Tải bản đầy đủ

Hoàn thiện công tác thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ trong hoạt động nhập khẩu tại Trung tâm XNK - Tổng công ty cơ khí xây dựng

LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam đang đi trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước để hòa nhập với nền kinh tế phát triển chung của thế giới. Cùng với xu
thế quốc tế hóa như hiện nay, Việt Nam muốn hòa nhập được tất cả các nền
kinh tế của các nước cũng như hòa chung sự phát triển của nền kinh tế thị
trường trên thế giới. Việt Nam cần phải có những chính sách, những chiến
lược phát triển đúng đắn, đặc biệt là chính sách đối ngoại. Đây là con đường
để Việt Nam thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế, giao lưu với nền kinh
tế của nước ngoài để đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển nhanh hơn,
toàn diện hơn.
Nền kinh tế thị trường - một nền kinh tế mở hướng ngoại, càng phát
triển thì quan hệ thanh toán càng được mở rộng và ngày càng đa dạng hơn,
chịu sự tác động mạnh của những biến động về kinh tế tài chính, tiền tệ trong
khu vực và trên thế giới. Trong bối cảnh chung đó, các công ty cần phải tìm
cho mình các bạn hàng tin cậy, các phương thức thanh toán quốc tế sao cho
phù hợp với hoạt động nhập khẩu của công ty để tránh các rủi ro hoạt động
thanh toán đem lại.
Xuất phát từ thực tế trên, trong thời gian thực tập tại Trung tâm XNK
Tổng Công ty cơ khí xây dựng, em đã chọn đề tài: "Hoàn thiện công tác thanh
toán bằng phương thức tín dụng chứng từ trong hoạt động nhập khẩu tại Trung
tâm XNK - Tổng công ty cơ khí xây dựng". Trên cơ sở phân tích về mặt lý luận

và khảo sát tình hình thực tiễn công tác thanh toán bằng phương thức tín dụng
chứng từ trong hoạt động nhập khẩu tại Trung tâm để tìm ra những vấn đề còn
tồn tại và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thanh toán chứng từ
ở Trung tâm. Kết cấu chuyên đề:
Ngoài phần mở đầu, kết luận bố cục chuyên đề chia thành 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về thanh toán quốc tế bằng phương thức tín
dụng chứng từ ở các doanh nghiệp nhập khẩu.
Chương II: Tình hình thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ
trong hoạt động nhập hẩu tại Trung tâm XNK - Tổng công ty cơ khí xây
dựng.
1 1
Chương III: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thanh toán
bằng phương thức tín dụng chứng từ.
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THANH TOÁN QUỐC TẾ BẰNG PHƯƠNG
THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ Ở CÁC
DOANH NGHIỆP NHẬP KHẨU
I. THANH TOÁN QUỐC TẾ VÀ VAI TRÒ CỦA THANH TOÁN QUỐC TẾ
1. Khái niệm thanh toán quốc tế
Trong điều kiện quốc tế hóa nền kinh tế thế giới đang diễn ra ngày càng
mạnhmẽ, mỗi quốc gia cần phải tích cực và chủ động tham gia để đạt tới vị trí
thuận lợi trong sự phân công lao động quốc tế và trao đổi thương mại quốc tế.
Điều đó có nghĩa là mỗi quốc gia cần phải phát triển mạnh mẽ lĩnh vực kinh
tế đối ngoại, bao gồm ngoại thương, hợp tác về kinh tế, khoa học công nghệ,
đầu tư quốc tế, du lịch quốc tế, thông tin liên lạc quốc tế và XNK hàng hoá…
Quá trình tiến hành các hoạt động kinh tế nêu trên tất yếu nảy sinh
những nhu cầu chi trả, thanh toán tiền tệ giữa các chủ thể ở các quốc gia khác
nhau. Từ đó nảy sinh nhu cầu thực hiện các hoạt động thanh toán quốc tế.
Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ tiền tệ, nảy sinh trên
cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức hay cá nhân nước
này với tổ chức cá nhân nước khác, hoặc giữa một quốc gia với tổ chức quốc
tế, thông qua quan hệ giữa các ngân hàng có liên hệ.
Cùng với xu hướng không ngừng mở rộng quan hệ thương mại và các
mối quan hệ khác giữa các quốc gia trên thế giới, đòi hỏi hoạt động thanh
toán quốc tế cũng phải được mở rộng, hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu phục vụ
tốt.
2. Vai trò của thanh toán quốc tế
Các hoạt động xuất - nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ không bao giờ
tách rời nhau mà chúng thường có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Việc mua
2 2


hàng xuất bán hàng nhập bằng nội tệ trên thị trường trong nước là khâu mở
đầu và kết thúc cho việc bán hàng xuất và mua hàng nhập bằng ngoại tệ trên
thị trường thế giới. Toàn bộ hoạt động xuất - nhập khẩu của một nước tạo
thành một chu kỳ khép kín, chu kỳ có dạng "Nội tệ - Ngoại tệ - Hàng nhập
khẩu". Đó là mối quan hệ giữa hàng hoá xuất khẩu và hàng hoá nhập khẩu,
giữa giá nội tệ và giá ngoại tệ. Các quan hệ hàng hoá và tiền tệ nói trên chỉ có
thể thực hiện thông qua trao đổi quốc tế.
Để đảm bảo việc thu chi ngoại tệ có kết quả tốt, các nhà kinh doanh
xuất - nhập khẩu đều phải thành thạo công tác thanh toán quốc tế vì thanh
toán quốc tế là việc chi trả tiền tệ giữa các đối tác thuộc các nước khác nhau
trong quan hệ kinh tế quốc tế.
Trong buôn bán, dù ở hình thức nào, luôn tồn tại một mâu thuẫn: người
nhập khẩu lại muốn có tiền rồi mới giao hàng. Để giải quyết, người ta thường
dùng một biện pháp thỏa hiệp đó là trả tiền đồng nghĩa với việc giao chứng từ
chứng nhận quyền sở hữu hàng hoá hay quyền kiểm soát hàng hoá không qua
bên thứ ba độc lập được cả hai bên là nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu tin
tưởng làm trung gian thực hiện việc trả tiền và giao chứng từ. Ở đây sự tin
tưởng đóng vai trò quan trọng. Các Ngân hàng với khả năng tài chính dồi dào,
uy tín cao được yêu cầu tham gia với tư cách bên thứ 3 nói trên. Ngân hàng sẽ
cam kết có điều kiện với nhập khẩu sẽ trả tiền khi họ xuất trình bộ chứng từ
phù hợp và đưa ra những quy định yêu cầu người nhập khẩu tuân thủ.
Cách thức này đảm bảo một cách hợp lý quyền lợi chính đáng của hai
bên: mua và bán.
Thanh toán bằng tín dụng chứng từ còn có một ưu điểm là các doanh
nghiệp mới bước vào kinh doanh XNK và các doanh nghiệp đã có kinh
nghiệm trong lĩnh vực này đều có thể sử dụng một cách hiệu quả.
3. Các phương thức thanh toán quốc tế
Phương thức thanh toán quốc tế là toàn bộ quá trình, cách thức nhận trả
hàng trong giao dịch, mua bán ngoại thương giữa người nhập khẩu với người
3 3
xuất khẩu. Trong quan hệ ngoại thương có rất nhiều phương thức thanh toán
khác nhau như: chuyển tiền, ghi sổ, nhờ thu, tín dụng chứng từ… mỗi phương
thức thanh toán đều có ưu và nhược điểm riêng. Vì vậy việc lựa chọn phương
thức thanh toán thích hợp phải được người nhập khẩu và người xuất khẩu bàn
bạc thống nhất, ghi vào hợp đồng mua bán ngoại thương. Mỗi phương thức là
một phương pháp đảm bảo thanh toán, việc chuyển giao"tiền thật sự" hay "chi
trả" giữa người mua và người bán được thực hiện bởi các phương thức đó.
3.1. Phương thức chuyển tiền
Đây là phương thức thanh toán đơn giản nhất, trong đó một khách hàng
ủy nhiệm cho Ngân hàng phục vụ minh trích từ tài khoản của mình một số
tiền nhất định chuyển cho một người khác ở một địa điểm nhất định và trong
một thời gian nhất định.
Ngân hàng khi thực hiện việc chuyển tiền theo ủy nhiệm được hưởng
hoa hồng và không bị ràng buộc gì đối với người mua lẫn người bán.
Việc chuyển tiền xem như hoàn tất khi thanh toán hết cho người thụ
hưởng, trước thời điểm này, số tiền trong tài khoản vẫn thuộc quyền sở hữu
của người chuyển tiền, mà người thụ hưởng không thể khiếu nại gì với ngân
hàng.
Trong quan hệ mua bán, thanh toán quốc tế, phương thức chuyển tiền
chỉ được chọn là phương thức thanh toán đối với các nhà kinh doanh xuất-
nhập khẩu, cung ứng dịch vụ có quan hệ thân thiết, tin cậy lẫn nhau, vì khâu
thanh toán này rất dễ nảy sinh việc chiếm dụng vốn của người bán, trong khi
phương thức chuyển tiền, đặc biệt là chuyển tiền điện là phương thức thanh
toán nhanh nhất hiện nay.
3.2. Phương pháp ghi sổ
Đây là phương thức thanh toán mà qua đó tổ chức xuất khẩu khi xuất
khẩu hàng hoá, cung ứng dịch vụ thì ghi nợ cho bên nhập khẩu vào một cuốn
sổ riêng của mình và việc thanh toán các khoản nợ này được thực hiện như đã
thỏa thuận.
4 4
Khi thực hiện phương thức này, tổ chức xuất khẩu đã thực hiện một
giao dịch tín dụng cho tổ chức nhập khẩu dưới dạng tín dụng thương mại.
Thông thường, phương thức này chỉ áp dụng trong thanh toán giữa 2 đơn vị
quan hệ thường xuyên và tin cậy lẫn nhau.
3.3. Phương thức thanh toán nhờ thu
Phương thức thanh toán nhờ thu hay còn gọi là ủy thác nhưng được
thực hiện theo quy tắc thống nhất về thu chứng từ thương mại do phòng
thương mại quốc tế ban hành năm 1967 và có điều chỉnh lại năm 1978.
Phương thức thanh toán nhờ thu qua đó tổ chức xuất khẩu khi đã hoàn
thành nghĩa vụ gửi hàng, giao chứng từ hàng hoá ủy thác cho ngân hàng phục
vụ mình thu hộ số tiền trên cơ sở hối phiếu do mình lập ra ở người nhập khẩu
thông qua ngân hàng phục vụ người nhập khẩu.
Trong mối quan hệ này, ngân hàng ở cả 2 bên nhà nhập khẩu lẫn nhà
xuất khẩu, chỉ tham gia với tư cách là nhà trung gian đi thu tiền hộ, có nhận
giữ chứng từu có liên quan đến hàng hoá đã gửi đi, nhưng không bị ràng buộc
trách nhiệm, phải kiểm tra chứng từ nhờ thu, cũng như việc giấy nhờ thu có
được nhà nhập khẩu chấp nhận và thanh toán hay không. Phương thức thanh
toán này hoàn toàn dựa vào sự tín nhiệm lẫn nhau giữa nhà xuất khẩu và nhà
nhập khẩu, nó có bảo đảm hơn tuy nhiên tốc độ thanh toán chậm, rủi ro cho
bên nhà nhập khẩu lớn trong trường hợp nhà xuất khẩu không chịu thanh
toán, từ chối nhận hàng vì lý do giá mua sản phẩm đó đang xuống mà người
bán không chấp nhận giảm giá và nhất là lô hàng nhập về không còn phù hợp
với thị hiếu người tiêu dùng, người bán chỉ còn cách nhà ngân hàng bên mua
lấy hàng cất vào kho, mua bảo hiểm và tìm nguồn tiêu thụ hết số hàng này.
3.3.1. Nhờ thu phiếu trơn
Nhờ thu phiếu trơn là phương thức trong đó người bán ủy thác cho
ngân hàng thu hộ tiền ở người mua căn cứ vào hối phiếu mà mình lập ra, còn
chứng từ gửi hàng thì gửi thẳng cho người mua không qua ngân hàng.
5 5
3.3.2. Nhờ thu kèm chứng từ
Nhờ thu kèm chứng từ là phương thức thanh toán trong đó bên bán ủy
nhiệm cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ tiền của người mua không chỉ căn
cứ vào hối phiếu mà còn căn cứ vào bộ chứng từ hàng hoá gửi kèm theo yêu
cầu là ngân hàng chỉ trao bộ chứng từ hàng hoá cho người mua sau khi họ đã
thanh toán tiền hoặc ký chấp nhận trả tiền trên hối phiếu.
3.4. Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ - Documentary credit
Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là một sự thỏa thuận trong
đó một ngân hàng theo yêu cầu của khách hàng sẽ trả một số tiền nhất định
cho một người khác hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký phát trong
phạm vi số tiền đó, khi người này xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ
thanh toán, phù hợp với những quy định đề ra trong thư tín dụng (do ngân
hàng mở).
Phương thức này là phương thức phổ biến nhất được các bên tham gia
hợp đồng ngoại thương ưa chuộng vì nó bảo vệ quyền lợi cho cả người bán và
người mua. Hiện nay ở Việt Nam và các nước đang phát triển tỷ trọng thanh
toán bằng L/C chiếm 80% trong tổng kim ngạch hàng hoá XNK.
II. THANH TOÁN QUỐC TẾ BẰNG PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪU
1. Các chủ thể tham gia vào quy trình thanh toán
Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là một sự thỏa thuận mà
trong đó một ngân hàng (ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách
hàng (người xin mở thư tín dụng) cam kết sẽ trả một số tiền nhất định cho
một người thứ ba (người hưởng lợi) hoặc chấp nhận hối phiếu do người thứ
ba ký phát trong phạm vi số tiền đó khi người thứ 3 này xuất trình cho ngân
hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp quy định đề ra trong thư tín dụng.
Mục đích của L/C không phải là chuyển tiền từ nước nhà nhập khẩu
sang nước nhà xuất khẩu mà nó đảm bảo quyền lợi cho nhà xuất khẩu khi
giao hàng.
6 6
Người hưởng L/C không phải là người yêu cầu mở L/C mà là bạn hàng
của người yêu cầu mở.
Trong nghiệp vụ này "credit" không chỉ bao hàm nghĩa tín dụng thông
thường mà bao hàm nghĩa "tín nhiệm".
1.1. Chức năng của tín dụng chứng từ
Trong thanh toán quốc tế, phương thức tín dụng chứng từ được sử dụng
rộng rãi đóng vai trò quan trọng thể hiện các chức năng:
- Chức năng thanh toán: thể hiện ở chỗ nó không dùng tiền mặt để
thanh toán giữa người mua và người bán.
- Chức năng đảm bảo: Tín dụng chứng từ là sự cam kết trừu tượng, độc
lập của ngân hàng mở L/C đảm bảo thanh toán cho nhà nhập khẩu ngay cả
trong trường hợp nhà nhập khẩu không có khả năng thanh toán.
1.2. Các bên tham gia và mối quan hệ pháp lý giữa các bên tham gia
trong phương thức tín dụng chứng từ.
- Người yêu cầu mở L/C:
Là người mua trong hợp đồng bán. Khi bắt đầu giao dịch thanh toán
căn cứ vào yêu cầu trong hợp đồng để làm đơn xin mở thư tín dụng rồi đến
ngân hàng đã được chỉ định hoặc tự chọn yêu cầu mở một L/C cho người thụ
hưởng. Khi nhận được bộ chứng từ phù hợp do người bán gửi tới qua ngân
hàng, người yêu cầu mở L/C dùng bộ chứng từ này đi nhận hàng và hoàn trả
tiền cho ngân hàng mở L/C.
- Người hưởng lợi:
Là người bán trong hợp đồng mua bán. Công việc của người hưởng lợi
là kiểm tra L/C do người mua mở có phù hợp với quy định của hợp đồng
không và sau khi giao hàng lập bộ chứng từ đòi tiền gửi cho người mua qua
ngân hàng làm trung gian.
- Ngân hàng mở thư tín dụng
Có thể coi là ngân hàng của người mua. Dựa trên đơn xin mở thư tín
dụng của khách hàng, ngân hàng lập một L/C rồi gửi cho người bán qua một
7 7
ngân hàng khác bằng thư, telex hoặc bằng một phương tiện liên lạc nào đó.
Khi nhận được bộ chứng từ phù hợp với quy dịnh của L/C, ngân hàng sẽ thay
người mua trả tiền cho người hưởng lợi.
- Ngân hàng thông báo
Là ngân hàng nhận điện hoặc thư của ngân hàng mở L/C và thông báo
L/C gốc này cho người hưởng lợi.
- Ngân hàng xác nhận:
Đây là ngân hàng thứ ba đứng ra đảm bảo với các bên tham gia giao
dịch thanh toán bằng phương thức L/C về khả năng thanh toán của ngân hàng
mở L/C. Ngân hàng xác nhận phải là ngân hàng lớn và có uy tín và khả năng
thanh toán hơn nhiều so với ngân hàng mở L/C.
- Ngân hàng hoàn trả
Là ngân hàng đợc mở L/C hay ngân hàng xác nhận chỉ định mình trả
tiền cho ngân hàng đòi tiền.
1.3. Quy trình thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ
Diễn giải:
(1): nhà nhập khẩu căn cứ vào hợp đồng thương mại lập đơn xin mở
thư tín dụng cho người xuất khẩu hưởng tại ngân hàng phục vụ mình.
(2): dựa trên những thông tin trong đơn xin mở L/C, ngân hàng mở L/C
lập ra một L/C trong đó ngân hàng cam kết sẽ trả tiền cho người bán nếu
người bán xuất trình được bộ chứng từ thanh toán phù hợp với quy định đã đề
ra trong L/C.
8
(2)
Ngân hàng mở thư
tín dụng
Ngân hàng
thông báo
(7)
(8)
(1(9(1(8(6(3
(4)
Người mua xin mở
L/C
Người bán, người
hưởng lợi
(5)
8
Ngân hàng mở L/C sẽ gửi bản L/C gốc đến cho người bán thông qua
ngân hàng thông báo, thường là ngân hàng đại lý của ngân hàng mở L/C ở
nước người bán. Việc thông báo này có thể được thực hiện bằng một trong
nhiều phương tiện thông tin liên lạc như: thư đảm bảo, telex, fax.
(3) Ngân hàng thông báo xác nhận L/C đã nhận văn bản và chuyển bản
L/C gốc cho người hưởng lợi.
(4) Nếu người hưởng lợi không chấp nhận các điều khoản đã đưa của
L/C thì yêu cầu người xin mở L/C sửa đổi bổ sung lại. Quy trình yêu cầu sửa
đổi là thực hiện giống như quy trình mở L/C đã nêu trên.
(5) Nếu chấp nhận L/C người hưởng lợi tiến hành giao hàng
(6) Sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng người bán hoàn tất bộ chứng
từ thanh toán theo yêu cầu đã nêu ra trong L/C gốc và các bản sửa đổi (nếu
có) xuất trình tại ngân hàng thông báo để đòi tiền ngân hàng mở L/C.
(7) Ngân hàng thông báo nhận bộ chứng từ thanh toán và chuyển cho
ngân hàng mở L/C.
(8) Ngân hàng mở L/C kiểm tra bộ chứng từ nếu thấy L/C phù hợp thì
trả tiền cho người bán thông qua ngân hàng thông báo. Nếu thấy bộ chứng từ
có sai sót, mâu thuẫn với quy định của L/C thì từ chối trả tiền và thông báo
cho các bên liên quan.
(9) Ngân hàng mở L/c chuyển bộ chứng từ thanh toán cho người xin
mở với điều kiện người này trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền.
(10) Người mua hoàn trả lại tiền cho ngân hàng mở L/C và cầm bộ
chứng từ nhận hàng. Nếu sau khi kiểm tra bộ chứng từ thanh toán người mua
phát hiện sai sót so với quy định của L/C thì có quyền từ chối hoàn trả tiền.
Trường hợp này ngân hàng mở L/C chịu trách nhiệm về hậu quả xảy ra do
không kiểm tra cẩn thận bộ chứng ừ.
2. Thư tín dụng - một công cụ quan trọng của phương thức thanh
toán tín dụng chứng từ
9 9
Thư tín dụng là một phương tiện quan trọng được sử dụng trong
phương thức thanh toán tín dụng chứng từ. Không mở được thư tín dụng thì
phương thức này không được xác lập và người bán không thể giao hàng cho
người mua. Thư tín dụng còn là một văn bản pháp lý, trong đó ngân hàng đưa
ra cam kết trả tiền cho người bán trong một thời hạn nhất định được quy định
trong L/C với điều kiện người bán làm đúng các yêu cầu của thư đó.
2.1. Nội dung của L/C
- Số hiệu của L/C: Tất cả các thư tín dụng đều có số hiệu riêng. Tác
dụng của số hiệu là để trao đổi thư từ, điện tín có liên quan đến việc thực hiện
L/C và số hiệu L/C còn để dùng ghi vào các chứng từ có liên quan.
- Địa điểm và ngày mở L/C
+ Địa điểm L/C: là ngày phát sinh cam kết của ngân hàng mở L/C viết
cam kết trả tiền cho người xuất khẩu. Địa điểm này có ý nghĩa quan trọng
trong việc chọn luật khi xảy ra tranh chấp - xung đột pháp luật về L/C đó.
+ Ngày mở L/C: là ngày bắt đàu phát sinh cam kết của ngân hàng mở
L/C với người xuất khẩu, là ngày bắt đầu thời hạn hiệu lực của L/C và cuối
cùng là căn cứ để người xuất khẩu kiểm tra xem người nhập khẩu thực hiện
mở L/C có đúng như trong hợp đồng không.
- Loại L/C
- Tên, địa chỉ những người liên đến phương thức tín dụng chứng từ.
Những người có liên quan chia làm 2 loại:
+ Các thương nhân: gồm những người nhập khẩu là người yêu cầu mở
L/C, người xuất khẩulà người hưởng lợi L/C.
+ Các ngân hàng tham gia trong phương thức tín dụng chứng từ gồm
ngân hàng mở L/C, ngân hàng thông báo, ngân hàng trả tiền, ngân hàng xác
nhận.
- Tên, địa chỉ ngân hàng mở L/C
- Tên địa chỉ người hưởng lợi
- Số tiền bằng chữ và bằng số của L/C
10 10
Số tiền của L/C vừa được ghi bằng số vừa được ghi bằng chữ và thống
nhất với nhau.
- Thời hạn hiệu ực: thời hạn trả tiền và thời hạn giao hàng ghi trong
L/C.
+ Thời hạn hiệu lực của L/C là thời hạn mà ngân hàng mở L/C cam kết
trả tiền cho người xuất khẩu nếu người xuất khẩu xuát trình bộ chứng từ trong
thời hạn đó và phù hợp với những quy định trong L/C. Thời hạn hiệu lực của
L/C bắt đầu tính từ ngày mở L/C đến ngày hết hạn hiệu lực L/C.
+ Thời hạn giao hàng cũng được ghi trong L/C và do hợp đồng mua
bán quy định như đã phân tích ở trên.
- Những nội dung về hàng hoá như tên hàng, số lượng, trọng lượng, giá
cả, quy cách, phẩm chất, bao bì, ký hiệu… được ghi trong L/C.
- Những nội dung về vận tải, giao nhận hàng hoá điều kiện cơ sở giao
hàng (FOB, CIF, CFR), nơi gửi và giao hàng, cách vận chuyển, cách giao…
đều được ghi trong L/C.
- Những chứng từ mà ngưòi xuất khẩu phải xuất trình là một nội dung
then chốt của L/C vì bộ chứng từ ghi trong L/C là một bằng chứng của người
xuất khẩu chứng minh rằng mình đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng làm đúng
những điều quy định trong L/C.
- Sự cam kết trả tiền của ngân hàng mở L/C là nội dung cuối cùng của
L/C và nó ràng buộc trách nhiệm của ngân hàng mở L/C.
- Những điều khoản đặc biệt khác: Ngoài những nội dung kể trên khi
cần thiết ngân hàng mở L/C và người nhập khẩu có thêm nội dung khác.
- Chữ ký của ngân hàng mở L/C.
L/C thực chất là một khế ước dân sự, do vậy người ký nó cũng phải là
người có đủ năng lực hành vi, pháp lý để tham gia và thực hiện quan hệ dân
luật.
2.2. Tính chất của L/C
11 11
L/C là một văn bản thể hiện sự cam kết của ngân hàng nước người mua
đói với nước người bán để thực hiện nghĩa vụ trả tiền được quy định trong
điều khoản thanh toán của hợp đồng mua bán. Cụ thể là, những nội dung cơ
bản của hợp đồng mua bán như tên hàng, số lượng, giá cả, phẩm chất… là căn
cứ duy nhất để người mua dựa vào đó làm thư yêu cầu mở thư tín dụng gửi
tới ngân hàng, mở L/C.
Tính chất độc lập của L/C thể hiện ở nghĩa vụ của ngân hàng với người
hưởng lợi. L/C không phụ thuộc vào mối quan hệ giữa người mua và người
bán. Khi trả tiền ngân hàng căn cứ vào các chứng từ do người bán xuất trình
nếu thấy các chứng từ đó phù hợp với những nội dung ghi trong L/C thì tiến
hành thanh toán. Ngân hàng không chịu trách nhiệm về hình thức, sự chính
xác, tính trung thực… không chịu trách nhiệm về tên hàng, số lượng, trọng
lượng, phẩm chất, đóng gói, giao hàng, giá trị hàng hoá ghi trên chứng từ.
2.3. Các loại thư tín dụng
- Thư tín dụng có thể hủy ngang:
Là loại thư tín dụng ngân hàng mở và người mua có quyền tự ý đề nghị
ngân hàng mở L/C sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ L/C mà không cần sự chấp nhận
của người bán. Tuy nhiên, khi hàng hoá được giao mà ngân hàng mới thông
báo lệnh hủy bỏ thì lệnh này không có giá trị.
- Thư tín dụng không hủy ngang:
Đây là loại thư tín dụng mà sau khi đã được mở thì mọi việc liên quan
đến sửa đổi, bổ sung hay hủy bỏ nó. Ngân hàng mở L/C chỉ có thể được tiến
hành trên cơ sở sự thỏa thuận của các bên liên quan. Như vậy, nếu không có
sự nhất trí của bên bán của ngân hàng xác nhận thì ngân hàng mở được phép
thực hiện theo yêu cầu của bên mua, do đó quyền lợi của bên bán được đảm
bảo.
- Thư tín dụng không hủy ngang có xác nhận:
12 12
Đây là loại L/C không hủy ngang, được một ngân hàng có uy tín hơn
đứng ra đảm bảo thanh toán tiền cho người hưởng lợi khi ngân hàng mở gặp
rủi ro nên không thể thanh toán.
- Thư tín dụng không hủy ngang miễn truy đòi:
Đây là loại L/C không hủy ngang trong đó quy định rằng sau khi đã
thanh toán cho người hưởng lợi ngân hàng mở L/C mất quyền truy đòi số tiền
trong bất cứ trường hợp nào.
- Thư tín dụng tuần hoàn:
Là loại thư tín dụng mà sau khi đã sử dụng hết giá trị của nó hoặc đã
kết thúc thời hạn hiệu lực thì nó lại có giá trị như cũ và tiếp tục tuần hoàn
trong một thời gian nhất định cho đến khi hoàn tất giá trị hợp đồng.
- Thư tín dụng chuyển nhượng:
Thường là loại L/C không hủy ngang cho phép chuyển nhượng từ
người hưởng lợi ban đầu sang một bên hay nhiều bên khác theo yêu cầu của
người hưởng lợi thứ nhất. Nó chỉ được chuyển nhượng một lần. Sự chuyển
nhượng phải được thực hiện theo các điều khoản của L/C gốc.
- L/C dự phòng: là một cái đảm bảo trả tiền ngay khi có yêu cầu lần đầu
được các ngân hàng trên thế giới sử dụng rộng rãi bên cạnh các hình thức bảo
lãnh như bảo lãnh tham dự đấu thầu, bảo lãnh bồi hoàn tiền ứng trước…
- L/C đối ứng: được áp dụng rộng rãi trong phương thức hàng đổi hàng,
hay gia công nó đảm bảo quyền lợi cho người gia công.
3. Ưu, nhược điểm của phương thức tín dụng chứng từ
3.1. Ưu điểm
Hiện nay phương thức thanh toán này được sử dụng rộng rãi, phổ biến
trong thanh toán quốc tế bởi nó đem lại lợi ích cho người mua, người bán và
ngân hàng. Trong quan hệ mua bán, người bán muốn thu hồi vốn nhanh, an
toàn số tiền bán hàng, người mua không biết số hàng hoá có được giao đúng
hợp đồng hay không, người bán khi giao hàng không biết có chắc chắn thu
được tiền hàng hay không. Biện pháp thỏa hiệp giữa hai bên là việc thanh
13 13
toán sẽ được tiến hành sau khi giao hàng, tượng trưng là các chứng từ có thể
sở hữu hàng hoá từ người bán sang người mua và ngân hàng có chức năng
trung gian thanh toán là người thích hợp nhất để thực hiện quá trình này.
Như vậy, quyền lợi của người bán được đảm bảo trên cam kết bằng L/C
của ngân hàng mở L/C nghĩa là họ xuất trình được chứng từ thanh toán phù
hợp với các điều kiện của L/C. Lúc đó người xuất khẩu được đảm bảo khỏi
những rủi ro do khả năng thanh toán không tin cậy hoặc chưa rõ ràng của
người nhập khẩu. Quyền lợi của người nhập khẩu cũng được đảm bảo vì họ
chỉ phải trả tiền dựa vào chứng từ.
Đối với ngân hàng: Tiến hành nghiệp vụ thanh toán quốc tế, ngân hàng
thu được phí dịch vụ của khách hàng. Ngoài ra ngân hàng thể hiện được chức
năng quan trọng của mình là chức năng tín dụng. Từ những lợi ích đó, trên
thực tế kim ngạch thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ luôn chiếm
tỷ trọng lớn trong thanh toán quốc tế.
3.2. Nhược điểm
Tuy có nhiều ưu điểm nhưng phương pháp tín dụng chứng từ vẫn còn
một số nhược điểm sau:
- Phương pháp này đòi hỏi một quy trình thanh toán rất tỷ mỷ, đòi hỏi
các bên tham gia phải thận trọng nhất là khâu lập và kiểm tra chứng từ. Chỉ
cần một sơ suất nhỏ trong khâu lập và kiểm tra chứng từ cũng có thể là
nguyên nhân bác bỏ việc thanh toán.
- Bộ chứng từ là căn cứ để ngân hàng trả tiền nên người mua khó loại
trừ người bán giả mạo chứng từ hoặc thay đổi chứng từ đòi tiền trong khi giao
hàng không phù hợp với bộ chứng từ xuất trình. Hay nói chính xác là người
bán có thể lừa đảo khoản tiền trong khi không thực hiện đúng hợp đồng.
- Nếu người mua không có thiện chí với người bán họ có thể tìm ra lỗi
nhỏ trên chứng từ để từ chối thanh toán mặc dù hàng giao đúng số lượng,
phẩm chất, thời hạn quy định.
14 14
- Người bán có thể khó khăn trong việc đáp ứng những đòi hỏi nghiêm
ngặt, chặt chẽ của chứng từ.
- Ngân hàng: rủi ro trong thanh toán tín dụng chứng từ sẽ làm giảm uy
tín của ngân hàng đối với khách hàng không chỉ trong nghiệp vụ thanh toán
nói riêng mà còn trong tất cả các hoạt động kinh doanh của ngân hàng nhất là
trong môi trường cạnh tranh gay gắt hiện nay.
15 15
CHƯƠNG II
TÌNH HÌNH THANH TOÁN QUỐC TẾ BẰNG PHƯƠNG THỨC
TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN HỢP
ĐỒNG NHẬP KHẨU TẠI TRUNG TÂM XNK- TỔNG CÔNG TY
CƠ KHÍ XÂY DỰNG
I. KHÁI QUÁT VỀ TRUNG TÂM XNK
1. Quá trình hình thành và phát triển của Trung tâm XNK
Tổng công ty cơ khí xây dựng (viết tắc là COMA) là một doanh nghiệp
nhà nước được thành lập theo quyết định số 993/BXD-TCLĐ ngày
20/11/1995 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng, trên cơ sở liên hiệp các xí nghiệp cơ
khí xây dựng thành lập từ năm 1975. Từ khi thành lập đến nay, Tổng công ty
đã hợp tác, liên doanh với nhiều công ty, tổ chức trong và ngoài nước để
chuyển giao công nghệ, ứng dụng những tiến bộ khoa học tiên tiến.
Trong những năm tới, Tổng công ty cơ khí xây dựng tiếp tục đầu tư
năng lực mới để trở thành một Tổng công ty hàng đầu ở Việt Nam trong lĩnh
vực chế tạo, lắp đặt các thiết bị phi tiêu chuẩn, kết cấu thép, thiết bị thi công
ngành xây dựng trên thị trường thế giới. Để làm được điều này, Tổng công ty
cơ khí xây dựng đã đề nghị lên Bộ xây dựng về việc tách phòng XNK trực
thuộc Tổng công ty để trở thành công ty con của mình. Căn cứ vào một số
Nghị định, ngày 26/072000 Bộ Xây dựng đã ra QĐTL số 1027/QĐ-BXD về
việc thành lập Trung tâm XNK trực thuộc Tổng công ty cơ khí xây dựng.
Tên giao dịch quốc tế: Import export centre.
Viết tắt là: COMA - TMEX
Khi mới thành lập, trụ sở của Trung tâm XNK đặt tại khuôn viên Công
ty xây lắp và kinh doanh vật tư thiết bị (kim 7 quốc lộ 5) xã Gia Thụy, huyện
Gia Lâm, Hà Nội.
Trong quá trình hoạt động, Trung tâm XNK đã có một số lần chuyển trụ
sở kinh doanh để giao dịch được thuận lợi và kinh doanh có hiệu quả hơn.
16 16

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×