Tải bản đầy đủ

Tài liệu TIỂU LUẬN: Nâng cao hiệu quả chi Ngân sách Nhà nước cho Chương trình mục tiêu Quốc gia Giáo dục & Đào tạo doc









TIỂU LUẬN:
Nâng cao hiệu quả chi Ngân sách Nhà
nước cho Chương trình mục tiêu Quốc
gia Giáo dục & Đào tạo






LỜI NÓI ĐẦU
Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định mục tiêu tổng quát
của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 của nước ta là: Đưa đất nước

ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh
thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một
nước công nghiệp theo hướng hiện đại hoá. Con đường công nghiệp hoá - hiện
đại hoá của nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian so với các nước đi trước, vừa có
những bước tuần tự, vừa có những bước nhảy vọt ". Để đạt được các mục tiêu nêu
trên, giáo dục và khoa học công nghệ có vai trò quyết định, nhu cầu phát triển giáo
dục là rất bức thiết.
Với quan điểm đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, từ trước đến nay kể
cả trong những giai đoạn đất nước còn nhiều khó khăn, Đảng và Nhà nước đã quan
tâm chú trọng đầu tư cho phát triển giáo dục & đào tạo, mức đầu tư cho giáo dục
hàng năm đều tăng lên.
Đầu tư cho phát triển giáo dục và đào tạo vừa thực hiện yêu cầu đầu tư toàn
diện trên tất cả các lĩnh vực nói chung, nhưng vừa có sự đầu tư nhằm mục tiêu giải
quyết những vẫn đề có tính chất bức xúc, trọng tâm, trọng điểm trong từng giai
đoạn nhất định; việc đầu tư theo những mục tiêu có tính chất trọng tâm trọng điểm
trong từng giai đoạn đó chính là việc thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia
giáo dục và đào tạo.
Trong những năm qua CTMTQG GD&ĐT đã thực hiện ở từng giai đoạn và
từ năm 2001 đến nay đã thực hiện giai đoạn 2001- 2005, hiện nay đang tiếp tục thực
hiện giai đoạn II đến năm 2010. Việc thực hiện đầu tư này rất quan trọng nhằm tạo
bước chuyển biến cơ bản về chất lượng giáo dục, thoát khỏi tình trạng tụt hậu so với
các nước trong khu vực, tiếp cận trình độ tiên tiến của thế giới; đổi mới mục tiêu,
nội dung, phương pháp, chương trình giáo dục; phát triển đội ngũ nhà giáo; nâng
cao chất lượng đào tạo nhân lực. Với ý nghĩa quan trọng như vậy nên yêu cầu của
công tác quản lý và sử dụng nguồn ngân sách các CTMTQG GD&ĐT sao cho có
hiệu quả đạt được mục tiêu đề ra, luôn là vấn đề đặt ra đối với các cấp các ngành và



các cơ quan quản lý, người làm công tác giáo dục cũng như người làm công tác
quản lý tài chính, nhằm mục tiêu làm thế nào để việc đầu tư của Nhà nước và các
nguồn tài chính khác trong xã hội nói chung cho CTMTQG GD&ĐT được sử dụng
kịp thời, đúng mục đích, tạo ra được hiệu quả mong muốn như mục tiêu đã đề ra.
Với suy nghĩ đó, trong thời gian đi thực tập, em đã tìm hiểu và chọn đề tài:
“Nâng cao hiệu quả chi Ngân sách Nhà nước cho Chương trình mục tiêu Quốc
gia Giáo dục & Đào tạo”
Nội dung chính của đề tài gồm 3 chương:
Chương I: Những vấn đề chung về Giáo dục & Đào tạo và chi Ngân sách
Nhà nước cho Chương trình mục tiêu Quốc gia Giáo dục & Đào tạo
Chương II: Thực trạng chi Ngân sách Nhà nước cho Chương trình mục
tiêu Quốc gia Giáo dục & Đào tạo
Chương III: Giải pháp nâng cao hiệu quả chi Ngân sách Nhà nước cho
Chương trình mục tiêu Quốc gia Giáo dục & Đào tạo


















NỘI DUNG
Chương I. Những vấn đề chung về chi Ngân sách Nhà nước cho Chương trình
mục tiêu Quốc gia Giáo dục & Đào tạo
1.1. Sự cần thiết phải phát triển Giáo dục và Đào tạo
Con người với vai trò vị trí vừa là động lực quan trọng nhất của sự phát triển
xã hội, vừa là mục tiêu, là sản phẩm của xã hội và cũng đồng thời là yếu tố quan
trọng nhất của lực lượng sản xuất; mà sản phẩm trực tiếp đó chính là kết quả của
nền giáo dục đào tạo.
Mỗi thời đại và từng quốc gia có chính sách quản lý, phát triển giáo dục
riêng của mình, nhưng nét xuyên suốt lịch sử giáo dục thế giới thì Nhà nước luôn
giữ vai trò chủ thể hàng đầu và trực tiếp của nền giáo dục quốc gia. Sở dĩ Nhà nước
phải đảm bảo vai trò chủ thể phát triển giáo dục như vậy là do giáo dục có chức
năng quan trọng:
Một là chức năng giải phóng con người. Thông qua giáo dục, mỗi người đều
có cơ hội thăng tiến xã hội, thực hiện bình đẳng xã hội.
Hai là chức năng xây dựng con người mới, được hiểu theo nghĩa rộng gồm
công dân mới, những người cộng hòa mới, thế hệ mới, nhân dân mới.
Ba là chức năng góp phần tạo lập liên kết chính trị, thông qua việc giáo dục ý
thức chính trị mới cho các thế hệ công dân và đào tạo đội ngũ viên chức nhà nước
thống nhất.
Bốn là chức năng góp phần củng cố mối liên kết quốc gia nhờ vào việc giáo
dục một hệ thống chuẩn giá trị cho mọi thành viên xã hội.
Năm là chức năng tham gia kiểm soát xã hội. Giáo dục là một loại quyền lực
mềm, rất hữu hiệu đối với quá trình quản lý xã hội trong đó có kiểm soát xã hội hiểu
theo nghĩa rộng nhất của hoạt động này.
Các chức năng rất công cộng nêu trên càng khẳng định vị trí của giáo dục
như một dịch vụ công mà mọi Nhà nước hiện đại, không phân biệt thể chế chính trị,
nhất thiết phải coi việc quản lý, phát triển giáo dục là trách nhiệm tự nhiên và quyền
hạn tự thân của mình.



Lịch sử đất nước ta trải qua hàng ngàn năm dưới ách đô hộ của ngoại bang
xâm lược, bất kỳ một thế lực nào khi đặt ách đô hộ lên đất nước ta đều tìm mọi cách
hủy hoại nền văn hóa của ta, dìm nhân dân ta trong vòng dốt nát, tăm tối hòng dễ bề
cai trị, diệt tận gốc tinh thần yêu nước, khiến dân ta sống trong lầm than, không
được học hành, làm nô lệ suốt đời cho chúng.
Ngay sau khi cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, đối mặt với muôn
vàn khó khăn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra ba nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đó
là: diệt giặc đói, diệt giặc dốt và diệt giặc ngoại xâm. Người nói:” Một dân tộc dốt
là một dân tộc yếu”, “Giáo dục nhằm đào tạo những người kế tục sự nghiệp to lớn
của Đảng và nhân dân, do đó các ngành, các cấp Đảng và Chính quyền địa phương
phải thực sự quan tâm hơn nữa đến sự nghiệp này. Phải chăm sóc nhà trường về
mọi mặt, đẩy mạnh phát triển giáo dục của ta lên một bước phát triển mới…”, “ Vì
lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”, “Muốn xây dựng chủ
nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa”. Tư tưởng ấy của Người đã được
Đảng và Nhà nước ta phát triển thành đường lối, chủ tương, chiến lược, chính sách
cụ thể qua từng thời kỳ.
GD&ĐT tạo ra những con người phát triển toàn diện, có năng lực nghề
nghiệp, có tinh thần ham hiểu biết, có tư duy sáng tạo, làm chủ khoa học kỹ thuật
hiện đại, có ý thức và năng lực hợp tác, có tinh thần trách nhiệm với cộng đồng xã
hội, có nếp sống lành mạnh và sức khỏe tốt… đúng với mục tiêu của nước ta trên
chặng đường xây dựng xã hội mới - Xã hội chủ nghĩa: “Con người phát triển cao về
trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức”.
Cùng với sự phát triển nhanh của khoa học kỹ thuật, đòi hỏi phải có những
con người có trình độ hiểu biết, thực sự dám nghĩ, dám làm; Đó là kết quả của một
nền giáo dục toàn diện. Nhận thức được vai trò quan trọng của GD&ĐT là nền tảng
đưa nước ta thực hiện thành công sự nghiệp CNH, HĐH, là chìa khóa mở cửa tiến
vào tương lai, Nghị quyết Trung ương IV khóa VII của BCH Trung ương Đảng đã
đề ra: “Cùng với khoa học công nghệ, GD&ĐT là quốc sách hàng đầu nhằm nâng
cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Coi trọng cả ba mặt: Mở rộng quy



mô, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả. Phương hướng chung của lĩnh vực
GD&ĐT trong 5 năm tới là phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH
tạo điều kiện cho nhân dân đặc biệt là thanh niên có việc làm, khắc phục những tiêu
cực và yếu kém trong GD&ĐT”; Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng đã khẳng định:
“GD&ĐT cùng với khoa học công nghệ phải thực sự trở thành quốc sách hàng đầu.
Phải coi đầu tư giáo dục là một trong những hướng chính của đầu tư phát triển, tạo
điều kiện cho giáo dục đi trước phục vụ đắc lực cho sự nghiệp phát triển kinh tế- xã
hội”.
Đầu tư cho sự nghiệp GD&ĐT là đầu tư để phát triển kinh tế- xã hội
1.2. Chương trình mục tiêu Quốc gia Giáo dục & Đào tạo
1.2.1. Sự cần thiết của chương trình
Sau gần 15 năm đổi mới, giáo dục Việt Nam đã đạt được những thành tựu
quan trọng, nhưng còn những yếu kém, bất cập. Ngày 28 tháng 12 năm 2001 Thủ
tướng Chính phủ đã ký quyết định số 201/2001/QĐ-TTg phê duyệt “Chiến lược phát
triển Giáo dục 2001- 2010”. Chiến lược xác định rõ mục tiêu, giải pháp và các bước
đi theo phương châm đa dạng hóa, chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, xây dựng một
nền giáo dục có tính thực tiễn và hiệu quả, tạo bước chuyển mạnh mẽ về chất lượng,
đưa nền giáo dục nước ta sớm tiến kịp các nước phát triển trong khu vực, nâng cao
dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, góp phần đắc lực thực hiện các mục
tiêu của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010.
Xuất phát từ nhận thức và thức tiễn nêu trên mà việc đề ra
CTMTQGGD&ĐT là hết sức cần thiết. Nó sẽ giải quyết những vấn đề khó khăn,
bất cập về cơ sơ vật chất trong trường học, bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ nhà
giáo và cán bộ quản lý giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp giáo dục phù
hợp với yêu cầu mới, nâng cao chất lượng trong việc học cả lý thuyết cũng như thực
hành, hỗ trợ giáo dục ở các vùng khó khăn nhằm giảm sự chênh lệch về chất lượng
giáo dục giữa các vùng miền; đầu tư tập trung xây dựng một số trường Đại học, Cao
đẳng, THCN trở thành trọng điểm đó là những mục tiêu chủ yếu của CTMTQG
GD&ĐT trong giai đoạn từ 2001 đến 2010.



Chương trình mục tiêu quốc gia là một tập hợp các mục tiêu, nhiệm vụ và
giải pháp đồng bộ về kinh tế, xã hội, khoa học, công nghệ, môi trường, cơ chế,
chính sách, tổ chức để thực hiện một hoặc một số mục tiêu đã được xác định trong
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội chung của đất nước trong một thời gian nhất
định.
Một chương trình mục tiêu quốc gia gồm nhiều dự án khác nhau để thực hiện
các mục tiêu của chương trình. Đối tượng quản lý và kế hoạch hóa được xác định
theo chương trình, việc đầu tư được thực hiện theo dự án.
Dự án thuộc chương trình mục tiêu quốc gia là một tập hợp các hoạt động để
tiến hành một công việc nhất định nhằm đạt được một hay nhiều mục tiêu cụ thể đã
được định rõ trong chương trình với nguồn lực và thời hạn thực hiện được xác định.


1.2.2. Nội dung của chương trình
Thực hiện Quyết định số 71/2001/QĐ-TTg ngày 04/5/2001 và Quyết định số
26/2003/QĐ-TTg ngày 17/02/2003 của Thủ tướng Chính phủ, Bộ GD&ĐT thực
hiện CTMTQG GD&ĐT giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2005, thông qua 7 Dự án
sau đây:
Dự án 1 : “Củng cố và phát huy kết quả Phổ cập giáo dục tiểu học và xóa mù
chữ, thực hiện phổ cập giáo dục Trung học cơ sở”
Dự án 2: “Đổi mới chương trình, nội dung sách giáo khoa”
Dự án 3: “Đào tạo cán bộ tin học và đưa tin học vào nhà trường, đẩy mạnh
dạy ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân”
Dự án 4: “Đào tạo và bồi dưỡng giáo viên, tăng cường CSVC các trường sư
phạm”
Dự án 5: “Hỗ trợ giáo dục miền núi, vùng dân tộc ít người và vùng còn nhiều
khó khăn”



Dự án 6: “Tăng cường CSVC các trường học, các Trung tâm kỹ thuật tổng
hợp - Hướng nghiệp; xây dựng một số trường Đại học, THCN trọng điểm”
Dự án 7: “Tăng cường năng lực đào tạo nghề”
Về Cơ chế quản lý dự án :
- Bộ GD&ĐT quản lý, điều hành, tổng hợp chung tình hình thực hiện
CTMTQG GD&ĐT; chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan và các địa
phương tổ chức thực hiện các dự án số : 1, 2, 3, 4, 5, 6;
- Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có
liên quan và các địa phương tổ chức thực hiện dự án số 7.
1.3. Nguồn tài chính thực hiện CTMTQG GD&ĐT
Từ sau Đại hội VI (12/1986) Đảng Cộng sản Việt Nam, đánh dấu sự chuyển
đổi toàn diện từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế hàng hóa theo
cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của nhà nước (hiện nay
gọi là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ) . Sự nghiệp GD&ĐT cũng được
phát triển từ một hệ thống giáo dục hầu như được Nhà nước bao cấp gần như toàn
bộ, đi học không phải đóng học phí sang quan điểm giáo dục là sự nghiệp của toàn
dân, do dân và vì dân, phát triển giáo dục là trách nhiệm và nghĩa vụ của toàn dân,
thực hiện phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, khai thác tiềm năng
của nhân dân và các tổ chức kinh tế để hỗ trợ cùng NSNN tăng cường đầu tư cho
giáo dục. Từ đó ngành giáo dục có điều kiện phát triển nhanh hơn. Những năm qua
chúng ta đã huy động được nhiều nguồn vốn khác nhau bao gồm:
1.3.1. Nguồn Ngân sách Nhà nước:
- Ngân sách Nhà nước và chi Ngân sách Nhà nước: NSNN là hệ thống các
mối quan hệ kinh tế giữa nhà nước với các tổ chức kinh tế xã hội và dân cư phát
sinh trong quá trình nhà nước động viên, phân phối của cải xã hội dưới hình thức
giá trị nhằm hình thành quĩ tiền tệ tập trung của nhà nước, trên cơ sở thỏa mãn nhu
cầu chi gắn với chức năng quản lý và điều hành nền kinh tế, xã hội của Nhà nước.
NSNN nhà nước ta là một hệ thống thống nhất, bao gồm: Ngân sách Trung ương và
ngân sách các cấp chính quyền địa phương.



Chi NSNN là quá trình sử dụng quỹ NSNN theo nguyên tắc không hoàn trả
trực tiếp, nhằm thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - chính trị - xã hội của Nhà nước.
Chi NSNN thực chất là việc thực hiện quan hệ tiền tệ, được hình thành trong
quá trình phân phối, đồng thời sử dụng NSNN vào việc cấp phát kinh phí cho bộ
máy quản lý Nhà nước và thực hiện các chức năng kinh tế xã hội mà Nhà nước giao
cho, theo những nguyên tắc nhất định. Bên cạnh đó, chi NSNN còn là sự phối hợp
giữa quá trình phân phối và quá trình sử dụng NSNN vào các mục tiêu:
* Quá trình phân phối NSNN là quá trình thực hiện cấp phát kinh phí từ
NSNN, nhằm tạo ra sự hoạt động của các quỹ, trong sự vận hành và phát triển của
nền kinh tế.
* Quá trình sử dụng NSNN là quá trình trực tiếp sử dụng khoản kinh phí,
được cấp phát từ nguồn NSNN, phục vụ cho các mục tiêu phát triển của đất nước
Đầu tư cho GD&ĐT luôn được ưu tiên hàng đầu. Dù ở cơ chế kế hoạch hóa
tập trung hay ở cơ chế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa thì trong tất cả các
nguồn tài chính đầu tư cho sự nghiệp GD&ĐT nói chung, CTMTQG GD&ĐT nói
riêng, NSNN vẫn giữ vai trò chủ đạo có tính chất quyết định đối với việc hình
thành, mở rộng, phát triển hệ thống GD&ĐT và chiếm một tỷ trọng lớn, vì:
- Đây là nguồn tài chính cơ bản, to lớn để duy trì và phát triển hệ thống giáo
dục đào tạo theo định hướng, mục tiêu của Nhà nước.
- Giải quyết những vấn đề thuộc chính sách xã hội, công bằng trong giáo dục
đào tạo như vấn đề về quyền lợi được hưởng giáo dục ở khu vực vùng sâu,
xa và người bị thiệt thòi, con em của những gia đình chính sách hoặc gia
đình gặp khó khăn về đời sống kinh tế.
- Giải quyết những vấn đề phát triển của hệ thống giáo dục ở tầm quốc gia và
ở những khu vực mà các thành phần kinh tế xã hội khác chưa quan tâm hoặc
chưa đủ năng lực để thực hiện.
Để đạt được mục tiêu của CTMTQG GD&ĐT thì nguồn vốn từ NSNN phải
tăng theo nhịp độ tăng trưởng kinh tế và được cân đối trong dự toán chi ngân sách
Trung ương.






1.3.2. Các nguồn tài chính ngoài NSNN
Chi NSNN cho CTMTQG GD&ĐT là khoản chi mang tính chất thường
xuyên. Trong những năm qua, khoản chi này có xu hướng tăng, song vẫn chưa đủ
đáp ứng nhu cầu chi ngày càng đa dạng và yêu cầu nguồn kinh phí lớn của các dự
án của CTMTQG GD&ĐT. Do đó đòi hỏi ngoài nguồn đầu tư từ NSNN cần phải
huy động thêm các nguồn tài chính khác, bao gồm:
+ Nguồn vốn do nhân dân đóng góp: khoản đóng góp của nhân dân bằng
tiền, hiện vật, ngày công lao động để xây dựng cơ sở vật chất trường học
+ Nguồn tài trợ: Gồm tài trợ của các tổ chức từ thiện trong và ngoài nước,
ủng hộ của các cơ quan, doanh nghiệp, ủng hộ các các tổ chức, cá nhân trong nước
và nước ngoài.
+ Nguồn bổ sung từ ngân sách địa phương và của các Bộ, ngành.
+ Nguồn vốn vay tín dụng từ các tổ chức tín dụng, vay nước ngoài
+ Nguồn vốn khác: Các khoản được biếu tặng cho các trường bằng hiện vật
như: sách giáo khoa, máy vi tính, đồ dung thí nghiệm…
Những nguồn này tuy chưa nhiều nhưng cũng góp phần đáng kể vào phát
triển sự nghiệp GD&ĐT












Chương II
Thực trạng chi Ngân sách Nhà nước
cho chương trình mục tiêu Quốc gia Giáo dục & Đào tạo
2.1. Khái quát về GD&ĐT của nước ta trong thời gian qua
Trong những năm qua GD&ĐT đã đạt được một số kết quả:
Về thực hiện phổ cập giáo dục:Dự án củng cố và phát huy kết quả phổ cập
giáo dục tiểu học và xóa mù chữ đã thực hiện có chất lượng phổ cập giáo dục Tiểu
học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục THCS, thực hiện giáo dục cho mọi người, xây
dựng xã hội học tập, đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân và thực hiện công bằng
xã hội trong giáo dục ( Chính vì vậy mà mặc dù Việt Nam là nước có thu nhập thấp
nhưng tỷ lệ người lớn biết chữ đã đạt tới 90% - Nguồn báo cáo phát triển thế giới
2007 của World Bank- Tạp chí nhà quản lý trang 17, số 44 tháng 2/2007)
Theo số liệu báo cáo của Bộ Giáo dục & Đào tạo, đến tháng 7 năm 2007 có
39/64 tỉnh, thành phố (đạt tỷ lệ 61%) đạt chuẩn Quốc gia phổ cập giáo dục Tiểu học
đúng độ tuổi và 35/64 tỉnh, thành phố (đạt tỷ lệ 55%) được công nhận đạt chuẩn
Quốc gia phổ cập giáo dục THCS, 2 tỉnh đang hoàn thiện thủ tục để chuẩn bị được
kiểm tra là Tiền Giang và Tây Ninh.
Nhiệm vụ đổi mới chương trình, nội dung giáo dục phổ thông theo tinh thần
Nghị quyết số 40/2000/QH10 đã được hoàn thành cơ bản: Hoàn chỉnh nội dung,
chương trình, sách giáo khoa từ lớp 1 đến lớp 5 ở bậc tiểu học, từ lớp 6 đến lớp 9 ở
bậc trung học cơ sở và đưa vào thực hiện từ năm học 2001-2002. Năm học 2006 -
2007 đã tiếp tục tập trung thực hiện tốt đổi mới chương trình, nội dung, phương
pháp giáo dục, phân ban kết hợp với tự chọn ở lớp 10 THPT. Bên cạnh đó 8 chương
trình, SGK dạy tiếng dân tộc (KhMer, HMông, Jrai, Chăm) đã được ban hành theo
yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông.
Năm học 2006 - 2007, hầu hết các địa phương, các Bộ Ngành liên quan đều
chủ động hoàn chỉnh quy hoạch mạng lưới trường, lớp học, xoá "xã trắng" về giáo
dục mầm non, đẩy mạnh việc tách trường liên cấp mầm non- Tiểu học, Tiểu học -



THCS, đồng thời xây dựng thêm trường học mầm non, phổ thông ở các địa bàn tập
trung dân cư.
Về cơ sở vật chất: Năm học 2006-2007, cả nước có 557.027 phòng học mầm
non và phổ thông, trong đó có gần 28.801 phòng học bộ môn và phòng thí nghiệm;
22.844 thư viện trường học (chiếm tỷ lệ 74% tổng số trường phổ thông), trong đó có
24% thư viện đạt tiêu chuẩn 01; hơn 1.806 phòng tập thể dục thể thao. Số phòng
học cấp 4 và phòng học kiên cố là 467.727, chiếm tỷ lệ 89,6%. Riêng khối phổ
thông xây mới được tổng số 32.580 phòng học, trong đó có 15.831 phòng học tiểu
học, 11.513 phòng học cho THCS và 5.236 phòng học cho THPT.
Tuy nhiên theo báo cáo từ các địa phương đến 30/6/2007, số phòng học của
Tiểu học có 242.939 phòng (mới đáp ứng 90,7% so với nhu cầu), THCS có 147.290
phòng (mới đáp ứng 88,6% so với nhu cầu) và THPT có 57.528 phòng ( mới đáp
ứng 79,5% so với nhu cầu). Chưa đến 50% trường có kho, phòng chứa thiết bị đáp
ứng so với nhu cầu, cụ thể: Tiểu học có 7.828 kho, phòng (đáp ứng 42,6% so với
nhu cầu), THCS có 6.882 kho, phòng (đáp ứng 48,7% so với nhu cầu), THPT có có
1.634 kho, phòng (đáp ứng 50,4% so với nhu cầu). Phòng thí nghiệm và phòng học
bộ môn còn thiếu nhiều , toàn quốc trường THCS chỉ có 113.910 phòng trên tổng
số 163.800 lớp, trường THPT chỉ có 5.104 phòng trên tổng số 24.298 lớp. Có thể
nói đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng trực tiếp đến việc đạt
mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục theo yêu cầu của nội dung chương trình sách
giáo khoa mới
2.2. Thực trạng kinh phí đầu tư cho CTMTQG GD&ĐT
Kinh phí đầu tư cho CTMTQG GD&ĐT gồm nguồn kinh phí từ NSNN và
nguồn kinh phí huy động từ các nguồn khác như: Vốn NSTW hỗ trợ, vốn địa
phương bổ sung, vốn vay tín dụng, vốn nước ngoài, vốn lồng ghép, vốn huy động
cộng đồng.
Trong giai đoạn 2001-2005 các nguồn kinh phí huy động như sau:
2.2.1. Tổng mức kinh phí từ Ngân sách Trung ương đã chi cho các dự án thuộc
CTMTQG GD&ĐT Giai đoạn 2001 – 2005



Nguồn kinh phí này được trích trực tiếp từ NSTW để thực hiện chương trình.
Đây là khoản chi rất lớn, mang tính chất thường xuyên nên khoản chi này được chi
theo dự toán, các khoản chi này nằm trong dự toán đã được xây dựng trước. Hàng
năm ngành GD&ĐT xây dựng dự toán cho khoản chi này, dự toán này sẽ là căn cứ
chính thức để phân bổ khoản chi và giao nhiệm vụ cho từng cấp từ Trung ương
xuống địa phương. Đồng thời Bộ GD&ĐT đã dự toán kinh phí chi CTMTQG
GD&ĐT để thực hiện ở cấp Trung ương và cấp địa phương
Tổng số kinh phí đã chi để thực hiện CTMTQG GD&ĐT là 7.537,7 tỷ đồng,
trong đó: NSTW là 5.527,7 tỷ đồng (vốn sự nghiệp) chiếm 71,14%; Nguồn NSĐP
và nguồn huy động từ cộng đồng là 1.585,4 tỷ đồng chiếm 20,4%; Nguồn vay nợ và
viện trợ nước ngoài là 657 tỷ đồng, chiếm 8,46%.





Số

Tên các Dự án Năm

Năm

Năm

Năm

Năm

Tổng %
TT

CTMTQG GD&ĐT 2001

2002

2003

2004

2005

cộng
1
Củng cố và phát huy kết quả

Phổ cậ
p GDTH và XMC,
thực hiện phổ cập THCS
15 35,0

40 50 55
195 3,5
2
Đổi mới Chương trình, nộ
i
dung SGK
246,7

380 520

800
1.946,7 35,2
3
Đào tạo cán bộ tin học, đư
a
tin học vào nhà trường, đẩ
y
10,0

50 65 75
200,0 3,6



Bảng số 01: Ngân sách Trung ương thực cấp qua các năm của giai đoạn 2001-
2005 Đơn vị tính: tỷ đồng
Nguồn:Phòng SNVX- Vụ Tài chính HCSN- Bộ Tài chính
Căn cứ vào nội dung hoạt động và phạm vi triển khai của các dự án, Bộ
GD&ĐT đã xây dựng dự toán chi tiết cho từng dự án, có phân chia theo từng năm.
Việc xây dựng dự toán ban đầu chưa tính đến nguồn kinh phí bổ sung của các dự án
hợp tác quốc tế và đóng góp của Ngân sách địa phương và cộng đồng, mà chỉ tính
phần Ngân sách Trung ương hỗ trợ.
Nhu cầu đổi mới và nâng cao chất lượng GD&ĐT toàn diện ngày càng đòi
hỏi các dự án đề ra phải có chất lượng tốt, đạt hiệu quả do đó NSTW chi cho các Dự
án của chương trình đã tăng theo từng năm. Trong năm 2005 với khoản chi lớn nhất
là 1.770 tỷ đồng Chiếm 32,02 % tổng chi giai đoạn I. Năm 2001 với mức chi thấp
mạnh dạy ngoại ngữ trong hệ

thống GD QD
4
Đào tạo và bồi dưỡ
ng giáo
viên, tăng cường CSVC hệ

thống trường sư phạm
125 135,0

100 100

120
580,0 10,5
5
Hỗ trợ GD miề
n núi, vùng
dân tộc và vùng có nhiề
u khó
khăn
130 136,0

105 120

150
641,0 11,6
6
Tăng cường CSVC các trư-
ờng học, Trung tâm kỹ thuậ
t
tổng hợp, HN, các trườ
ng
ĐH, THCN trọng điểm
330 265,0

165 195

230
1.185,0 21,4
7
Tăng cường năng lực đào tạ
o
nghề
110,0

130 200

340
780,0 14,1

Tổng cộng 600 937,7

970 1.250

1.770

5.527,7
100,
0



nhất là 600 tỷ đồng chiếm 10,85%. Trong 7 dự án thì khoản chi cho dự án Đổi mới
chương trình nội dung sách giáo khoa là khoản chi lớn nhất trong từng năm và cả 5
năm 2001- 2005. Trong giai đoạn này, khoản chi này là 1.946,7 tỷ đồng chiếm
35,2%, khoản cho dự án này lớn nhất là vì nội dung chi đổi mới chương trình sách
giáo khoa rất đa dạng với nhiều nội dung.
Dự án đào tạo cán bộ tin học, đưa tin học vào nhà trường, đẩy mạnh dạy
ngoại ngữ trong hệ thống Giáo dục quốc dân chiếm tỷ trọng nhỏ nhất trong từng
năm. Khoản chi này chiếm tỷ trọng nhỏ nhất là vì dự án mới được triển khai từ năm
2002 và nội dung chi cho dự án là không nhiều chủ yếu là ở các thành phố lớn, các
đô thị, còn ở các khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu vùng xa thì chưa có điều
kiện để thực hiện dự án này.





Bảng số 02: Dự toán và thực cấp Chi Ngân sách Trung ương cho CTMTQG
GD&ĐT giai đoạn 2001 – 2005
Đơn vị: Tỷ đồng
Số
TT

Tên các Dự án
Chương trình MTQG GD&ĐT
Dự toán
đề nghị
2001 -2005
(Bộ
GD&ĐT)
Dự toán
thực phân
bổ
(NSTW)
2001 -
2005
Tỷ lệ
thực
phân bổ
so
với Dtoán

1
Củng cố và phát huy kết quả phổ
cập GDDH và XMC, thực hiện PC
200 195 97,5 %



THCS
2
Đổi mới chương trình, nội dung
SGK
2500 1.946,7 77,9 %
3
Đào tạo cán bộ tin học và đưa tin
học vào nhà trường, đẩy mạnh dạy
ngoại ngữ trong hệ thống GDQD
800 200 25%
4
Đào tạo và bồi dưỡng giáo viên,
tăng cường CSVC các trường sư
phạm

900 580 64.4 %
5
Hỗ trợ GD miền núi, vùng dân tộc ít
người và vùng có nhiều khó khăn

800 641 80,1 %
6
Tăng cường CSVC các trường học,
các trung tâm kỹ thuật tổng hợp-
HN, các trường ĐH, THCN trọng
điểm
1.300 1.185 91,1 %
7 Tăng cường năng lực đào tạo nghề 1.800 780 43,3 %

Tổng cộng 8.300 5.527,7 66,6 %
Nguồn:Phòng SNVX- Vụ Tài chính HCSN- Bộ Tài chính
Chi NSNN cho GD&ĐT hàng năm theo nhịp độ tăng trưởng kinh tế, nên
kinh phí cho CTMTQG GD&ĐT cũng được bố trí tăng năm sau cao hơn năm trước,
mặc dù vậy chi cho CTMTQG GD&ĐT bình quân chung chỉ chiếm chỉ từ 5% - 6%
chi thường xuyên.

Trong đó Dự án đổi mới chương trình nội dung SGK là một trọng tâm thực
hiện trong giai đoạn 2001- 2005 nhằm thực hiện Nghị quyết 40 của Quốc hội nên đã
được ưu tiên bố trí kinh phí, chiếm 35,2% tổng kinh phí CTMTQG Các dự án còn
lại đầu được bố trí kinh phí tăng hàng năm theo những mức độ khác nhau. Mặc dù



vậy, kinh phí CTMTQG hàng năm được giao mới chỉ đáp ứng được từ 60% đến 70
% nhu cầu của ngành GD&ĐT.
2.2.2. Tình hình huy động các nguồn tài chính khác để thực hiện
CTMTQG GD&ĐT giai đoạn 2001-2005
Do tính chất và nhu cầu chi cho mục tiêu của chương trình nên các nguồn tài
chính huy động để chi cho chương trình đều tăng qua từng năm. Cho đến năm 2005
nguồn kinh phí huy động được từ các nguồn tài chính khác thì nguồn từ NSTW hỗ
trợ chiếm tỷ trọng lớn nhất trong từng năm. Trong giai đoạn I, tổng vốn NSTW hỗ
trợ là 5.527,7 tỷ đồng (vốn sự nghiệp) chiếm 71,14% tổng vốn đầu tư. Điều đó cho
thấy vốn huy động để thực hiện chương trình thì vốn từ NSTW hỗ trợ vẫn là chủ
yếu. Việc cấp kinh phí hỗ trợ của Trung ương để thực hiện CTMTQG GD&ĐT đã
có tác động tích cực, khuyến khích các địa phương huy động thêm các nguồn tài
chính khác để thực hiện chương trình. Trong khi NSTW hỗ trợ 71,14 % thì các tỉnh,
thành phố phải huy động thêm 28,86% bằng các nguồn tài chính khác. Nguồn vốn
NSĐP và các nguồn vốn huy động hợp pháp khác đã góp phần quan trọng trong
việc thực hiện các mục tiêu của CTMTQG GD&ĐT. Điều này cũng chứng tỏ việc
xác định mục tiêu, các đối tượng thụ hưởng của dự án đã phù hợp với yêu cầu,
nguyện vọng của địa phương.
Ngân sách địa phương:
Theo báo cáo thực hiện của các tỉnh, thành phố, bình quân hàng năm kinh
phí từ ngân sách địa phương và huy động từ cộng đồng… bổ sung thực hiện
CTMTQG GD&ĐT đạt từ 15% đến 25% tổng kinh phí CTMTQG thực hiện tại địa
phương. Cụ thể như sau:

Bảng số 03: Kinh phí CTMTQG GD&ĐT huy động bổ sung tại địa phương
Đơn vị: Tỷ đồng
Số
TT
Tên các Dự án
CTMTQG GD&ĐT
Năm
2001
Năm
2002
Năm
2003
Năm
2004
Năm
2005
Tổng
cộng



1
Củng cố và phát huy kết
quả phổ cập GDĐH và
XMC, thực hiện PC
THCS
9,0 19,8 23,4 29,4 33,0
114,6
2
Đổi mới chương trình,
nội dung SGK
68,3 108,0 141,0 223,5
540,8
3
Đào tạo cán bộ tin học
và đưa tin học vào nhà
trường, đẩy mạnh dạy
ngoại ngữ trong hệ
thống GDQD
8,0 10,0 11,6
29,6
4
Đào tạo và bồi dưỡng
giáo viên, tăng cường
CSVC các trường sư
phạm
9,5 9,8 6,3 5,4 7,2
38,3
5
Hỗ trợ GD miền núi,
vùng dân tộc ít người và
vùng có nhiều khó khăn
32,0 32,4 25,5 30,0 37,5
157,4
6
Tăng cường CSVC các
trường học, các trung
tâm kỹ thuật tổng hợp-
HN, các trường ĐH,
THCN trọng điểm
130,5 139,5 45,0 63,0 94,5
472,5
7
Tăng cường năng lực
đào tạo nghề
14,7 29,6 38 65 85
232,3

Tổng cộng
195,7
0
299,4 254,2 343,8 492,3
1.585,
4
Nguồn: Vụ KHTC - Bộ Giáo dục và Đào tạo



2.2.3. Thực trạng sử dụng NSNN cho các dự án thuộc CTMTQG GD&ĐT giai
đoạn 2001 -2005
Dự án 1: “Dự án củng cố và phát huy kết quả PCGD tiểu học và Xóa mù
chữ, thực hiện PCGD THCS ”
Kết quả thực hiện dự án (tính đến thời điểm tháng 12 năm 2005):
- Đã kiểm tra và công nhận 36 tỉnh và thành phố đạt chuẩn Quốc gia phổ cập
tiểu học đúng độ tuổi.
- Đã kiểm tra và công nhận 30 tỉnh và thành phố đạt chuẩn Quốc gia phổ cập
giáo dục THCS. Số huyện đã đạt chuẩn 289 huyện; số xã đã công nhận đạt chuẩn là:
5.106 xã, phường.
- Một số tỉnh thành phố như: TP Hồ Chí Minh, TP Hà Nội, TP Hải Phòng,
TP Đà Nẵng… đã và đang triển khai thực hiện phổ cập bậc Trung học phổ thông.
- Dự án triển khai đảm bảo đúng tiến độ. Chất lượng phổ cập của các đơn vị
đã đạt chuẩn khá vững chắc. Hầu hết các đơn vị đạt chuẩn PCGD THCS đều đã đạt
chuẩn PCGD tiểu học đúng độ tuổi.
- Với chủ trương xã hội hóa giáo dục được triển khai sâu rộng tại các địa
phương, các Sở, Ban, Ngành, các tổ chức chính trị xã hội đã tích cực tham gia với
nhiều hình thức phong phú có hiệu quả, hỗ trợ cho sự nghiệp giáo dục
- Kinh phí NSTW phân bổ còn ít, nhiều tỉnh đã phải cắt giảm kinh phí chi
thường xuyên để bổ sung thực hiện dự án, điều này đã trở thành gánh nặng đối với
những tỉnh Miền núi, có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn.
Dự án 2: “Dự án đổi mới chương trình nội dung sách giáo khoa”
Thực hiện Nghị quyết số 40/2000/QH10 của Quốc hội về đổi mới chương
trình giáo dục phổ thông, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành chỉ thị số 14/2001/CT-
TTg quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị quyết của Quốc hội. Bộ GD&ĐT
đã xây dựng các kế hoạch và khẩn trương tổ chức thực hiện trong toàn ngành
Tại cấp Trung ương, Kết quả đạt được:
- Về chương trình: Đã xây dựng, hoàn thiện được các bộ chương trình mới
sau đây: Chương trình GD Mẫu giáo, Mầm non (2004); Chương trình GD Tiểu học



(2001); chương trình GD THCS (2002); Chương trình GD THPT (2002); Chương
trình GD THPT kỹ thuật (2004); Chương trình GD THCN; Chương trình GD không
chính quy (Bổ túc văn hóa- 2003);
- Về tài liệu giảng dạy và sách giáo khoa: Đã biên soạn được các bộ tài liệu
và sách giáo khoa mới sau đây: Bộ tài liệu dùng cho nhà trẻ và mẫu giáo; Bộ sách
GD tiểu học (9 môn); Bộ sách giáo khoa THCS (13 môn học); Bộ sách giáo khoa
THPT (13 môn học); Bộ tài liệu kỹ thuật- nghề THPT kỹ thuật; Bộ giáo trình
THCN mới; Bộ sách giáo khoa bổ túc văn hóa (từ lớp 6 đến lớp 9); 05 bộ sách giáo
khoa dạy chữ dân tộc (H’mông, Khmer, Bana, Jrai, Chăm); Xây dựng chương trình
và sách giáo khoa, sách giáo viên tiếng Pali và ngữ văn Khmer cho trường bổ túc
văn hóa Pali trung cấp Nam Bộ.
- Về sách lý luận và sách hướng dẫn phương pháp giảng dạy: Đã hoàn thành:
03 bộ tài liệu Đổi mới phương pháp dạy học các môn học ở Tiểu học, THCS và
THPT. 03 bộ tài liệu đổi mới đánh giá kết quả học tập của học sinh Tiểu học,
THCS, THPT. 04 bộ tài liệu bồi dưỡng, tập huấn giáo viên dạy theo chương trình và
sách giáo khoa mới. Đã xây dựng một số băng hình và phần mềm dạy học phục vụ
bồi dưỡng giáo viên (sử dụng tại các lớp huấn luyện hè và phát trên VTV2).
- Bồi dưỡng giáo viên: Tổ chức đầy đủ các lớp bồi dưỡng giáo viên cốt cán
theo đúng tiến độ thay sách, tập trung tại Trung ương với thời lượng bình quân từ 7-
10 ngày. Kết thúc tập huấn, số giáo viên cốt cán tổ chức bồi dưỡng cho giáo viên
dạy đại trà tại các địa phương theo chương trình và sách giáo khoa mới.
- Tổ chức nghiên cứu, ban hành danh mục thiết bị, đồ dùng dạy học. Trang
cấp thiết bị cho các trường tham gia giảng dạy thí điểm theo chương trình và sách
giáo khoa mới.
Tại cấp địa phương:
Tất cả địa phương đều thực hiện đủ số kinh phí được giao. Trong quá trình
xây dựng dự toán, Bộ GD&ĐT đã tính nhu cầu với định mức tối thiểu, nhưng kinh
phí Trung ương chỉ đáp ứng từ 32% đến gần 50 %, cụ thể là:



Bảng số 04: Kinh phí CTMT thực cấp cho các nội dung của Dự án
Đơn vị: Tỷ đồng
Số
TT

Nội dung chi Năm
Nhu cầu
kinh phí

Kinh
phí
CTMT
thực
cấp
Tỷ lệ
1
Thiết bị, đồ dùng dạy học; SGK,
SGV; Tập huấn GV dạy lớp 1, lớp
6
2002 711,5 227,7 32.0%
2
Thiết bị, đồ dùng dạy học; SGK,
SGV; Tập huấn GV dạy lớp 2, lớp
7
2003 725,6 360,0 49.6%
3
Thiết bị, đồ dùng dạy học; SGK,
SGV; Tập huấn GV dạy lớp 3, lớp
8, lớp 10 thí điểm
2004 1.029,0 470,0 45.7%
4
Thiết bị, đồ dùng dạy học; SGK,
SGV; Tập huấn GV dạy lớp 4, lớp
9, lớp 10 thí điểm vòng 2, lớp 11
thí điểm vòng 1
2005 1.500,0 745,0 49.7%

Tổng cộng 3.966,1 1.802,7 45.5%

Nguồn: Vụ Tài chính HCSN- Bộ Tài chính
Do ngân sách Trung ương không đáp ứng đủ nhu cầu, nên việc phân bổ được
tính toán hỗ trợ cho các tỉnh với các mức khác nhau, tùy theo điều kiện kinh tế xã
hội của địa phương.
Kết quả đạt được:
- Kinh phí của dự án đã được sử dụng đúng mục đích, đạt được mục tiêu và
tiến độ đề ra về mua sắm SGK; bồi dưỡng nghiệp vụ cho giáo viên và mua sắm đồ
dùng dạy học theo yêu cầu của chương trình và SGK mới (Năm 2002- 2003: thay



lớp 1, lớp 6; Năm 2003- 2004: thay sách lớp 2, lớp 7; năm 2004- 2005: thay sách
lớp 3, lớp 8 và tổ chức dạy thí điểm bậc THPT; năm học 2005-2006 thay sách lớp 4,
lớp 9 và tiếp tục thí điểm bậc THPT).
- Bước đầu tạo được sự chuyển biến mới về đổi mới nội dung, phương pháp
dạy và học, tạo nề nếp sử dụng thiết bị dạy học trong trường phổ thông.
- Nhiều địa phương, nhất là các tỉnh Miền núi, vùng khó khăn chưa đủ kinh
phí mua sắm thiết bị đồng bộ theo danh mục, thiếu phòng làm kho, giá , tủ để bảo
quản thiết bị, phòng thí nghiệm, phòng học bộ môn, để sử dụng nên ảnh hưởng
nhiều đến chất lượng và hiệu quả sử dụng thiết bị
- Hầu hết các tỉnh khó khăn (hưởng trợ cấp của ngân sách Trung ương) chỉ
thực hiện dự án bằng nguồn hỗ trợ của ngân sách Trung ương, không có điều kiện
bổ sung thêm bằng ngân sách địa phương nên chưa trang bị đủ thiết bị, đồ dùng dạy
học đồng bộ theo danh mục quy định.
- Cán bộ làm công tác thiết bị còn thiếu nhiều, hầu hết chưa qua đào tạo có
hệ thống, vì vậy chủ yếu làm nhiệm vụ coi kho, đây là một trong những nguyên
nhân quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng thiết bị chưa cao.
Dự án 3:“Dự án Đào tạo cán bộ tin học, đưa tin học vào nhà trường, đẩy
mạnh dạy ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục Quốc dân”
Kinh phí CTMT cấp cho dự án này từ năm 2002 đến năm 2005 là: 200 tỷ
đồng đạt tỷ lệ thấp (25%) so với dự toán, trong đó:
- Chi cho các trường ĐH, CĐ trực thuộc Bộ GD&ĐT: 52 tỷ đồng
- Cấp cho các địa phương: 148 tỷ đồng
Kết quả đạt được :
- Dự án triển khai đúng mục đích, bước đầu đã đạt được những kết quả nhất
định.
- Theo báo cáo của các địa phương, tính đến hết năm học 2003-2004, hầu hết
các trường THPT (gần 2.140 trường) đã có ít nhất 01 máy vi tính được kết nối
Internet. Đến hết năm 2005 đã có 50% số trường THCS có ít nhất 01 máy vi tính
được nối mạng.



- Các Trung tâm GDTX, các Phòng Giáo dục đều đã có ít nhất 01 máy được
nối mạng Internet. Một số tỉnh có điều kiện đã kết nối mạng giữa Sở GD&ĐT với
các trường và các đơn vị trực thuộc.
- Kinh phí ngân sách Trung ương cấp hàng năm còn thấp, chưa đáp ứng được
mục tiêu thực hiện dự án, theo yêu cầu của Quyết định số 331/QĐ-TTg ngày
06/4/2004 của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình phát triển nguồn nhân lực
CNTT đến năm 2010.
- Nhiều trường THPT ở một số tỉnh Miền núi chưa từng được trang bị máy vi
tính, do đó thiếu phương tiện thực hành nên chất lượng giảng dạy tin học không
cao, thậm chí nhiều trường THCS còn chưa được học môn tin học và ngoại ngữ.
Để thực hiện được đầy đủ mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực CNTT, đẩy mạnh
giảng dạy, ứng dụng CNTT ở tất cả các ngành học, bậc học… thì đòi hỏi phải tiếp
tục tăng nguồn kinh phí, tập trung đầu tư thực hiện dự án này trong giai đoạn tới.
Dự án 4: “Dự án đào tạo và bồi dưỡng giáo viên, tăng cường CSVC các
trường sư phạm”
Từ năm 2001 đến năm 2005, kinh phí CTMT cấp cho dự án này là 580 tỷ
đồng, đạt 64,4% nhu cầu kinh phí, trong đó:
- Chi cho các trường ĐH, CĐ sư phạm trực thuộc Bộ: 154,9 tỷ đồng;
- Chi cho các trường sư phạm địa phương: 425,1 tỷ đồng.
Bộ GD&ĐT đã chỉ đạo các địa phương tiến hành quy hoạch, sắp xếp mạng
lưới trường sư phạm, từ chỗ toàn ngành có 267 trường xuống còn 86 trường sư
phạm
Kết quả đạt được :
* Đối với các trường sư phạm địa phương:
- Những năm qua CSVC trường sư phạm đã được cải thiện đáng kể. Cùng
với các nguồn vốn bổ sung từ ngân sách địa phương, các tỉnh, thành phố đã tích cực
củng cố, nâng cấp các trường trung học sư phạm thành trường Cao đẳng sư phạm
đào tạo đa cấp; phát triển trường cao đẳng sư phạm thành trường đa ngành.



- Hầu hết các trường sư phạm đều được thụ hưởng kinh phí CTMT để chi cải
tạo, chống xuống cấp nhà học, ký túc xá, nhà ăn, thư viện;
- Mua sắm bổ sung trang thiết bị, đồ dùng dạy học theo chương trình và SGK
mới; Mua sắm sách, tài liệu tham khảo bổ sung cho thư viện; Hỗ trợ cho biên soạn
tài liệu giáo trình… tạo điều kiện cho các trường tăng cường CSVC đáp ứng được
quy mô đào tạo và yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo.
- Bình quân khoảng 10% kinh phí CTMT hàng năm được dùng cho việc bồi
dưỡng giáo viên phổ thông, giáo viên mầm non với các hình thức khác nhau để
nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, nhận thức chính trị tư tưởng, theo các
chương trình: BDTX, BDCH, đào tạo nâng chuẩn. Tính đến hết năm 2005, tỷ lệ
giáo viên được đào tạo chuẩn và trên chuẩn ở nhà trẻ 42%; mẫu giáo 75%; ở tiểu
học: 92% (Trên chuẩn 20%); ở THCS: 93%; ở THPT: 97%; dạy nghề: 71%; THCN:
86,3%; Đại học, Cao đẳng: 45% đạt trình độ thạc sỹ trở lên.
* Đối với các trường ĐH, CĐ sư phạm trực thuộc Bộ:
- Kinh phí CTMT có ý nghĩa lớn đối với các trường sư phạm trong việc tăng
cường CSVC, BDCH giáo viên các bậc học, BDTX và bồi dưỡng theo chu kỳ cho
giáo viên trường sư phạm.
- Trong những năm qua, kinh phí CTMT đã ưu tiên cho các trường sư phạm
mới thành lập mỗi năm bình quân cấp 2.500 triệu đồng đến 3.000 triệu đồng/trường.
Kinh phí CTMT được đầu tư chủ yếu cho xây dựng nhà học, các công trình phụ trợ
như nhà thí nghiệm, các nhà học đa chức năng và cải tạo các ký túc xá, giúp các
trường cải thiện nơi ở của sinh viên sư phạm.
- Các trường sư phạm trực thuộc khác được cấp bình quân 500 triệu đến
1.000 triệu đồng/năm, chủ yếu chi chống xuống cấp CSVC, mua sắm bổ sung trang
thiết bị, bồi dưỡng giáo viên…
- Kinh phí mua sắm máy móc thiết bị, dụng cụ thí nghiệm, đồ dùng dạy học
phục vụ giảng dạy học tập và nghiên cứu khoa học của học sinh và giáo viên trường
sư phạm còn nhiều hạn chế, trong khi các trường sư phạm không có nguồn thu học
phí và luôn chịu áp lực về tăng quy mô và nâng cao chất lượng đào tạo.



Dự án 5: “Dự án hỗ trợ giáo dục miền núi, vùng dân tộc ít người và vùng có
nhiều khó khăn”
Từ năm 2001 đến hết năm 2005, kinh phí của Dự án được cấp là 641 tỷ
đồng, đạt 80,1% tổng nhu cầu kinh phí.
Năm năm qua (2001-2005) cùng với các nguồn vốn huy động khác của địa
phương, Dự án đã đạt được kết quả như sau:
- Xây dựng mới các trường PTDTNT. Số trường được xây dựng mới tăng lên
rõ rệt (từ 2001 đến nay tăng 1 trường PTDTNT TW, 5 trường PTDTNT tỉnh, 76
trường PTDTNT huyện). Đặc biệt các trường nội trú dân nuôi phát triển mạnh: Bậc
THCS có 296 trường với trên 20.000 học sinh nội trú; Bậc học Tiểu học có 639
trường với gần 40.000 học sinh nội trú; Số lớp ghép: 7.900 lớp với gần 16.200 học
sinh. Số lượng các loại hình trường và học sinh được thống kê chi tiết theo bảng
dưới đây:
Bảng số 05: Số lượng các loại hình trường và học sinh
Loại trường /
Năm
Năm 2001
(Số trường/
học sinh)
Năm 2002
(Số
trường/
học sinh)
Năm 2003
(Số
trường/
học sinh)
Năm 2004
(Số
trường/
học sinh)
Năm 2005
(Số
trường/
học sinh)
Cụm xã
104/3500 392/17000 519/52000 680/60000 760/2000
PTDTNT
huyện
190/38000 205/45000 218/47000 266/60000 268/3000
PTDTNT
Tỉnh
43/14000 44/18100 45/18300 48/20000 48/22000
PTDTNT TW
10/3500 10/3700 11/4200 11/4400 11/5000
Nguồn: Phòng SNVX- Vụ Tài chính HCSN- Bộ Tài
chính
- Các trường PTDTNT tỉnh cơ bản đã có đủ phòng học, nhà ở, nhà ăn… với
những quy mô khác nhau.

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×