Tải bản đầy đủ

Xử lý nợ xấu trong hệ thống Ngân hàng Thương mại Việt Nam

Đề án Lý thuyết Tài chính tiền tệ
A. LỜI NÓI ĐẦU
Sau 20 năm đổi mới, chuyển từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế nước ta đã có những bước chuyển
đáng kể. Hiện nay nền kinh tế Việt Nam được đánh giá là có tốc độ tăng
trưởng cao, ổn định, có môi trường đầu tư an toàn trong khu vực và trên thế
giới. Đóng góp vào sự thành công đó phải kể đến là ngành Ngân hàng. Với sự
chỉ đạo của Ngân hàng Trung ương cũng như sự phát triển và hoạt động có
hiệu của các ngân hàng thương mại mà đã huy động được một lượng vốn lớn,
đáp ứng được nhu cầu phát triển của đất nước, cũng như cung cấp các dịch
vụ, tiện ích về Ngân hàng - Tài chính cho khách hàng góp phần đưa đất nước
phát triển theo hướng hiện đại, theo kịp với trình độ của thế giới.
Tuy nhiên do sự chuyển đổi cơ chế còn chậm, trình độ còn kém nên
ngành Ngân hàng cũng đã gặp nhiều khó khăn trong chính sách cũng như
quản lý và hoạt động, đặc biệt là vấn đề "nợ xấu" gây ảnh hưởng tới sự phát
triển của ngành, làm cho tình hình tài chính của các ngân hàng thương mại trở
nên yếu kém, khả năng cạnh tranh giảm sút. Nhất là hiện nay khi chúng ta trở
thành thành viên chính thức của WTO thì vấn đề này đã gây ra nhiều thách
thức trong việc cạnh tranh với nước ngoài, tăng rủi ro trong hoạt động ngân
hàng, giảm lòng tin khách hàng và tất nhiên ảnh hưởng lớn đến sự phát triển
của đất nước.

Với lí do trên, em xin đưa ra vài ý kiến về đề tà: "Xử lý nợ xấu trong
hệ thống Ngân hàng Thương mại Việt Nam". Hy vọng rằng nó sẽ giúp giải
thích phần nào nguyên nhân, thực trạng và giải pháp về vấn đề này.
1
Tài chính doanh nghiệp 46B
1
Đề án Lý thuyết Tài chính tiền tệ
B. NỘI DUNG
I. LÝ THUYẾT CHUNG VỀ NỢ XẤU Ở NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1. Các khái niệm cơ bản
* Để hiểu về nợ xấu, chúng ta xuất phát từ khái niệm rủi ro tín dụng.
Cũng như bất kỳ ngành kinh doanh nào khác, ngân hàng cũng có thể
gặp rủi ro. Trên thế giới, người ta phân ra nhiều loại rủi ro trong hoạt động
ngân hàng, tiêu biểu nhất là rủi ro trong hoạt động tín dụng.
Tín dụng là quan hệ vay mượn dưới dạng tiền tệ có hoàn trả gốc và lãi
giữa người có vốn (NH) và người thiếu vốn (DN).
Rủi ro trong hoạt động tín dụng là tình trạng người đi vay không có khả
năng hoàn trả được vay lãi vay gốc hay cả …
Người ta cho rằng rủi ro chính mà ngân hàng phải đối mặt là rủi ro
trong hoạt động tín dụng, hoạt động này đòi hỏi ngân hàng phải tìm mọi cách
để kiểm soát được khả năng hoàn trả nợ ở ngân hàng, ít nhất là dự tính, phán
đoán khả năng này.
* Nợ xấu
Cần phải khẳng định lại rằng rủi ro tín dụng là rủi ro chính mà ngân
hàng phải đối mặt. Vấn đề đặt ra là có nên hay không nên cho khách hàng đó
vay. Tuy nhiên ngân hàng cũng là một đơn vị kinh doanh tiền tệ, vấn đề cho
vay là không thể tránh khỏi, vậy khi đã cho khách hàng vay thì quá trình thu
được nợ phải như thế nào? Việc phân loại nợ theo khách hàng để phân tích và
đánh giá rủi ro tín dụng là hoạt động mà các ngân hàng hiện đang làm. Theo
Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 phân loại nợ 5 loại theo
2 phương pháp định tính và định lượng.
* Phương pháp định lượng
- Nhóm 1: nợ đủ tiêu chuẩn bao gồm nợ trung hạn được đánh giá có
khả năng thu hồi đủ gốc và lãi đúng hạn và các khoản nợ có thể phát sinh
trong tương lai như các khoản bảo lãnh cam kết cho vay, chấp nhận thanh
toán.
2
Tài chính doanh nghiệp 46B
2
Đề án Lý thuyết Tài chính tiền tệ
- Nhóm 2 nợ cần chú ý bao gồm nợ quá hạn < 90 ngày và nợ có cấu lại
thời hạn nợ.
- Nhóm 3 nợ dưới tiêu chuẩn, bao gồm nợ quá hạn từ 90 -180 ngày
người nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn < 90 ngày.
- Nhóm 4: nợ nghi ngờ, bao gồm nợ quá hạn từ 180 - 360 ngày.
- Nhóm 5: nợ có khả năng mất vốn bao gồm nợ quá hạn > 360 ngày và
nợ cơ cấu thời hạn trả nợ > 180 ngày người nợ khoanh chờ chi phí xử lý.
* Phương pháp định tính
Nợ cũng được phân thành 5 nhóm tương ứng như phương pháp định
lượng, nhưng không nhất thiết căn cứ vào số ngày quá hạn chưa thanh toán nợ
mà căn cứ trên hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ và chính sách dự phòng
ruiro và tổ chức tín dụng được ngân hàng nhà nước chấp nhận.
- Nhóm 1: nợ đủ tiêu chuẩn, bao gồm nợ được đánh giá là có khả năng
thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng hạn.
- Nhóm 2: nợ cần chú, bao gồm nợ được đánh giá là có khả năng thu
hồi đầy đủ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả
nợ.
- Nhóm 3 nợ dưới tiêu chuẩn, bao gồm nợ được đánh giá là không có
khả năng thu hồi gốc và lãi cho đến khi đến hạn.
- Nhóm 4: nợ nghi ngờ, bao gồm nợ được đánh là có khả năng tổn
thất cao
- Nhóm 5: nợ có khả năng mất vốn, bao gồm nợ được đánh giá là
không có khả năng thu hồi, mất vốn.
Trong đó nợ từ nhóm 3 -5 là nợ xấu với các khoản nợ xấu này là yếu tố
chủ yếu gây ra rủi ro tín dụng.
Có nhiều tiêu chí đánh giá rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại:
- Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ.
- Tỷ lệ nợ xấu trên vốn chủ sở hữu
- Tỷ lệ nợ xấu trên quỹ dự phòng tổn thất
3
Tài chính doanh nghiệp 46B
3
Đề án Lý thuyết Tài chính tiền tệ
- Nợ đáng nghi nợ có khả năng chuyển thành nợ xấu cao
- Nợ không có tài sản bảo đảm.
Để tránh các khoản nợ xấu, hay tránh rủi ro tín dụng, ngân hàng cố
gắng "thấy" được càng rõ, càng kĩ càng tốt, khách hàng phá sản, lừa đảo và
không chịu trả nợ (thuộc nhóm 5 - nợ có khả năng mất vốn) là biểu hiện rõ
nhất, ngoài ra còn có các khoản nợ ngắn hạn không trả được ở các cấp độ
(thuộc nhóm 3, 4: nợ dưới tiêu chuẩn và nợ nghi ngờ). Nhiều ngân hàng cho
rằng, nếu một khoản nợ đến hạn không trả được, thì các khoản nợ khác chưa
đến hạn cũng được coi là có rủi ro. Thậm chí, dù nợ chưa đến hạn hoặc đến
hạn vẫn trả được, song tình hình tài chính yếu kém, môi trường kinh doanh có
biến động không thuận lợi cho khách hàng thì khoản nợ đó cũng được coi là
có rủi ro. Do đó vấn đề không phải là con số nợ xấu chiếm 2% hay 7% tổng
dư nợ mà nợ xấu được định lượng ở độ rộng hay hẹp. Dù theo phương pháp
nào thì kết quả phụ thuộc rất nhiều vào việc cán bộ ngân hàng có thực sự
nghiêm túc trong nhìn nhận nợ xấu, rủi ro tín dụng hay không, từ đó có chính
sách quản trị rủi ro như thế nào.
2. Sự cần thiết phải xử lí "nợ xấu" trong Ngân hàng thương mại
2.1. Ảnh hưởng của "nợ xấu" tới hoạt động của các Ngân hàng
thương mại
Nếu các khoản nợ xấu này lớn, tức là khả năng thu hồi các khoản nợ
khách hàng của ngân hàng thấp. Do đó ngân hàng phải dùng vốn để trang trải
cho các khoản thất thoát này thì đến một chừng mực nào đó sẽ không thể thực
hiện việc "xóa sổ" những khoản thất thoát này, ngân hàng có thể bị lâm vào
tình trạng mất khả năng thanh toán cho người gửi tiền.
Ngân hàng là ngành kinh tế nhạy cảm, phụ thuộc vào những lòng tin,
do đó khi thông tin khả năng trả nợ ngân hàng là không chắc chắn, người gửi
tiền sẽ đổ xô đi rút tiền làm ngân hàng lâm vào tình trạng phá sản.
Ngoài ra ngân hàng Trung ương của bất kì quốc gia nào cũng đều có
nhiệm vụ bảo đảm hệ thống ngân hàng hoạt động một cách an toàn và ổn
4
Tài chính doanh nghiệp 46B
4
Đề án Lý thuyết Tài chính tiền tệ
định. Vì nếu có sự thất thoát trong hoạt động tín dụng nào đó dù chỉ là 1 ngân
hàng và ở 1 mức độ nhất định nào đó cũng sẽ đe doạ tới sự tan toàn và ổn
định của toàn bộ hệ thống ngân hàng.
2.2. Xu thế hội nhập hiện nay cho thấy cần thiết phải nghiên cứu tỉ mỉ
và cẩn thận vấn đề này.
Thế giới hiện nay là thế giới của toàn cầu hoá và hội nhập hoá Việt
Nam cũng không nằm ngoài quy luật này 11/06 Việt Nam chính thức gia nhập
WTO - Tổ chức thương mại thế giới, đánh dấu bước ngoặt lớn của nền kinh tế
Việt Nam khi bước vào một sân chơi mới đồng thời đặt ra nhiều cơ hội
nhưng cũng đầu thách thức. Cải cách khu vực ngân hàng thương mại là một
trong những chủ trương cải cách khu vực Ngân hàng thương mại là một trong
những chủ trương cải cách hàng đầu mà Chính phủ luôn theo đuổi với mục
tiêu từng bước hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng. Bởi vậy vấn đề nợ
xấu lớn trong các Ngân hàng thương mại là một thách thức trên con đường
hội nhập. Có xử lí được vấn đề này, năng lực đấu tranh của các Ngân hàng
thương mại mới được cải thiện. Sau năm 2010, các hạn chế, phân biệt giữa
ngân hàng trong và ngoài nước bị xoá bỏ, chấm dứt sự bảo hộ ở nhà nước, các
Ngân hàng thương mại sẽ thực sự đứng trước sự cạnh tranh khốc liệt. Do đó,
ngay từ bây giờ, giải quyết những tồn tại, hạn chế trong hệ thống Ngân hàng
thương mại là rất cần thiết, đặc biệt là vấn đề xử lý nợ xấu cần được quan
tâm, chú ý hơn.
3. Nội dung xử lí nợ xấu đối với Ngân hàng thương mại
Khi xử lí các khoản nợ xấu, Ngân hàng thương mại có 2 sự lựa chọn
tổng quan: khai thác hoặc thanh lí khai thác là một quá trình làm việc với
người vay cho đến khi khoán cho vay được trả một phần hay toàn bộ người
không dựa vào các công cụ pháp lí để ép buộc thu ngân thanh lí là ép người
vay tuân theo các điều khoản của hợp đồng cho vay, áp dụng và thực hiện tất
cả biện pháp pháp lí để đạt mục tiêu
5
Tài chính doanh nghiệp 46B
5
Đề án Lý thuyết Tài chính tiền tệ
Các yếu tố chính ảnh hưởng đến sự lựa chọn mà ngân hàng sẽ theo đuổi
để xử lí những khoản cho vay. Nổi bật nhất là khó khăn trong việc thu ngân
và tổn thất có thể xảy ra đối với khoản cho vay, trong trường hợp này ngân
hàng phải áp dụng hình thức thu ngân bắt buộc theo luật. Bên cạnh đó có các
yếu tố như sự thật thà và thái độ của người vay đối với các khoản nợ, sức
mạnh tài chính là khả năng chi trả của người vay, mặc dù cần thiết thời gian
đáng kể, giá trị của người vay đối với ngân hàng, chi phí kèm theo việc thu
ngân hàng khôi phục cho người vay và phương pháp nào sẽ đem lại lợi ích
lớn nhất cho ngân hàng trên số vốn đã và đang bị khó khăn. Một yếu tố cuối
cùng cần phải quan tâm là thái độ của chủ nợ, mà điều này xảy ra rất nhiều.
Trong việc xử lí ngoài phạm vi của toà án, sự sắp xếp các việc phải làm cần
được những người liên quan chấp nhận. Một người phản đối có thể làm cho
kế hoạch không được thực hiện phải thuyết phục của chủ nợ này rằng, họ
được lợi bằng cách cộng tác với một kế hoạch được đề nghị hơn là hoạt động
đơn phương.
* Tổ chức khai thác
Khi người vay gặp khó khăn về tài chính, ngân hàng có thể và thường
tham gia tổ chức khai thác, dĩ nhiên phải đặt trong giả thuyết người vay thật
thà thái độ của họ đối với khoản nợ và chi trả là thoả đáng. Điều này đặc biệt
đúng, nếu như người vay có vốn lớn trong doanh nghiệp, một số tài sản cố
định có giá trị, một tổ chức có thể tạo lợi nhuận đủ số lượng để hoàn trả
khoản vay đáng nghi vấn, cũng như những khoản cho vay khác cần cho việc
duy trì doanh nghiệp, nếu gnười vay không thể trả nợ theo nghĩa sự vỡ nợ thì
ngân hàng nên thực hiện thanh lí.
Hầu hết các khoản cho vay khó đòi tại ngân hàng thương mại được xử
lí bằng phương pháp khai thác, nghĩa là người vay được phép tự khắc phục
khó khăn tài chính và hoàn trả các khoản nợ ngân hàng càng nhanh càng tốt.
Vì tổ chức khai thác không phải là một công cụ pháp lí,nó có thể có một số
hình thức khác nhau giữa những khoản cho vay các biện pháp có thể bao gồm
6
Tài chính doanh nghiệp 46B
6
Đề án Lý thuyết Tài chính tiền tệ
lời khuyên trên nhiều chủ đề nhằm tác động đến khả năng tạo ra và thu lợi tức
của người vay, gia hạn hoặc điều chỉnh hợp đồng cho vay để giảm bớt quy mô
hoàn trả cấp phát thêm vốn nhằm tạo cho người vay có được vị thế tài chính
mạnh hơn ngân hàng nắm phần chủ động trong hoạt động kinh doanh nó, cho
đến khi bảo đảm rằng, khoản cho vay sẽ được hoàn trả.
Khi bất cứ khoản cho vay nào đến giai đoạn khó khăn, lập tức ngân
hàng áp dụng biện pháp để bảo đảm thế chấp và một thoả thuận bảo đảm trên
mọi tích sản khả dụng của người cho vay.
* Tổ chức thanh lý
Nếu ngân hàng thấy rõ là việc tổ chức khai thác không tiện lợi, sự
thanh lí dưới 1 trong vài hình thức có thể được coi là cách hay nhất để xử lí
một khoản cho vay đã trở thành nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn (thuộc
nhóm 4 và 5). Khi phương pháp này được lựa chọn, có nghĩa là ngân hàng đã
quyết định sau khi cần nhất tất cả mọi yếu tố kể trên người nhận thấy rằng khả
năng cải thiện tình hình tài chính của người vay là xa vời, việc gia hạn hợp
đồng cho vay hay cấp thêm vốn là mạo hiểm ngân hàng sẽ bớt được một tỷ lệ
% vốn cấp phát, biện pháp thanh lí là tối ưu nhất. Sự thanh lí thường được
nhanh chóng thực hiện trong những trường hợp tư tưởng không sẵn lòng chi
trả đã rõ, hành động lừa đảo hay không thật thà đã bộc lộ, tình trạng vỡ nợ đã
hiện ra, tình hình tài chính của người vay là vô vọng, hay không có ý muốn
trả nợ.
Có một số biện pháp thực hiện việc thanh lí
Nếu khoản cho vay được bảo đảm, có thể bán nó đi, thường thì nó
không đem lại mức giá thị trường hợp lí. Trong trường hợp khối lượng nhận
được từ việc bán vật thế chấp không đủ thanh toán nợ, ngân hàng có thể nhận
phán quyết của toà án về khoản chênh lệch phán quyết như thế cho phép ngân
hàng quyền thu thêm nếu người vay có các tích sản.
Nhân việc ngân hàng có thể thực hiện thanh lí với sự giúp đỡ của
chuyên gia tư vấn pháp luật của ngân hàng hay bộ phận liên quan đến những
7
Tài chính doanh nghiệp 46B
7
Đề án Lý thuyết Tài chính tiền tệ
khoản cho vay có vấn đề và thành viên của bộ phận tham mưu có chuyên môn
về lĩnh vực này. Cuối cùng một nhân viên thanh lí chuyên nghiệp được ngân
hàng thuê xử lí việc thanh lí.
Một hình thức thanh lí khác là tái sở hữu các hàng hoá tiêu dùng lâu
bền trong một số trường hợp tư liệu sản xuất, được bán theo hợp đồng bán có
điều kiệnvà mua lại từ một nhà buôn. Quá trình này được thực hiện bằng cách
giữ lại hàng hoá sau đó tiến hành bán với giá nào đó hy vọng có thể trả hết nợ.
Trong trường hợp ngân hàng quyết định sử dụng biện pháp xử lý để thu
hồi số nợ vaykhông bảo đảm, phán quyết cần phải có từ toà án thích hợp.
Phán quyết này cho phép nắm giữ người bán tài sản của người thiếu nợ với số
lượng phù hợp với quyết định của toà án hay trừ vào lương theo mức được
luật pháp cho phép.
Nếu ngân hàng là một trong số các chủ nợ và ai cũng muốn lấy lại tiền
và có vị thế mạnh tương ứng như ngân hàng thì một uỷ ban chủ nợ có thể
được thành lập. Cách giải quyết này không áp dụng cho trường hợp phá sản
và cũng có thể áp dụng phương pháp khai thác.
Phá sản có 2 hình thức bồi thường cơ bản cho các chủ nợ, thanh lí và
hồi phục. Phá sản có thể miễn cưỡng hay cố ý. Nó là biện pháp cuối cùng theo
quan điểm của các chủ nợ. Ngân hàng hay bất cứ chủ nợ nào khác bao giờ
cũng mong muốn nhận được phần đáng kể các khoản cho vay từ quá trình
thanh lí nhưng thực tế thường không được như mong muốn.
Trong nhiều trường hợp, nó được áp dụng khi các chủ nợ không thể đạt
thoả thuận hợp lý liên quan đến các biện pháp phải thực hiện để thu hồi được
vốn vay, hay khi 1 chủ nợ nhỏ nào đó từ chối tiến hành một thoả thuận hợp
tác hay khi người vay từ chối làm việc với chủ nợ để cố gắng giải quyết khó
khăn tài chính.
II. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP XỬ LÍ NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1. Thực trạng và giải pháp
8
Tài chính doanh nghiệp 46B
8

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×