Tải bản đầy đủ

Phân tích vai trò của KHCN trong sự nghiệp bảo vệ bầu trời tổ quốc việt nam XHCN.DOC

Lời nói đầu
Khoa học Công nghệ đã có nhứng bớc phát triển rất to lớn ở trong
những năm cuối thế kỷ 20 và chúng ta đang sống trong thập niên đầu của thế
kỷ 21. Một thế kỷ mới mà theo các nhà hoạch định chiến lợc kinh tế dự báo thì
sẽ là thời kỳ phát triển đỉnh cao của các ngành Kinh tế mà đi đôi với nó sẽ là
một phần không thể thiếu đó là Khoa học Kỹ thuật. Đã từ lâu sự phát triển của
các ngành khoa học kỹ thuật đã đợc ứng dụng rộng rãi trong tất cả các ngành
và mọi mặt của đời sống xã hội. Song song với việc phát triển nền kinh tế của
một quốc gia, thì một phần quan trọng không kém đó là việc bảo vệ và giữ
vững nền an ninh quốc phòng. Điều mà tất cả các quốc gia trên thế giới hiện
nay luôn luôn coi trọng và đặt nó lên vị trí hàng đầu. Vì một lẽ đơng nhiên, chỉ
có một nền an ninh Quốc phòng vững mạnh mới đảm bảo cho một quốc gia
phát triển. Và ngày nay có lẽ không quốc gia nào là không nhận thức đợc vai
trò quan trọng nh thế nào của Khoa học kỹ thuật đối với sự phát triển kinh tế
xã hội, củng cố quốc phòng và an ninh.
Lĩnh vực Quân sự quốc phòng là một lĩnh vực đặc thù của xã hội.
Khoa học công nghệ phát triển sẽ thúc đẩy kinh tế và đời sống xã hội phát
triển, và kéo theo đó sẽ là sự phát triển trong lĩnh vực quân sự dẫn đến sự phát
triển của Vũ khí thiết bị và kỹ thuật quân sự, làm thay đổi tính chất và cơ cấu
lực lợng vũ trang, nghệ thuật quân sự. Trong điều kiện XHCN việc đề ra chiến
lợc phát triển kỹ thuật Quốc phòng đối với việc nâng cao sức mạnh tổng hợp

Quốc gia và tăng cờng thực hiện cạnh tranh cục diện chiến lợc Thế giới. Từ đó
dẫn đến một vài Khoa học khái niệm sơ lợc về chiến tranh Khoa học - Kỹ
thuật - Công nghệ cao trong lĩnh vực quân sự, đặc biệt là trong lĩnh vực tác
chiến phòng không. Đầu tiên chúng ta tìm hiểu một số khái niệm:
*Khoa học là gì ? Khoa học là hệ thống tri thức tự nhiên về xã hội và t duy.
Trang 1
*Khoa học - Kỹ thuật - Quốc Phòng: Khoa học nghiên cứu, lý luận quân sự,
quy luật chiến tranh. Nó chỉ tất cả các ngành Khoa học và Kỹ thuật thuộc hệ
thống Quốc phòng. Phục vụ sự phát triển Quốc phòng.
Theo thống kê trên thế giới cứ 5 phút lại có một phát minh mới trong khoa
học và dần dần đợc đa vào thực tiễn. Điều đó cũng đủ cho ta thấy đợc vai trò
hết sức quan trọng của sự phát triển khoa học kỹ thuật công nghệ, thúc đẩy
nền kinh tế của mỗi quốc gia, giúp con ngời tạo ra đợc nhiều của cải vật chất
hơn do thay đổi phơng thức sản xuất. Ví dụ, chỉ riêng với ngành công nghệ
thông tin qua hơn hai thập kỷ gần đây đã đa sự nhận thức của trí thức nhân loại
gấp hai lần so với những thế kỷ trở về trớc. Khoa học công nghệ cao luôn
mang lại cho nhân loại nhiều lợi ích nhng cũng luôn có mặt trái của nó gây ra
nỗi ám ảnh cho con ngời chúng ta (trong đời sống đó là sự ô nhiễm môi tr-
ờng..., trong quân sự, bom nguyên tử cũng là nỗi ám ảnh chết chóc của con
ngời do tính chất huỷ diệt của nó, minh chứng cho điều này là vụ Mỹ ném hai
quả bom nguyên tử xuống hai thành phố Hirosima và Nagasaki của Nhật Bản
trong chiến tranh thế giới thứ 2, gây kinh hoàng cho cả thế giới, để lại di
chứng cho tới ngày nay. Hay vụ rò dỉ của nhà máy điện nguyên tử Chécnôbơn
ở Ucraina thuộc Liên Xô cũ...)
Từ cuối thập kỷ 70 đến nay cùng với sự phát triển của khoa học và
công nghệ, trong lĩnh vực quân sự, những khái niệm vũ khí hoá học công nghệ
cao, chiến tranh công nghệ cao đã ra đời. Bớc sang thập kỷ 80 nhiều nớc coi
việc phát triển công nghệ cao là một trọng tâm chiến lợc và biện pháp chủ chốt
để xây dựng quân đội hiện đại.
Có thể nói khoa học kỹ thuật công nghệ cao tác động lên tất cả mọi lĩnh
vực kinh tế, chính trị, văn hoá, tất nhiên không thể loại trừ trong lĩnh vực quân
sự. Khoa học kỹ thuật công nghệ cao tác động vào quân sự làm các nớc chạy
đua vũ trang, chia thế giới ra làm đa cực nhằm tạo sự cân bằng về chính trị...
Trang 2
Một trong những lĩnh vực mà các thành tựu của khoa học kỹ thuật công
nghệ cao đợc áp dụng trong quân sự xây dựng nên tổ hợp công nghiệp quân sự
chế tạo ra các thiết bị, phơng tiện hiện đại... để phục vụ cho tác chiến Điện tử.
Điển hình nh các loại máy bay tên lửa, pháo, rađa, tàu chiến, súng, bom đạn
với nhiều thế hệ... do các nớc có nền kinh tế ổn định và nền kinh tế hùng mạnh
nghiên cứu và sản xuất các thiết bị vũ khí. Do ứng dụng công nghệ cao trong


quân sự, vụ khí trang bị có xu hớng nhẹ hơn nhng đợc điều khiển chính xác,
tầm bắn xa hơn, tốc độ bán nhanh hơn ... Công năng của hệ thống chỉ huy,
điều khiển, thông tin, tình báo và đối kháng điện tử ngày càng nâng cao.
Ngày nay vũ khí đợc trang bị những kỹ thuật mới nhất, hiện đại nhất và tối tân
nhất chỉ với mục đích giữ vững nền an ninh quốc phòng, quản lý vùng trời của
Tổ quốc, làm chủ thế trận khi có chiến tranh xảy ra.
Sự phát triển của binh khí kỹ thuật có ảnh hởng sâu tới lý luận chiến lợc,
chiến dịch , chiến thuật, làm thay đổi phơng pháp, phơng thức tiến hành chiến
tranh.
Phân tích vai trò của KHCN trong sự nghiệp bảo vệ bầu
trời tổ quốc việt nam XHCN
Trang 3
NI DUNG
* Sơ lợc về sự tác động của khoa học kỹ thuật vào quân sự nói chung
Trong những năm cuối của thế kỷ 20 này, sự phát triển nh vũ bão của khoa
học kỹ thuật hiện đại , nhất là công nghệ cao đang nhanh chóng làm thay đổi
diện mạo thế giới và biến đổi ý nghĩa của chiến trờng không, bộ, biển truyền
thống..
Từ những năm 1980 trở lại đây, sự phát triển của khoa học kỹ thuật quân sự
hiện đại đã nâng cao tính năng, tác dụng của vũ khí trang bị biến đổi điều kiện
vật chất kỹ thuật quy mô, hình thức, tiến trình chiến tranh và diện mạo của nó.
Sự phát triển của công nghệ cao đã rút ngắn thời gian thay đổi thế hệ vũ khí
trang bị từ 20-30 năm xuống còn khoảng 10 năm.
Khoa học công nghệ cao tác động đến mọi mặt của quân sự. Kỹ thuật cao thay
đổi tính năng, chất lợng của các loại trang bị vũ khí quân sự. Việc sử dụng các
kỹ thuật mới nh kỹ thuật điện tử, kỹ thuật vi điện tử, kỹ thuật sử dụng lade,
hồng ngoại các loại vật liệu mới làm tăng độ chính xác, cơ động linh hoạt,
tăng khả năng sống còn của vũ khí sử dụng trong các điều kiện thời tiết địa
hình phức tạp. Kỹ thuật cao còn tác động đến hệ thống các quan niệm, t tởng
quân sự, phơng thức tiến hành chiến tranh, chiến thuật chỉ huy, đảm bảo hậu
cần.
Sau khi kết thúc Chiến tranh thế giới lần thứ hai, hàng loạt các nớc trên thế
giới đã đề ra cơng lĩnh và chơng trình phát triển các mặt của đời sống. Trong
đó có Quốc phòng dựa vào tiến độ phát triển của khoa học kỹ thuật. Lĩnh vực
Quân sự Quốc phòng là một lĩnh vực đặc thù của xã hội
Trong điều kiện xã hội chủ nghĩa, việc đề ra chiến lợc phát triển kỹ thuật Quốc
phòng tốt có ý nghĩa quyết định đối với việc phát huy đầy đủ của Khoa học kỹ
thuật trong công cuộc hiện đại hoá Quốc phòng đối với việc nâng cao sức
Trang 4
m¹nh tæng hîp quèc gia vµ t¨ng cêng thùc hiÖn c¹nh tranh côc diÖn chiÕn lîc
thÕ giíi.
I. Tác động của khoa học công nghệ trong lĩnh vực Radar:
Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật các thiÕt bị quân sự cũng
được phát triển một cách nhanh chóng ngày càng hiện đại hơn. Trong chiến
tranh thề giới thứ II, kỹ thuật chiến của các nước tham chiến đã phát triển
mạnh mẽ. Nhiều loại máy bay nhanh hơn làm cho các máy ghi âm không
còn phát hiện được vị trí của máy bay nữa, vì vậy đã xuất hiện nhiều loại
radar có các chức năng và công dụng khác nhau. Chúng cho phép chúng ta
có thể phát hiện các loại máy bay ở cự ly rất xa trong bất cứ hoàn cảng thời
tiết nào, tính được tốc độ, hướng bay và các loại máy bay để cho các đơn vị
phòng không có thể tiêu diệt mục tiêu và bảo vệ phòng không.
Sau chiến tranh kỹ thuật tên lửa và vũ khí phòng không phát triển
mạnh mẽ thì vai trò của radar ngày càng quan trọng, các cuộc chiến tranh
của thế giới gần đây đã thể hiện điều ấy.
Trong chiến tranh ở Việt Nam, khi ®ế quốc mỹ mở nhiều cuộc phá
hoại miền bắc. Bộ đội radar phòng không cảnh giới và phát hiện máy bay
địch từ xa đảm bảo cho các đơn vị hỏa lực đánh thắng máy bay của Mỹ.
radar phòng không là lực lượng bảo đảm chủ yếu tin tức về máy bay
địch trong đội hình chiến đấu của quần chúng phòng không, không quân có
mặt trên khắp các chiến trường. Phục vụ các chiến dịch các lực lượng khác
đánh thắng cuộc chiến tranh phòng không quân của ®ế quốc Mỹ.
Trong cuộc chiến tranh vùng vịnh, bằng vũ khí và kỹ thuật công nghệ
cao. Mỹ và liên quân đã làm vô hiệu hóa hệ thống Radar phòng không,
không quân của đối phương từ đó đã làm rối loạn hệ thống chỉ huy của Ir¾c.
Trang 5
Khiến cho Ir¾c nhanh chóng thất bại, mặc dù Ir¾c có hệ thống phòng không
rất tốt.
Áp dụng vào mục đích hòa bình, Rada lại càng có vai trò quan trọng
trong việc điều khiển các tàu vũ trụ một cách chính xác và an toàn. Trong
lĩnh vực khí tượng thủy văn, Radar giúp cho việc dự báo thời tiết một cách
chính xác và thuận lợi, phát hiện các thay đổi bất thường của khí quyển xa
hµng trăm km giúp máy bay có thể di chuyển được an toàn trên không.
Radar được áp dụng vào nhiều ngành khoa học và ứng dụng và đêi sống
vì vậy các nước trên thế giới hiện nay rất chú trọng trong việc phát triển
radar.
Ngày 7/5/1895, nhà khoa học Nga Popop đã phát hiện ra một loại dụng
cụ có thể thu và ghi lại các hiện tượng phóng điện trong không gian ở cách
xa 30m. Trong báo cáo của mình, Popop còn dự báo dụng cụ của mình có
thể gửi tín hiệu đi xa.
Tháng 3/1896, Popop đã gửi đi bức điện tin đầu tiên trong lịch sử khoa học
gồm mấy chữ "Henry hetz" tên nhà bác học đã phát minh ra sóng điện từ
năm 1887 bằng thực nghiệm. Năm 1865, Macxoen đã dự đoán lý thuyết về
sóng điện từ.
Như vậy, ngày 7/5/1895 đã ghi lại trong lịch sử khoa học một phát
minh to lớn nhất của nhân loại: đó là việc phát minh ra vô tuyến điện. Vô
tuyến điện đã trở thành ngành kỹ thuật có ứng dụng rộng rãi về nhiều mặt:
trong sinh hoạt hàng ngày của con người, trong đời sống văn hóa, trong khoa
học kỹ thuật, trong công nghiệp và nhiều lĩnh vực khoa học khác.
Một trong những ứng dụng quan trọng của vô tuyến điện vào trong
quân sự và trong thực tế là vô tuyến dịch vụ hay là Radar.
Người phát minh ra vô tuyến điện cũng chính là người phát minh ra
hiện tượng mà về sau làm cơ sở cho Radar- hiện tượng phản xạ sóng điện từ.
Trang 6
Năm 1897 trong khi tiến hành thí nghiệm về liên lạc vô tuyến điện.
Popop đã phát hiện ra hiện tượng sóng điện từ và đã ứng dụng hiện tượng đó
để kiểm tra tầu bè. Xác định vị trí các mục tiêu, dẫn đường và định hướng
các tầu bè về ban đêm khi có xương mù.
Tuy nhiên trong thời gian ấy và cả hai ba chục năm sau, trình độ lý
thuyết và kỹ thuật chưa cho phép chế tạo ứng dụng rộng rãi phát minh đó.
Năm 1925 hai nhà bác học Mỹ, Bzesit và Tuves đã dùng máy phát
xung để nghiên cứu tầng điện ly.
- Ở Nga, năm 1933 đã bắt đầu nghiên cứu sóng radar liên tục một cách
rộng rãi.
- Năm 1935 radar xung đầu tiên của Nga bắt đầu phát sóng.
- Năm 1938 radar của Nga đã phát hiện được mục tiêu ở xa 100-200km.
Năm 1935, nước Anh chế tạo được radar cảnh giới có thể phát hiện
được máy bay ở xa 80 km, đài này công tác ở dải sóng mét, quân đội Anh
còn được trang bị các phòng ngắm bắn cho cao xạ và các đài lưu động.
Những hệ thống này đã giúp Anh đã bắn phá được nhiều máy bay của Đức
bắn phá Luânđôn, buộc Đức phải chuyển sang hành động ban đêm.
Do tính ưu việt của radar nên nhiều nước đã tập trung nghiên cứu và
phát triển radar. Ở Đức, năm 1936 đài radar phát sóng mới đầu tiên ra đời.
Ở Pháp, năm 1935 đã chế tạo được đài radar công tác ở bước sóng
16cm.
Ở Việt Nam, radar được ứng dụng đầu tiên trong lĩnh vực quân sự.
Tháng 8/1958, các lớp học đầu tiên về radar đã được tổ chức.
Ngày 1/3/1959, các đài radar của ta chính thức phát sóng trên bầu trời.
Ngày 3/3/1959, radar phát hiện được chiếc máy bay C17 của không
quân Mỹ - Ngụy xâm phạm bầu trời phía Tây, tỉnh Thanh Hóa.
Trang 7
Tuy chưa chế tạo được radar nhưng người Việt Nam với trí thông
minh và lòng yêu nước đã biết khai thác sử dụng và phát huy tính năng, làm
chủ được các đài radar được trang bị khiến kẻ thù bị bất ngờ, bị động và bè
bạn của ta - những người chế tạo radar khâm phục.
Kỹ thuật radar phát triển rất nhanh chóng. Lúc đầu các radar sóng mét
tiếp theo là các radar sóng dm và cm. Cự ly lúc đầu là 70-80 km, đã nâng lên
350 km.
Nhiều loại radar phục vụ cho các mục đích khác nhau đã ra đời: radar
ngắm bắn, radar điều khiển hỏa lực, radar làm nhiệm vụ khí tượng, thám
không, radar dẫn đường cho máy bay, tên lửa, các loại radar cảnh giới…
Theo lý thuyết làm việc, có loại radar phát sóng liên tục và các radar
làm việc theo nguyên tắc phát sóng theo chế độ xung.
Theo dải sóng phát có loại sóng mét, sóng decimet, sóng centimet,
sóng milimet…
Theo phương pháp định vị có loại đài radar chủ động, nửa chủ động
và thụ động.
Theo vị trí đặt thiết bị radar: có loại radar mặt đất, trên tầu, trên máy
bay, radar trượt chân trời.
Theo phương pháp xử lý tín hiệu có các loại radar xử lý tín hiệu tương
tự và radar xử lý tín hiệu số.
Sự phát triển của khoa học, công nghệ vi điện tử và máy tính đã đưa
tiền đề mới cho sự phát triển của radar. Những radar mới nhất hiện nay trên
thế giới có những tính năng cực kỳ ưu việt, cự ly phát hiện xa, độ phân giải
mục tiêu cao, thiết bị gọn nhẹ hệ thống xử lý tín hiệu và hiển thị số, nhiều
khâu xử lý tín hiệu được tự động hóa rất thuận lợi cho người sử dụng.
Trang 8
* Mét sè h×nh ¶nh vÒ vÖ tinh:



Trang 9



1. Cơ sở kỹ thuật:
Trang 10
Các định nghĩa :
Radar là hệ thống thiết bị thuộc lĩnh vực kỹ thuật vô tuyến điện. Thực
hiện việc phát đi những sóng vô tuyến điện trong môi trường không khí và
thu lại tín hiệu phát xạ của sóng điện từ từ mục tiêu rồi đo đạc xử lý cho ta
nhận biết được tin tức mục tiêu cần quan sát.
Sự phản xạ sóng điện từ được sẩy ra ơ giới hạ bởi hai môi trường có
tính chất khác nhau. Hình 1.1 cho biết các tham số tọa độ mục tiêu trong
không gian.
Hình 1.1
O : Radar M : mục tiêu
OM : cự ly từ đài radar tới mục tiêu thường ký hiệu D.
ε : góc là mục tiêu.
β : góc phương vị của mục tiêu.
MM' : độ cao của mục tiêu.
Trang 11
X

M
M'
Y
ε
β
Z
MM' = H = Dsinε
Tại thời điểm t
0
: H
0
, R
0
, β
0
.
Tại thời điểm t
n
: H
n
, R
n
, β
n
xác định được đường bay của mục tiêu.
Oxyz là hệ tọa độ để xác định vị trí M trong không gian cần 1 trong 2
bộ 3 thông số.
- Cự ly D - Cự ly D
- Góc phương vị β - Góc phương vị β
- Góc là ε - Độ cao H = Dsinε
Trong đó :
(D,β,H) dùng xác định mục tiêu gần trái đất.
(D,β,ε) dùng xác định mục tiêu xa trái đất.
Tập hợp các tọa độ của mục tiêu theo thời gian sẽ cho ta quỹ S của
mục tiêu
2. Các phương pháp xác định tọa độ của đài Radar xung:
2.1 Phương pháp đo cự ly mục tiêu D:
Dựa trên cơ sở đo thời gian cần thiết để tín hiệu từ Radar phát đi sau
đó phản xạ về từ mục tiêu.
Cự ly D của mục tiêu được xác định:
D =Ct/2
t : thời gian giữ chậm tín hiệu từ khi phát xung đến khi đài thu được
tín hiệu phản xạ
C: vận tốc ánh sáng.
Để xác định t ta biến đổi tiếp:
D = C/2f
Cự ly liên quan đến tần số f, f liên quan đến thời gian t.
Trang 12
Các đài Radar xung dùng tần số chuẩn 75 KHz chia theo các hệ số
chia cần thiết và biến đổi thành các xung đại diện cho khoảng cách 10 - 50
và 100 Km đưa đến hiên sóng hiện tọa độ để tạo thành lưới tọa độ cự ly. Căn
cứ vào vị trí tín hiệu phản xạ từ mục tiêu trên hiện trên lưới tọa độ trên hiện
sóng để xác định cự ly mục tiêu. Ưu điểm của phương pháp này là chỉ cần
một ăngten, hiên sóng đơn giản cùng một lúc có thể phát hiện được nhiều
mục tiêu.
Phương pháp tần số: dựa trên nguyên tắc thời gian giữ chậm của tín
hiệu phản xạ từ mục tiêu được đo bằng độ lớn của sự thay đổi của tần số
phát.
Trong thời gian lan truyền sóng điện từ tới mục tiêu và phản xạ lại
vào máy thu của radar. Tần số biến đổi một lượng ∆fp
∆fp =η
p
2D/C
ηp : Hệ số thay đổi tần số của dao động cao tần của may phát đưa vào
bộ trộn của may thu để tạo ra tín hiệu tần số.
F
h
=f
p
-f
pxa
=4∆F
M
D/CT
M
∆F
M
: Độ lệch tần số của dao động cao tần.
T
M
: Chu kỳ lập lại của tần số biến điện của máy phát
Từ đó:
D=CF
h
T
M
/4∆F
M
Phương pháp pha: Dựa trên nguyên tắc thời gian giữ chậm tín hiệu phản xạ
từ mục tiêu được đo bằng dịch pha của dao động biến điện.
∆ϕ=2πF
h
t
F
h
: Tần số biến điện cao tần
Cự ly tới mục tiêu được xác định: D=C∆ϕ/4πF
h
2.2 Phương pháp đo phương vị mục tiêu
β
:
Trang 13
Có nhiều phương pháp đo phương vị.Trong thực tế thường dùng
phương pháp xung và phương pháp pha.
a. Phương pháp pha: Thực chất là so sánh pha của tín hiệu nhận được
từ hai ăngten thu khác nhau và đặt cách nhau một khoảng cách nhất định.
Hai ăngten cố định khi do tín hiệu nhận được từ mục tiêu xác định được
hướng mục tiêu đến. Phương pháp này có thể ưu điểm độ chính xác cao và
có khả năng tự động theo dõi mục tiêu. Song có nhược điểm là khả năng
phân biệt về phương vị kém, bị hạn chế trong một góc nhất định ở một
hướng nào đó
II. Tác động của khoa học công nghệ trong lĩnh vực Tên lửa:
Tên lửa là khí cụ bay không người lái, có hoặc không có điều khiển,
thường chỉ sử dụng ,một lần, chuyển động dưới tác dụng cửa trọng lực do
động cơ phản lực tạo ra.
Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, những mục tiêu quan
trọng thường được bảo vệ bởi một hên thống phòng không rất mạnh, đây là
khó khăn lớn cho đối phương nếu họ sử dụng máy bay tới tập kích. Vì vậy,
đột kích bằng tên lửa dần trở thành một thủ đoạn mở đầu cuộc chiến tranh.
Tên lửa có tầm bắn xa,độ chính xác cao, uy lực mạnh.Với sự xuất
hiện của vũ khí tên lửa, đặc biệt là tên lửa thường đạn chiến lược, máy bay
ném bom chiến lược sẽ mất đi vị trí độc tôn ,nó không còn là phương tiện
mang vũ khí hạt nhân duy nhất nữa.
Nếu dùng tên lửa làm vũ khí tiến công sẽ vừa có tác dụng tiến công
có hiệu quả các mục tiêu quan trọng nằm xâu trong lãnh thổ đối phương ,vừa
có tác dụng răn đe.Vì vậy trong điều kiện kỹ thuật cao,tác chiến tên lửa trở
thành cuộc giao chiến đầu tiên, có ảnh hương tới toàn bộ tiến trình chiến
tranh.
Trang 14
Tên lửa được phân loại theo những dấu hiệu: theo công dụng, theo số
tầng, theo tính chất và hệ thống điều khiển, theo quy mô nhiệm vụ, theo loại
đầu đạn, theo tầm hoạt động, theo đối tượng tác chiến, theo đặc tính đường
bay và đặc điểm cấu tao, theo nơi phóng và vị trí mục tiêu.
Vì các hệ thống b¸o động cảnh giới, hỏa lực phòng không ngày càng
được hoàn thiện, các chiến dịch tiến công bằng không quân ngày càng có
nguy cơ tổn thất lớn, tính bất ngờ của đòn tiến công bị hạn chế nên hiệu quả
đột kích không cao. Để đạt được hiệu quả cao cÇn phải khống chế điện tử
một cách tuyệt đối làm tê liệt hệ thống báo động cảnh giới phòng không của
đối phương bằng vệ tinh trinh sát, máy bay chỉ huy báo đéng trên không,
mạng radar trên không và trên biển…Mặt khác phải có ưu thế áp đảo trên
không. Để đạt được hai điều kiện trên (Thực tế là dành quyền khống chế trên
không), đối với không quân nhiều nước đây chỉ là điều mong muốn .
Trong thành phần các PTTC®K, tên lửa ngày nay cơ bản đã khắc
phục được nh÷ng hạn chế mà máy bay khó có thể vượt qua .Tên lửa và máy
bay, hai loại vũ khí này hỗ chợ cho nhau t¹o thành sức mạnh thực sự của các
lực lượng tiến công đường không. Tên lửa ngày nay dù còn bị hệ thống
phßng không gây khó khăn nhưng nếu tiến công bất ngờ với cường độ cao,
mật độ lớn có thể tiêu diệt mục tiêu quan trọng của đối phương khiến đối
phương mất quyền khống chế trên không, tạo điều kiện thuận lợi cho đòn tập
kích bằng máy bay.
Ngày nay tên lửa trở thành vũ khí công nghệ cao được chuyên gia
quân sự các nước đặc biệt coi trọng và được phổ biến rộng rãi vì nó có
nhưng điểm mạnh trong hoạt động tác chiến như sau:
Đa dạng, linh hoạt . Tên lửa có thể phóng đi từ bể phóng cố định hầm
ngầm, cơ động trên xe cơ giới, tÇu lôi, tầu ngầm và máy bay. Nó có thể
mang đầu ®¹n h¹t nhân, hóa học hoặc thông thường ,thích hợp cho việc thực
Trang 15
hiện các nhiệm vụ khác nhau.Vì vậy nó được sự dụng ở hầu hết các quân
binh chủng.
Độ chính xác cao, thích hợp cho việc tiến công nhiều loại mục tiêu .
Kỹ thuật không phức tạp so với máy bay.Những máy bay cỡ nhỏ hoặc
không người lái ,nếu lắp thêm thuốc nổ và thiết bị điều khiển vô tuyến hay
bộ chương trình là có thể thành một quả tên lửa có cánh.
Diện phản xạ radar nhỏ ,khả năng vượt qua hệ thống phòng không của
đối phương tương đối cao.thực tiễn chiến tranh từ nhưng năm 60 trở lại
đây,tên lửa là bộ phận cấu thành lực lượng tiến công của nhiều nước theo đó
với một cơ sở kinh tế ,kỹ thuật có hạn ,vẫn có thể xây dựng được một lực
lượng quân sự mạnh có thể tiến công uy hiếp đối phương từ cự ly hàng trăm
hàng nghìn km.
Tên lửa được sự dụng linh hoạt theo nhiệm vụ.Khi tiến công mục tiêu
điểm.Thông thường sử dụng một đến hai quả,nhiều nhất ba đến bốn quả.Khi
tiến công mục tiêu diện,thường phóng loạt,thực hiện đột kích kiểu"phẫu
thuật"hoặc đột kích liên tục kiểu loại tên lửa khác nhau thì chiến thuật tiến
công của chúng cũng khác nhau.
Chiến thuật sử dụng đa dạng .Tên lửa có thể sử dụng cho cả tiến công
và phòng ngự.Vừa có thể sử dụng độc lập vừa có thể sử dụng trong tác chiến
hợp đồng quân binh chủng.trước sự phát triển không ngừng của khoa học
kỹ thuật.Tên lửa ngày càng được trang bÞ nhiều và tình hình chiến trường
thay đổi chắc sẽ xuất hiện những phương pháp tác chiến mới.
Dưới đây lµ một số loại tên lửa:
1. Tên lửa đường đạn:
Tên lửa đường đạn ( Ballistic Missile ), còn gọi là tên lửa đạn đạo là loại tên
lửa mà đường bay gồm đoạn tích cực ( không lớn lắm ) và đoạn thụ động
bay theo quán tính theo đường cong đạn đạo ( Ballistic ).
Trang 16
Tên lửa đường đạn không có cánh để tạo lực nâng khí động học nên
thường được phóng thẳng đứng lên cao nhờ lực đẩy của động cơ sau đó tạo
góc nghiêng và bay theo quán tính đến mục tiêu như một đầu đạn thông
thường. Tên lửa đường đạn chiến đấu có thể phân thành các chủng loại khác
nhau dựa trên các tiêu chuẩn cơ bản như:
- Theo khả năng điều khiển
- Theo yêu cầu nhiệm vụ
- Theo tầm bay: có tên lửa đường đạn tầm gần tầm bay dưới 1000km, tầm
trung từ 1000 đến 5000km, tầm xa trên 5000km.
- Theo động cơ có: động cơ thuốc phóng lỏng, thuốc phóng rắn và kết
hợp.
- Theo số tầng kết cấu.
- Theo vị trí phóng.
- Theo đầu đạn.
Tên lửa đường đạn thường dùng để tấn công các mục tiêu cố định
theo tọa độ đã biết như: khu công nghiệp, căn cứ quân sự, trung tâm hành
chính dân sự…
Tên lửa đường đạn hiện đại bay ở độ cao lớn với vận tốc bay hàng
nghìn km/h, khó đánh chặn, đầu đạn có sức hủy diệt lớn. Vì vậy nó được
xem là vũ khí dăn đe tiến công đòn hạt nhân trong xuốt thời kỳ chiến tranh
lạnh giữa hai phe mà đại diện là Liên Xô trước đây và Mỹ. Trong thời kỳ
chiến tranh lạnh đó cả Liên Xô và Mỹ bằng các nỗ lực cũng đạt được một số
hiệp định hạn chế, hoặc cấm sản xuất, sử dụng phổ biến một số loại tên lửa
đường đạn. Tuy nhiên kho vũ khí tên lửa đường đạn vẫn rất lớn và công
nghệ chế tạo tên lửa này đã khá phổ biến.
Tên lửa đường đạn có tầm bay xa, độ cao bay lớn, tốc độ cao, sức
công phá của đầu đạn mạnh, hệ thống điều khiển chủ yếu theo quán tính có
Trang 17
hiệu chỉnh hoặc có đầu tự dẫn khá chính xác, khõ bị gây nhiễu, không chịu
tác động của các yếu tố bên ngoài. Tuy vậy tên lửa đường đạn có giá thành
cao so với tên lửa có cánh cùng cự ly, độ chính xác của tên lửa đường đạn
thấp hơn so với tên lửa có cánh cùng loại, tên lửa đường đạn bay theo quỹ
đạo và chương trình đã vạch trước, do đó không có khả năng cơ động, linh
hoạt để đối phó với lực lượng phòng không của đối phương.
Dưới đây là một số loại tên lửa đường đạn:
- Tên lửa đường đạn vượt đại châu bố trí trên đất liền: dùng để tiêu diệt
các trung tâm hành chính công nghiệp lớn.
- Tên lửa đường đạn bố trí trên biển: dùng để tiêu diệt các mục tiêu quân
sự và dân sự khác nhau, được phóng từ các tầu ngầm nguyên tử mang tên
lửa.
- Tên lửa đường đạn tầm trung: dùng để tiêu diệt các mục tiêu ở cự ly
dưới 5000m.
- Tên lửa đường đạn chiến dịch-chiến thuật: dùng để tiêu diệt các mục
tiêu ở cự ly hàng trăm km.
2. Tên lửa có cánh:
Tên lửa có cánh( Cruise Missile ) còn gọi là tên lửa hành trình hay tên
lửa Crudơ, là tên lửa có điều khiển, có các bề mặt (cánh) tạo lực nâng khí
động khi bay trong khí quyển.
Tên lửa có cánh có thể được phóng từ bệ phóng trên đất liền, trên tầu
biển hay trên máy bay. Động cơ hành trình của tên lửa có cánh thường là
loại phản lực không khí, sử dụng oxi trong khí quyển làm chất oxi hóa.
Tên lửa có cánh có độ bay cao từ vài chục mét đến 40km, tốc độ bay
từ vài trăm km/h đến gần 4500 km/h, cự ly bay từ vài chục đến vài nghìn
km, hoạt động như một máy bay không người lái kiểu phản lực mang lượng
nổ. Để tiêu diệt các mục tiêu lớn và có thể sử dụng làm nhiệm vụ trinh sát.
Trang 18
Tên lửa có cánh có thể bị radar phát hiện, bị tên lửa phòng không hay máy
bay tiêm kích tiêu diệt.
Căn cứ vào cự ly bay Tên lửa có cánh được phân thành:
- Tên lửa tầm gần: tầm bay dưới 100 km.
- Tên lửa tầm trung: tầm bay từ 100 đến 1000 km.
- Tên lửa tầm xa: tầm bay trên 1000 km.
Tên lửa có cánh sơ khai và được sử dụng lần đầu tiên là tên lửa V-1
của phát xít Đức dùng để tiến công vào Luânđôn ngày 12/7/1944, có cự ly
bay lớn nhất là 300 km, độ bay cao từ 0,2 đến 8 km, tốc độ bay xấp xỉ 575
km/h. Tính đến cuối chiến tranh thế giới II, Đức đã phóng xuống đất Anh
hơn 8000 quả tên lửa loại này trong đó gần 45% đã bị bắn rơi bằng các
phương tiện phòng không của đối phương, khoảng 25% không đến mục tiêu
do nhiều nguyên nhân khác nhau, chỉ khoảng 30% trúng mục tiêu.
Trong tương lai ngoài khuynh hướng tàng hình hóa, tên lửa có cánh
còn được cải tiến nhằm tăng vận tốc, giảm thời gian lập trình, tăng khả năng
chống nhiễu, đây là một thách thức mới đối với hệ thống phòng không.
Những ưu điểm của tên lửa có cánh là:
- Kích thước nhỏ, một số có cấu trúc đặc biệt nên diện tích phản xạ hiệu
dụng rất nhỏ ( 0,1 đến 0,2 m
2
ở dải sóng cm, 0,5 m
2
ở dải sóng dm và 0,5
đến 2 m
2
ở dải sóng mét ) nguồn bức xạ nhiệt của động cơ cũng rất nhỏ nên
khó bị phát hiện và bám sát bằng các radar cúng như các thiết bị trinh sát
hồng ngoại, quang học.
- Có thể bay ở độ cao thấp, siêu thấp, bay lượn theo sự mấp mô của địa
hình.
- Không gian hoạt động lớn, tầm bắn rộng được phóng từ ngoài tầm hỏa
lực của các loại vũ khí phòng không hiện có, bảo đảm an toàn cho các
phương tiện mang và mang tính chất bất ngờ cao khi đang tập kích.
Trang 19
- Giá thành rẻ hơn nhiều so với tên lửa đường đạn cùng cự ly.
- Với việc sử dụng các hệ thống điều khiển mới kết hợp với GPS độ
chính xác của tên lửa có cánh càng cao hơn tên lửa đường đạn cùng loại.
Tên lửa có cánh cũng có những yếu điểm sau:
- Bay ổn định trên phần lớn các giai đoạn của đường bay, không có khả
năng cơ động đối phó với lực lượng phòng không của đối phương nhất là
mạng lưới phòng không nhân dân rộng lớn kiểu Việt Nam.
- Tốc độ bay không lớn, thời gian bay lâu, lại ở độ cao thấp trong tầm hỏa
lực của các loại vũ khí phòng không cỡ nhỏ và súng bộ binh.
- Các hệ thống điều khiển phụ thuộc nhiều vào yếu tố địa hình, khí hậu,
thời tiết và tốn rất nhiều thời gian để trinh sát, thu thập và xử lý số liệu cho
việc lập trình.
Dưới đây là một số loại tên lửa có cánh tiên tiến:
a. Tên lửa có cánh chiến lược bố trí trên không: hiện nay có các loại
ALCM, ACM, ASALM, SRAM.
b.Tên lửa có cánh chiến lược bố trí trên đất liền: hiện nay có các loại
BGM-109G, GLCM.
c.Tên lửa có cánh chiến lược bố trí trên biển: điển hình là loại SLCM.
d. Tên lửa có cánh chiến thuật tầm xa: điển hình là tên lửa Tômahốc.
3. Tên lửa chiến thuật có điều khiển trên máy bay:
Hiện nay phần lớn các loại tên lửa trên máy bay đều là tên lửa có điều
khiển. Nó được trang bị hệ thống điều khiển ( gồm bộ cảm biến, thiết bị tính
toán, cơ cấu chấp hành ) để thay đổi tham số đường bay trên toàn bộ hoặc
từng phần quỹ đạo bay, nhằm ổn định và dẫn tên lửa tời mục tiêu.
Tên lửa có điều khiển có độ chính xác và hiệu quả chiến đấu cao.
Trong kế hoạch phát triển tiềm lực hạt nhân chiến lược và vũ khí thông
thường, Mỹ và một số nước bên cạnh việc phát triển và hiện đại hóa tên lửa
Trang 20
< L

V
mt.
t
b
l








Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×