Tải bản đầy đủ

Phân tích các yếu tố tác động tới tăng trưởng công nghiệp Việt Nam và những dự báo cho công nghiệp

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Để phát triển đất nước chúng ta phải đồng thời chú trọng phát triển cả
công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ. Trong đó công nghiệp vẫn là ngành giữ
vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Những năm gần đây, tỷ trọng
đóng góp của công nghiệp vào nền kinh tế quốc dân có xu hướng ngày càng
tăng cao và ổn định. Bắt đầu từ sau những năm 1986, khi nhà nước ta xoá bỏ
cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp và thực hiện công nghiệp hoá trên toàn
ngành công nghiệp thì công nghiệp nước ta đã có những thay đổi to lớn cả về
chất và lượng. Nhiều nhà máy, cơ quan, xí nghiệp quốc doanh đã tiến hành
cổ phần hoá, đi vào hoạt động với tác phong công nghiệp hơn. Và kết quả của
những chính sách trên chính là sự thay đổi một cách toàn diện thúc đẩy, sự
phát triển của nhiều ngành kinh tế khác như: Nông nghiệp, thương mại, giao
thông vận tải, dịch vụ, an ninh, quốc phòng…
Từ một nền công nghiệp kém phát triển không chỉ đối với các nước trên
thế giới mà đối với cả các nước trong khu vực, với một tỷ trọng đóng góp
khiêm tốn vào giá trị tổng sản lượng của toàn bộ nền kinh tế quốc dân thì nay
công nghiệp đã giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế. Công nghiệp không những
cung cấp hầu hết các công cụ, tư liệu sản xuất và xây dựng cơ sở vật chất cho tất cả
những ngành kinh tế mà còn tạo ra các sản phẩm tiêu dùng có giá trị góp phần phát
triển kinh tế và nâng cao đời sống của người dân trong xã hội.

Mặt khác để xoá bỏ nghèo đói, rút ngắn khoảng cách với các nước phát
triển trên thế giới cả về kinh tế và trình độ văn hoá, để phát triển kinh tế ổn
định bền vững thì cần thiết phải có một hệ thống các ngành công nghiệp hiện
đại, đa dạng trong đó các ngành công nghiệp mũi nhọn, chủ chốt phải được
quan tâm, chú ý một cách thích đáng.
Lương Thị Thu Hằng Lớp: Toán kinh tế 46
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trên thực tế, sau hơn 20 năm, từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI ( 12-1986)
với chủ trương đổi mới nền công nghiệp từ tập trung phát triển công nghiệp
nặng sang phát triển các ngành công nghiệp nhẹ, công nghiệp chế biến và
công nghiệp hàng tiêu dùng, công nghiệp Việt Nam đã có nhiều thành tựu
như: tăng trưởng công nghiệp ngày càng cao và ổn định, các sản phẩm sản
xuất ra không những đáp ứng được nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu ra
nước ngoài, cạnh tranh với các sản phẩm nước ngoài.
Dưới góc độ nghiên cứu của một sinh viên Kinh tế quốc dân, chuyên
ngành Toán kinh tế, em xin chọn đề tài: “Phân tích các yếu tố tác động tới
tăng trưởng công nghiệp Việt Nam và những dự báo cho công nghiệp ” Đề
tài đi xem xét mối quan hệ của các nhân tố đối với tăng trưởng công nghiệp,
trong các yếu tố đó yếu tố nào là quan trọng nhất quyết định tới tăng trưởng
công nghiệp. Từ đó ta đi xây dựng một mô hình tăng trưởng công nghiệp phù
hợp với điều kiện của đất nước ta hiện nay.
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Ngô Văn Mỹ và các thầy cô trong
khoa Toán Kinh Tế đã tận tình giúp đỡ em hoàn thiện đề tài này. Em cũng
xin chân thành cảm ơn các cô chú, anh chị trong vụ Thống kê công nghiệp và
xây dựng đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong công việc tại vụ và hoàn
thành tốt chuyên đề thực tập này.
Lương Thị Thu Hằng Lớp: Toán kinh tế 46
2
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG I: KHÁI NIỆM, VAI TRÒ, ĐẶC ĐIỂM CỦA
CÔNG NGHIỆP VÀ MỘT SỐ NGÀNH CÔNG NGHIỆP
CỦA VIỆT NAM
1. Khái niệm, vai trò, đặc điểm của công nghiệp
1.1. Ngành công nghiệp:
Ngành công nghiệp bao gồm các hoạt động kinh tế khai thác tài
nguyên khoáng sản sẵn có trong thiên nhiên chưa có tác động của bàn tay con
người (trừ tài nguyên rừng và thuỷ sản) và các hoạt động chế biến những sản
phẩm của ngành Nông Lâm nghiệp, Thuỷ sản và Công nghiệp thành các sản
phẩm có giá trị sử dụng mới so với giá trị sử dụng của sản phẩm ban đầu đưa


vào chế biến.
1.2. Vai trò của công nghiệp
Công nghiệp là ngành sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất rất
lớn cho xã hội, có vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Công nghiệp
không những cung cấp hầu hết các tư liệu sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất,
kỹ thuật cho tất cả các ngành kinh tế, mà còn tạo ra các sản phẩm tiêu dùng
có giá trị, góp phần phát triển nền kinh tế và nâng cao trình độ văn minh của
toàn xã hội.
Công nghiệp còn có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành
kinh tế khác như nông nghiệp giao thông vận tải, thương mại, dịch vụ và
củng cố an ninh quốc phòng. Không một ngành kinh tế nào lại không sử dụng
các sản phẩm của công nghiệp.
Công nghiệp tạo điều kiện khai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên
thiên nhiên ở các vùng khác nhau, làm thay đổi sự phân công lao động và
giảm mức độ chênh lệch về trình độ phát triển giữa các vùng lãnh thổ.
Lương Thị Thu Hằng Lớp: Toán kinh tế 46
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Công nghiệp ngày càng sản xuất ra nhiều sản phẩm mới mà không
ngành sản vật chất nào sánh được với nó vì thế tạo khả năng mở rộng sản
xuất, mở rộng thị trường lao động, tạo nhiều việc làm mới, tăng thu nhập.
1.3. Đặc điểm
Công nghiệp là một tập hợp các hoạt động sản xuất với những đặc điểm
nhất định thông qua các quá trình công nghệ để tạo ra sản phẩm.
1.3.1. Sản xuất công nghiệp bao gồm hai giai đoạn.
Sơ đồ về sản xuất công nghiệp.
1.3.2. Sản xuất công nghiệp có tính chất tập trung cao độ
Nhìn chung, sản xuất công nghiệp (trừ ngành công nghiệp khai thác
khoáng sản, khai thác gỗ…) không đòi hỏi những không gian rộng lớn. Tính
chất tập trung thể hiện rõ ở việc tập trung tư liệu sản xuất, nhân công và sản
phẩm. Trên một diện tích nhất định có thể xây dựng nhiều xí nghiệp, thu hút
nhiều lao động và tạo ra một khối lượng lớn sản phẩm.
1.3.3. Sản xuất công nghiệp bao gồm nhiều ngành phức tạp, được phân
công tỷ mỉ và có sự phối hợp giữa nhiều ngành để tạo ra sản phẩm cuối
cùng.
Công nghiệp là tập hợp của hệ thống nhiều ngành như khai thác (khoáng
sản, khai thác rừng, thuỷ sản…), điện lực, luyện kim, chế tạo máy, hoá chất,
Lương Thị Thu Hằng Lớp: Toán kinh tế 46
Giai đoạn
1
Giai đoạn
2
Nguyên liệu
Tư liệu sản xuất và
vật phẩm tiêu dùng
Sản xuất bằng
máy móc
Tác động vào
đối tượng lao
động
Chế biến
nguyên liệu
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thực phẩm… Các ngành này kết hợp chặt chẽ với nhau trong quá trình sản
xuất để tạo ra sản phẩm. Trong từng ngành công nghiệp, quy trình sản xuất
cũng hết sức chi tiết, chặt chẽ. Chính vì vậy các hình thức chuyên môn hoá,
hợp tác hoá, liên hợp hoá có vai trò đặc biệt trong sản xuất công nghiệp.
Hiện nay có rất nhiều cách phân loại ngành công nghiệp. Cách phân
loại phổ biến nhất là dựa vào tính chất tác động đến đối tượng lao động.
Theo cách này, sản xuất công nghiệp được chia làm hai nhóm chính là công
nghiệp khai thác và công nghiệp chế biến. Còn dựa vào công cụ kinh tế của
sản phẩm, sản xuất công nghiệp được chia làm hai nhóm: Công nghiệp nặng
( nhóm A) và công nghiệp nhẹ (nhóm B).
1.4. Các ngành công nghiệp
1.4.1. Công nghiệp năng lượng
Công nghiệp năng lượng là một trong những ngành kinh tế quan trọng và
cơ bản của một quốc gia. Nền sản xuất hiện đại chỉ phát triển được với sự tồn
tại của cơ sở năng lượng nhất định. Năng lượng là tiền đề của tiến bộ khoa
học - kỹ thuật.
Ngành công nghiệp năng lượng gồm có khai thác than, khai thác dầu
khí và công nghiệp điện lực.
1.4.2. Công nghiệp luyện kim
Gồm hai ngành luyện kim đen (sản xuất ra gang, thép) và luyện kim
màu (sản xuất ra các kim loại không có sắt)
1.4.2.1. Luyện kim đen
Luyện kim đen là một trong những ngành quan trọng nhất của công
nghiệp nặng, là nguyên liệu cơ bản cho ngành chế tạo máy và gia công kim
loại. Hầu như tất cả các ngành kinh tế đều sử dụng các sản phẩm của ngành
luyện kim đen. Kim loại đen chiếm trên 90% tổng khối lượng kim loại sản
xuất trên thế giới.
Lương Thị Thu Hằng Lớp: Toán kinh tế 46
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Ngành luyện kim đen sử dụng một khối lượng lớn nguyên liệu, nhiên
liệu và các chất trợ dung như quặng sắt, than cốc và đá vôi. Qui trình công
nghệ để sản xuất ra gang và thép rất phức tạp.
Ngành luyện kim đen được phát triển mạnh từ nửa sau thế kỷ XIX
cùng với việc phát minh ra động cơ đốt trong, xây dựng đường sắt, chế tạo
đầu máy xe lửa và toa xe, tàu thuỷ và sau này là máy công cụ, máy nông
nghiệp, ôtô các loại…
1.4.2.2. Luyện kim màu
Luyện kim màu sản xuất ra các kim loại không có chất sắt như đồng,
nhôm, thiếc, chì, kẽm, vàng…trong đó có nhiều loại có giá trị chiến lược.
Các kim loại màu được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp chế tạo máy, đặc
biệt là chế tạo ôtô, máy bay, kỹ thuật điện, điện tử, công nghiệp hoá chất và
cả trong các ngành kinh tế quốc dân khác như bưu chính viễn thông, thương
mại…
1.4.3. Công nghiệp cơ khí
Ngành công nghiệp cơ khí có vị trí quan trọng trong hệ thống các
ngành công nghiệp, là “quả tim của công nghiệp nặng”. Công nghiệp cơ khí
đảm bảo sản xuất các công cụ, thiết bị, máy động lực cho tất cả các ngành
kinh tế và hàng tiêu dùng cho nhu cầu xã hội.
Ngành công nghiệp cơ khí giữ vai trò chủ đạo trong việc thực hiện
cuộc cách mạng kĩ thuật, nâng cao năng suất lao động, cải thiện điều kiện
sống.
Ngành công nghiệp cơ khí được chia thành các phân ngành sau:
+ Cơ khí thiết bị toàn bộ
+ Cơ khí máy công cụ
+ Cơ khí hàng tiêu dùng
+ Cơ khí chính xác
Lương Thị Thu Hằng Lớp: Toán kinh tế 46
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Ngành công nghiệp cơ khí trên thế giới chế tạo ra đủ loại sản phẩm
phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng. Các nước kinh tế phát triển đi đầu trong
lĩnh vực này và đạt tới đỉnh cao về trình độ công nghệ. Còn các nước đang
phát triển mới như Việt Nam mới chỉ tập trung vào việc sửa chữa, lắp ráp và
sản xuất theo mẫu có sẵn.
1.4.4. Công nghệ điện tử - tin học
Công nghiệp điện tử - tin học là một ngành công nghiệp trẻ, bùng nổ
mạnh mẽ từ năm 1990 trở lại đây và được coi là một ngành kinh tế mũi nhọn
của nhiều nước, đồng thời là thước đo trình độ phát triển kinh tế - kỹ thuật
của mọi quốc gia trên thế giới.
1.4.5. Công nghiệp hoá chất
Công nghiệp hoá chất là một ngành công nghiệp nặng tương đối trẻ, phát
triển nhanh từ cuối thế kỉ XIX do nhu cầu nguyên liệu cung cấp cho các
ngành kinh tế, do sự phát triển manh mẽ của tiến bộ khoa học kỹ thuật.
Công nghiệp hoá chất hiện nay là một ngành sản xuất mũi nhọn trong hệ
thống các ngành công nghiệp trên thế giới. Nhờ những thành tựu về khoa học
công nghệ, ngành hoá chất đã sản xuất được nhiều sản phẩm mới, chưa từng
có trong tự nhiên. Chúng vừa bổ sung cho các nguồn nguyên liệu tự nhiên,
vừa có giá trị sử dụng cao trong đời sống xã hội. Ngành hoá chất có khả năng
tận dụng những phế liệu của các ngành khác để tạo ra những sản phẩm phong
phú, đa dạng, nhờ đó mà việc sử dụng các tài nguyên thiên nhiên được hợp lý
và tiết kiệm hơn.
Ngành công nghiệp hoá chất được chia thành các phân ngành chính sau:
+ Hoá chất cơ bản
+ Hoá tổng hợp hữu cơ
+ Hoá dầu

Lương Thị Thu Hằng Lớp: Toán kinh tế 46
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.4.6. Công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng
Công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng gồm nhiều ngành khác nhau, đa
dạng về sản phẩm và phức tạp về trình độ kỹ thuật, trong đó phải kể đến công
nghiệp dệt may, da giầy, nhựa, sành sứ thuỷ tinh. Sản phẩm của ngành chủ
yếu phục vụ cho nhu cầu của nhân dân.
So với các ngành công nghiệp nặng, ngành này sử dụng nhiện liệu động
lực và chi phí vận tải ít hơn, thời gian xây dựng tương đối ngắn, qui trình sản
xuất tương đối đơn giản, thời gian hoàn vốn nhanh, thu hút được lợi nhuận
tương đối dễ dàng, có khả năng xuất khẩu.
Công nghiệp dệt may là một trong những ngành chủ đạo và quan trọng
của công gnhiệp sản xuất hàng tiêu dùng. Phát triển công nghiệp dệt may có
tác dụng thúc đẩy nông nghiệp và các ngành công nghiệp nặng, đặc biệt là
công nghiệp hoá chất, đồng thời giải quyết công ăn việc làm cho người lao
động, nhất là lao động nữ.
1.4.7. Công nghiệp thực phẩm
Công nghiệp thực phẩm cung cấp các sản phẩm đáp ứng nhu cầu hằng
ngày của con người về ăn, uống. Nguyên liệu chủ yếu của ngành công nghiệp
thực phẩm là sản phẩm trồng trọt chăn nuôi thuỷ sản. Vì vậy, nó tạo điều kiện
tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, thúc đẩy nông nghiệp phát triển. Thông qua
chế biến, công nghiệp thực phẩm còn làm tăng them giá trị của sản phẩm đó,
tạo khả năng xuất khẩu, tích luỹ vốn góp phần cải thiện đời sống.
.
Lương Thị Thu Hằng Lớp: Toán kinh tế 46
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG II: TỔNG QUAN QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN
CỦA CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
1. Công nghiệp Việt Nam trước năm 1986 và chủ chương đổi mới.
1.1. Công nghiệp Việt Nam trước năm 1986:
Từ lâu đời công nghiệp Việt Nam đã có truyền thống về sản xuất các mặt
hàng như: sơn mài, gốm sứ, lụa, đồ khảm trai với các trung tâm thương mại
như: Hội An, Phố Hiến, Kinh kỳ…Tuy nhiên do hoàn cảnh lúc bấy giờ là chế
độ phong kiến trì trệ cùng với các chính sách kìm hãm sự phát triển của công
nghiệp như: chính sách trọng nông, chính sách kiềm nông, ức thương làm cho
công nghiệp không thể tách khỏi nông nghiệp và trở thành một ngành độc
lập. Thế kỷ XIX, thực dân Pháp vào nước ta xâm lược và đặt ách thống trị
của chúng nên đất nước ta, chúng đã tiến hành lần lượt hai cuộc khai thác
thuộc địa. Những chính sách khai thác thuộc địa của chúng đã khiến cho công
nghiệp Việt Nam ngày càng trở nên què quặt và phụ thuộc vào nền công
nghiệp nước ngoài. Lúc bấy giờ công nghiệp không có mấy đóng góp cho
nền kinh tế quốc dân (tỷ trọng công nghiệp rất nhỏ bé), trình độ kỹ thuật yếu
kém, lạc hậu, không đồng bộ. Nhân công lúc bấy giờ dồi dào nhưng rẻ mạt và
không được đào tạo về kỹ thuật. Pháp đã tận dụng nguồn nhân công này cùng
với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú để tiến hành khai thác khoáng
sản và sản xuất các sản phẩm ở dạng sơ chế rồi mang về chính quốc.
Chúng ta đuổi Pháp về nước với Cách mạng Tháng tám (1945), sau đó
nước Việt Nam dân chủ ra đời thì không lâu sau đó chúng lại quay trở lại
xâm lược một lần nữa dưới sự bảo trợ của khối Liên Minh là: Mỹ và Anh.
Công nghiệp Việt Nam thời kỳ kháng chiến kiến quốc chủ yếu sản xuất phục
vụ nhu cầu cho kháng chiến và nhu cầu sinh hoạt tối thiểu của nhân dân.
Lương Thị Thu Hằng Lớp: Toán kinh tế 46
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu,
miền Bắc giành được độc lập bắt tay vào xây dựng và khôi phục kinh tế từ
năm 1955 – 1960. Bên cạnh công nghiệp khai thác nguyên liệu, sửa chữa thì
miền Bắc còn có thêm công nghiệp sản xuất hàng tiêu dung và tư liệu sản
xuất bắt đầu đi vào hoạt động cung cấp cho nhu cầu của nhân dân miền Bắc
đồng thời chi viện cho đồng bào miền Nam.
Năm 1960, với Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao Động
Việt Nam, thời kỳ công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa ra đời , với chủ trương “
kết hợp công nghiệp với nông nghiệp, lấy công nghiệp nặng làm nền tảng, ưu
tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển
nông nghiệp và công nghiệp nhẹ”.
Với việc thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất từ 1961 – 1965, chống
chiến tranh phá hoại của Mỹ… công nghiệp Việt Nam bắt đầu thu được
những kết quả ban đầu đáng khích lệ: Giá trị tổng sản lượng công nghiệp
năm 1965 chiếm 39.6% tổng sản phẩm xã hội, chiếm 22.3% thu nhập quốc
dân và chiếm 56.5% giá trị sản lượng công nghiệp – nông nghiệp.
Đến năm 1975, công nghiệp thu hút 11.7% lao động đạt 41.5% sản phẩm
xã hội, 28% thu nhập quốc dân và 56% giá trị tổng sản phẩm công nghiệp và
nông nghiệp.Chuyển dịch cơ cấu công nghiệp theo hướng tăng dần tỷ trọng
của nhóm ngành A so với nhóm ngành B.
Với đại thắng mùa xuân năm 1975, đất nước ta hoàn toàn giải phóng trên
cả hai miền Bắc, Nam. Nhiệm vụ nặng nề lúc này là phải cải tạo, xây dựng
lại kinh tế miền Nam, củng cố kinh tế miền Bắc, và hợp nhất kinh tế hai miền
thành một nền kinh tế chung. Trong điều kiện tình hình đất nước chưa ổn
định, tư tưởng còn mang nặng tính chủ quan, duy ý chí, Đại hội Đảng lần thứ
IV (12 – 1976) với chính sách kinh tế thời chiến tiếp tục được duy trì là “ ưu
tiên phát triển công nghiệp nặng dựa trên phát triển nông nghiệp và công
Lương Thị Thu Hằng Lớp: Toán kinh tế 46
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
nghiệp nhẹ” càng ngày càng làm cho sản xuất yếu kém, sa sút hơn trước, để
phát triển công nghiệp nặng ta phải đầu tư lớn nhưng hiệu quả mang lại
không cao. Kết quả là nhiều mặt hàng tiêu dùng thiếu, các chỉ tiêu kế hoạch
đều không đạt được.
Trước hoàn cảnh đó, Đại hội Đảng lần thứ V chủ trương “ cần tập trung
phát triển nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu…ra sức đẩy
mạnh hàng tiêu dùng và tiếp tục xây dựng một số ngành công nghiệp nặng
quan trọng…”. Nhờ có chủ trương trên mà đến năm 1985, giá trị sản lượng
toàn ngành công nghiệp tăng 61.3% so với năm 1978 và tăng 57% so với
năm 1980, đóng góp 42.3% tổng sản phẩm xã hội, 28.2% tổng thu nhập quốc
dân.
Với những thay đổi mang tính tích cực bước đầu này, để có thể đạt được
những thắng lợi to lớn hơn trong những giai đoạn sau này thì công nghiệp
Việt Nam cần khắc phục những khuyết điểm, sửa chữa những sai lầm về
chính sách và đường lối chỉ đạo.
1.2. Chủ trương đổi mới:
Từ lịch sử của công nghiệp Việt Nam, ta có thể thấy công nghiệp Việt
Nam hình thành khá muộn so với nền công nghiệp thế giới. Đến năm 1945,
khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời thì nó mới thực sự trở thành một
ngành độc lập.
Công nghiệp Việt Nam có một xuất phát điểm thấp, cả về mặt kỹ thuật,
công nghệ lẫn khả năng ứng dụng và môi trường kinh tế để có thể phát triển
nhanh, mạnh, vững chắc.
Mặt khác, những chủ chương, chính sách không phù hợp thậm chí là sai
lầm sau ngày giải phóng không những không ưu tiên phát triển công nghiệp
mà còn làm nó trở nên cộc lệch với khả năng và trình độ của Việt nam lúc
bấy giờ dẫn đến sự không phù hợp và đã gây ra khủng hoảng kinh tế.
Lương Thị Thu Hằng Lớp: Toán kinh tế 46
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Tất cả đã là những chướng ngại vật ngăn cho kinh tế Việt Nam nói chung
và ngành công nghiệp Việt Nam nói riêng tăng trưởng và phát triển để bắt
nhịp cùng các nước trong khu vực và trên thế giới. Có thể nói nền kinh tế
Việt Nam nói chung và ngành công nghiệp Việt Nam nói riêng đã bị tụt hậu
so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Công nghiệp Việt Nam rất
cần một cú huých thật mạnh để có thể bật dậy và tiến những bước đi vững
chắc.
Trước vấn đề đặt ra như vậy, Đại hội lần thứ VI của Đảng (12-1986) đã
đề ra đường nối đổi mới toàn diện nhằm đưa đất nước thoát khỏi khủng
hoảng, đi vào ổn định và phát triển. Đại hội xác định: “Nhiệm vụ bao trùm và
mục tiêu tổng quát của những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là ổn
định mọi mặt kinh tế xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho
việc đẩy mạnh Công nghiệp hoá Xã hội chủ nghĩa trong thời gian tiếp theo”
Đại hội đã chỉ rõ: “ Phải khai thác mọi khả năng của các thành phần kinh
tế liên kết với nhau, trong đó kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo, kiên
quyết xoá bỏ cơ chế tập trung quan lieu bao cấp, hình thành cơ chế kế hoạch
hoá hạch toán theo phương thức hạch toán kinh doanh XHCN, sử dụng đúng
đắn quan hệ hàng hoá tiền tệ, quản lý bằng phương pháp kinh tế là chủ
yếu.Căn cứ vào định hướng chung đó, phải bố trí cơ cấu kinh tế, điều chỉnh
lớn cơ cấu đầu tư xây dựng cơ bản, xác định lại vị trí ưu tiên của các ngành
sản xuất, đặt sản xuất nông nghiệp lên vị trí hàng đầu gắn liền với đề cao vai
trò của công nghiệp nhẹ và tiểu, thủ công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và
hàng xuất khẩu. Việc phát triển công nghiệp nặng và xây dựng kết cấu hạ
tầng phải phục vụ các mục tiêu kinh tế, quốc phòng trong chặng đường đầu
tiên, không bố trí công nghiệp nặng vượt quá điều kiện thực tế, khả năng cho
phép. Đại hội chủ chương công bố khuyến khích nước ngoài đầu tư vào nước
Lương Thị Thu Hằng Lớp: Toán kinh tế 46
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
ta dưới mọi hình thức, nhất là đối với các ngành và cơ sở đòi hỏi kỹ thuật
cao, làm hàng xuất khẩu”
Các biện pháp trên cho thấy, Đại hội VI đã có những bước đi rõ ràng, cụ
thể cho ngành công nghiệp, chủ chương thực hiện mô hình CNH theo kiểu cũ
sang mô hình CNH theo kiểu mới phù hợp với điều kiện của đất nước và yêu
cầu của thời đại. Nó còn phát huy tác dụng trong việc ngăn chặn khủng
hoảng kinh tế, kìm hãm lạm phát và đưa Việt Nam bước vào giai đoạn phát
triển kinh tế ổn định.
Từ ngày thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng thì công nghiệp Việt
Nam đang có những bước đi đúng hướng, ngày càng tăng trưởng và phát
triển ổn định, có những đóng góp tích cực và ngày càng nhiều cho sự tăng
trưởng và phát triển của nền kinh tế. Không những thế công nghiệp cũng đã
đạt được nhiều thành tựu nổi bật như: tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công
nghiệp bình quân khá cao, tỷ trọng công nghiệp trong tổng sản phẩm quốc
nội liên tục tăng, chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp theo hướng tăng dần
tỷ trọng ngành công nghiệp chế biến. Các khu công nghiệp, trung tâm công
nghiệp hình thành ngày càng nhiều tại các vùng kinh tế trọng điểm. Công
nghệ sản xuất và chế biến ngày càng hiện đại. Có thể nói công nghiệp thực sự
phát triển không chỉ trong nội bộ ngành công nghiệp mà sự phát triển của
công nghiệp còn tạo động lực thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế.
Công nghiệp có mặt trong cả nông nghiệp và dịch vụ, hỗ trợ cho sự phát triển
các ngành khác, tạo sự chuyển biến cả về cơ cấu ngành, cơ cấu lao động và
cơ cấu vùng.
2. Công nghiệp Việt Nam từ năm 1986 dến nay.
Sau 20 năm đổi mới và phát triển, nước ta đạt được những thành tựu hết
sức to lớn về kinh tế - xã hội, tạo ra sự thay đổi sâu sắc. Ngành công nghiệp
đã có bước phát triển vượt bậc, cơ sở vật chất kỹ thuật và năng lực sản xuất
Lương Thị Thu Hằng Lớp: Toán kinh tế 46
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
được tăng cường, nhiều ngành công nghiệp mới có kỹ thuật công nghệ cao ra
đời, môi trường đầu tư cởi mở, nhiều thành phần kinh tế cùng phát triển.
Nhịp độ sản xuất công nghiệp đạt tốc độ tăng cao và ổn định, bình quân 20
năm (1986 – 2005) tăng 12.3%, bằng 1.7 lần tốc độ tăng bình quân của 20
năm trước đổi mới (1966 – 1985). Những thành tựu quan trọng của quá trình
phát triển công nghiệp trong 20 năm đổi mới là:
2.1. Cơ sở vật chất kỹ thuật được tăng cường, năng lực sản xuất của ngành
công nghiệp ngày càng lớn mạnh.
Nguồn vốn sản xuất kinh doanh và giá trị tài sản cố định tăng khá nhanh.
Đến đầu năm 2005 tổng vốn sản xuất kinh doanh thuộc quyền sở hữu và sử
dụng của các cơ sở công nghiệp là 760508 tỷ đồng, bằng 45.7 lần năm 1990,
tăng bình quân 31.4%/năm, nếu tính trong 5 năm gần đây tăng 20.3%, trong
đó:
- Khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 26.4%/năm (5 năm gần đây tăng
17.3%).
- Khu vực ngoai quốc doanh tăng 36.2%/năm (5 năm gần đây tăng
36.0%).
- Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 32.8%/năm (5 năm gần đây tăng
17.1%).
Sự gia tăng và tích tụ vốn được tập trung vào ngành công nghiệp chế biến,
tăng bình quân 37.1%/năm, tỷ trọng năm 1990 chiếm 40.7%, đến đầu năm
2005 chiếm 73.8%, trong đó sản xuất thực phẩm đồ uống chiếm 12.8%; Dệt,
may 9.2%; Da giầy 4.2%, sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim 9.1%, sản
xuất hoá chất 5.9%. Ngành công nghiệp khai thác mỏ chiếm 9.4%, trong đó
khai thác dầu khí chiếm 7.6%. Ngành sản xuất điện tăng bình quân 27.3%,
chiếm 15.4%.
Lương Thị Thu Hằng Lớp: Toán kinh tế 46
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Xét phân bố theo vùng và địa phương, vốn được phân bố chủ yếu vào các
vùng công nghiệp tập trung là Đông Nam Bộ, năm 2005 chiếm 51.2%, trong
đó Thành Phố Hồ Chí Minh chiếm 21.2%, Đồng Nai 10.2%, Bà Rịa – Vũng
Tàu 11.4%, Bình Dương 7.4%; Vùng đồng bằng song Hồng năm 2005 là
19.4%, trong đó thành phố Hà Nội chiếm 8.5%, thành phố Hải Phòng 3.1%,
vùng đồng bằng sông Cửu Long chiếm 4.8%.
Giá trị tài sản cố định là biểu hiện tổng quát của trình độ kỹ thuật công
nghệ cũng được tăng nhanh theo xu hướng tăng của vốn.
Đến đầu năm 2005 tổng giá trị tài sản cố định của các cơ sở công nghiệp
là 416340 tỷ đồng, bằng 29.3 lần năm 1990, tăng bình quân từ năm 1990 –
2005 là 27.3%/năm, trong đó:
- Khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 39.2%/năm.
- Khu vực ngoài quốc doanh tăng 18.5%/năm.
- Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 42.3%/năm.
Cũng như vốn sản xuất, giá trị tài sản cố định cũng được tập trung vào
ngành công nghiệp chế biến tới 66.5%, và phân bố chủ yếu vào vùng Đông
Nam Bộ (50.8%) (trong đó: thành phố Hồ Chí Minh 19.2%, Đồng Nai 9.7%,
Bà Rịa Vũng Tàu 14.2%, Bình Dương 6.7%); Vùng đông bằng sông Hồng
chiếm 16.7%, trong đó thành phố Hà Nội 6.4%, thành phố Hải Phòng 2.7%;
Vùng đồng bằng sông Cửu Long chiếm 3.8%, 5 vùng còn lại chiếm 28.8%.
Cơ sở vật chất kỹ thuật được tăng cường tạo điều kiện phát triển, mở rộng
năng lực sản xuất. Số lượng cơ sở sản xuất tăng từ 313293 cơ sở năm 1985
lên 768920 cơ sở đầu năm 2005, bình quân mỗi năm tăng thêm 23980 cơ sở.
Trong đó:
- Số doanh nghiệp Nhà nước giảm từ 3050 doanh nghiệp xuống 1359
doanh nghiệp (mỗi năm giảm 89 doanh nghiệp).
Lương Thị Thu Hằng Lớp: Toán kinh tế 46
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Cơ sở ngoài quốc doanh tăng từ 310243 cơ sở năm 1985 lên 612959 cơ
sở đầu năm 2005 ( mỗi năm tăng 15135 cơ sở).
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài năm 1985 chưa có nhưng đầu
năm 2005 đã có 2351 doanh nghiệp.
Cùng với số cơ sở tăng lên, số lao động cũng tăng từ 2510274 người năm
1985 lên 4932217 người đầu năm 2005, bình quân mỗi năm tăng 127471
người, trong đó:
- Khu vực doanh nghiệp nhà nước đầu năm 2005 là 889521 người (bình
quân mỗi năm tăng 7976 người).
- Khu vực ngoài quốc doanh (kể cả cơ sở cá thể) đầu năm 2005 là
3069365 người (bình quân mỗi năm tăng 51228 người).
Trong 3 khu vực trên, lao động làm việc ở khu vực ngoài quốc doanh
chiếm 62.2% ( trong khi vốn chiếm 21.9%, tài sản cố định chiếm 18.5% và
giá trị sản xuất chiếm 26.9%), thể hiện ý nghĩa giải quyết việc làm của khu
vực này rất lớn.
Đi kèm với số cơ sở và lao động tăng lên, nguồn vốn và tài sản cố định
được bổ sung lớn đã tạo ra năng lực sản xuất của nhiều sản phẩm mới như:
khai thác dầu thô, khí đốt tự nhiên, sản xuất ô tô, xe máy, các thiết bị gia đình
cao cấp: điều hoà nhiệt độ, tủ lạnh , máy giặt, lắp ráp máy tính, thiết bị chính
xác, vật liệu xây dựng…và mở rộng năng lực sản xuất của nhiều ngành công
nghiệp lên từ 5 đến 70 lần so với năm 1985 như: Sản xuất xi măng 17.4 lần,
thép 53.3 lần, bia 15.5 lần.
Có thể nói trong 20 năm đổi mới và phát triển, ngành công nghiệp được
đầu tư lớn, tích tụ cao, tạo ra năng lực sản xuất lớn gấp nhiều lần so với 20
năm trước đó. Vì thế, sản xuất công nghiệp đạt được những kết quả mang
tính bước ngoặt, tăng trưởng cao và ổn định, chuyển dịch cơ cấu theo hướng
tích cực.
Lương Thị Thu Hằng Lớp: Toán kinh tế 46
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2.2. Những kết quả đạt được qua 20 năm phát triển:
2.2.1. Sản xuất tăng trưởng cao và ổn định.
Sản xuất công nghiệp thời kỳ 1986 – 2005 có tốc độ tăng trưởng bình
quân cao nhất trong 50 năm lại đây, toàn ngành tăng bình quân 12.3%/năm,
20 năm trước đó (1966 – 1985) chỉ tăng 7.2%/năm. Trong đó, thời kỳ 5 năm
sau tăng cao hơn thời kỳ 5 năm trước, cụ thể:
- 1986 – 1990 tăng bình quân 5.9%/năm.
- 1991 – 1995 tăng bình quân 13.7%/năm.
- 1996 – 2000 tăng bình quân 13.9%/năm.
- 2001 – 2005 tăng bình quân 16.0%/năm.
Các năm từ 1991 – 2005 đều tăng liên tục với năm tăng thấp nhất là
10.4% (năm 1991) và năm cao nhất 17.5% (năm 2000), các năm khác đều
tăng từ trên 11% đến 17.2%. Trong đó:
Khu vực doanh nghiệp Nhà nước có mức tăng trưởng thấp nhất và đang
có xu hướng giảm dần về mức độ gia tăng kể từ năm 1991 đến nay, năm cao
nhất 1992 đạt 16.1%, năm 1995 còn 14.9%, năm 2000 là 13.2%, năm 2002
tăng 12.5%, năm 2003 tăng 12.7%, năm 2004 tăng 11.9% và năm 2005 tăng
8.7%, bình quân 1986 – 2005 tăng 10.4% năm ( doanh nghiệp Nhà nước do
trung ương quản lý tăng bình quân 11.7%/năm, do địa phương quản lý tăng
bình quân 7.4%/năm)
Doanh nghiệp Nhà nước tăng thấp và giảm dần là chủ trương sắp xếp
doanh nghiệp nhà nước, hạn chế tăng thêm doanh nghiệp mới, những daonh
nghiệp hiện có được cổ phần hoá và chuyển qua khu vực ngoài quốc doanh
hoặc giả thể (năm 2000 là 95 doanh nghiệp, năm 2001: 86 doanh nghiệp, năm
2002: 115 doanh nghiệp, năm 2003: 146 doanh nghiệp, năm 2004: 162 doanh
nghiệp, sơ bộ năm 2005 khoảng: 180 doanh nghiệp). Số doanh nghiệp Nhà
nước cổ phần hoá hàng năm có tới 80% là doanh nghiệp Nhà nước địa
Lương Thị Thu Hằng Lớp: Toán kinh tế 46
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
phương, nên nhịp độ tăng trưởng của khu vực doanh nghiệp Nhà nước địa
phương ngày càng thấp so với nhịp độ tăng của doanh nghiệp Nhà nước trung
ương. Mặc dù số doanh nghiệp qua các năm giảm dần từ 3050 doanh nghiệp
ở năm 1985 đến năm 2004 còn 1359 doanh nghiệp, dự kiến năm 2005
khoảng 1253 doanh nghiệp, nhưng nhịp độ sản xuất hàng năm vẫn tăng là
kết quả có tính cực, thể hiện hiệu quả của chính sách và các biện pháp tổ
chức sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước của Đảng và Chính phủ.
Khu vực công nghiệp ngoài quốc doanh tăng bình quân 11.8%, 5 năm
gần đây là khu vực luôn đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất so với các khu vực
khác, năm 2001 tăng 21.5%, năm 2002 tăng 18.3%, năm 2003 tăng 23.3%,
năm 2004 tăng 23.6% và năm 2005 tăng 25.8%, bình quân 5 năm tăng
22.5%, chủ yếu do phát triển mới và chuyển đổi từ doanh nghiệp Nhà nước
cổ phần hoá chuyển qua.
Năm 2000, Luật Doanh Nghiệp có hiệu lực đã tạo động lực cho các
doanh nghiệp ngoài quốc doanh phát triển khá nhanh ở các loại hình doanh
nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần. Cũng trong
thời gian này, các biện pháp đẩy mạnh cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước
được Chính Phủ và các địa phương thực hiện rất tích cực. Vì vậy, từ cuối
năm 2000 đến đầu năm 2005 số doanh nghiệp công nghiệp ngoài quốc doanh
tăng 6578 doanh nghiệp, bình quân mỗi năm tăng thêm 1644 doanh nghiệp.
Ngoài ra, các cơ sở cá thể trong 20 năm tăng gần 45 vạn cơ sở, bình quân mỗi
năm tăng trên 2.2 vạn cơ sở.
Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài mới chính thức có trong cơ cấu của
công nghiệp nước ta từ năm 1989, nhưng phát triển khá nhanh cả về qui mô
và tốc độ sản xuất, 15 năm liên tục tăng, năm cao nhất tăng 45.6% (năm
1991), năm thấp nhất 8.8% (năm 1995), bình quân 15 năm tăng 20.8%/năm.
Trong 10 năm lại đây tăng bình quân 19.6%/năm.
Lương Thị Thu Hằng Lớp: Toán kinh tế 46
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài có ưu thế hơn hẳn doanh nghiệp nhà
nước và doanh nghiệp ngoài quốc doanh về yếu tố kỹ thuật công nghệ, quan
hệ kinh tế đối ngoại và kinh nghiệm quản lý kinh doanh, hiện đang chiếm giữ
tỷ trọng cao trong nhiều ngành công nghiệp quan trọng như: Dầu khí khu vực
có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 99.9%, dệt, may da giầy chiếm 40,5%, sản
xuất thực phẩm đồ uống chiếm 24,6%, hoá chất 37,7%, sản xuất cao su và
platic chiếm 25,6%, sản xuất xi măng 29.6%, sản xuất thép 31.5%, sản xuất
điện tử 44.8%, lắp ráp ô tô 84.2%, sản xuất phương tiện vận tải khác 75.0%.
Triển vọng khu vực có vốn đầu tư nước ngoài sẽ là khu vực phát triển nhanh
với tiềm năng lớn, trở thành khu vực có tỷ trọng cao nhất, thậm chí cao hơn
cả tỷ trọng của khu vực kinh tế trong nước.
Những ngành công nghiệp có công nghệ cao (gồm sản xuất thiết bị máy
móc, sản xuất thiết bị điện, điện tử, thiết bị chính xác, sản xuất máy văn
phòng, máy tính, sản xuất phương tiện vận tải) có xu hướng tăng nhanh nhất
(20 năm tăng bình quân 14.6%/năm); Tiếp theo là các ngành có công nghệ
trung bình (gồm: hoá chất, cao su, plastic, sản xuất sản phẩm từ chất khoáng
phi kim loại, sản xuất kim loại và các sản phẩm từ kim loại (trừ máy móc
thiết bị) tăng bình quân 12.2%/năm. Tăng chậm nhất là các ngành có công
nghệ thấp (gồm thực phẩm đồ uống, thuốc lá, thuốc lào, dệt, may, da giầy,
sản xuất giấy và các sản phẩm từ gỗ, giấy, sản xuất giường tủ, bàn ghế, sản
xuất sản phẩm tái chế, xuất bản, in) tăng bình quân 9.8%/năm.; Đó là xu
hướng tăng trưởng tích cực, phù hợp với điều kiện thực tế của nước ta, nó
phản ánh quá trình cơ cấu lại ngành công nghiệp theo hướng ngày càng mở
rộng và phát triển nhanh hơn các ngành công nghiệp có công nghệ cao, để tạo
ra những sản phẩm tiêu dùng có giá trị cao, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày
một nâng lên ở trong nước và tham gia xuất khẩu như: ô tô, sản phẩm điện tử,
đóng tàu…Đồng thời phát triển các ngành có công nghệ trung bình nhằm giải
Lương Thị Thu Hằng Lớp: Toán kinh tế 46
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
quyết nhu cầu trong nước, hạn chế nhập khẩu, tận dụng thế mạnh và điều
kiện sản xuất cho phép như: sản xuất phân bón, hoá mỹ phẩm, cao su, plastic,
sản xuất vật liệu xây dựng, thuỷ tinh gốm sứ, sản xuất kim loại…Mặt khác,
vẫn duy trì nhịp độ tăng trưởng ở mức cao các ngành có công nghệ thấp để
giải quyết cơ bản những sản phẩm tiêu dùng thông thường về ăn, mặc, văn
hoá phẩm và đồ dùng thiết yếu trong nhà, cũng như tạo thêm nhiều việc làm
cho xã hội, vì các ngành có công nghệ thấp đều sử dụng nhiều lao động như:
dệt may, da giầy, sản xuất và chế biến thực phẩm, sản xuất các sản phẩm từ
gỗ, tre, nứa, sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy. Đó cũng là mục tiêu của công
nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước.
Quan hệ tăng trưởng giữa các nhóm ngành sản xuất từ nguyên vật liệu
ban đầu với nhóm ngành chủ yếu là công nghệ lắp ráp cũng khác nhau và
diễn ra theo xu hướng hoạt động gia công lắp ráp tăng rất nhanh so với các
ngành từ nguyên vật liệu ban đầu. Nếu năm 1985 những ngành chủ yếu từ
nguyên vật liệu ban đầu chiếm 83.0%, đến năm 2005, những ngành chủ yếu
từ nguyên vất liệu ban đầu chiếm 78.0%.
Việc phát triển nhanh các ngành hoạt động gia công lắp ráp trong thời
gian qua là cần thiết, có hiệu quả về nhiều mặt, trước mắt đáp ứng cho nhu
cầu tiêu dùng sản phẩm công nghiệp trong nước, giảm đáng kể ngoại tệ dùng
cho nhập khẩu hàng tiêu dùng hàng năm, giải quyết công ăn việc làm cho
người lao động, tăng thu ngân sách nhà nước và tạo cơ sở ban đầu để dần dần
tiến đến nội địa hoá sản xuất trong nước.
Những vùng và địa phương có qui mô sản xuất công nghiệp chiếm tỷ
trọng lớn đều có tốc độ tăng trưởng cao như: Vùng đồng bằng sông Hồng
tăng bình quân 14.0%/năm, trong đó thành phố Hà Nội tăng 11.8%/năm,
thành phố Hải Phòng tăng 14.3%/năm. Vùng miền Đông Nam Bộ tăng bình
quân 14.0%/năm, trong đó thành phố Hồ Chí Minh tăng 11.1%, Bình Dương
Lương Thị Thu Hằng Lớp: Toán kinh tế 46
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
tăng 21.8%, Đồng Nai tăng 16.7%, Bà Rịa – Vũng Tàu tăng 29.0%. Các vùng
còn lại có tốc đọ tăng như sau: Vùng Bắc Trung Bộ tăng bình quân
10.7%/năm, vung duyên hải miền Trung tăng 10.4%/năm, vùng đồng bằng
sông Cửu Long tăng 9.3%/năm, vùng Tây Bắc tăng 11.2%/năm, Tây Nguyên
tăng 11.3%/năm, vùng Đông Bắc tăng 9.8%/năm.
Qua mức tăng trưởng giữa các vùng và địa phương cho thấy những trung
tâm công nghiệp lớn như thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương,
Hà Nội, Hải Phòng có điều kiện phát triển thuận lợi, thu hút được nhiều nhà
đầu tư, vì thế nhịp độ tăng trưởng trong những năm 1986 – 2005 khá cao và
ổn định. Những vùng miền núi, Tây Nguyên và một số tỉnh khó khăn về địa
lý (Hà Tĩnh, Quảng Ngãi, Phú Yên) đều có mức tăng trưởng thấp, do có vốn
công nghiệp dã nhỏ bé, nghèo nàn thì nay vẫn thấp kém, vị trí ngành công
nghiệp chưa có gì được cải thiện.
Một số sản phẩm chủ yếu so với năm 1985 tăng cao như: Điện bằng 10.2
lần, than 5.8 lần, thép 63.2 lần, lắp ráp tivi 129,7 lần, phân hoá học 4,3 lần,
lốp ôtô 106.5 lần, kinh xây dựng 53.4 lần, xi măng 18.7 lần, giấy 11.5 lần,
sản phẩm may mặc 13.7 lần, đường 2.9 lần, bia 16.5 lần, xà phòng bột giặt
8.4 lần. Nhiều sản phẩm năm 1985 chưa có thì đến năm 2005 đã có mức sản
xuất khá cao, đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước, có một số sản
phẩm xuất khẩu như: Khai thác dầu thô năm 2005 đạt 18.5 triệu tấn, khí đốt
6.44 tỷ m
3
, lắp ráp ô tô 64033 cái, xe máy 2.02 triệu cái, tủ lạnh 13.7 triệu
cái, máy giặt 528 nghìn cái, máy điều hoà không khí 131 nghìn cái, bếp ga
1.6 triệu cái…Nhờ vậy đã giải quyết được cơ bản nhu cầu tiêu dùng sản
phẩm công nghiệp trong nước, giảm tỷ trọng nhập khẩu hàng tiêu dùng trong
tổng gía trị nhập khẩu từ 15.2% (năm 1985) xuống còn 5% (năm 2004). Nâng
mức bình quân đầu người của một số sản phẩm quan trọng ngang mức trung
bình và khá so với các nước ASEAN như:
Lương Thị Thu Hằng Lớp: Toán kinh tế 46
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Sản phẩm
Đơn vị
tính
1985 2005 So sánh (lần)
- Điện
- Than đá
- Dầu mỏ thô
- Thép
- Xi măng
- Giấy
- Đường
- Bia
- Thuốc viên
các loại
Kwh
Kg





Lít
Viên
87.2
93.9
-
1.03
25.1
1.3
6.7
1.4
119
641.5
389.7
220
46.8
337.5
10.8
14.1
17.2
354
7.4
4.1
-
45.6
13.4
8.2
2.1
11.9
3.0

2.2.2. Chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp theo hướng tích cực:
Cơ cấu ngành công nghiệp trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP) (tính
theo giá thực tế) tăng nhanh, năm 1985 chiếm 28.2%, năm 2000 là 31.4%,
năm 2003 lên 33.4%, dự tính năm 2005 là 34.1% (tính theo giá thực tế), tạo
ra chuyển dịch cơ cấu đáng kể trong nền kinh tế quốc dân theo hướng tăng
nhanh tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ và giảm tỷ trọng nông, lâm nghiệp, thuỷ
sản.
Tỷ trọng khu vực doanh nghiệp Nhà nước trong tổng giá trị sản xuất tính
theo giá cố định trong những năm 1985 – 1990 tăng dần, nhưng từ năm 1991
đến nay giảm đi nhanh chóng. Nếu năm 1985 tỷ trọng DNNN chiếm 56.3%,
thì năm 1990 tăng lên 58.0%, đến năm 1995 là 57.3%, năm 2000 còn 41.8%,
năm 2004 là 37.0% và năm 2005 còn 34.3%. Trong đó DNNN do trung ương
quản lý giảm từ 34.0% (năm 1985) xuống còn 25.2% năm 2005; DNNN do
địa phương quản lý giảm nhanh hơn, từ 22.3% (năm 1985) xuống còn 9.1%
(năm 2005).
Lương Thị Thu Hằng Lớp: Toán kinh tế 46
22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Khu vực ngoài quốc doanh đã có thời kỳ chiếm tỷ trọng khá cao (1985 –
1990) từ 43.7% đến 44.1% (chủ yếu là kinh tế hợp tác xã), nhưng từ năm
1991 đến 2000 liên tục giảm từ 31.5% (năm 1991) xuống còn 22.3% năm
2000 và bắt đầu tăng đần từ 2001 là 23.6% đến 2005 lên 28.5%.
Trong hơn 20 năm đổi mới doanh nghiệp ngoài quốc doanh có những
bước thăng trầm và chỉ sau năm 2000 khi Luật Doanh nghiệp chính thức có
hiệu lực thì doanh nghiệp ngoài quốc doanh mới thực sự xác định được vị trí
trong nền kinh tế và có bước tiến nhanh hơn, vững chắc hơn trong toàn ngành
công nghiệp cả nước.
Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ở những năm 1989 – 1995 mới có tỷ
trọng từ 2.6% đến 14.5% thì năm 2000 đã chiếm 34.7% và năm 2005 là
37.2%, trở thành khu vực có tỷ trọng lớn nhất trong 3 khu vực.
Tóm lại trong khoảng 5 năm đầu đổi mới 1986 – 1990 chưa có khu vực
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tham gia vào sản xuất, cơ cấu công
nghiệp chỉ có khu vực doanh nghiệp nhà nước và khu vực ngoài quốc doanh.
Khu vực doanh nghiệp nhà nước luôn chiếm ưu thế trên 55% và tăng dần từ
1986 đến 1990, ngược lại khu vực ngoài quốc doanh chiếm tỷ trọng nhỏ hơn
và giảm nhẹ trong khoảng 1986 – 1990.
Thời kỳ sau năm 1990 và nhất là sau năm 2000 đến nay với việc chính
thức tham gia sản xuất của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và
thực hiện chính sách khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân trong nước,
đồng thời với tổ chức sắp xếp và đổi mới doanh nghiệp nhà nước, thì cơ cấu
giữa 3 khu vực sở hữu mới thực sự có những biến đổi sâu sắc, khu vực doanh
nghiệp nhà nước từ 56.3% (năm 1985) xuống 34.3% (năm 2005); Khu vực
ngoài quốc doanh từ 43.7% (năm 1985) và 28.5% (năm 2005); Khu vực có
vốn đầu tư nước ngoài từ 2.6% (năm 1989 tăng lên 37.2% (năm 2005). Đó
chính là kết quả của chính sách phát triển nhiều thành phần của nhà nước ta.
Lương Thị Thu Hằng Lớp: Toán kinh tế 46
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Ngành công nghiệp chế biến chiếm tỷ trọng cao và có xu hướng tăng lên
là do một số ngành sản phẩm mới có điều kiện tăng trưởng sản xuất cao như:
sản xuất ô tô năm 1985 chiếm không đáng kể (sửa chữa), năm 2005 lên 2.6%,
sản xuất xe máy và các phương tiện vận tải khác từ dưới 0.5% lên 4.0%; Một
số ngành có nhu cầu tăng, đồng thời điều kiện sản xuất trong nước thuận lợi
cũng đã gia tăng sản xuất và ngày càng chiếm tỷ trọng lớn như: sản xuất kim
loại năm 1985 chiếm 1.7%, năm 2005 là 3.3%, sản xuất các sản phẩm khác từ
kim loại (trừ máy móc thiết bị) từ 2.6% tăng lên 3.8%, may mặc từ 2.7% lên
3.7%. Sản xuất các sản phẩm từ chất khoáng phi kim loại từ 8.2% lên 9.1%.
Ngành công nghiệp khai thác mỏ chiếm tỷ trọng nhỏ, nhưng từ năm 1995
đến nay giảm từ 13.4% năm 1995 xuống còn 9.1% năm 2005, nguyên nhân
chủ yếu là ngành khai thác dầu khí chiếm trên 70% giá trị sản xuất của ngành
khai thác, thì tỷ trọng giảm dần từ 10.5% (năm 1995) xuống còn 6.5% (năm
2005).
Ngành sản xuất điện, nước năm 1985 chiếm5.4%, năm 2000 là 6.5%,
trong đó sản xuất điện 6.0%, sản xuất nước 0.5%, đến năm 2005 còn 6.0%
(điện 5.6% và nước 0.4%). Với tỷ trọng này cho thấy sản xuất điện, nước mới
ở mức rất thấp, nhưng từ năm 2000 lại đây, tỷ trọng chiếm trong toàn ngành
đã không tăng mà còn giảm nhẹ ở năm 2005. Vì vậy mất cân đối về cung cấp
điện, nước luôn tiềm ẩn và còn ảnh hưởng trực tiếp lâu dài đến nền kinh tế
nói chung và sản xuất công nghiệp nói riêng.
Những vùng công nghiệp trọng điểm vẫn chiếm tỷ trọng lớn. Vùng đồng
bằng sông Hồng tỷ trọng tăng 21.1% năm 1985 lên 22.8% năm 2005, vùng
Đông Nam Bộ từ 38% năm 1985 lên 48.2% năm 2005. Các vùng còn lại đều
giảm hoặc tăng không đáng kể như: vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ từ 8.2%
còn 5.3%, vùng đồng bằng sông Cửu Long từ 15.5% còn 9.0%, vùn Đông
Bắc từ 10.0% còn 5.0% … Đáng chú ý là các vùng miền núi và Tây Nguyên
Lương Thị Thu Hằng Lớp: Toán kinh tế 46
24
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
vốn tỷ trọng rất nhỏ, nhưng lại không có cơ hội để tăng lên, tỷ trọng vùng
Tây Bắc vẫn chỉ ở mức 0.3%, Tây Nguyên giảm từ 1.6% xuống còn 0.82%.
Phân bố công nghiệp vẫn tập trung ngày càng lớn hơn cho các vùng công
nghiệp tập trung như vùng Đông Nam Bộ và vùng đồng bằng sông Hồng, chỉ
riêng hai vùng này đã chiếm 70.4% giá trị sản xuất công nghiệp cả nước, tất
cả các vùng còn lại gồm 45 tỉnh, thành phố chỉ chiếm 29.0%. Riêng 10 tỉnh,
thành phố có sản xuất công nghiệp lớn nhất cả nước đã chiếm 67.2% giá trị
toàn ngành, trong đó:
- Thành phố Hồ Chí Minh chiếm 23.55%
- Thành phố Hà Nội 8.41%
- Đồng Nai 8.18%
- Bà Rịa – Vũng Tàu (chủ yếu dầu khí) 8.72%
- Bình Dương 6.45%
- Thành phố Hải Phòng 4.23%
- Vĩnh Phúc 2.37%
- Quảng Ninh 1.82%
- Thanh Hoá 1.78%
- Khánh Hoà 1.70%
Cùng với tăng trưởng cao về sản xuất, thì hiệu quả kinh tế của ngành
công nghiệp tuy còn nhiều hạn chế nhưng đã có những tiến bộ. Theo số liệu
từ năm 2000 đến năm 2005 cho thấy:
Hiệu quả về mặt tài chính được nâng lên, tỷ lệ số doanh nghiệp kinh
doanh có lãi năm 2004 là 69.0%, tăng 3% so với năm 2001 (năm 2001 là
66.0%), tổng lãi năm 2004 tăng trên 60% so với năm 2001, mức lãi bình quân
của một doanh nghiệp cũng tăng từ 4.40 tỷ đồng lên 4.63 tỷ đồng. Số doanh
nghiệp kinh doanh bị lỗ năm 2004 là 25.7%, so với năm 2001 là 25.8%, và
tổng mức lỗ chỉ bằng 11.8% tổng mức lãi của toàn ngành, điều đó cho thấy
Lương Thị Thu Hằng Lớp: Toán kinh tế 46
25

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×