Tải bản đầy đủ

The nobel prize in physiology or medicine 2010 is awarded to


Thụ tinh trong ống nghiệm






The Nobel Prize in Physiology or Medicine 2010 is awarded to
Robert Edwards là người được nhận giải Nobel 2010 cho việc phát triển phương pháp thụ tinh
trong ống nghiệm. Thành tựu của ông đã giúp giải quyết được vấn đề vô sinh, một vấn đề gây
ảnh hưởng to lớn đến phần lớn nhân loại, bao gồm nhiều hơn 10% các cặp vợ chồng trên thế giới.
Một em bé mới sinh đã xuất hiện trên trang nhất của rất nhiều tờ báo trên toàn thế giới vào ngày
27-7-1978. Một em bé gái với sức khỏe tuyệt vời, cô bé tên Louise. Vậy thì có gì hot ? ( “Có gì
giật gân ? ” mà thấy có gì hot nghe nó hài hơn :v ). Điều quan trọng chính là cách mà cô bé được
thụ thai. Lần đầu tiên trên thế giới, 1 đứa bé đã được sinh ra bởi 1 người phụ nữ bị chuẩn đoán là
vô sinh.
Mãi cho đến khi sự vô sinh được điều trị, sự hiểu biết về quá trình thụ tinh là bất cập, không phổ
biến, những người chịu đựng về sự bất lực thường phải đối mặt với sự phiền não kéo dài.












Sự vô sinh – Một vấn đề nan giải về tâm sinh lý

Thụ tinh trong ống nghiệm


Hơn 10% các cặp vợ chồng trên trên giới bị vô sinh. Vô
sinh bẩm sinh là vấn đề nghiêm trọng và thỉnh thoảng gây
nên vết thương lâu dài. Nghiên cứu cho thấy rằng việc vô
sinh sẽ dẫn đến việc suy giảm sức sống của người và sẽ
làm tăng sự tuyệt vọng và sẽ khiến họ cô lập với xã hội.
Tế bào trứng và tinh trùng bình thường gặp nhau tại ống
dẫn trứng, nơi diễn ra sự thụ tinh. Thụ tinh diễn ra phụ
thuộc vào nhiều nguyên nhân, bao gồm chất lượng tinh
trùng, thiếu tế bào trứng, hoặc sự tổn hại đến ống dẫn
trứng.













Vấn đề thời gian
Vào đầu những năm 1950, Robert Edwards làm luận văn tiến sĩ tại đại học Edinburgh ở
Scotland. Chủ đề của ông về sự sinh sản ở chuột. Ông bỏ ra nhiều giờ ở phòng thí nghiệm –
thường là vào đêm, Vì vào lúc đó, chuột sẽ xảy ra sự rụng trứng. Vào lúc đó, ông đã nghĩ ra ý
tưởng cho tương lai về điều trị vô sinh. Có thể vấn đề sẽ được giải quyết bằng cách chuyển sự
thụ tinh từ bên trong cơ thể người lên 1 cái đĩa ? Bằng cách đó, quá trình thụ tinh có thể diễn ra
và chướng ngại gây vô sinh sẽ biến mất.
Sau khi chuyển đến London vào cuối những năm 1950, và ông
bắt đầu nghiên cứu quá trình sinh sản ở người, R.E. tìm ra cơ
hội để kiểm tra ý tưởng 73 của ông. Với sự giúp đỡ của một vị
bác sỹ chuyên trị bệnh về sinh sản ở nữ giới, ông đã nghiên cứu
sâu vào 1 phần nhỏ của mô buồng trứng, sau đó ông có thể cô
lập một vài tế bào trứng không phát triển. Nếu tế bào trứng sẵn
sang thụ tinh, ông ấy cần phải làm chúng trưởng thành trước –
một quá trình xảy ra một cách tự nhiên bên trong cơ thể phụ nữ
mỗi tháng nhưng sẽ khó khăn khi diễn ra trong phòng thí
nghiệm.
Những nhà nghiên cứu khác đã thành công trong việc làm tế bào trứng ở thỏ trưởng thành, và cố
làm chúng thụ tinh. Nhưng những cách này không hiệu quả trên tb trứng của người, vì chúng
Từ sớm, R.E. nhận thấy rằng
sự khả thi của việc thụ tinh
ngoài cơ thể để điều trị vô
sinh.


Thụ tinh trong ống nghiệm


tuân theo 1 vòng đời khác. R.E cố làm mọi thứ, liên tục điều chỉnh mức độ hormones, môi
trường nuôi cấy, thời gian biểu, nhưng các tế bào trứng cũ
vẫn không thoát khỏi trạng thái ngủ đông và chấp nhận sự
thụ tinh. Công việc đó dường như là bị trở ngại bởi việc
thiếu tế bào trứng. Sau vài năm làm việc và chuyển đến
Cambridge, R.E. cuối cùng cũng tìm ra mấu chốt vấn đề.
Vấn đề duy nhất là Tb trứng của người phát triển không
giống với thời gian phát triển của các loài khác mà ông ấy
học. Theo R.E. thì tế bào trứng ở người cần cả ngày và đêm
để phát triển trưởng thành – nhanh gấp đôi TB trứng ở thỏ.
Ông đã tìm ra được cơ hội để sự thụ tinh này thành công.




Thí nghiệm thụ tinh trong ống nghiệm đầu tiên
Với phát hiện mới này, con đường đến với IVF “IVF = In Vitro Fertilisation : thụ tinh trong ống
nghiệm” mở rộng. R.E. , với sự hợp tác cùng nhiều đồng nghiệp, đã điều khiển được sự trưởng
thành của tế bào trứng người, để có thể chuẩn bị cho sự thụ tinh ngoài cơ thể. Ông còn xác định
được dưới điều kiện nào thì tinh trùng hoạt động và có thể thụ tinh với trứng. Vào 15-02-1969,
kết quả được công bố trên một mẩu tin của báo Nature bởi R.E và các đồng sự. Phần tóm tắt trên
trang nhất của mẫu tin rất ngắn gọn :”Tế bào trứng của người đã trưởng thành và thụ tinh bởi
tinh trùng trong ống nghiệm. Có đôi chút sử dụng lâm sang cho tế bào trứng người trong phương
pháp này”.
Phản ứng, tuy nhiên không khiêm tốn chút nào cả. Vào thời điểm đó, nghiên cứu và kế hoạch
cho việc điều trị IVF làm dấy lên niềm hứng thú , cũng như các cuộc tranh luận, và phòng thí
nghiệm sinh lý của đại học Cambridge đã bị cánh nhà báo bu lại để phỏng vấn R.E ( hoặc “bị vây
quanh bởi cánh nhà báo muốn phòng vấn R.E “ )
Sự hợp tác hiệu quả
Dù có rất nhiều tiến bộ, nhưng vấn đề vẫn còn đó : Trứng đã thụ tinh ngừng phát triển sau một
lần phân bào, và điều này gây ảnh hưởng đến các tế bào trứng đã trưởng thành trong phòng thí
nghiệm. R.E. nhận ra rằng cách duy nhất để tiến lên là dung trứng đã được thụ tinh trong buồng
trứng trước khi lấy ra. Để làm đc điều này, ông hợp tác với bác sĩ Patrick Steptoe ở bệnh viện
Oldham. Steptoe là người tiên phong trong lĩnh vực nội soi, đó là ý tưởng cho mục đích của R.E.
Patrick Steptoe là bác sĩ đã hợp tác với R.E để phát triển thí nghiệm về kĩ thuật điều trị nội khoa.
Phụ nữ trước tiên đượcđiều trị với hormones để kích thích sự trưởng thành của 1 số tế bào trứng
Tế bào trứng ở người sẵn sang thụ
tinh. Tế bào trứng bị bao quanh
bởi nhiều tinh trùng, xuất hiện
trên ảnh như những chấm nhỏ.


Thụ tinh trong ống nghiệm


Thu thập trứng. Trứng đã
được gỡ bỏ
laparoscopically

Cấy
Phôi thai được trả về tử cung và phát triển
thành bào thai

Thụ tinh ngoài cơ thể
Tinh trùng được cho vào đĩa nghiệm để thụ tinh cho trứng
trong buồng trứng của họ. Sau đó dung kĩ thuật nội soi, Patrick chiết xuất được phần nhiều trứng
từ buồng trứng. R.E. đặt những tế bào trứng trong đĩa nghiệm và trộn với tinh trùng. Trứng được
thụ tinh bây giờ chia thành nhiều khoảng thời gian và phát triền thành những phôi thai gồm 8 tế
bào.
Nghiên cứu chống lại gió
Mọi việc có vẻ hứa hẹn, nhưng nghiên cứu ngày càng gây ra tranh cãi. Nhiều giám mục và nhà
đạo đức học đưa ra rằng dự án này buộc phải dừng lại, trong khi những ng khác lại ủng hộ.
Nhiều nhà phê bình cho rằng nghiên cứu này thật đáng ngờ về mặt đạo đức, 1 trong bọn họ quan
ngại rằng trẻ em sinh ra bằng cách thụ tinh trong ống nghiệm có thể bị khuyết tật. Phần nhiều các
cợ sở khoa học cũng không tán thành nghiên cứu này. Hội đồng nghiên cứu y học Anh Quốc
nghi ngờ sự an toàn lẫn sự dài hạn trong việc thụ tinh này và đã cắt nguồn tài quỹ tài trợ nghiên
cứu.
R.E. xem xét những câu hỏi về đạo đức này với sự nghiêm túc sâu sắc . Ngay sau đó, ông ta viết
1 mẩu tin về về vấn đề và thực hiện chủ trương của hướng dẫn đạo đức nghiêm ngặt đối với các
nghiên cứu về tế bào gốc của con người và phôi. Tuy nhiên, ông xem xét về sự liều lĩnh của việc
thụ tinh trong ống nghiệm là nhỏ, và quyết định tiếp tục nghiên cứu đến khi công việc của ông
đâm hoa kết trái ( Thành công) . Quỹ đóng góp riêng đã được duyệt cho dự án tiếp tục sau nguồn
quỹ tài trợ bị rút ra.













Thụ tinh trong ống nghiệm


Robert Edwards với "em bé thụ tinh ống nghiệm"
lần thứ nhất và thứ hai, louise nâu và Alistair
macdonald. Ảnh: phòng cảnh giới
R.E và Patrick bấy giờ đang làm việc cật lực
để vượt qua chướng ngại cuối cùng: Chuyển
trứng đã thụ tinh vào trở lại cơ thể người phụ
nữ để họ có thể mang thai như dự kiến. Vào
thời điểm này, R.E. đã đi lại Cambridge và
nơi làm việc của Patrick ở bệnh viện Oldham,
gần 300km. Sau hang trăm lần thất bại và cố
gắng để làm diễn ra sự mang bầu, họ quyết
định bỏ qua phần điều trị hormone nhắm tới
kích thích buồng trứng của phụ nữ để sinh sản
nhiều tế bào trứng. Thay vào đó, họ sẽ dựa vào
một tế bào trứng duy nhất đã trưởng thành sau
chu kì kinh nguyệt tự nhiên. Bằng cách phân
tích mức độ hormone của bệnh nhân, họ đã xác
định được thời gian tối ưu cho việc thụ tinh và nâng cao khả năng để đứa bé được sinh ra.
Vào 11-1977 , Lesley và John Brown đến phòng khám sau 9 năm cố gắng ko thành để có con.
Một Tế bào trứng được thụ tinh trong ống nghiệm và nó đã phát triển thành phôi thai với 8 tế bào,
và được ghép lại vào người
mẹ . Kết quả của việc mang
thai này dẫn đến một em bé
được sinh ra từ phương pháp
thụ tinh trong ống nghiệm,
Louise Brown, sinh ra vào 25-
7-1978.
Trung tâm thụ tinh ống
nghiệm đầu tiên trên thế giới
Sức khỏe của bé L.B. thật tuyệt.
4-7-1979, việc đó đã được lặp
lại và sinh ra được 1 bé trai thụ
tinh từ ống nghiệm. Nhưng các
cơ quan nghiên cứu vẫn nghi
ngờ và không sẵn long giúp
R.E và Patrick mở phòng khám
khi mà kĩ thuật họ chưa tốt. 1
lần nữa, họ phải tiến lên với
nguồn tài chính riêng.
Trong một thái ấp bình dị trong làng Bourn ở ngoại ô Cambridge bây giờ họ mở Bourn


Thụ tinh trong ống nghiệm


Desirée,
Photo: Jacob Forsell
Phòng khám - trung tâm thụ tinh ống nghiệm đầu tiên trên thế giới. Tại Bourn Hall, Robert
Edwards và Patrick Steptoe đã phát triển kỹ thuật của họ, đồng thời đào tạo bác sĩ phụ khoa và
sinh học tế bào từ khắp nơi trên thế giới. Ủy ban đạo đức đầu tiên trên thế giới về các vấn đề liên
quan đến quan niệm hỗ trợ cũng được thành lập để phục vụ như một cái loa cho các hoạt động
này. Trong những năm 1980 các kỹ thuật thụ tinh ống nghiệm được chấp nhận rộng rãi hơn và số
trẻ thụ tinh ống nghiệm lớn hơn bao giờ hết. Năm 1986, một ngàn trẻ em đã được sinh ra sau khi
thụ tinh ống nghiệm tại Bourn Hall: khoảng một nửa của tất cả các em bé thụ tinh ống nghiệm
trên thế giới. Patrick Steptoe vẫn là Giám đốc Y khoa của Bourn trường Clinic cho đến khi ông
qua đời vào năm 1988, và Robert Edwards là giám đốc nghiên cứu của mình cho đến khi ông
nghỉ hưu.
IVF đã được cải thiện và lan rộng trên toàn thế giới
Các kỹ thuật thụ tinh ống nghiệm được thành
lập trên toàn thế giới và đã trải qua nhiều cải
tiến quan trọng .
Đối với một điều , tinh trùng cá nhân có thể
được tiêm trực tiếp vào một tế bào trứng trong
các đĩa nghiệm. Điều đó mang đến cho người
đàn ông với tinh trùng bị khiếm khuyết một
cơ hội tốt hơn của việc có con . siêu âm được
sử dụng để xác định các nang trứng có thể
chứa trứng trưởng thành, và trứng bây giờ
được lấy ra khỏi nang thông qua một kim nhỏ
hơn .
Tế bào trứng và phôi sản xuất với thụ tinh ống
nghiệm có thể được đông lạnh và lưu để sử
dụng sau . Các nhà khoa học kỹ thuật hiện
đang phát triển cho phép sử dụng tế bào trứng
đông lạnh chưa trưởng thành hoặc trưởng
thành cho thụ tinh ống nghiệm , một phương
pháp mà có thể giúp đảm bảo rằng phụ nữ có
nguy cơ bị thiệt hại buồng trứng (ví dụ như do
điều trị ung thư ) có thể có con sau này trong
đời .
IVF là một điều trị an toàn và hiệu quả. Từ 20 đến 30
phần trăm trứng thụ tinh phát triển thành trẻ em sống
và phần lớn của tất cả phụ nữ vô sinh được điều trị bằng thụ tinh ống nghiệm thành công . Nguy
cơ biến chứng , chẳng hạn như sinh non , là rất nhỏ .Hơn thế nữa, khi theo dõi dài hạn trẻ em thụ
tinh ống nghiệm đã chỉ ra chúng được khỏe mạnh như những đứa trẻ khác . Cho đến nay, khoảng

Thụ tinh trong ống nghiệm


bốn triệu trẻ em đã được sinh ra nhờ thụ tinh ống nghiệm . Louise Brown và trẻ em thụ tinh ống
nghiệm khác đã được sinh ra khỏe mạnh, và điều này có lẽ là bằng chứng tốt nhất của sự thành
công và an toàn của kỹ thuật thụ tinh ống nghiệm .
Hàng triệu lợi ích
Không phải là xã hội sẽ luôn được hưởng lợi 1 cách rõ rang ngay lập tức từ những khám phá
khoa học. Nhưng nghiên cứu của R.E thu hút sự chú ý của công chúng ngay từ đầu và tác động
tích cực của nó đối với cuộc sống của người dân hiện nay gần như rất nhiều. Hàng triệu người
thậm chí không tồn tại nếu không có đóng góp R.E.
Người đoạt giải Robert G. Edwards
Robert G. Edwards được sinh ra vào năm 1925 trong Batley, Yorkshire, Anh. Đối với hầu hết sự
nghiệp học tập của mình trong sinh lý sinh sản, ông làm việc tại Cambridge, Anh, nơi ông và
đồng nghiệp của ông cũng thành lập trung tâm thụ tinh ống nghiệm đầu tiên trên thế giới, Bourn
Hall Clinic, Robert Edwards giờ là giáo sư danh dự tại Đại học Cambridge.
Ban biên tập của năm nay sẽ giới thiệu phổ biến giải Nobel Sinh lý và Y khoa bao gồm các cố
vấn khoa học sau đây, tất cả các giáo sư tại Viện Karolinska: Göran K Hansson, Medicine,
Secretary of the Nobel Assembly; Outi Hovatta, Obstetrics and Gynaecology; Christer Höög,
Genetics; Klas Kärre, Immunology, Chairman of the Nobel Committee; Hugo Lagercrantz,
Paediatrics; Urban Lendahl, Genetics.
©Văn bản: Ola Danielsson, nhà báo y tế.
THE END

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×