Tải bản đầy đủ

Nâng cao năng lực hoạt động của bộ máy quản lý ở công ty bảo hiểm nhân thọ Thanh Hoá

LỜI GIỚI THIỆU
Với sự phát triển mạnh mẽ của các công ty bảo hiểm nhân thọ cạnh tranh đã
và đang tạo ra những tác động không nhỏ tới Bảo Việt theo cả hai chiều hướng: tích
cực và tiêu cực. Về mặt tích cực: Việc cạnh tranh với những đối thủ có bề dày kinh
nghiệm kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ trên thị trường thế giới, có
công nghệ kĩ thuật hiện đại, có phương pháp quản lý tiên tiến đã giúp cho Bảo Việt
tự nhìn nhận, đánh giá lại mình để rút ra những điểm còn hạn chế, nhằm đề ra
những giải pháp khắc phục. Bên cạnh đó đây còn là điều kiện tốt để Bảo Việt tiến
hành xem xét, nghiên cứu và chắt lọc những điểm tiến bộ của đối thủ để áp dụng
một cách linh hoạt, sáng tạo sao cho phù hợp với điều kiện thực tế của mình. Tuy
nhiên, việc phát triển mạnh mẽ của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ trên thị
trường cũng đồng nghĩa với việc sức ép cạnh tranh đối với Bảo Việt ngày càng tăng
cao và hệ quả tất yếu là sự chia sẽ về khách hàng và thị phần,là khó khăn trong
tuyển dụng đại lý...Và mặc dù trong những năm qua với sự tăng trưởng và phát triển
như vũ bảo của bảo hiểm Việt Nam, song so với các ngành khác thì Bảo Việt vẫn
còn bộc lộ những hạn chế chứng tỏ sự non nớt của mình trên thị trường tài chính
Việt Nam. Qua việc tìm hiểu và nghiên cứu tại công ty bảo hiểm nhân thọ Thanh
Hoá. Tôi thấy rằng điểm hạn chế nhất đó chính là vấn đề quản lý công ty. Vì vậy tôi
quyết định chọn đề tài “Nâng cao năng lực hoạt động của bộ máy quản lý ở công ty
bảo hiểm nhân thọ Thanh Hoá” Với mục tiêu đóng góp một số ý kiến của mình, hy
vọng làm một điều gì đó nhằm khắc phục những hạn chế mà công ty đang gặp phải

để nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty trong môi trường cạnh tranh đầy khốc
liệt của thị trường tài chính Việt Nam
Trang 1
Chuy ên đề này tôi chỉ xin trình bày trong một phạm vi nhất định.Cơ cấu của
chuyên đề gồm 3 chương:
+ Chương I: Lý luận chung về bảo hiểm nhân thọ và bộ máy quản lý
+ Chương II: Thực trạng về năng lực hoạt động của bộ máy quản lý trong công ty
bảo hiểm nhân thọ Thanh Hóa hiện nay
+ Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực hoạt động của bộ máy
quản lý
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp ở công ty bảo hiểm nhân thọ
Thanh Hóa và đặc biệt là sự hướng dẫn tận tâm của phó giáo sư tiến sĩ Đoàn Thị
Thu Hà đã giúp tôi hoàn thiện đề tài này.
Trang 2
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM NHÂN THỌ VÀ BỘ MÁY QUẢN LÝ CỦA
CÔNG TY
I . LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM NHÂN THỌ
1 . Khái niệm về bảo hiểm nhân thọ
Có thể hiểu một cách ngắn gọn, bảo hiểm nhân thọ là sự cam kết giữa công
ty bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm, trong đó:
Công ty bảo hiểm có trách nhiệm trả số tiền bảo hiểm khi có sự kiện định trước liên
quan đến cuộc sống con người xảy ra như: người được bảo hiểm bị chết, người
được bảo hiểm bị thương tật toàn bộ vĩnh viễn, người được bảo hiểm sống đến một
thời điểm xác định trước
Người tham gia bảo hiểm có trách nhiệm nộp phí bảo hiểm theo quy định cho công
ty bảo hiểm.
Bảo hiểm nhân thọ nói chung có nhiều loại: Bảo hiểm sinh mạng có thời hạn, bảo
hiểm suốt cuộc đời, bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp có thời hạn, bảo hiểm hiểm trợ cấp
hưu trí v.v Ngoài ra còn có các điều khoản bổ sung cho các hợp đồng chính : bảo
hiểm tai nạn con người, bảo hiểm chi phí nằm viện, bảo hiểm các bệnh hiểm nghèo
2. Những đặc điểm của bảo hiểm nhân thọ:
Năm 1996 được sự uỷ quyền của thủ tướng chính phủ, Bộ tài chính ra quyết định
thành lập lại tổng công ty bảo hiểm việt nam, được nhà nước xếp loại” doanh
nghiệp nhà nước xếp hạng đặc biệt”. Sở dĩ được xếp hạng đặc biệt là vì bảo hiểm
nói chung và bảo hiểm nhân thọ nói riêng có những đặc điểm rất khác biệt so với
các sản phẩm khác
Thứ nhất: Bảo hiểm nhân thọ là một loại hình dịch vụ tài chính, một sản phẩm vô
hình, người mua bảo hiểm đóng tiền ( thường là đóng định kỳ) cho doanh nghiệp


bảo hiểm nhưng chỉ nhận lại một lời cam kết sẽ được trả tiền khi những sự kiện bảo
hiểm được xác định trước ( sống đến một thời điểm, chết ,thương tật) phát sinh mà
không biết chắc sự kiện đó có xảy ra hay không cũng như không biết chắc sự kiện
đó có xảy ra hay không cũng như không xác định được thời điểm phát sinh sự kiện
đó( trừ trường hợp sống). Do vậy khác với các hàng hoá thông thường, người mua
Trang 3
BHNT không thể dùng thử để để biết chất lượng sản phẩm mà chỉ có thể dùng thật,
đã dùng thật là dùng trong thời hạn dài. Hơn thế nữa, sản phẩm bảo hiểm nhân thọ
còn là một sản phẩm khá phức tạp và có tính trừu tượng cao, nên nhiều khi người
mua bảo hiểm không thể hình dung hết được về sản phẩm bảo hiểm
Thứ hai: Bảo hiểm nhân thọ có đối tượng kinh doanh rất đặc biệt, đó là rủi ro liên
quan đến sinh mạng, cuộc sống sức khoẻ con người( có thể nói, BHNT gắn liền với
chu kì” sinh, lão, bệnh, tử” của con người), do vậy BHNT không thể bù đắp lại được
những tổn thất về sinh mạng, sức khỏe khả năng lao động và tinh thần cho người
được bảo hiểm và người thân của họ mà chỉ bù đắp lại một phần nào những thiệt hại
về mặt tài chính mà những tổn thất này gây ra. Chính vì vậy,với trường hợp phạm vi
bảo hiểm chỉ là rủi ro, BHNT là một trong số ít sản phẩm mà người mua rồi không
mong muốn được nhận quyền lợi bảo hiểm , thay vào đó là họ muốn tìm sự thanh
thản , sự bảo vệ, cảm giác đầy trách nhiệm trước người thân. Cũng do có đối tượng
kinh doanh rất đặc biệt, doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ cũng cần biết cảm thông,
chia sẽ trước những rủi ro, mất mát của khách hàng. Đây chính là chủ nhân trong
kinh doanh BHNT. Đồng thời với cơ chế bù đắp tài chính, khắc phục hậu quả của
rủi ro, hỗ trợ tài chính khi không còn khả năng lao động( Đặc biệt là qua các sản
phẩm hưu trí), chúng ta có thể thấy, BHNT còn mang ý nghĩa xã hội sâu sắc.
Thứ ba: Nhu cầu về bảo hiểm nhân thọ là nhu cầu thụ động, khách hàng rất ít khi
chủ động tìm đến doanh nghiệp để mua bảo hiểm nhân thọ mà thường chỉ mua bảo
hiểm sau khi được người bán bảo hiểm thuyết phục, vận động (thường là qua rất
nhiều lần). Một điểm đáng chú ý nữa là, theo thống kê tại các thị trường BHNT lớn
như Nhật Bản, Mỹ, Hàn Quốc, Đài Loan, người quyết định mua bảo hiểm nhân thọ
phần lớn không dưới 75% là phụ nữ.
Thứ tư: Bảo hiểm nhân thọ là sản phẩm dài hạn, thời hạn bảo hiểm là 5 năm, 10
năm, 20 năm, nhiều khi là cả đời người . Do vậy khi tham gia bảo hiểm nhân thọ
khách hàng luôn đặt ra những câu hỏi liên quan đến tương lai ( tương lai xa, rất xa)
như: liệu đến khi hợp đồng đáo hạn doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ còn tồn tại hay
không? doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán tiền bảo hiểm đã cam kết hay
không Thực tế triển khai BHNT của Bảo Việt cũng như của các công ty bảo hiểm
nhân thọ khác hoạt động tại thị trường Việt Nam cho thấy, các sản phẩm ngắn hạn
Trang 4
vẫn chiếm tỷ trọng chủ yếu. Vừa là một sản phẩm dài hạn lại vừa là sản phẩm hình
thức nên càng làm cho bảo hiểm nhân thọ càng trở nên đặc biệt, do đó việc tạo lòng
tin nơi khách hàng đóng vai trò tối quan trọng trong kinh doanh bảo hiểm nhân thọ.
Kinh nghiệm triển khai bảo hiểm nhân thọ tại thị trường Việt Nam đã cho thấy uy
tín doanh nghiệp là một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định việc tham
gia bảo hiểm nhân thọ của khách hàng
Thứ năm: Sản phẩm bảo hiểm nhân thọ là sản phẩm bán lẻ là chủ yếu, đại đa số
khách hàng là cá nhân quyết định mua BHNT của họ rất ít chịu tác động, chi phối
bởi yếu tố quyền lực hay các yếu tố khác, do vậy việc khách hàng tham gia tại
doanh nghiệp nào phụ thuộc rất lớn vào khả năng chinh phục nhân tâm công chúng
của doanh nghiệp đó.
Do những đặc điểm đó mà các doanh nghiệp phải cần xây dựng hình ảnh doanh
nghiệp và quảng cáo trong kinh doanh bảo hiểm nhân thọ có những nét khác biệt so
với các lĩnh vực khác
3. Vai trò của bảo hiểm nhân thọ
BHNT có vai trò rất quan trọng đối với mỗi cá nhân, mỗi gia đình, đối với từng
doanh nghiệp và toàn xã hội.
Đối với từng cá nhân, gia đình:
Xét trên khía cạnh tinh thần, tham gia BHNT thể hiện sự quan tâm, lo lắng của
người chủ gia đình đối với những người phụ thuộc, của cha mẹ đối với con cái làm
cho tình cảm gia đình thêm keo sơn, thắm thiết và hạnh phúc. Đồng thời, BHNT còn
góp phần đảm bảo ổn định cuộc sống cho các cá nhân và gia đình bằng sự hỗ trợ về
tài chính khi không may họ gặp phải rủi ro. Từ đó, BHNT là chỗ dựa tinh thần cho
mọi người dân giúp họ yên tâm lao động sản xuất.
Mặt khác, BHNT còn góp phần rất lớn để từng gia đình thực hiện kế hoạch tài chính
thông qua tiết kiệm, tạo quỹ giáo dục giành cho con cái, có tiền chi dùng khi về
hưu...Từ cơ chế thu phí, các doanh nghiệp BHNT buộc họ phải thực hiện tiết kiệm
thường xuyên và có kế hoạch nhờ khoản phí bảo hiểm họ phải đóng định kỳ.
Đối với các cơ quan, doanh nghiệp:
Lợi ích đầu tiên đối với các doanh nghiệp là ở chỗ nó làm ổn định tình hình
sản xuất kinh doanh và vấn đề tài chính. Nếu vì một lý do nào đó người chủ chốt
Trang 5
trong các có quan, doanh nghiệp bị chết hay thương tật vĩnh viễn thì họ sẽ nhận
được một số tiền để lo chi phí cho người bị thiệt mạng và một khoản để có thể
tuyển dụng người khác thay thế tiếp tục công việc
Hai là khi người chủ sử dụng lao động tham gia BHNT cho người lao động
của mình thì không những quyền lợi của người lao động tăng lên mà còn thể hiện
được sự quan tâm, lo lắng của họ đối với người làm công. Từ đó làm giảm bớt
khoảng cách, xoa dịu mâu thuẫn giữa chủ và thợ, kích thích người lao động gắn bó
hơn với doanh nghiệp và làm việc hiệu quả hơn, mang về cho doanh nghiệp nhiều
lợi hơn.
Đối với xã hội:
Một trong những vai trò của BHNT đối với xã hội chính là nâng cao phúc lợi
cộng đồng. Khi tham gia BHNT tức là người dân đã tuân theo quy luật số đông - rủi
ro của họ sẽ được san sẻ cho nhiều người. Mặt khác, cuộc sống của người dân khi
về già gặp không ít khó khăn, với sự ra đời của BHNT đặc biệt là sản phẩm “niên
kim nhân thọ” sẽ giảm bớt một phần nỗi lo âu về tài chính của họ, bớt đi gánh nặng
trách nhiệm của con cái và xã hội.
Không thể không đề cập tới vai trò tập trung mọi nguồn vốn nhàn rỗi từ trong dân
chúng của BHNT. Mỗi cá nhân mua BHNT là một cách tự bảo vệ mình, đồng thời
còn tạo ra một quỹ tiết kiệm cho mình. Đối với doanh nghiệp BHNT thì mỗi một
quỹ tiết kiệm góp lại thành quỹ bảo hiểm tập trung - một quỹ đầu tư dài hạn, đầu tư
vào nhiều lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế. Cũng từ đó mà làm tăng nhu cầu
tuyển dụng lao động của các ngành, tạo công ăn việc làm cho nhiều lao động, tránh
hiện tượng lãng phí nguồn nhân lực. Ngoài ra, bản thân sự ra đời và phát triển của
các doanh nghiệp BHNT cũng đã giải quyết công ăn việc làm cho rất nhiều người,
chính là mạng lưới đại lý rộng khắp và ngày càng gia tăng không ngừng của các
doanh nghiệp này.
4. Các loại hình bảo hiểm nhân thọ:
Hiện nay ở trên thế giới và Việt Nam đều tồn tại 3 loại hình bảo hiểm như sau:
+ Bảo hiểm trong trường hợp chết.
+ Bảo hiểm trong trường hợp sống.
+ BHNT hỗn hợp.
Trang 6
Đấy là ba loại hình bảo hiểm cơ bản tồn tại trên thị trường bảo hiểm hiện nay. Tuy
nhiên trong quá trình tham gia bảo hiểm thì người mua bảo hiểm còn áp dụng các
điều khoản bổ sung như: Bảo hiểm tai nạn, bảo hiểm sức khoẻ, bảo hiểm không nộp
phí khi thương tật toàn bộ vĩnh viễn do tai nạ ... a. Bảo hiểm trong trường hợp
chết:
Đây là loại hình phổ biến nhất trong BHNT và được chia thành hai nhóm: Bảo
hiểm tử kỳ và Bảo hiểm nhân thọ trọn đời.
- Bảo hiểm tử kỳ.
Loại hình bảo hiểm này còn được gọi là bảo hiểm sinh mạng có thời hạn: Nó
tiến hành bảo hiểm cho cái chết có thể xảy ra bất cứ lúc nào như: Tai nạn, bệnh
tật .v.v...miễn là thời điểm xảy ra tai nạn trong thời gian hợp đồng bảo hiểm vẫn còn
hiệu lực.Nếu tai nạn xảy ra vào lúc hợp đồng còn hiệu lực thì nhà kinh doanh bảo
hiểm phải trả cho người tham gia bảo hiểm một khoản tiền đúng bằng số tiền bồi
thường như trong hợp đồng đã cam kết. Nếu tai nạn xảy ra vào thời điểm hợp đồng
đã hết hiệu lực thì nhà kinh doanh bảo hiể
-Bảo hiển nhân thọ trọn đời:
BHNT trọn đời, hay còn gọi là bảo hiểm trường sinh. Hình thức bảo hiểm
của loại hình này là: Cam kết trả một khoản tiền bồi thường đúng như trong hợp
đồng quy định khi người tham gia bảo hiểm sống đến hết cuộc đời của mình. Vì thời
điểm chết của người tham gia bảo hiểm là không xác định nên thời hạn hợp đồng là
không xác định
Loại hình bảo hiểm này có một số đặc điểm cơ bản sau:
+ Thời hạn bảo hiểm không xác định.
+ STBH trả một lần khi người được bảo hiểm chết bất cứ lúc nào.
+ Phí bảo hiểm của loại này lớn hơn của Bảo hiểm tử kỳ.
+ Phí đóng định kỳ và không thay đổi trong suốt quá trình bảo hiểm.
BHNT trọn đời được triển khai nhằm thoả mãn nhiều mục đích khác nhau:
+ Đảm bảo cuộc sống của gia đình và người thân sau cái chết của
người được bảo hiểm.
+ Giữ gìn tài sản cho thế hệ sau.
Trang 7
+ Mua sắm tài sản cho gia đình và người thân theo kế hoạch đã định
trước.
+ Tiết kiệm.
b. Bảo hiểm trong trường hợp sống:
Bảo hiểm trong trường hợp sống hay còn gọi là bảo hiểm sinh kỳ, là loại hình
bảo hiểm mà thực chất là người bảo hiểm cam kết chi trả những khoản tiền đều đặn
trong một khoảng thời gian xác định hoặc trong suốt cuộc đời người tham gia bảo
hiểm. Nếu người được bảo hiểm chết trước ngày đến hạn thanh toán thí sẽ không
được chi trả bất cứ một khoản tiền nào.
Bảo hiểm sinh kỳ có một số đặc điểm chính sau:
+ Thời hạn bảo hiểm có thể xác định (gọi là niên kim nhân thọ tạm
thời), có thể không xác định (gọi là niên kim nhân thọ trọn đời).
+ Phí bảo hiểm đóng một lần.
+ STBH được chi trả nhiều lần nên còn gọi là trợ cấp định kỳ
Loại bảo hiểm này nhằm thoả mãn những mục đích sau:
+ Đảm bảo cuộc sống khi về già hoặc về hưu.
+ Đảm bảo thu nhập cố định sau khi hết tuổi lao động.
+ Giảm nhẹ gánh nặng phụ thuộc vào con cái và phúc lợi xã hội khi
tuổi già.
c. Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp:
Đây là loại hình bảo hiểm được kết hợp giữa hai loại hình bảo hiểm
trên( Bảo hiểm trong trường hợp chết và bảo hiểm trong trường hợp sống). Vì tính
ưu điểm của nó là tiết kiệm và rủi ro nên nó được áp dụng rộng rãi trên phạm vi toàn
thế giới
BHNT hỗn hợp có một số đặc điểm chính sau:
+ Thời hạn bảo hiểm luôn xác định.
+ STBH được trả một lần khi có các SKBH xảy ra (người bảo hiểm
chết hoặc khi hết hạn hợp đồng mà người được bảo hiểm còn sống).
+ Phí bảo hiểm thường đóng định kỳ và không thay đổi trong suốt thời hạn
bảo hiểm.
Trang 8
+ Có thể được chia lãi hoặc có thể được hoàn phí khi không có điều kiện tiếp
tục tham gia.
+ Khách đông và có thể ở mọi lứa tuổi
Loại hình bảo hiểm này được triển khai nhằm nhiều mục đích khác nhau :
+ Đảm bảo cuộc sống cho gia đình và người thân
+ Thực hiện tiết kiệm từ ngân sách gia đình để tạo lập quỹ gia đình cho con
cái, mua sắm tài sản.
+ Dùng làm vật thế chấp vay vốn hoặc khởi nghiệp kinh doanh.
Khi triển khai BHNT hỗn hợp, các công ty bảo hiểm có thể đa dạng hoá loại
sản phẩm này bằng các hợp đồng có thời hạn khác nhau, hợp đồng phi lợi nhuận, có
lợi nhuận và các loại hợp đồng khác tuỳ theo tình hình thực tế.
5. Các lĩnh vực hoạt động của bảo hiểm nhân thọ:
Hiện nay bảo hiểm nhân thọ hoạt động trên 4 lĩnh vực đó là:
-Kinh doanh bảo hiểm nhân thọ:
Đây là nghiệp vụ chủ yếu của một công ty bảo hiểm. Nguyên tắc kinh doanh là “
Lấy số nhiều bù số ít”. Lợi nhuận thu được của công ty là nhờ vào sự chênh lệch về
doanh thu phí bảo hiểm và chi phí bồi thường cho khách hàng. Doanh thu sẽ thu
được từ phí bảo hiểm do nhiều người tham gia bảo hiểm đóng góp
-Tái bảo hiểm nhân thọ:
Trên thực tế triển khai, tái bảo hiểm giữ vai trò quan trọng trong việc chuyển giao
rủi ro. Khi một công ty bảo hiểm gốc nhận bảo hiểm cho một dịch vụ có giá trị bảo
hiểm lớn, vượt mức bồi thường( mức giữ lại của mình), muốn đảm bảo khả năng
thanh toán khi xảy ra rủi ro, tổn thất cho dịch vụ này cũng như để bảo toàn vốn và
sự tồn tại của công ty, công ty bảo hiểm này cần kí một hợp đồng tái bảo hiểm để
chuyển giao rủi ro từ công ty mình sang một công ty bảo hiểm / tái bảo hiểm khác
có năng lực tài chính( khả năng thanh toán) lớn hơn. Trên thị trường bảo hiểm Việt
Nam, tái bảo hiểm là không còn xa lạ đối với nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ.
- Đầu tư tài chính:
Nghiệp vụ đầu tư tài chính của bảo hiểm đã phát triển từ lâu trên thế giới. Tuy
nhiên ở Việt Nam thì nghiệp vụ này chưa được các công ty bảo hiểm áp dụng rộng
rãi. Đây là nghiệp vụ hoạt động giống như nghiệp vụ của một ngân hàng. Công ty
Trang 9
bảo hiểm sẽ đầu tư hoặc cho một cá nhân, một tổ chức nào đó vay. Lợi nhuận mà
công ty thu được đó chính là lãi suất. Các công ty bảo hiểm nhân thọ có khả năng
tài chính lớn thường phát triển về nghiệp vụ này
II . LÝ LUẬN VỀ BỘ MÁY QUẢN LÝ VÀ NĂNG LỰC HOẠT ĐỘNG
CỦA BỘ MÁY QUẢN LÝ
1. Bộ máy quản lý
a. Khái niệm về bộ máy quản lý:
Bộ máy quản lý là một cơ quan chức năng trong một tổ chức nó bao gồm hệ thống
các phòng ban chức năng có nhiệm vụ cơ bản giúp giám đốc quản lý, điều hành quá
trình sản xuất kinh doanh, đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả
cao nhất
Tổ chức là sự liên kết những phần tử, những quá trình , những hoạt động
trong hệ thống nhằn thực hiện mục đích đề ra của hệ thống dựa trên các cơ sở các
nguyên tắc và các quy tắc của quản trị quy định
Hệ thống là tập hợp các phần tử và những mối quan hệ giữa các phần tử
nhằm tạo ra một đặc trưngđó là tính trồi của phần tử mà tính chất này không thể có
đượ từ những phần tử đơn lẻ
Quản lý là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý đến hệ thống nhằm
tổ chức và phối hợp hoạt động của họ nhằm đạt mục tiêu đề ra của tổ chức với hiệu
quả cao nhấ
Điều hành là một trong các chức năng quản lý nhằm tác động lên hành vi của
hệ thống hướng hệ thống vào thực hiện mục đích và mục tiêu quản lý theo đướng
lối, chiến lược đã định. Điều hành là chức năng chủ yếu của hoạt động quản lý
b. Yêu cầu của bộ máy quản lý:
Mặc dù có rất nhiều hình thức tổ chức bộ máy quản lý để đáp ứng với từng điều
kiện cụ thể của một tổ chức song nhìn chung để đảm bảo dược tính hiệu quả cao
nhất thì bộ máy quản lý cần đáp ứng những yêu cầu sau đây:
Một là: Phải đảm bảo thực hiện đầy đủ, toàn diện những chức năng quản lý
nhằm thực hiện mục tiêu chung đã đề ra: hoàn thành toàn diện kế hoach với chi phí
ít và hiệu quả kinh tế nhiều nhất
Trang 10
Hai là: Phải đảm bảo nghiêm túc và tuyệt đối chế độ một thủ trưởng chế độ
trách nhiệm cá nhân trên cơ sở đảm bảo và phát huy quyền làm chủ của tập thể lao
động trong doanh nghiệp
Ba là: Phải tạo được điều kiện để phát huy tối đa tính tự chủ và sáng tạo của
đội ngũ cán bộ công nhân viên thông qua việc giao quyền và phân quyền
Bốn là: Phải phù hợp với quy mô sản xuất, thích ứng với đặc điểm kinh tế và
kĩ thuật của doanh nghiệp. Trong doanh nghiệp có quy mô lớn, công tác của các
phòng chức năng được chuyên môn hoá sâu hơn do đó cần thiết và có thiể tổ chức
nhiều phòng chức năng hơn các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ. Những đặc
điểm kinh tế kĩ thuật như loại hình sản xuất, tính chất sản phẩm, tính chất công
nghệ, vị trí doanh nghiệp trong phân công lao động xã hội đều được xem là những
căn cứ để xây dựng bộ máy quan lý của doanh nghiệp
Năm là: Bộ máy quản lý phải được tinh giảm một cách có hiệu quả; nghĩa là
khi tinh giảm bộ vẫn đảm bảo được tính vững trắc trong việc liên kết các phần tử, sự
hoạt động vững trắc của tổ chức... mà không ảnh hưởng xấu đến vai trò cũng như
năng lực hoạt động của bộ máy
c. Vai trò và chức năng của bộ máy quản lý:
Vai trò:
Bộ máy quản lý có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của
một doanh nghiệp nó quyết định đến hiệu quả sản xuất kinh doanh chung của toàn
doanh nghiệp. Với một bộ máy quản lý gọn nhẹ, có trình độ có phương pháp quản lý
phù hợp sẽ giúp cho doanh nghiệp có hướng đi đúng, có sự tổ chức kinh doanh hợp
lý, cũng như có sự chỉ đạo , kiểm tra và điều chỉnh nhanh chóng và chính xác trong
quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhờ đó mà doanh nghiệp phát huy được
những điểm mạnh, khắc phục được những điểm yếu của mình thích ứng nhanh
chóng với điều kiện kinh tế thị trường đầy biến động và ngày càng phát triển hơn.
Chức năng:
Bộ máy quản lý là cơ quan đầu não của một doanh nghiệp. Như vậy bộ máy quản lý
phải thực hiện chức năng như một đầu tầu để kéo đẩy con tầu đi đúng hướng an
toàn về bến. Nếu căn cứ vào chức năng vào nội dung quản lý thì bộ máy quản lý có5
chức năng chính:
Trang 11
Bộ máy quản lý của công ty có chức năng lập kế hoạch: Đây là chức năng đầu tiên
nó đề ra phương hướng và mục tiêu hoạt động chung cho toàn doanh nghiệp. Kế
hoạch có thể là kế hoạch dài hạn cũng có thể là kế hoạch ngắn hạn. Theo kế hoạch
đó thì từng thành viên trong doanh nghiệp sẽ nhận thức được nhiệm vụ cụ thể của
mình như thế nào. Họ sẽ biết mình cẩn phải làm gì để hoành thành nhiệm vụ mà
công ty giao phó. Đây là khâu cực kì quan trọng trong hoạt động quản lý, nó quyết
định đến sự thành bại của công ty và ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển trong
tương lai của công ty. Do vậy các cán bộ quản lý phải xây dựng được các kế hoạch
sao cho không có sự mâu thuẫn với nhau cũng như phải có sự điều chỉnh các kế
hoạch sao cho phù hợp với sự biến động của hệ thống môi trường
Chức năng tổ chức: Việc thiết lập một bộ máy quản lý quản lý của doanh nghiệp
phụ thuộc vào yêu cầu hoạt động của doanh nghiệp, mục tiêu đã đặt ra của doanh
nghiệp, nguồn lực của doanh nghiệp, các yếu tố khách quan tác động đến tác động
đến doanh nghiệp. Dựa trên cơ sở đó, doanh nghiệp sẽ xác lập một cơ cấu sản xuất
phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao. Trong đó mỗi bộ phận, từng cá nhân
đều có quyền hạn , trách nhiệm và nghĩa vụ nhất định, có mối quan hệ mật thiết với
nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ để đạt được mục tiêu chung mà doanh
nghiệp đề ra.
Chức năng điều hành: Mọi kế hoạch khi đã được lập ra và tổ chức xong thì phải
điều hành công việc để hoàn thành kế hoạch đó. Để điều hành có hiệu quả thì cần
phải có sự chỉ đạo thống nhất, chặt chẽ trong quản lý, có như vậy các bộ phận trong
bộ máy quản lý, cũng như trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh mới được
tiến hành tốt nhiệm vụ của mình
Chức năng điều khiển điều chỉnh: Thực hiện chức năng này các nhà quản lý sẽ sữa
chữa những sai lầm trong quá trình sản xuất kinh doanh, thay đổi công việc cho phù
hợp, phát huy các điểm mạnh của doanh nghiệp
d. Các hình thức tổ chức bộ máy quản lý
Hiện tại có rất nhiều hình thức tổ chức bộ máy quản lý. Tuy nhiên tuỳ từng điều
kiện cụ thể của từng doanh nghiệp mà chọn những mô hình sao cho hiệu quả nhất.
Một số hình thức tổ chức bộ máy đó là:
-Kiểu cơ cấu tổ chức quản lý theo trực tuyến:
Trang 12
Nguyên tắc của kiểu tổ chức này là mọi công việc quyền hành đều được giao cho
từng đơn vị và quan hệ quyền hành đều được phân định rõ ràng với một cấp trên
trực tiếp


-Kiểu cơ cấu quản lý chức năng:
Mô hình này phù hợp với xí nghiệp nhỏ hoạc các đơn vị sự nghiệp. Nhưng đối với
các doanh nghiệp có quy mô lớn, quản lý phức tạp thì không nên áp dụng
Ưu điểm:
+ Hiệu quả tác nghiệp cao
+ Phát huy được những thế mạnh của chuyên môn hoá ngành nghề
+Đơn giản hoá việc đào tạo
+ Chú trọng hơn đến tiêu chuẩn nghề nghiệp và tư cách nhân viên
+ Tạo điều kiện cho việc kiểm tra chặt chẽ của cấp cao hơn
Nhược điểm:
+ Thường dẫn đến các mâu thuẫn giữa các đơn vị chức năng khi đề ra chỉ tiêu chiến
lược,
+ Thiếu sự phối hợp giữa các phòng ban chức năng
+ Chuyên môn hoá quá mức và tạo ra cách nhìn quá hẹp ở các cán bộ quản lý
+ Hạn chế việc phát triển đội ngũ cán bộ quản lý chung
+Đổ trách nhiệm về vấn đề thực hiện mục tiêu chung của tổ chức cho cấp lãnh đạo
cao nhất.
Trang 13
Mô hình quản lý trực tuyến
Lãnh đạo tổ
chức
Người
Thực
hiện 1
Người
Thực
Hiện 2
Người
Thực
Hiện 3
Người
Thực
Hiện
4
Mô hình tổ chức bộ phận theo chức năng tương đối dễ hiểu và được hầu hết các
tổ chức sử dụng trong một giai đoạn phát triển nào đó, khi tổ chức có quy mô vừa và
nhỏ hoạt động trong một lĩnh vực đơn sản phẩm, đơn thị trường
Trang 14

-Kiểu quản lý trực tuyến chức năng:
Ưu điểm:
+ Phát huy được năng lực chuyên môn hoá của các bộ phận chức năng, đồng thời
vẫn đảm bảo được quyền chỉ huy của hệ thống trực tuyến
+ Tạo được điều kiện cho các chuyên gia đóng góp vào hoạt động quản lý của
doanh nghiệp
+ Giải quyết cho các cấp quản lý điều hành khỏi công tác phân tích chi tiết từng khía
cạnh.
Trang 15
Giám đốc
Trưởng phòng
nhân sự
Trợ lý giám
đốc
p.giám đốc
maketing
P.giám đốc
Kỹ thuât
P.giám đốc
Sản xuất
P.giám đốc
Tài chính
N.cứu thị
trường
Quản lý
Nhân sư
Lập k/h
Sản xuất
Lập k/h
Tài chính
Lập k/h
maketing
Thiết kế Dụng cụ
Ngân quỹ
Quản cáo
Kỹ thuật điện
Phân xưởng
1
Kế toán
chung
Quản lý
Bán hàng
Kỹ thuật
cơ khí
Phân xưởng
2
Kế toán chi
phí
Bán hàng
Kiểm tra
chất lượng
Phân
xưởng 3
Thống kê
và xử lý
Mô hình tổ chức bộ phận theo chức năng
+ Tạo điều kiện đào tạo cho chuyên gia
Nhược điểm:
+ Rễ gây hỗn độn như mô hình chức năng nếu như không có sự phân định rõ ràng
về quyền hạn
+ Hạn chế năng lực sử dụng nghiệp vụ của các chuyên viên
+ Rễ tạo ra xu hướng tập trung hoá đối với các nhà quản trị cao cấp
+Có thể xảy ra mâu thuẫn giữa lãnh đạo các tuyến với nhau, do không thống nhất
quyền hạn và quan điểm
- Mô hình tổ chức bộ phận thêo quá trình
Mô hình ma trận là sự kết hợp của hai hay nhiều mô hình tổ chức bộ phận khác
nhau. Ví dụ, mô hình theo chức năng kết hợp với mô hình theo sản phẩm
Ưu điểm:
+Định hướng các hoạt động theo kết quả cuối cùng
+Tập trung nguồn lực vào khâu xung yếu
+ kết hợp được năng lực của nhiều cán bộ quản lý và chuyên gia, tạo điều kiện đáp
ứng nhanh chong với những thay đổi của môi trường.
Nhược điểm:
+ Hiện tượng song trùng lãnh đạo dẫn đến sự không thống nhất mệnh lệnh
+ Cơ cấu phức tạp và không bền vững
Trang 16
Lãnh đạo tổ chức
Phòng chức
năng 1
Phòng chức
năng 2
Phòng chức
năng 3
Phòng chức
năng 4
Lãnh đạo
tuyến A
Lãnh đạo
tuyến B
Mô hình cơ cấu trực tuyến- chức năng
+ Có thể gây tốn kém
Cách tổ chức theo ma trận mang lại nhiều triển vọng lớn cho nhiều tổ chức trong
điều kiện môi trường thay đổi nhanh với nhiều yếu tố bất định. Điểm mấu chốt làm
cho cơ cấu ma trận phát huy được tác dụng là sự rõ ràng của mối quan hệ quyền hạn
giữa các cán bộ quản lý và cơ chế phối hợp
Đây là sơ đồ tổ chức theo ma trận trong kĩ thuật
Trang 17
Tổng giám
đốc
P.TGĐ
Kỹ thuật
P.TGĐ
Tài chính
P.TGĐ
Sản xuất
P.TGĐ
maketing
Trưởng p
Thiết kế
Trưởng p
Kỹ thuật
Trưởng.p
điện
Trưởng.p
Thuỷ lực
C.nhiệm
đề án A
C.nhiệm
đề án B
C.nhiệm
đề án C
Tổ chức theo ma trận trong kĩ thuật
2. Năng lực hoạt động của bộ máy quản lý
a. Khái niệm về năng lực hoạt động của bộ máy quản lý
Năng lực hoạt động của bộ máy quản lý là khả năng được thể hiện trong quá trình
bộ máy quản lý thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình để đạt mục tiêu chung của
tổ chức
b. Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực hoạt động của bộ máy quản lý
* Cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức có ảnh hưởng rất lớn đến năng lực hoạt động của bộ máy quản lý
của công ty. Nếu công ty có một cơ cấu tổ chức hợp lý, phù hợp với quy mô sản
xuất của doanh nghiệp, phù hợp với môi trường, phù hợp với đối tượng kinh
doanh...; Đặc biệt nếu có một kết cấu hợp lý, xây dựng được mối liên kết giữa các
phần tử thì bộ máy quản lý sẽ phát huy được hiệu lực của nó. Nhưng nếu cơ cấu
không hợp lý, bộ máy quản lý cồng kềnh thì nó không thể phát huy được tính sáng
tạo của các cán bộ nhân viên và gây ra sự lãng phí tốn kém thậm chí dẫn đến sự sụp
đổ của công ty
* Thể chế
Có nhiều quan niệm khác nhau về thể chế, như quan điểm của Thorstein
Veblen đưa ra năm 1914; của Douglass C. North: ”Thể chế là những luật lệ được
hình thành trong đời sống xã hội, hay đúng hơn, đó là những luật lệ do con người
tạo ra để điều tiết và định hình các quan hệ của con người ”; ” thể chế bao gồm
những ràng buộc phi chính thức (điều thừa nhận, cấm đoán theo phong tục, tập quán
và truyền thống đạo lý) , những quy tắc( giới hạn) chính thức ( hiến pháp, luật,
quyền sở hữu)”. Trong từ điển Tiếng Việt, do Hoàng Phê chủ biên (1992), thể chế là
những ”quy định, luật lệ của một chế độ xã hội buộc mọi người phải tuân theo( nói
một cách tổng quát )”. Tuy có nhiều quan niệm khác nhau, nhưng nói chung các
quan niệm về thể chế đều bao hàm các vấn đề quan trọng nhất: Luật chơi( chính
thức và phi chính thức); cơ chế thực hiện và các tổ chức ( gắn với hành vi của
chúng), bao gồm các tổ chức chính trị, kinh tế, xã hội và các tổ chức giáo dục. Nếu
có một thể chế thông thoáng, phù hợp thì đó sẽ là một điều kiện lý tưởng để một tổ
chức phát huy sức mạnh của mình và do đó năng lực quản lý của bộ máy tổ chức sẽ
Trang 18
được nâng lên. Nhưng nếu một thể chế bất hợp lý thì đó sẽ là một sự cản trở vô
cùng lớn đối với sự tồn tại và phát triển của một tổ chức.
* Cán bộ quản lý
Cán bộ quản lý có một vai trò cực kì quan trọng đối với năng lực hoạt động của bộ
máy quản lý. Cán bộ quản lý ở đây được xác định là người có trách nhiệm tạo ra
những điều kiện cần thiết giúp cho nhân viên xây dựng thực hiện và kiểm tra theo
dõi các nhiệm vụ, các hoạt động. Như vậy, họ không chỉ chịu trách nhiệm với các
hoạt động của đơn vị, với vấn đề tài chính mà còn có trách nhiệm với các thành viên
của tổ chức. Họ phải có trách nhiệm tổ chức các hoạt động các nhiệm vụ của đơn vị
mình, đồng bộ với các hoạt động khác của cả tổ chức; cùng đơn vị xây dựng tầm
nhìn và mục đích đồng thời đảm bảo rằng các mục đích đó đã được theo đuổi; các
hoạt động của đơn vị phải được thực hiện tốt, được phát triển và làm chúng thích
ứng các điều kiện, hoàn cảnh nhu cầu, lĩnh vực mới của hoạt động; có trách nhiệm
tạo ra những điều kiện cần thiết để cho nhân viên chủ động tham gia vào các hoạt
động và cố gắng làm cho các hoạt động phát triển; luôn tăng cường và phát triển và
làm thích nghi với các kỹ năng quản lý đáp ứng với tình hình mới.
Mỗi loại hình tổ chức đều có những đặc điểm khác nhau và nó đặt ra những đòi
hỏi có những điểm khác nhau đối với cán bộ quản lý của tổ chức đó. Hoạt động
trong một môi trường rộng và tương đối phức tạp nên vai trò của người quản lý ở
đây cũng có những yêu cầu khác. Họ được xác định có những vai trò sau:
- Vai trò của người khai phá: Luôn quan tâm, xem xét nghiên cứu đối với các xu
hướng và sự thay đổi của môi trường, có những kết luận cần thiết về đơn vị tổ chức
về hoạt động của tổ chức mình trên cơ sở của sự thay đổi của môi trường này.
- Vai trò của người thông đạt thông tin, giao tiếp: Luôn đòi hỏi có sự hiểu biết về cả
tình hình bên trong và bên ngoài, thực hiện và giữ các cuộc trao đổi là vấn đề quan
trọng để theo đuổi mục tiêu định hướng chung
- Vai trò của người huấn luyện: Luôn tạo điều kiện, ủng hộ cho phép nhân viên đáp
ứng được với yêu cầu của nhiệm vụ, tạo điều kiện cho nhân viên mở rộng hoạt động
và nâng cao kĩ năng nghiệp vụ của họ
-Vai trò làm xúc tác cho sự thay đổi: Luôn khuyến khích với những ý tưởng mới,
xây dựng đề xuất để làm cho thay đổi và thực hiện thay đổi
Trang 19
- Vai trò của người kiến tạo những cơ hội học tập: Luôn chú trọng vào việc thực
hiện mục tiêu xây dựng một tổ chức học tập.
- Vai trò của người ra quyết định: Khi được phân quyền thì họ phải chịu trách nhiệm
đối với các quyết định của họ cũng như những hậu quả của chúng.
Như vậy, cán bộ quản lý có một ý nghĩa quan trọng trong việc tổ chức thực
hiện kế hoạch phát triển của tổ chức, thực hiện kế hoạch phát triển nhân viên và họ
là nhân tố quyết đến quá trình đạt được mục tiêu của tổ chức, đạt năng suất, hiệu
quả của tổ chức. Do vậy, cán bộ quản lý có ý nghĩa quyết định đến năng lực hoạt
động của bộ máy quản lý trong công ty
* Các chỉ tiêu đánh giá về năng lực hoạt động của bộ máy quản lý trong công ty
Quản lý là hoạt động mang tính chất toàn diện. Điều này thể hiện trong công ty
bộ máy quản lý sẽ tham gia quản lý ở tất cả các lĩnh vực. Do vậy hiệu quả của hoạt
động quản lý phải được đánh giá qua rất nhiều chỉ tiêu như:
- Kết quả về doanh thu:
Doanh thu là mục tiêu hàng đầu của mọi doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, bởi vì
nó là nguồn gốc của lợi nhuận do đó công ty sẽ nổ lực để đạt được doanh thu cao
nhất trong khả năng của mình. Khi doanh thu đạt chỉ tiêu thì công ty sẽ có lợi nhuận.
Lợi nhuận sẽ được tích lũy để duy trì sự hoạt động của doanh nghiệp. Nếu doanh
thu thấp thì có thể dẫn đến sự phá sản của công ty. Kết quả về doanh thu sẽ phản
ánh một phần rất lớn đối với năng lực hoạt động của bộ máy trong công ty
- Công tác đánh giá rủi ro
Đối với hoạt động bảo hiểm nói chung và bảo hiểm nhân thọ nói riêng thì công tác
đánh giá rủi ro cũng là một hoạt động mang ý nghĩa quan trọng. Nếu công tác này
làm không tốt sẽ dễ gây nên tình trạng trục lợi bảo hiểm của người tham gia bảo
hiểm nhằm mục tiêu kiếm lời. Và như vậy thì lợi ích của công ty sẽ bị thiệt hại. Nếu
công ty quản lý tốt vấn đề này thì quền lợi của họ sẽ được đảm bảo
- Tình hình giải quyết quyền lợi trên địa bàn:
Đây là hoạt động nhằm đáp ứng quyền lợi của khách hàng trên địa bàn khi mà rủi ro
xảy ra đúng như trong hợp đồng đã cam kết. Đồng thời trong công tác này công ty
cũng sẽ thực hiện công tác giám định để tránh những trường hợp trục lợi bảo hiểm
của khách hàng
Trang 20
- Công tác phát triển đại lý
Việc có đạt được doanh thu cao hay không phụ thuộc rất nhiều vào công tác phát
triển đại lý. Công tác phát triển đại lý mà làm tốt thì doanh thu bảo hiểm sẽ tăng.
Một công ty bảo hiểm chỉ thực sự mạnh khi có một mạng lưới đại lý rộng rãi có
trình độ về chuyên môn nghiệp vụ tốt cộng với lòng hăng say, nhiệt tình trong công
tác của đội ngũ nhân viên khai thác bảo hiểm
Ngoài các chỉ tiêu trên để đánh giá năng lực hoạt động của bộ máy quản lý
người ta còn căn cứ vào các chỉ tiêu như: Công tác sản phẩm, công tác quản lý
nguồn tài chính, tình hình quản lý nguồn nhân lực, công tác tin học...
- Chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của các bộ phận chức năng trong công ty:
Đây là một chỉ tiêu rất quan trọng. Nó thể hiện; trong một công ty mỗi cán bộ quản
lý cần phải làm những gì và giới hạn về quyền hành để thực hiện công việc đó là ở
mức nào. Nếu nhiệm vụ quá cao và phức tạp mà quyền hành trong tay người cán bộ
lại thấp thì chắc chắn công việc sẽ khó mà hoàn thành được. Do vậy cần phải có một
quyền hạn hợp lý cho mỗi chức năng và nhiệm vụ cụ thể
- Năng lực của người cán bộ quản lý:
Có thể nói đây là một yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp và rất lớn đến năng lực hoạt
động của bộ máy tổ chức. Năng lực ở đây bao gồm: Năng lực lãnh đạo, năng lực
chuyên môn, năng lực giao tiếp, phẩm chất đạo đức- chính trị...Một bộ máy quản lý
sẽ không bao giờ vận hành có hiệu quả nếu tồn tại một đội ngũ cán bộ kém năng lực


CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA BỘ MÁY QUẢN LÝ HIỆN
TẠI TRONG CÔNG TY BẢO HIỂM NHÂN THỌ THANH HOÁ
I. VÀI NÉT VỀ CÔNG TY BẢO HIỂM NHÂN THỌ THANH HOÁ
1. lịch sử phát triển của công ty
Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam có tiền thân là Công Ty Bảo Hiểm Việt Nam gọi
tắt là Bảo Việt- Thành lập theo quyết định số 179/CP ngày 17/12/1964 của tPhủ
tướng chính phủ, chính thức đi vào hoạt động ngày15/01/1965.
Trang 21
Năm 1996 được sự uỷ quyền của thủ tướng chính phủ, bộ Tài Chính đã ra quyết
định thành lập lại tổng công ty bảo hiểm Việt Nam, được Nhà nước xếp loại “Doanh
nghiệp nhà nước xếp hạng đặc biệt” và trở thành một doanh nghiệp bảo hiểm lớn
nhất Việt Nam. Với 122 đơn vị thành viên, có mạng lưới phủ khắp 61 tỉnh, thành
trong cả nước; đã triển khai hơn 90 sản phẩm bảo hiểm các loại. Tuy nhiên, do điều
kiện kinh tế xã hội chưa cho phép, nên bảo hiểm nhân thọ ra đời tương đối muộn tại
Việt Nam, năm 1996 Bảo Việt chính thức triển khai bán sản phẩm nhân thọ đầu
tiên.
Tại Thanh Hoá bảo hiểm nhân thọ cũng được triển khai ngay từ ngày đầu. Một sản
phẩm bảo hiểm mới, rất đặc biệt và còn xa lạ với người dân Việt Nam; Tuy nhiên
được sự lãnh đạo , chỉ đạo của Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam, sự quan tâm, ủng
hộ,tạo điều kiện của các đồng chí lãnh đạo Tỉnh, các ban ngành, các huyện/ thị, xã/
phường/ thị trẩntên địa bàn toàn tỉnh; đặc biệt là sự tin tưởng của khách hàng đối
với bảo việt, nên chỉ trong một thời gian ngắn hoạt động bảo hiểm nhân thọ của Bảo
Việt nhân thọ Thanh Hoá đã đạt được kết quả đáng khích. Nếu năm 1996 tức năm
đầu tiên triển khai bảo hiểm nhân thọ) tổng doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ tại
Thanh Hoá mới chỉ đạt gần 20 đồng với 57 hợp đồng, thì đến năm 1999 doanh thu
gần 13 tỷ đồng với 7603 hợp đồng
Để tương xứng với tốc độ phát triển nhanh chóng của Bảo hiểm nhân thọ và đáp
ứng nhu cầu mua bảo hiểm nhân thọ ngày một tăng của nhân dân; Mặt khác thực
hiện chủ trương chuyên môn hoá trong hoạt động bảo hiểm nhân thọ của Bảo việt.
Trước yêu cầu đó, Bộ Tài chính đã ra quyết định số 46/2000QĐ-BTC ngày
27/3/2000 về việc thành lập 27 công ty bảo hiểm nhân thọ trực thuộc tổng công ty
bảo hiểm Việt Nam( Bảo Việt).Thực hiện quyết định của bộ tài chính ngày
14/4/2000 Công ty bảo hiểm nhân thọ Thanh Hoá( Bảo Việt nhân thọ Thanh Hoá)
chính thức khai trương trên cơ sở tách nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ từ công ty bảo
hiểm Thanh Hoá.
Năm 2000 trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá cũng là năm thị trường bảo hiểm nhân
thọ xuất hiện sự cạnh tranh bởi các công ty bảo hiểm 100% vốn nước ngoài
cùng hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ. Tuy nhiên, với sự chỉ đạo chu
Trang 22
đáo để đón nhận và coi cạnh tranh như tăng thêm động lực để phát triển, Bảo
Việt nhân thọ Thanh Hoá đã có những bước tiến vượt bậc:
Doanh thu năm 1999( trước khi thành lập) đạt gần 13 tỷ đồng, với 7603 hợp đồng,
thì năm 2000 doanh thu đạt gần 23 tỷ đồng, với 18454 hợp đồng; Năm 2001 doanh
thu đạt gần 41 tỷ đồng, với 31717 hợp đồng; Năm 2002 doanh thu đạt gần 63 tỷ
đồng, với gần 43000 hợp đồng còn hiệu lực, chiếm 95% thị phần bảo hiểm nhân thọ
tại Thanh Hoá. Năm 2003 doanh thu đạt trên 88,2 tỷ đồng, với 55000 hợp đồng còn
hiệu lực
Với những thành tích đã đạt được trên công ty nhiều năm được bộ tài chính và tổng
công ty bảo hiểm Việt nam tặng cờ và bằng khen: Năm 2001 được tổng công ty tặng
cờ đơn vị khá toàn ngành; năm 2002 được bộ tài chính tặng bằng khen và tổng công
ty tặng cờ đơn vị suất sắc toàn ngành.
Hoạt động kinh doanh hàng năm ổn định, tốc độ tăng trưởng cao, song nơi làm việc
cho cán bộ viên chức thì quá chặt trội. Trước tình hình bức bách về nơi làm việc của
công ty; Năm 2001, lãnh đạo tổng công ty bảo hiểm Việt Nam ra quyêt định cho
Bảo Việt nhân thọ Thanh Hoá được phép khảo sát, thiêt kế để xây dựng trụ sở công
ty và ngày 25 tháng 2 năm 2002, công trình chính thức được khởi công xây dựng.
Sau một năm xây dựng với sự giúp đỡ tạo điều kiện của lãnh đạo tỉnh, các ban
ngành, thành phố Thanh Hoávà phường Điện Biên, trụ sở của công ty 5 tầng khang
trang, toạ lạc trên địa điểm 666 đường Bà Triệu, Phường Điện Biên, thành phố
Thanh Hoá đã chính thức đi vào sử dụng tháng 3/2003.
Nhờ phát triển kinh doanh tốt, sản phẩm phù hợp với thị hiếu, đáp ứng đầy đủ, kịp
thời nhu cầu của mọi tầng lớp nhân dân, nên thị trường bảo hiểm ngày càng được
mở rộng; đặc biệt là cơ hội để thu hút lao động vào làm việc. Tính đến nay bảo hiểm
nhân thọ Thanh Hoá đã thu hút được hơn 700 lao động có việc làm ổn định, thu
nhập cao; Lực lượng lao động này hàng năm đã thực hiện tốt nghĩa vụ nộp thuế thu
nhập cho ngân sách nhà nước hàng trăm triệu đồng( Năm 2002 thu nộp gần 300
triệu đồng). Điều này cũng nói lên hoạt động của Bảo Việt nhân thọ Thanh Hoá
trong những năm qua có tốc độ phát triển vượt bậc, đã tạo ra các lợi ích kinh tế và ý
nghĩa xã hội sâu sắc trên một địa phương mà nền kinh tế xã hội chưa phát triển
mạnh so với các tỉnh trong cả nước.
Trang 23
Bên cạnh hoạt động kinh doanh, trong những năm qua , hưởng ứng chủ trương của
Trung ương và Địa phương về công tác xã hội, từ thiện. Bảo Việt nhân thọ Thanh
Hoá đã tích cực tham gia với các chương trình như: Phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam
anh hùng tại huyện Hậu Lộc, đóng góp các quỹ chất độc màu da cam, Quỹ học sinh
nghèo vựot khó, Quỹ khuyến học, trao phần thưởng cho các cháu học sinh giỏi, ủng
hộ đồng bào bão lụt
Mặc dù, Trong thời gian qua Bảo Việt nhân thọ Thanh Hoá đã đạt được những kết
quả đáng khích lệ trong hoạt động kinh doanh của mình; chất lượng các dịch vụ
trước và sau bán hàng đang được người dân trong tỉnh đánh giá cao. Song công ty
vẫn ý thức rằng, để tiếp tục phát triển và đứng vững trong cơ chế thị trường cạnh
tranh ngày càng gay gắt đòi hỏi ban lãnh đạo, cán bộ, công nhân viên, tư vấn viên,
thu ngân viên BHNT Thanh Hoá phải không ngừng cải tiến, đổi mới từ suy nghĩ ,
cách làm, chất lượng các dịch vụ cần cụ thể hơn nữa và thực hiện tốt phương trâm
của Bảo Việt “phục vụ khách hàng tốt nhất để phát triển”, hướng tới mục tiêu “Bảo
đảm lợi ích của ngưòi Việt”. Huy vọng Bảo Việt nói chung và Bảo Việt nhân thọ
Thanh Hoá nói riêng sẽ tiếp tục nhận được sự ủng hộ, quan tâm giúp đỡ quý báu của
lãnh đạo tỉnh, các Sở , ban ngành cấp tỉnh; lãnh đạo các Huyện/ Thành phố/ Thị
xã,các xã / Phường/Thị trấn trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá
2.Những cơ hội và thách thức đối với sự hoạt động và phát triển của công ty:
Là môt đơn vị trực thuộc của tổng công ty bảo hiểm việt nam hoạt động trên địa bàn
tỉnh Thanh Hoá. Bảo hiểm nhân thọ Thanh Hoá có những thuận lợi và khó khăn
nhất định đối với sự phát triển
Những thuận lợi:
Trong năm 2004 tình hình nền kinh tế của đất nước nói chung và tỉnh Thanh Hoá
nói riêng đang trên đà tăng trưởng( Năm 2004 tăng trưởng gần 10%) đó là điều kiện
thuận lợi cho sự hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ
Đặc biệt Thanh Hoá là một tỉnh có số dân lớn so với toàn quốc, nên đó là một thị
trường tiềm rất lý tưởng cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ.
Được sự lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời của tổng công ty bảo hiểm Việt Nam, Bảo hiểm
nhân thọ Việt Nam trên mọi lĩnh vực về công tác tổ chức, chính sách, chế độ,
Trang 24
nghiệp vụ, công tác triển khai các sản phẩm phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của các
tầng lớp nhân dân trong tỉnh.
Những khó khăn:
Trên thị trường tỉnh Thanh Hoá có nhiều công ty cùng hoạt động kinh doanh bảo
hiểm nhân thọ như công ty BH Bảo Minh, công ty prudential, AIA cho nên không
tránh khỏi tình trạng cạnh tranh và chia sẽ thị phần khai thác hợp đồng bảo hiểm
nhân thọ.
Trang 25

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×