lượng được nâng cao đảm bảo thoả mãn nhu cầu của khách
hàng cả về chất lượng và giá cả, tạo điều kiện nâng cao khả năng chiếm lĩnh thị
trường của doanh nghiệp. Chất lượng được các nhà kinh tế định nghĩa bằng nhiều
cách. Chất lượng là “sự phù hợp với mục đích sử dụng”, là “một trình độ được dự
kiến trước về độ đồng đều và sự tin cậy với chi phí thấp nhất và phù hợp với thị
Nguyễn Anh Tuấn Quản lý công 48
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
trường” hoặc “chất lượng là năng lực của một sản phẩm hoặc một dịch vụ nhằm thoả
mãn nhu cầu của người sử dụng”.
Với cách đề cập như vậy, thì chất lượng tín dụng là sự đáp ứng yêu cầu của
khách hàng, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng và phù hợp với sự phát
triển kinh tế xã hội. Để có thể hiểu rõ hơn về chất lượng tín dụng, ta xem xét sự thể
hiện chất lượng tín dụng trên các khía cạnh sau:
-Đối với khách hàng: Chất lượng tín dụng được thể hiện ở chỗ số tiền mà
Ngân hàng cho vay phải có lãi xuất và kỳ hạn hợp lý, thủ tục đơn giản, thuận lợi, thu
hút được nhiều khách hàng nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc tín dụng.
-Đối với Ngân hàng thương mại: Chất lượng tín dụng được thể hiện ở phạm
vi, mức độ, giới hạn tín dụng phải phù hợp với thực lực của bản thân ngân hàng và
đảm bảo được tính cạnh tranh trên thị trường với nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có
lãi. Đối với một ngân hàng nhỏ thì nên cấp tín dụng với mức độ và trong phạm vi
nhất định để thoả mãn một cách tốt nhất khách hàng của mình.
-Đối với Chính phủ, với sự phát triển kinh tế xã hội: Chất lượng tín dụng được
thể hiện ở việc tín dụng phục vụ sản xuất và lưu thông hàng hoá, góp phần giải quyết
công ăn việc làm, khai thác khả năng tiềm tàng trong nền kinh tế, thúc đẩy quá trình
tích tụ và tập trung sản xuất, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng với
tăng trưởng kinh tế.
2. Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng tín dụng của ngân hàng thương
mại.
Trong nền kinh tế thị trường, các quan hệ kinh tế vận động theo các quy luật
khách quan như: Quy luật giá trị, quy luật cung - cầu, quy luật cạnh tranh.... Các
doanh nghiệp để có thể đứng vững trên thương trường thì cần phải có vốn để đầu tư
và tín dụng ngân hàng là một trong những nguồn vốn tối ưu để doanh nghiệp có thể
khai thác. Như vậy, tín dụng ngân hàng là đòn bẩy mạnh mẽ thúc đẩy sự tăng trưởng
kinh tế và góp phần điều hành nền kinh tế thị trường.
Cần thiết phải nâng cao chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại vì hoạt
động tín dụng ngân hàng có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế:
-Thứ nhất: Tín dụng ngân hàng làm tăng hiệu quả kinh tế. Các doanh nghiệp
hoạt động sản xuất kinh doanh dựa trên vốn chủ sở hữu và vốn vay. Một trong những
nguồn để vay là từ ngân hàng, đó là nguồn tài trợ hiệu quả bởi vì nó thoả mãn nhu
cầu vốn về số lượng và thời hạn. Hơn nữa, để có thể vay vốn được từ ngân hàng thì
các doanh nghiệp cần phải nâng cao uy tín của mình đối với ngân hàng, đảm bảo
Nguyễn Anh Tuấn Quản lý công 48
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
được các nguyên tắc tín dụng. Muốn vậy, trong các dự án kinh doanh của mình,
doanh nghiệp phải chọn dự án có mức sinh lãi cao nhất. Để các dự án khả thi, doanh
nghiệp phải tìm hiểu thị trường khai thác thông tin để định lượng hoạt động kinh
doanh của mình sao cho có hiệu quả. Điều đó làm tăng hiệu quả kinh tế của dự án,
phương án.
Mặt khác, một trong những quy định tín dụng của ngân hàng là khâu giám sát
sử dụng vốn vay. Với việc giám sát này của ngân hàng, bắt buộc doanh nghiệp phải
sử dụng vốn vay đúng mục đích, phải nhạy bén với những thay đổi của thị trường, từ
đó góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế. Bên cạnh đó, vai trò tư vấn của cán bộ tín
dụng sẽ giúp cho doanh nghiệp lường trước được những khó khăn, vượt qua khó
khăn để đứng vững, điều này cũng góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế.
-Thứ hai: Tín dụng ngân hàng góp phần vào quá trình vận động liên tục của
nguồn vốn, làm tăng tốc độ chu chuyển tiền tệ trong nền kinh tế tạo cơ chế phân phối
vốn một cách có hiệu quả. Do đặc điểm tuần hoàn vốn nên trong quá trình sản xuất
kinh doanh của các doanh nghiệp luôn có sự không ăn khớp về thời gian và khối
lượng giữa lượng tiền cần thiết để dự trữ vật tư hàng hoá cho quá trình sản xuất kinh
doanh trước đó. Vì vậy, luân chuyển tiền tệ của doanh nghiệp có lúc thừa, có lúc
thiếu vốn. Nguồn vốn doanh nghiệp tạm thời nhàn rỗi cùng với các nguồn tiết kiệm
từ dân cư, nguồn kết dư từ ngân sách... được ngân hàng thương mại huy động và sử
dụng để đầu tư cho các doanh nghiệp đang tạm thời thiếu vốn, cho nhu cầu tiêu dùng
tạm thời vượt quá thu nhập của dân chúng, cũng như cho nhu cầu chi của ngân sách
nhà nước khi chưa có nguồn thu. Thông qua cơ chế sàng lọc, giám sát Ngân hàng
thương mại sẽ chỉ cho vay các dự án có tính khả thi cao, khả năng thu hồi vốn lớn.
Điều này tạo nên một cơ chế phân phối vốn hiệu quả.
-Thứ ba: Tín dụng ngân hàng góp phần hỗ trợ các chiến lược kinh tế và các
chính sách tiền tệ. Một trong những đặc điểm quan trọng của ngân hàng thương mại
là khả năng tạo tiền thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán. Khi nhà nước muốn
tăng khối lượng tiền cung ứng thì Ngân hàng nhà nước có thể tăng hạn mức tín dụng
của các ngân hàng thương mại đối với nền kinh tế và ngược lại. Do vậy thông qua
hình thức tín dụng ngân hàng nhà nước có thể kiểm soát được khối lượng tiền cung
ứng trong lưu thông.
-Thứ tư: Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy quá trình mở rộng mối quan
hệ giao lưu kinh tế quốc tế. Trước xu thế quốc tế hoá, sự giao lưu kinh tế giữa các
nước luôn được đặt ra. Trong nền kinh tế mở thì các doanh nghiệp không chỉ có quan
Nguyễn Anh Tuấn Quản lý công 48
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hệ mua bán với các thành phần khác trong nền kinh tế mà còn có những quan hệ xuất
nhập khẩu với các doanh nghiệp nước ngoài. Ngân hàng thương mại có thể thúc đẩy
mối quan hệ này thông qua hình thức bảo lãnh, cho vay... đối với các doanh nghiệp
để từ đó nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên trường quốc tế.
3. Chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng.
3.1. Chỉ tiêu định tính.
Tín dụng là một trong những hoạt động mang lại thu nhập chủ yếu cho các
NHTM, song không phải tất cả các NHTM đều thực hiện tốt hoạt động này. Một số
ngân hàng gặp khó khăn trong việc không thể tìm được dự án thích hợp cho vay hoặc
gặp khó khăn trong việc huy động vốn. Vì vậy việc xem xét chất lượng hiệu quả tín
dụng là hết sức cần thiết, nó giúp ngân hàng có thể đánh giá lại hoạt động cho vay
của mình từ đó đưa ra các giải pháp nhằm khắc phục những tồn tại, thiếu sót và đẩy
mạnh hơn nữa hoạt động cho vay.
Để đánh giá chất lượng tín dụng , đứng trên giác độ là một nhà ngân hàng
chúng ta phải xem xét cả những chỉ tiêu về mặt định tính và mặt định lượng. Về mặt
định tính, các chỉ tiêu được thể hiện qua một số khía cạnh sau.
-Chất lượng tín dụng được thể hiện thông qua khả năng đáp ứng tốt nhu cầu
của khách hàng, thủ tục đơn giản, thuận tiện, cung cấp vốn nhanh chóng, kịp thời, an
toàn, kỳ hạn và phương thức thanh toán phù hợp với chu kỳ kinh doanh của khách
hàng.
-Những ngân hàng có lịch sử hoạt động lâu đời, cơ sở vật chất trang thiết bị
tốt, đồng thời ngân hàng tham gia vào nhiều hình thức huy động vốn, đa dạng hoá và
không ngừng ứng dụng các dịch vụ ngân hàng mới. Ngân hàng có tổng nguồn vốn
huy động lớn, ổn định có lượng khách hàng vay đông đảo chứng tỏ ngân hàng có uy
tín.
-Ngoài ra chất lượng tín dụng còn được xem xét thông qua tình hình hoạt động
sản xuất kinh doanh của ngân hàng, tình hình khai thác tiềm năng của ngân hàng trên
địa bàn hoạt động.
3.2. Chỉ tiêu định lượng.
Chỉ tiêu định lượng gồm một số chỉ tiêu cơ bản như:
- Chỉ tiêu tổng dư nợ và kết cấu dư nợ.
Tổng dư nợ là một chỉ tiêu phản ánh khối lượng tiền ngân hàng cấp cho nền
kinh tế tại một thời điểm. Tổng dư nợ bao gồm dư nợ cho vay ngắn hạn, trung hạn,
dài hạn. Tổng dư nợ thấp chứng tỏ hoạt động của ngân hàng yếu kém, không có khả
Nguyễn Anh Tuấn Quản lý công 48
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
năng mở rộng, khả năng tiếp thị của ngân hàng kém, trình độ cán bộ công nhân viên
thấp. Mặc dù vậy, không có nghĩa là chỉ tiêu này càng cao thì chất lượng tín dụng
càng cao bởi vì đằng sau những khoản tín dụng đó còn những rủi ro tín dụng mà ngân
hàng phải gánh chịu.
Chỉ tiêu tổng dư nợ phản ánh quy mô tín dụng của ngân hàng, sự uy tín của
Ngân hàng đối với doanh nghiệp. Tổng dư nợ của ngân hàng khi so sánh với thị phần
tín dụng của ngân hàng trên địa bàn sẽ cho chúng ta biết được dư nợ của ngân hàng là
cao hay thấp.
Kết cấu dư nợ phản ánh tỷ trọng của các loại dư nợ trong tổng dư nợ. Phân
tích kết cấu dư nợ sẽ giúp ngân hàng biết được ngân hàng cần đẩy mạnh cho vay theo
loại hình nào để cân đối với thực lực của ngân hàng. Kết cấu dư nợ khi so với kết cấu
nguồn huy động sẽ cho biết rủi ro của loại hình cho vay nào là nhiều nhất.
- Chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn.
Nợ quá hạn là hiện tượng phát sinh từ mối quan hệ tín dụng không hoàn hảo
khi người đi vay không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ của mình cho ngân hàng đúng
hạn.
Tỷ lệ nợ quá hạn là tỷ lệ phần trăm giữa nợ quá hạn và tổng dư nợ của ngân
hàng thương mại ở một thời điểm nhất định, thường là cuối tháng, cuối quý, cuối
năm.
Nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn =
Tổng dư nợ
Xét về mặt bản chất, tín dụng là sự hoàn trả, do đó tính an toàn là yếu tố quan
trọng bậc nhất để cấu thành chất lượng tín dụng. Khi một khoản vay không được trả
đúng hạn như đã cam kết, mà không có lý do chính đáng thì nó sẽ bị chuyển sang nợ
quá hạn với lãi suất cao hơn lãi suất bình thường. Trên thực tế, phần lớn các khoản
nợ quá hạn là các khoản nợ có vấn đề có khả năng mất vốn. Như vậy, tỷ lệ nợ quá
hạn càng cao thì ngân hàng thương mại càng gặp khó khăn trong kinh doanh vì sẽ có
nguy cơ mất vốn, mất khả năng thanh toán và giảm lợi nhuận, tức là tỷ lệ nợ quá hạn
càng cao, chất lượng tín dụng càng thấp.
Mặt khác, để đánh giá chính xác hơn chỉ tiêu này người ta chia tỷ lệ nợ quá
hạn ra làm hai loại:
Nợ quá hạn có khả năng thu hồi
Nguyễn Anh Tuấn Quản lý công 48
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Tỷ lệ nợ quá hạn có khả năng thu hồi =
Nợ quá hạn
Nợ quá hạn không có khả năng thu hồi
Tỷ lệ nợ quá hạn không =
có khả năng thu hồi Nợ quá hạn
Hai chỉ tiêu này cho chúng ta biết được bao nhiêu phần trăm trong tổng nợ quá
hạn có khả năng thu hồi, bao nhiêu phần trăm không có khả năng thu hồi. Do vậy sử
dụng thêm chỉ tiêu này cho phép đánh giá chính xác hơn chất lượng tín dụng.
- Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng.
Đây là chỉ tiêu thường được các ngân hàng thương mại tính toán hàng năm để
đánh giá khả năng tổ chức quản lý vốn tín dụng và chất lượng tín dụng trong việc đáp
ứng nhu cầu của khách hàng.
Doanh số thu nợ
Vòng quay vốn tín dụng =
Dư nợ bình quân
Hệ số này phản ánh số vòng chu chuyển của vốn tín dụng. Vòng quay vốn tín
dụng càng cao chứng tỏ nguồn vốn vay ngân hàng đã luân chuyển nhanh, tham gia
vào nhiều chu kỳ sản xuất và lưu thông hàng hoá. Với một số vốn nhất định, nhưng
do vòng quay vốn tín dụng nhanh nên ngân hàng đã đáp ứng được nhu cầu vốn cho
các doanh nghiệp, mặt khác ngân hàng có vốn để tiếp tục đầu tư vào các lĩnh vực
khác. Như vậy, hệ số này càng tăng phản ánh tình hình quản lý vốn tín dụng càng tốt,
chất lượng tín dụng càng cao.
- Chỉ tiêu thu nhập từ hoạt động tín dụng.
Không thể nói một khoản tín dụng có chất lượng cao khi nó không đem lại
một khoản thu nhập cho ngân hàng. Nguồn thu từ hoạt động tín dụng là nguồn thu
chủ yếu để ngân hàng tồn tại và phát triển. Lợi nhuận do tín dụng đem lại chứng tỏ
các khoản vay không những thu hồi được gốc mà còn có lãi, đảm bảo được độ an
toàn của nguồn vốn cho vay.
Lãi từ hoạt động tín dụng
Thu nhập từ hoạt động tín dụng =
Tổng thu nhập
Ta thấy rằng nếu ngân hàng thương mại chỉ chú trọng vào việc giảm và duy trì
một tỷ lệ nợ quá hạn thấp mà không tăng được thu nhập từ hoạt động tín dụng thì tỷ
Nguyễn Anh Tuấn Quản lý công 48
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
lệ nợ quá hạn thấp cũng không có ý nghĩa. Chất lượng tín dụng được nâng cao chỉ
thực sự có ý nghĩa khi nó góp phần nâng cao khả năng sinh lời của ngân hàng.
- Chỉ tiêu doanh số cho vay.
Doanh số cho vay là chỉ tiêu phản ánh quy mô cấp tín dụng của ngân hàng đối
với nền kinh tế. Đây là chỉ tiêu phản ánh chính xác, tuyệt đối về hoạt động cho vay
trong một thời gian dài, thấy được khả năng hoạt động tín dụng qua các năm.
- Chỉ tiêu các thông số quy định.
Ngoài các chỉ tiêu trên thì chất lượng tín dụng còn được đánh giá thông qua
việc đảm bảo các quy chế thể lệ tín dụng như cho vay một khách hàng, hệ số an toàn
vốn tối thiểu 8%.
+ Giới hạn cho vay một khách hàng: Để đảm bảo khả năng thanh toán, bất cứ
một Ngân hàng thương mại nào cũng chỉ được cấp tín dụng cho một khách hàng
không quá 15% vốn tự có.
+ Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu ( hệ số Cook ): Tỷ lệ này cho biết một đồng vốn
tự có bảo vệ cho bao nhiêu đồng tài sản có rủi ro của Ngân hàng thương mại. Nó
được tính bằng công thức sau:
Vốn tự có
Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu =
Tài sản có rủi ro quy đổi
+ Dư nợ của một khách hàng không quá 10% vốn điều lệ và các quỹ. Trên đây
là các chỉ tiêu cơ bản để đánh giá chất lượng tín dụng. Dựa vào các chỉ tiêu đó ta có
thể nhận định được chất lượng tín dụng ngân hàng cao hay thấp. Tuy nhiên chất
lượng tín dụng còn chịu tác động của các nhân tố khác.
- Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn.
Phân tích cơ cấu cho vay trong tổng nguồn vốn huy động là việc xem xét đánh
giá tỷ trọng cho vay đã phù hợp với khả năng đáp ứng của bản thân ngân hàng cũng
như đòi hỏi về vốn của nền kinh tế chưa. Trên cơ sở đó, các ngân hàng thương mại
có thể biết được khả năng mở rộng tín dụng của mình. Từ đó, có thể quyết định quy
mô, tỷ trọng đầu tư vào các lĩnh vực một cách hợp lý để vừa đảm bảo an toàn vốn
cho vay, vừa có thể thu lại lợi nhuận cao nhất có thể.
Chỉ tiêu này có thể được biểu thị bằng công thức:
Tổng dư nợ
Hiệu suất sử dụng vốn =
Nguyễn Anh Tuấn Quản lý công 48
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Tổng vốn huy động
- Tỷ lệ thanh toán nợ do bán tài sản của người vay.
Về nguyên tắc, nguồn trả nợ cho ngân hàng chính là tiền bán hàng ( với tín
dụng ngắn hạn ), là khấu hao tài sản cố định của tài sản cố định được đầu tư bằng
nguồn vốn vay đó, lợi nhuận sau thuế có thể từ tài sản đó hoặc tất cả hoạt động sản
xuất kinh doanh ( đối với tín dụng trung và dài hạn ).
Tuy vậy, có nhiều trường hợp do sử dụng vốn kém hiệu quả, sản xuất kinh
doanh thua lỗ, phá sản... nên người vay phải bán tài sản thế chấp ( có thể do tự
nguyện hoặc bắt buộc ) để trả nợ Ngân hàng. Tỷ lệ này được xác định như sau:
Số tiền thu nợ do bán tài sản thế chấp
Tỷ lệ thanh toán nợ do = . 100%
bán tài sản của người vay Tổng doanh số thu nợ
- Lãi treo.
Lãi treo là lãi tính trên nợ gốc và các khoản cho vay của ngân hàng nhưng
chưa thu hồi được.
Tổng các khoản lãi treo trên các món nợ càng thấp càng tốt. Lãi treo càng cao
phản ánh rủi ro mất vốn của ngân hàng càng lớn, ngân hàng có khả năng mất cả vốn
lẫn lãi. Từ đó chất lượng tín dụng giảm và ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của
ngân hàng.
3.3. Chỉ tiêu rủi ro tín dụng.
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, các tổ chức tín dụng
và các tổ chức kinh tế, cá nhân theo nguyên tắc hoàn trả. Việc hoàn trả được nợ gốc
trong tín dụng có nghĩa là việc thực hiện được giá trị hàng hoá trên thị trường, còn
việc hoàn trả được lãi vay trong tín dụng là việc thực hiện được giá trị thặng dư trên
thị trường. Do đó, có thể xem rủi ro tín dụng cũng là rủi ro kinh doanh nhưng được
xem xét dưới góc độ của ngân hàng.
Trong quan hệ tín dụng có hai đối tượng tham gia là ngân hàng cho vay và
người đi vay. Nhưng người đi vay sử dụng tiền vay trong một thời gian, không gian
cụ thể, tuân theo sự chi phối của những điều kiện cụ thể nhất định mà ta gọi là môi
trường kinh doanh, và đây là đối tượng thứ ba có mặt trong quan hệ tín dụng. Rủi ro
tín dụng xuất phát từ môi trường kinh doanh gọi là rủi ro do nguyên nhân khách
quan. Rủi ro xuất phát từ người vay và ngân hàng cho vay gọi là rủi ro do nguyên
nhân chủ quan.
3.3.1. Rủi ro tín dụng do nguyên nhân khách quan.
Nguyễn Anh Tuấn Quản lý công 48
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
3.3.1.1. Rủi ro do môi trường kinh tế không ổn định.
- Sự biến động quá nhanh và không dự đoán được của thị trường thế giới:
Nền kinh tế Việt Nam vẫn còn lệ thuộc quá nhiều vào sản xuất nông nghiệp và
công nghiệp phục vụ nông nghiệp (nuôi trồng, chế biến thực phẩm và nguyên liệu),
dầu thô, may gia công,… vốn rất nhạy cảm với rủi ro thời tiết và giá cả thế giới, nên
dễ bị tổn thương khi thị trường thế giới biến động xấu.
Ngành dệt may trong một số năm gần đây đã gặp không ít khó khăn vì bị
khống chế hạn ngạch làm ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của các
doanh nghiệp nói riêng và của các ngân hàng cho vay nói chung. Ngành thủy sản
cũng gặp nhiều lao đao vì các vụ kiện bán phá giá vừa qua.
Không chỉ xuất khẩu, các mặt hàng nhập khẩu cũng dễ bị tổn thương không
kém. Mặt hàng sắt thép cũng bị ảnh hưởng lớn của giá thép thế giới. Việc tăng giá
phôi thép làm cho một số doanh nghiệp sản xuất thép trong nước phải ngưng sản xuất
do chi phí giá thành rất cao trong khi không tiêu thụ được sản phẩm.
- Rủi ro tất yếu của quá trình tự do hóa tài chính, hội nhập quốc tế:
Quá trình tự do hoá tài chính và hội nhập quốc tế có thể làm cho nợ xấu gia
tăng khi tạo ra một môi trường cạnh tranh gay gắt, khiến hầu hết các doanh nghiệp,
những khách hàng thường xuyên của ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ và
quy luật chọn lọc khắc nghiệt của thị trường. Bên cạnh đó, bản thân sự cạnh tranh
của các ngân hàng thương mại trong nước và quốc tế trong môi trường hội nhập kinh
tế cũng khiến cho các ngân hàng trong nước với hệ thống quản lý yếu kém gặp phải
nguy cơ rủi ro nợ xấu tăng lên bởi hầu hết các khách hàng có tiềm lực tài chính lớn sẽ
bị các ngân hàng nước ngoài thu hút.
- Sự tấn công của hàng nhập lậu:
Với hàng trăm km biên giới trên bộ và trên biển cùng địa hình địa lý phức tạp
và tình hình đời sống nghèo khó của dân cư vùng biên giới, cuộc chiến đấu với hàng
lậu đã kéo dài dai dẳng từ rất nhiều năm nay mà kết quả là hàng lậu vẫn tràn lan tại
các thành phố lớn, làm điêu đứng các doanh nghiệp trong nước và các ngân hàng đầu
tư vốn cho các doanh nghiệp này. Các mặt hàng kim khí điện máy, gạch men, đường
cát, vải vóc, quần áo, mỹ phẩm,… là những ví dụ tiêu biểu cho tình hình hàng lậu ở
nước ta.
- Thiếu sự quy hoạch, phân bổ đầu tư một cách hợp lý đã dẫn đến khủng
hoảng thừa về đầu tư trong một số ngành:
Nguyễn Anh Tuấn Quản lý công 48
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nền kinh tế thị trường thị trường tất yếu sẽ dẫn đến cạnh tranh, các nhà kinh
doanh sẽ tìm kiếm ngành nào có lợi nhất để đầu tư và sẽ rời bỏ những ngành không
đem lại lợi nhuận cho họ và do đó có sự chuyển dịch vốn từ ngành này qua ngành
khác và đây cũng là một hiện tượng khách quan. Tuy nhiên ở nước ta thời gian qua,
sự cạnh tranh đã phát triển một cách tự phát, hoàn toàn không đi kèm với sự quy
hoạch hợp lý, hợp tác, phân công lao động, chuyên môn hoá lao động, sự bất lực
trong vai trò của các hiệp hội nghề nghiệp và sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước. Điều
này dẫn đến sự gia tăng quá đáng vốn đầu tư vào một số ngành, dẫn đến khủng hoảng
thừa, lãng phí tài nguyên quốc gia.
3.3.1.2. Rủi ro do môi trường pháp lý chưa thuận lợi.
- Sự kém hiệu quả của cơ quan pháp luật cấp địa phương:
Trong những năm gần đây, Quốc hội, Ủy ban thường vụ quốc hội, Chính phủ,
NHNN và các cơ quan liên quan đã ban hành nhiều luật,văn bản dưới luật hướng dẫn
thi hành luật liên quan đến hoạt động tín dụng ngân hàng. Tuy nhiên, luật và các văn
bản đã có song việc triển khai vào hoạt động ngân hàng thì lại hết sức chậm chạp và
còn gặp phải nhiều vướng mắc bất cập như một số văn bản về việc cưỡng chế thu hồi
nợ. Những văn bản này đều có quy định: Trong những hợp khách hàng không trả
được nợ, NHTM có quyền xử lý tài sản đảm bảo nợ vay. Trên thực tế, các NHTM
không làm được điều này vì ngân hàng là một tổ chức kinh tế, không phải là cơ quan
quyền lực nhà nước, không có chức năng cưỡng chế buộc khách hàng bàn giao tài
sản đảm bảo cho ngân hàng để xử lý hoặc việc chuyển tài sản đảm bảo nợ vay để Tòa
án xử lý qua con đường tố tụng… cùng nhiều các quy định khác dẫn đến tình trạng
NHTM không thể giải quyết được nợ tồn đọng, tài sản tồn đọng.
- Sự thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa hiệu quả của NHNN:
Bên cạnh những cố gắng và kết quả đạt được, hoạt động thanh tra ngân hàng
và đảm bảo an toàn hệ thống chưa có sự cải thiện căn bản về chất lượng. Năng lực
cán bộ thanh tra, giám sát chưa đáp ứng được yêu cầu, thậm chí một số nghiệp vụ
kinh doanh và công nghệ mới Thanh tra ngân hàng còn chưa theo kịp. Nội dung và
phương pháp thanh tra, giám sát lạc hậu, chậm đựơc đổi mới. Vai trò kiểm toán chưa
đựơc phát huy và hệ thống thông tin chưa được tổ chức một cách hữu hiệu. Thanh tra
tại chỗ vẫn là phương pháp chủ yếu, khả năng kiểm soát toàn bộ thị trường tiền tệ và
giám sát rủi ro còn yếu. Thanh tra ngân hàng còn hoạt động một cách thụ động theo
kiểu xử lý vụ việc đã phát sinh, ít có khả năng ngăn chặn và phòng ngừa rủi ro và vi
phạm. Mô hình tổ chức của thanh tra ngân hàng còn nhiều bất cập. Do vậy mà có
Nguyễn Anh Tuấn Quản lý công 48
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
những sai phạm của các NHTM không được thanh tra NHNN cảnh báo, có biện pháp
ngăn chặn từ đầu, để đến khi hậu quả nặng nề đã xảy ra rồi mới can thiệp. Hàng loạt
các sai phạm về cho vay, bảo lãnh tín dụng ở một số NHTM dẫn đến những rủi ro rất
lớn, có nguy cơ đe dọa sự an toàn của cả hệ thống lẽ ra có thể đã được ngăn chặn
ngay từ đầu nếu bộ máy thanh tra phát hiện và xử lý sớm hơn.
- Hệ thống thông tin quản lý còn bất cập:
Hiện nay ở Việt Nam chưa có một cơ chế công bố thông tin đầy đủ về doanh
nghiệp và ngân hàng. Trung tâm thông tin tín dụng ngân hàng (CIC) của NHNN đã
hoạt động đã quá một thập niên và đã đạt được những kết quả bước đầu rất đáng
khích lệ trong việc cung cấp thông tin kịp thời về tình hình hoạt động tín dụng nhưng
chưa phải là cơ quan định mức tín nhiệm doanh nghiệp một cách độc lập và hiệu quả,
thông tin cung cấp còn đơn điệu, thiếu cập nhật.
3.3.2. Rủi ro tín dụng do nguyên nhân chủ quan.
3.3.2.1. Rủi ro do các nguyên nhân từ phía khách hàng vay
- Sử dụng vốn sai mục đích, không có thiện chí trong việc trả nợ vay:
Đa số các doanh nghiệp khi vay vốn ngân hàng đều có các phương án kinh
doanh cụ thể, khả thi. Số lượng các doanh nghiệp sử dụng vốn sai mục đích, cố ý lừa
đảo ngân hàng để chiếm đoạt tài sản không nhiều. Tuy nhiên những vụ việc phát sinh
lại hết sức nặng nề, liên quan đến uy tín của các cán bộ, làm ảnh hưởng xấu đến các
doanh nghiệp khác.
- Khả năng quản lý kinh doanh kém:
Khi các doanh nghiệp vay tiền ngân hàng để mở rộng quy mô kinh doanh, đa
phần là tập trung vốn đầu tư vào tài sản vật chất chứ ít doanh nghiệp nào mạnh dạn
đổi mới cung cách quản lý, đầu tư cho bộ máy giám sát kinh doanh, tài chính, kế toán
theo đúng chuẩn mực. Quy mô kinh doanh phình ra quá to so với tư duy quản lý là
nguyên nhân dẫn đến sự phá sản của các phương án kinh doanh đầy khả thi mà lẽ ra
nó phải thành công trên thực tế.
- Tình hình tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch:
Quy mô tài sản, nguồn vốn nhỏ bé, tỷ lệ nơ so với vốn tự có cao là đặc điểm
chung của hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam. Ngoài ra, thói quen ghi chép đầy đủ,
chính xác, rõ ràng các sổ sách kế toán vẫn chưa được các doanh nghiệp tuân thủ
nghiêm chỉnh và trung thực. Do vậy, sổ sách kế toán mà các doanh nghiệp cung cấp
cho ngân hàng nhiều khi chỉ mang tính chất hình thức hơn là thực chất. Khi cán bộ
ngân hàng lập các bản phân tích tài chính của doanh nghiệp dựa trên số liệu do các
Nguyễn Anh Tuấn Quản lý công 48
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
doanh nghiệp cung cấp, thường thiếu tính thực tế và xác thực. Đây cũng là nguyên
nhân vì sao ngân hàng vẫn luôn xem nặng phần tài sản thế chấp như là chỗ dựa cuối
cùng để phòng chống rủi ro tín dụng.
3.3.2.2 Rủi ro do các nguyên nhân từ phía ngân hàng cho vay.
- Lỏng lẻo trong công tác kiểm tra nội bộ các ngân hàng:
Kiểm tra nội bộ có điểm mạnh hơn thanh tra NHNN ở tính thời gian vì nó
nhanh chóng, kịp thời ngay khi vừa phát sinh vấn đề và tính sâu sát của người kiểm
tra viên, do việc kiểm tra được thực hiện thường xuyên cùng với công việc kinh
doanh. Nhưng trong thời gian trước đây, công việc kiểm tra nội bộ của các ngân hàng
hầu như chỉ tồn tại trên hình thức. Kiểm tra nội bộ cần phải được xem như hệ thống
“thắng” của cỗ xe tín dụng. Cỗ xe càng lao đi với vận tốc lớn thì hệ thống này càng
phải an toàn, hiệu quả thì mới tránh cho cỗ xe khỏi đi vào những ngã rẽ rủi ro vốn
luôn luôn tồn tại thường trực trên con đường đi tới.
- Bố trí cán bộ thiếu đạo đức và trình độ chuyên môn nghiệp vụ:
Một số vụ án kinh tế lớn trong thời gian vừa qua có liên quan đến cán bộ NHTM đều
có sự tiếp tay của một số cán bộ ngân hàng cùng với khách hàng làm giả hồ sơ vay,
hay nâng giá tài sản thế chấp, cầm cố lên quá cao so với thực tế để rút tiền ngân hàng.
Đạo đức của cán bộ là một trong các yếu tố tối quan trọng để giải quyết vấn
đề hạn chế rủi ro tín dụng. Một cán bộ kém về năng lực có thể bồi dưỡng thêm,
nhưng một cán bộ tha hóa về đạo đức mà lại giỏi về mặt nghiệp vụ thì thật vô cùng
nguy hiểm khi được bố trí trong công tác tín dụng.
- Thiếu giám sát và quản lý sau khi cho vay:
Các ngân hàng thường có thói quen tập trung nhiều công sức cho việc thẩm
định trước khi cho vay mà lơi lỏng quá trình kiểm tra, kiểm soát đồng vốn sau khi
cho vay. Khi ngân hàng cho vay thì khoản cho vay cần phải được quản lý một cách
chủ động để đảm bảo sẽ đựơc hoàn trả. Theo dõi nợ là một trong những trách nhiệm
quan trọng nhất của cán bộ tín dụng nói riêng và của ngân hàng nói chung. Việc theo
dõi hoạt động của khách hàng vay nhằm tuân thủ các điều khoản đề ra trong hợp
đồng tín dụng giữa khách hàng và ngân hàng nhằm tìm ra những cơ hội kinh doanh
mới và mở rộng cơ hội kinh doanh. Tuy nhiên trong thời gian qua các NHTM chưa
thực hiện tốt công tác này. Điều này một phần do yếu tố tâm lý ngại gây phiền hà cho
khách hàng của cán bộ ngân hàng, một phần do hệ thống thông tin quản lý phục vụ
kinh doanh tại các doanh nghiệp quá lạc hậu, không cung cấp được kịp thời, đầy đủ
các thông tin mà NHTM yêu cầu.
Nguyễn Anh Tuấn Quản lý công 48
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Sự hợp tác giữa các NHTM quá lỏng lẻo, vai trò của CIC chưa thực sự hiệu
quả:
Kinh doanh ngân hàng là một nghề đặc biệt huy động vốn để cho vay hay nói
cách khác đi vay để cho vay, do vậy vấn đề rủi ro trong hoạt động tín dụng là không
thể tránh khỏi, các ngân hàng cần phải hợp tác chặt chẽ với nhau nhằm hạn chế rủi
ro. Sự hợp tác nảy sinh do nhu cầu quản lý rủi ro đối với cùng một khách hàng khi
khách hàng này vay tiền tại nhiều ngân hàng. Trong quản trị tài chính, khả năng trả
nợ của một khách hàng là một con số cụ thể, có giới hạn tối đa của nó. Nếu do sự
thiếu trao đổi thông tin, dẫn đến việc nhiều ngân hàng cùng cho vay một khách hàng
đến mức vượt quá giới hạn tối đa này thì rủi ro chia đều cho tất cả chứ không chừa
một ngân hàng nào.
Trong tình hình cạnh tranh giữa các NHTM ngày càng gay gắt như hiện nay,
vai trò của CIC là rất quan trọng trong việc cung cấp thông tin kịp thời, chính xác để
các ngân hàng có các quyết định cho vay hợp lý. Đáng tiếc là hiện nay ngân hàng dữ
liệu của CIC chưa đầy đủ và thông tin còn quá đơn điệu, chưa được cập nhật và xử lý
kịp thời.
Tóm lại, rủi ro tín dụng có thể phát sinh do rất nhiều nguyên nhân chủ quan
hoặc khách quan. Các biện pháp phòng chống rủi ro có thể nằm trong tầm tay của các
NHTM nhưng cũng có những biện pháp vượt ngoài khả năng của riêng từng ngân
hàng, liên quan đến vấn đề nội tại của bản thân nền kinh tế đang chuyển đổi, đang
định hướng mô hình phát triển ở Việt Nam. Trong phạm vi tầm tay của các ngân
hàng, rủi ro tín dụng phụ thuộc vào năng lực của bộ phận tín dụng trong việc phát
hiện và hạn chế rủi ro từ lúc xem xét quyết định cho vay cũng như trong suốt thời
gian vay. Năng lực cấp tín dụng phụ thuộc vào chuyên môn của cán bộ tín dụng và
nhân viên của họ và các nguồn lực của ngân hàng về nhân sự cũng như về cơ sở vật
chất. Do vậy biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng sâu sắc nhất vẫn là các biện pháp
liên quan đến việc đào tạo, bố trí cán bộ và cơ chế kiểm tra, giám sát hành vi của cán
bộ trong quá trình xử lý công việc. Thực hiện tốt các biện pháp này có thể cho rằng
con đường quản lý rủi ro tín dụng của ngành ngân hàng coi như đã đi được hơn một
nửa.
4. Các nhân tố ảnh huởng đến chất lượng tín dụng.
Để có thể nâng cao được chất lượng tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp
(cả về ngân hàng và doanh nghiệp sản xuất kinh doanh) ta phải hiểu rõ các nhân tố
ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng ngân hàng để từ đó phát huy những ảnh hưởng
Nguyễn Anh Tuấn Quản lý công 48
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
tích cực cũng như hạn chế các ảnh hưởng tiêu cực. Mặt khác cả ngân hàng và doanh
nghiệp phải cố gắng linh hoạt để phù hợp với quy định của Nhà nước trong hoạt động
tín dụng. Có như thế thì cả ngân hàng và doanh nghiệp mới để ra các biện pháp đúng
đắn, cụ thể, linh hoạt để đạt được mục tiêu hoạt động của mình một cách tốt nhất.
Sau đây chúng ta lần lượt nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng
ngân hàng thuộc về ngân hàng và doanh nghiệp.
4.1. Các nhân tố khách quan.
*Nhân tố thuộc về doanh nghiệp.
-Năng lực của doanh nghiệp.
Không một doanh nghiệp nào đi vay lại không muốn món vay đem lại hiệu
quả. Nhưng nhiều khi do năng lực có hạn chế, họ không thực hiện được mục đích của
mình và làm ảnh hưởng đến khoản tín dụng mà họ đã nhận từ ngân hàng.
-Trình độ quản lý của các nhà doanh nghiệp:
Do trình độ của nhiều nhà lãnh đạo còn nhiều hạn chế về học vấn, kiếm thức
cũng như kinh nghiệm thực tế nên nhiều khi họ không dự đoán được những biến
động của thị trường, yếu kém Marketing sản phẩm... Do sự bảo thủ của nhiều nhà
quản lý không dám đổi mới khiến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp không có
hiệu quả, dẫn đến tình trạng không thu hồi hết được vốn và làm ảnh hưởng đến hiệu
quả của doanh nghiệp từ đó ảnh hưỏng đến chất lượng của khoản tín dụng đã sử
dụng.
-Đạo đức của người đi vay:
Ngân hàng chỉ quyết định cho vay sau khi đã phân tích kỹ các yếu tố có liên
quan đến khả năng của người vay trong việc hoàn trả nợ và cách thức sử dụng vốn
vay. Nhưng thông tin này có thể bị thay đổi sau khi doanh nghiệp nhận được tiền vay.
Thực tế, nhiều doanh nghiệp đã sử dụng vốn vay không hợp lý dẫn đến không đạt
đựơc hiệu quả sản xuất kinh doanh. Còn có nhiều ngừơi có ý tham nhũng và kết quả
là hiệu quả sử dụng vốn vay Ngân hàng kém thậm chí không thu hồi được. Vì vậy,
công tác kiểm tra, giám sát của ngân hàng là rất quan trọng.
* Các nhân tố khách quan khác.
Ngoài những nhân tố chủ quan trên còn nhiều nhân tố khách quan mà tác động
của nó cũng không nhỏ đến chất lượng của các khoản tín dụng ngân hàng.
-Tác động của môi trường kinh tế.
Đây là nhân tố luôn ảnh hưởng đến khả năng tài chính của người vay hay nói
rõ hơn là nếu môi trường kinh tế xấu làm cho hoạt động của doanh nghiệp gặp khó
Nguyễn Anh Tuấn Quản lý công 48
22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
khăn, ảnh hưởng đến thời hạn trả nợ và khả năng hoàn trả món vay cho ngân hàng đó
ảnh hưởng đến chất lượng của khoản tín dụng đó của ngân hàng. Ngược lại nếu môi
trường kinh tế thuận lợi sẽ giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
thuận lợi, thu hồi được vốn nhanh đồng thời lợi nhuận thu được sẽ cao và từ đó khả
năng trả nợ của doanh nghiệp, khỏan vay sẽ được trả đúng hạn, khoản tín dụng ngân
hàng sẽ có chất lượng tốt.
-Tác động của môi trường pháp lý:
Ngân hàng là một doanh nghiệp luôn phải hoạt động trong hành lang pháp lý
hẹp hơn bất kỳ một doanh nghiệp sản xuất hay thương mại nào. Vì vậy, một hệ thống
pháp lý càng hoàn chỉnh, đồng bộ thì sẽ càng đem lại hiệu quả hoạt động của ngân
hàng, của các doanh nghiệp và đảm bảo đựơc chất lượng tín dụng của các doanh
nghiệp đó với ngân hàng. Còn nếu môi trường pháp lý không hoàn chỉnh, có nhiều lỗ
hổng thì kết quả sẽ ngược lại cho cả ngân hàng và các doanh nghiệp từ đó làm cho
chất lượng của các khoản tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp sẽ xấu và khó có
thể thu hồi.
-Chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước.
Trong nền kinh tế thị trường các chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước bao
gồm các chính sách tài chính tiền tệ, chính sách lãi suất, chính sách đối ngoại... có vai
trò quan trọng đối với hoạt động của nền kinh tế nói chung và hoạt động của các
ngân hàng, các doanh nghiệp nói riêng. Chính sách kinh tế trong hoàn cảnh này thì có
tác dụng cho cả ngân hàng và doanh nghiệp nhưng trong hoàn cảnh khác thì lại
ngược lại. Các chính sách này nhằm ưu tiên phát triển hay hạn chế một ngành nào đó
để đảm bảo cân đối cho nền kinh tế. Do vậy các chủ trương, chính sách của Nhà
nước phải đúng đắn thì mới thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, là điều kiện cần
để đạt được chất lượng và hiệu quả của các khoản tín dụng ngân hàng.
-Các yếu tố thiên tai gây lên.
Chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhiều khi mang tính thời vụ.
Trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần của Nhà nước có thành phần kinh tế Nhà
nước, trong đó doanh nghiệp trong các ngành nông–lâm–ngư nghiệp lại chiếm một tỷ
lệ không nhỏ thì yếu tố này rất quan trọng. Khi thiên tai xẩy ra như: lũ lụt, hạn hán,
mưa bão, hỏa hoạn,... làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
bị đổ bể, dẫn đến khả năng hoàn trả các khoản nợ là khó khăn hoặc không thể, làm
cho chất lượng của các khoản tín dụng bị giảm sút.
4.2. Các nhân tố chủ quan.
Nguyễn Anh Tuấn Quản lý công 48
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Các nhân tố chủ quan thuộc về phía ngân hàng.
- Chính sách tín dụng.
Đây là kim chỉ nam cho hoạt động tín dụng của Ngân hàng, nó có ý nghĩa
quyết định sự thành công hay thất bại của Ngân hàng. Chính sách tín dụng phải phù
hợp với đường lối phát triển kinh tế của đảng và nhà nước, đồng thời kết quả hài hòa
giữa quyền lợi của người gửi tiền, của ngân hàng và người sử dụng vốn vay. Muốn
vậy, chính sách tín dụng phải được xây dựng trên cơ sở khoa học và thực tiễn.
+ Đối với ngân hàng.
Các ngành nghề của các doanh nghiệp đi vay là rất đa dạng: Đa phần các cán
bộ tín dụng Ngân hàng không thể có đầy đủ thông tin cũng như hiểu biết về các
ngành nghề lĩnh vực mà doanh nghiệp đang đầu tư kinh doanh. Hơn nữa, các cán bộ
ngân hàng cũng rất khó thẩm định được số liệu tài chính do các doanh nghiệp cung
cấp có “đúng đắn” và chính xác tuyệt đối hay không.
Ta đã biết, hiện tại các doanh nghiệp, công tác kế toán chi phí chưa được thực
hiện hóa chuyên nghiệp, ghi chép liên tục rõ ràng. Vì thế, khi các cán bộ ngân hàng
sử dụng các báo cáo tài chính do doanh nghiệp cung cấp để phân tích trong công tác
thẩm định sẽ đưa ra cái nhìn lệch lạc thiếu chuẩn xác.
Chính vì rất khó khăn trong việc đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp,
nên Ngân hàng thường có xu hướng ưu tiên các hồ sơ vay vốn có tài sản thế chấp,
đảm bảo. Tuy nhiên khi dẫn đến việc xử lý thu hồi nợ cũng rất khó khăn.
Theo các văn bản hướng dẫn cưỡng chế thu hồi nợ đều ghi rõ: "Trong trường
hợp doanh nghiệp không đảm bảo khả năng thanh toán, Ngân hàng có quyền xử lý tài
sản nợ vay". Trên thực tê, Ngân hàng là một tổ chức kinh tế, không phải là một cơ
quan quyền lực Nhà nước, không có chức năng cưỡng chế buộc khách hàng thực hiện
nghĩa vụ trả nợ. Hơn nữa các thủ tục pháp lý kiện ra tòa án để thực hiện xử lý tài sản
thế chấp cũng rất rườm rà, gây mất chi phí đối với Ngân hàng.
Trình độ của các cán bộ tín dụng đôi khi còn khá hạn chế. Ngoài ra còn có
nhiều cán bộ tín dụng vì những lợi ích vật chất sẵn sàng tiếp tay cho các doanh
nghiệp làm giả hồ sơ giấy tờ để xin vay vốn. Chính điều này đã dẫn đến những rủi ro
rất lớn ngay từ khâu giải ngân. Hơn nữa các doanh nghiệp này phần nhiều có tình
hình tài chính không minh bạch, không đáp ứng được những điều kiện giải ngân từ
phía ngân hàng đề ra.
+ Đối với doanh nghiệp.
Nguyễn Anh Tuấn Quản lý công 48
24
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nhiều doanh nghiệp không đánh giá hết được những rủi ro khi sử dụng đồng
vốn, đánh giá chi phí vốn cũng như khả năng sinh lợi của đồng vốn. Đa phần các
doanh nghiệp khi dùng vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh thường đầu tư vào
mở rộng quy mô sản xuất, đầu tư vào cơ sở vật chất mà cái quan trọng nhất là đầu tư
phát triển kỹ năng của lực lượng nhân lực của công ty. Khi doanh nghiệp mở rộng
quy mô mà tư duy quản lý không thay đổi, trình độ của đội ngũ quản lý không được
đảm bảo thì doanh nghiệp tất yếu phải đối mặt với những rủi ro về khả năng quản lý
sản xuất, dẫn đến nhiều sai lầm trong quá trình ra quyết định quản lý kinh doanh.
Nhiều doanh nghiệp sử dụng không đúng mục đích đăng ký ban đầu trong hồ
sơ xin vay vốn. Đồng vốn không sử dụng đúng mục đích tất yếu sẽ khó khăn trong
việc kiểm soát dòng vốn cũng như kiểm soát rủi ro của đồng vốn.
Ví dụ: Một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh khi vay vốn về đã sử dụng một
phần vốn đi vay để đầu tư vào thị trường chứng khoán. Khi thị trường chứng khoán
tụt dốc, tất yếu sẽ làm “thua lỗ” phần vốn đã rót vào. Hệ quả là doanh nghiệp sẽ
không thu được lãi từ sự đầu tư, lãi từ lĩnh vực sản xuất không đủ bù.
Công tác quản lý rủi ro tín dụng là rất quan trọng đối với ngân hàng. Để đảm
bảo cho công tác này được thực hiện tốt, ngân hàng cần có những bước thực hiện cụ
thể:
Do đó Ngân hàng cần tính toán xác định rủi ro: Thẩm định đánh giá rủi ro đối
với từng khoản giải ngân. Thẩm định tình hình tài chính của đối tượng xin vay vốn,
phân tích đặc trưng ngành của doanh nghiệp vay, phân tích khả năng cạnh tranh, khả
năng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp so với các đối thủ cùng loại trên thị trường.
Phân tích các rủi ro hệ thống, rủi ro tình hình kinh tế... Đánh giá năng lực lãnh đạo
của các cán bộ doanh nghiệp. Sử dụng các công cụ phân tích, các chỉ báo phân tích
để tính toán, đo lường những rủi ro được thể hiện qua các con số. Quản lý và giám
sát việc doanh nghiệp sử dụng vốn. Nếu có dấu hiệu doanh nghiệp sử dụng vốn sai
mục đích: Ngưng việc giải ngân, đề nghị doanh nghiệp giải trình và yêu cầu thực
hiện đúng cam kết trong hợp đồng giải ngân.
- Thông tin tín dụng.
Nhờ có thông tin tín dụng mà người quản lý có thể đưa ra những quyết định
cần thiết liên quan đến việc cho vay, quản lý đảm bảo tiền vay, giảm thiểu rủi ro tín
dụng, nâng cao hiệu quả tín dụng. Thông tin tín dụng có thể thu thập được từ nguồn
thông tin sẵn có của ngân hàng từ thông tin tín dụng (CIC), từ khách hàng, từ đối thủ
Nguyễn Anh Tuấn Quản lý công 48
25

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×