Tải bản đầy đủ

Hoạt động hạch toán kế toán các chế độ Bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội quận Hai Bà Trưng.doc

Lời nói đầu
Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một trong những loại hình bảo hiểm ra đời từ
rất sớm và đến nay đã đợc thực hiện ở hầu hết tất cả các nớc trên thế giới. ở
Việt Nam, Đảng và Nhà nớc ta luôn coi chính sách BHXH là một chính sách
lớn, quan trọng nhằm không ngừng nâng cao những điều kiện sống, lao động và
luôn tạo sự an toàn trong cuộc sống cho nhân dân. Ngày nay, khi nền kinh tế xã
hội ngày càng phát triển thì hoàn thiện và phát triển hệ thống BHXH là yêu cầu
tất yếu của quá trình phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam cũng nh ở các nớc
trên thế giới.
Cùng với sự phát triển của hệ thống BHXH, đòi hỏi hệ thống kế toán
BHXH cũng phải không ngừng hoàn thiện và phát triển. Mặc dù hiện nay, hệ
thống kế toán BHXH ở nớc ta đã đạt đợc những thành tựu quan trọng, đáp ứng
đợc yêu cầu quản lý ngày càng cao của hệ thống BHXH Việt Nam. Tuy nhiên,
qua quá trình hoạt động nó vẵn còn bộc lộ một số hạn chế cần phải có biện
pháp khắc phục để hệ thống kế toán BHXH Việt Nam không những phù hợp với
sự phát triển của hệ thống BHXH ở nớc ta hiện nay, mà còn có thể hoàn nhập
với hệ thống kế toán ở các nớc phát triển trên thế giới.
Do đó, em nhận thấy việc nghiên cứu và hoàn thiện hoạt động kế toán
BHXH ở nớc ta hiện nay là hết sức cần thiết để nâng cao hiệu quả hoạt động
của hệ thống BHXH Việt Nam. Là một sinh viên chuyên ngành Bảo hiểm, sau
một thời gian học tập ở trờng; tiếp cận thực tế tại BHXH quận Hai Bà Trng đợc

sự chỉ bảo tận tình của cán bộ BHXH Quận; và sự hớng dẫn tận tình cô giáo
Th.s Tô Thiên Hơng, em đã mạnh dạn chọn đề tài cho chuyên đề thực tập tốt
nghiệp là : "Hoạt động hạch toán kế toán các chế độ BHXH tại BHXH
quận Hai Bà Trng".
Kết cấu của đề tài gồm 3 chơng :
Chơng I : Khái quát chung về BHXH và kế toán BHXH.

Chơng II : Thực trạng hoạt động hạch toán kế toán các chế độ BHXH tại
BHXH quận Hai Bà Trng.
Chơng III : Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động hạch toán kế
toán các chế độ BHXH tại quận Hai Bà Trng.

Chơng I.Lý luận chung về bhxh và kế
toán BHXH
I.Khái quát chung về Bảo hiểm xã hội.
1. Sự cần thiết khách quan và vai trò của BHXH.
1.1.Sự cần thiết khách quan của BHXH.
Con ngời muốn tồn tại và phát triển thì cần phải đáp ứng đợc các nhu cầu
tối thiểu của mình đó là đủ ăn, mặc và có chỗ ở, đi lại, . Muốn vậy, ng ời ta
phải lao động để tạo ra của cải vật chất. Để lao động đợc con ngời phải có sức
khoẻ và khả năng lao động nhất định. Trong thực tế không phải lúc nào con ng-
ời nói chung và ngời lao động nói riêng cũng chỉ gặp thuận lợi, có đầy đủ thu
nhập và mọi điều kiện sinh sống bình thờng. Trái lại, có rất nhiều trờng hợp khó
khăn bất lợi, ít nhiều ngẫu nhiên phát sinh làm cho ngời ta bị giảm hoặc mất thu
nhập hoặc các điều kiện sinh sống khác. Chẳng hạn, bất ngờ bị ốm đau hay bị
tai nạn trong lao động, mất việc làm hay khi tuổi già khả năng lao động và khả
năng tự phục vụ bị suy giảm Khi rơi vào những tr ờng hợp này, các nhu cầu
cần thiết trong cuộc sống không vì thế mà mất đi, mà trái lại còn tăng lên, thậm
trí còn xuất hiện một số nhu cầu mới nh: cần đợc khám chữa bệnh và điều trị
khi ốm đau, tai nạn thơng tật nặng cần phải có ngời chăm sóc nuôi dỡng Bởi
vậy, muốn tồn tại ổn định cuộc sống, con ngời và xã hội phải tìm ra và thực tế
đã tìm ra nhiều cách giải quyết khác nhau nh: san sẻ, đùm bọc lẫn nhau trong
nội bộ cộng đồng; đi vay, hoặc dựa vào sự cứu trợ của Nhà nớc Rõ ràng,
những cách đó hoàn toàn thụ động và không chắc chắn.
Nh ở thời cổ đại, do cha có t hữu về t liệu sản xuất, mọi ngời phải tự lực,
đoàn kết, cùng nhau hái lợm, săn bắn, sản phẩm thu đợc phân phối bình quân.
Khi gặp rủi ro, tai biến thì họ vừa tự mình gánh chịu, vừa đợc các thành viên
trong cộng đồng san sẻ, cu mang. ở thời kỳ này, sự tơng trợ lẫn nhau mang tính
tự phát theo bản năng và mới thực hiện trong phạm vi cộng đồng nhỏ nh gia
đình, thôn xóm.



Trong xã hội phong kiến, quan lại thì dựa vào chế độ bổng lộc của nhà
vua, dân c thì dựa vào sự đùm bọc lẫn nhau trong họ hàng, cộng đồng làng xã
hoặc sự giúp đỡ của những ngời hảo tâm và của triều đình. Ngoài ra, họ có thể
đi vay hoặc đi xin. Với những cách này, ngời gặp khó khăn hoàn toàn thụ động
trông chờ vào sự hảo tâm, giúp đỡ của ngời khác. Do vây, sự giúp đỡ mới chỉ là
khả năng có thể có, có thể không, có thể nhiều hoặc ít và không hoàn toàn chắc
chắn.
Từ khi nền kinh tế hàng hoá phát triển và đã xuất hiện việc thuê mớn
nhân công. Lúc đầu, giới chủ cam kết trả công lao động. Dần dần về sau, phải
cam kết đảm bảo cho ngời làm thuê có một thu nhập nhất định để họ trang trải
những nhu cầu sinh sống thiết yếu. Nếu ngời làm thuê bị ốm đau, tai nạn, sinh
con phải nghỉ việc và không có l ơng, cuộc sống lập tức bị đe doạ. Đến lúc
này, những rủi ro uy hiếp ngời làm công ăn lơng không chỉ còn là sinh, lão,
bệnh, tử mà còn là tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp. Ngời lao động cần có
sự đảm bảo, sự bảo vệ tốt hơn cho mình, nhng tiền lơng không thể trang trải đợc
tất cả những khoản đó trong khi ngời sử dụng lao động chỉ muốn tối thiểu hoá
chi phí của mình. Trong thực tế, nhiều khi các trờng hợp rủi ro không xảy ra,
nhng cũng có khi lại xảy ra dồn dập, buộc giới chủ phải bỏ ra một lúc nhiều
khoản tiền mà họ không muốn. Chính vì thế những ngời lao động phải liên kết
nhau để đấu tranh buộc giới chủ phải thực hiện những điều đã cam kết là đáp
ứng nhu cầu cần thiết đó. Cuộc tranh chấp giữa giới chủ và thợ diễn ra rất lâu,
nhng cha bao giờ quyết liệt và đến nay càng trở nên gay gắt hơn và tác động
đến nhiều mặt của đời sống xã hội.
Đứng trớc hoàn cảnh đó, Nhà nớc là ngời thứ ba đứng ra giải quyết mâu
thuẫn và điều hoà lợi ích giữa chủ và thợ. Sự can thiệp này một mặt làm tăng đ-
ợc vai trò của Nhà nớc, mặt khác buộc cả giới chủ và giới thợ phải đóng góp
một khoản tiền nhất định hàng tháng đợc tính toán chặt chẽ dựa trên cơ sở xác
suất rủi ro xảy ra đối với ngời làm thuê. Sự đóng góp của cả chủ và thợ hình
thành một quỹ tiền tệ tập trung trên phạm vi một quốc gia. Quỹ này còn đợc bổ
xung từ ngân sách Nhà nớc khi cần thiết nhằm đảm bảo cho ngời lao động khi
gặp những biến cố bất lợi. Chính nhờ những mối quan hệ ràng buộc đó mà rủi

ro bất lợi của ngời lao động đợc dàn trải, cuộc sống của ngời lao động và gia
đình họ đợc đảm bảo ổn định. Hạn chế những tệ nạn xã hội xảy ra do nguyên
nhân của thất nghiệp và nghèo đói; xây dựng một nền an ninh xã hội bền vững.
Mặt khác, giúp giới chủ có thể ổn định sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh doanh
do năng suất lao động của ngời lao động tăng lên. Bởi lẽ, khi ngời lao động đợc
đảm bảo về lợi ích thì họ sẽ trung thành với doanh nghiệp, làm việc có hiệu quả.
Nh vậy, nền kinh tế sẽ đợc phát triển nhanh chóng và bền vững bởi đợc tăng tr-
ởng về chất.
Nh vậy, toàn bộ những hoạt động đối với những mối quan hệ ràng buộc
chặt chẽ trên thế giới quan niệm là BHXH đối với ngời lao động. Hay nói cách
khác, BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với ng-
ời lao động khi họ không may gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả
năng lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ
tập trung nhăm đảm bảo đời sống cho ngời lao động và gia đình họ góp phần
đảm bảo an toàn xã hội.
Có thể nói rằng, BHXH là nhu cầu khách quan của ngời lao động và đã
trở thành một trong những quyền con ngời và đợc Đại hôi đồng liên hiệp quốc
thừa nhận và ghi vào bản tuyên ngôn Nhân quyền ngày 10/2/1984 nh sau: Tất
cả mọi ngời, với t cách là thành viên của xã hội có quyền hởng BHXH. Quyền
đó đặt cơ sở trên sự thoả mãn các quyền về kinh tế, xã hội và văn hoá cần cho
nhân cách và sự tự do phát triển của con ngời .
1.2.Vai trò của BHXH.
Hoạt động của BHXH là hoạt động sự nghiệp vì lợi ích chung của toàn xã
hội, phục vụ cho mọi thành viên trong xã hội, lợi nhuận không phải mục tiêu
của hoạt động BHXH. Do đó, BHXH có vai trò to lớn trong đời sống kinh tế
xã hội của con ngời, đợc thể hiện trên các mặt sau:
Đối với ngời lao động:
Trong cuộc sống hàng ngày, các loại rủi ro nh: ốm đau, tai nạn lao động,
bệnh nghề nghiệp, thai sản, già yếu rồi chết, có thể xảy ra với bất kỳ ng ời lao
động nào, tại bất kỳ thời điểm nào trong cuộc sống con ngời. Nhất là trong giai

đoạn ngày nay, khi mà đất nớc đang ngày càng hoàn thiện quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá thì những rủi ro này xảy ra một cách thờng xuyên và
có tính chất ngày càng phổ biến hơn và sự biến động của thị trờng lao động và
sản xuất kinh doanh đa dạng hơn, phức tạp hơn. Khi những rủi ro này xảy ra đối
với ngời lao động gây cho họ khó khăn cả về vật chất lẫn tinh thần, gây nên mất
hoặc giảm thu nhập, từ đó gây ra những ảnh hởng không tốt không chỉ cho
chính anh ta, gia đình anh ta mà còn cho cả cộng đồng xã hội loài ngời. Với t
cách là một trong những chính sách kinh tế xã hội của Nhà nớc, BHXH sẽ góp
phần trợ giúp cho cá nhân những ngời lao động gặp phải rủi ro, bất hạnh khắc
phục những khó khăn bằng cách tạo ra cho họ thu nhập thay thế, những điều
kiện lao động thuận lợi, giúp họ ổn định cuộc sống, yên tâm trong công tác,
tạo cho họ một niềm tin vào tơng lai, từ đó góp phần quan trọng vào việc tăng
năng suất lao động cũng nh chất lợng công việc cho xí nghiệp, cơ quan họ đang
làm việc nói riêng và cho toàn xã hội nói chung.
Vì vậy, từ khi BHXH ra đời đối tợng tham gia ngày càng tăng. Cho đến
nay, khái niệm BHXH khá quen thuộc và gần gũi với ngời lao động thuộc tất cả
các thành phần kinh tế.
Đối với ngời sử dụng lao động:
Muốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh đợc đảm bảo thì ngời chủ phải
có vốn, có công nghệ nhng bên cạnh đó cần thiết hơn là phải tạo đợc mối quan
hệ tốt với ngời lao động, giải quyết những vấn đề thuộc phạm vi trách nhiệm
của mình đối với ngời lao động thật tốt để họ yên tâm lao động sản xuất và có
niềm tin vào cuộc sống từ đó họ lao động sản xuất hăng hái hơn, tạo ra nhiều
sản phẩm tốt hơn làm cho quá trình sản xuất kinh doanh của ngời chủ sử dụng
lao động hoạt động đạt kết quả cao, thu nhiều lợi nhuận. Muốn vậy, ngời chủ sử
dụng lao động phải tham gia đóng BHXH cho những ngời lao động của mình để
có thể đảm bảo những khoản chi cần thiết, kịp thời đến ngời lao động khi họ
gặp phải những rủi ro bất chắc. Việc tham gia đóng BHXH cho ngời lao động
của ngời chủ sử dụng lao động là góp vào quá trình hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp ngày càng phát triển hơn, nâng cao năng suất, hiệu quả

lao động sản xuất của doanh nghiệp cũng nh nâng cao thu nhập cho ngời lao
động và đóng góp vào việc phát triển nền kinh tế của đất nớc. Nói cách khác,
ngoài tiền công thì BHXH là động lực thúc đẩy hoạt động của ngời lao động.
Chính vì vậy, ngời chủ sử dụng lao động tham gia BHXH không chỉ đem lại lợi
ích cho ngời lao động mà còn cho chính bản thân họ.
Đối với xã hội:
Thứ nhất, cần phải khẳng định rằng hoạt động BHXH là một hoạt động
dịch vụ, BHXH là một doanh nghiệp sản xuất ra những dịch vụ bảo hiểm
cho ngời lao động, một dịch vụ mà bất cứ ai cũng cần đến. Nếu các doanh
nghiệp này ngày càng sản xuất ra nhiều loại dịch vụ bảo hiểm thì giá trị của
những sản phẩm dịch vụ này cũng đợc tính trực tiếp vào tổng sản phẩm xã hội.
Thứ hai, với t cách là một trong những chính sách kinh tế xã hội của Nhà
nớc, BHXH sẽ bảo hiểm cho ngời lao động, hoạt động BHXH sẽ giải quyết
những trục trặc, rủi ro xảy ra đối với ngời lao động, góp phần tích cực của
mình vào việc phục hồi năng lực làm việc, khả năng sáng tạo của sức lao động.
Sự góp phần này tác động trực tiếp đến việc nâng cao năng suất lao động cá
nhân và xã hội với sự trợ giúp của ngời lao động khi họ gặp rủi ro bằng cách tạo
ra thu nhập thay thế thì BHXH đã gián tiếp tác động đến chính sách tiêu dùng
quốc gia làm tăng sự tiêu dùng cho xã hội.
Thứ ba, với t cách là một quỹ tiền tệ, BHXH tác động mạnh mẽ đến hệ
thống tài chính Nhà nớc, tới hệ thống tín dụng tiền tệ ngân hàng. Chính vì vậy,
đặt ra yêu cầu cho quỹ BHXH phải bảo tồn và phát triển quỹ bằng nhiều hình
thức khác nhau trong đó có hình thức phát triển phần nhàn rỗi của quỹ. Phần
này có tác động không nhỏ tới quá trình phát triển kinh tế của đất nớc, góp phần
tạo ra những cơ sở sản xuất kinh doanh mới, việc làm mới, góp phần quan trọng
trong việc tạo ra việc làm cho ngời lao động. Từ đó, góp phần giải quyết tình
trạng thất nghiệp của đất nớc, góp phần tăng thu nhập cho cá nhân ngời lao
động nói riêng và tăng tổng sản phẩm quốc nội cũng nh tổng sản phẩm quốc gia
nói chung.

2. Những nội dung cơ bản của BHXH.
2.1.Bản chất của BHXH.
Ngày nay, Bảo hiểm xã hội phát triển mạnh và là một bộ phận quan trọng
nhất của hệ thống đảm bảo xã hội (hay còn gọi là an sinh xã hội) và ở nhiều
quốc gia có xu hớng hoà nhập giữa Bảo hiểm xã hội và Bảo đảm xã hội. Tuy
nhiên sự hoà hợp này không có nghĩa là hai thuật ngữ này là một. Theo quan
điểm của nhiều nhà nghiên cứu: Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế
hoặc bù đắp một phần thu nhập cho ngời lao động khi họ bị mất hoặc giảm
khả năng lao động hoặc mất việc làm vì những rủi ro xã hội, thông qua việc
hình thành và sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia
Bảo hiểm xã hội, góp phần đảm bảo an toàn cuộc sống của ngời lao động và
gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an toàn xã hội.
Bảo hiểm xã hội là một loại hình bảo hiểm đặc biệt. Nó khác với những
loại hình bảo hiểm khác bởi tính xã hội và tính chất phi lợi nhuận. Ngời tham
gia bảo hiểm chỉ đóng một khoản trích từ tiền lơng, nhng lại đợc hởng 6 chế độ:
hu trí, tử tuất, thai sản, tai nạn lao động bệnh nghề nghiệp, ốm đau và nghỉ dỡng
sức. Tiền bảo hiểm không đợc tính toán dựa trên sự tơng quan giữa phí bảo
hiểm, lợng khách hàng thực tế và khách hàng tiềm năng nh trong Bảo hiểm th-
ơng mại, mà số tiền Bảo hiểm xã hội đợc căn cứ theo thu nhập của ngời lao
động trớc khi gặp rủi ro hoặc theo mức lơng tối thiểu theo quy định hiện hành
của Nhà nớc.
Với cách hiểu nh trên, bản chất của Bảo hiểm xã hội đợc thể hiện ở
những nội dung chủ yếu sau:
Về phơng diện cá nhân.
BHXH là một nhu cầu của con ngời, mục đích chính của BHXH là ổn
định cuộc sống cho ngời lao động và gia đình họ khi không may bị ốm đau, tai
nạn, ... Mục đích này đáp ứng đợc tất cả mọi ngời lao động trong xã hội. Tuy
nhiên, không phải nhu cầu nào con ngời cũng đợc thoả mãn mà nó dựa vào giá
trị trong cuộc sống tối thiểu trớc khi thoả mãn nhu cầu rộng lớn hơn trong đời

sống của con ngời. Còn đối với ngời chủ sử dụng lao động, họ mạnh dạn mở
rộng sản xuất kinh doanh thuê mớn lao động kể cả lao động phổ thông, từ đó
góp phần mở rộng quy mô sản xuất.
Về phơng diện kinh tế xã hội.
Có thể nói BHXH vừa mang tính chất kinh tế vừa mang tính chất xã hội:
Về bản chất kinh tế: BHXH là phạm trù kinh tế tổng hợp. Trong đó
đối với những ngời lao động hởng các chế độ xã hội thì là sự đảm
bảo thu nhập khi họ gặp phải rủi ro. Trong phạm vi của nền kinh tế
quốc dân, BHXH mang nội dung của quá trình phân phối và phân
phối lại một phần thu nhập trong dân c thông qua việc hình thành và
sử dụng quỹ BHXH. Nền kinh tế càng phát triển thì BHXH càng đa
dạng và hoàn thiện. Vì thế, có thể nói kinh tế là nền tảng của BHXH
hay BHXH không vợt qua trạng thái kinh tế của mỗi nớc.
Về mặt xã hội: Nhờ thực hiện nguyên tắc số đông bù số ít mà quỹ
BHXH luôn có một lợng đủ lớn, đủ trang trải mọi chi phí cho những
rủi ro do xã hôi gây ra. BHXH đợc xem nh một loạt các hoạt động
mang tính xã hội, nhằm đảm bảo đời sống cho ngời dân và làm lành
mạnh xã hội. Thông qua đó, BHXH bảo vệ và phát triển nguồn lao
động xã hội, mở rộng sản xuất, phát triển kinh tế, ổn định trật tự xã
hội nói chung. BHXH mang tính nhân văn, nhân đạo sâu sắc, vì lợi
ích của con ngời trong những lúc khó khăn, vì an sinh xã hội và có ý
nghĩa xã hội lâu dài.
Bản chất kinh tế và bản chất xã hội của BHXH luôn có sự đan xen, hoà
quyện. Khi nói đến tính kinh tế thì bao hàm cả tính xã hội và ngợc lại.
Về phơng diện chính trị.
BHXH là sự liên kết giữa các nhóm ngời lao động khác nhau trong xã hội
cùng vì lợi ích chung của cộng đồng. Trong đó, các cá nhân tham gia BHXH
cũng phản ánh bản chất của một chế độ xã hội nhất định. Đối với một quốc gia,
đây còn là một hoạt động thể hiện thái độ trách nhiệm của Chính phủ đối với

ngời dân trong xã hội. Trong rất nhiều nớc, sự ổn định hay rối loạn của hệ thống
BHXH là một bộ phận trong hệ thống chính sách xã hội quản lý đất nớc của
quốc gia đó. Đây là mối quan hệ ba bên (Nhà nớc, ngời lao động và ngời sử
dụng lao động) rất chặt chẽ.
2.2.Đối tợng tham gia và đối tợng hởng Bảo hiểm xã hội.
BHXH ra đời vào những năm giữa thế kỷ 19, khi nền công nghiệp và
kinh tế hàng hoá đã bắt đầu phát triển mạnh mẽ ở các nớc châu Âu. Từ năm
1883, ở nớc Phổ (CHLB Đức ngày nay) đã ban hành luật bảo hiểm y tế. Một số
nớc châu Âu và Bắc Mỹ mãi đến cuối năm 1920 mới có đạo luật về BHXH.
Tuy ra đời lâu nh vậy, nhng đối tợng của BHXH vẫn có nhiều quan điểm
cha thống nhất. Đôi khi còn có sự nhầm lẫn giữa đối tợng BHXH với đối tợng
tham gia BHXH.
Chúng ta đều biết, BHXH là một hệ thống đảm bảo khoản thu nhập bị
giảm hoặc bị mất đi do lao động bị giảm hoặc bị mất khả năng lao động, mất
việc làm vì các nguyên nhân nh ốm đau, tai nạn, già yếu, Chính vì vậy, đối t -
ợng của BHXH chính là thu nhập của ngời lao động bị biến động giảm hoặc
mất đi do bị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm của những ngời
lao động tham gia BHXH.
Đối tợng tham gia BHXH là ngời lao động và ngời sử dụng lao động. Tuy
vậy, tuỳ theo điều kiện phát triển kinh tế xã hội của mỗi nớc mà đối tợng này
có thể là tất cả hoặc một bộ phận những ngời lao động nào đó.
Trong từng điều kiện phát triển khác nhau, trớc hết là trình độ phát triển
kinh tế, hay trong từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội nhất định của mỗi nớc
mà nội dung và phạm vi thực hiện khác nhau. Sự khác nhau này thể hiện trong
ba cấp độ hoạt động của BHXH nh sau:
Cấp độ thứ nhất: BHXH áp dụng cho mọi thành viên trong xã hội, dới
hình thức nh là bảo trợ xã hội. Đối tợng đợc hởng ở đây là những ngời
nghèo không có khả năng đóng phí BHXH. Đó là những ngời nghèo có
thu nhập thấp, ngời già cô đơn, trẻ em mồ côi không nơi nơng tựa,

Những ngời này vẫn có những bảo trợ nhất định khi cần thiết. Việc chi trả
cho các đối tợng này đợc nhà nớc đứng ra bảo đảm, đó là trách nhiệm của
Nhà nớc. Nguồn chi trả cho các khoản trợ cấp đợc bao cấp từ ngân sách
Nhà nớc là chủ yếu, và một phần từ sự quyên góp của các tổ chức, các cá
nhân trong xã hội.
Cấp độ thứ hai: BHXH thực hiện đối với những ngời có công ăn việc làm
tại các doanh nghiệp trong các cơ quan, các tổ chức của Nhà nớc, Chính
phủ, họ là những ng ời có thu nhập. Những ngời này thuộc đối tợng bắt
buộc tham gia đóng phí BHXH để hoàn thành quỹ BHXH. Quỹ BHXH là
cơ sở về tài chính cho các chế độ BHXH mà ngời đóng góp sẽ đợc hởng.
Những ngời này là đối tợng chính, chiếm phần chủ yếu trong tổng số
những ngời tham gia và đợc hởng quyền lợi, lợi ích của BHXH.
Cấp độ thứ ba: BHXH mang tính tự nguyện, ở cấp độ này sẽ có những
hình thức áp dụng cho những ngời tự nguyện lựa chon một hay một số chế
độ bảo hiểm mà họ có nhu cầu, hoặc những ngời có thu nhập cao tự
nguyện lựa chọn mức đóng để sau đó có mức hởng tơng ứng. Ngành
BHXH sẽ có chế độ và quy định riêng cho các đối tợng này kể cả về quản
lý và tổ chức thực hiện cũng nh trên phơng diện hạch toán.
Hầu hết các nớc khi mới có chính sách BHXH, đều thực hiện BHXH đối
với các viên chức Nhà nớc, những ngời làm công hởng lơng. Việt Nam cũng
không vợt ra khỏi thực tế này, mặc dù biết rằng nh vậy là cha bình đẳng giữa tất
cả những ngời lao động.
Ngày nay, đối tợng tham gia BHXH không ngừng đợc mở rộng, từ đó
góp phần đảm bảo sự công bằng giữa tất cả những ngời lao động thuộc mọi
thành phần, lĩnh vực kinh tế khác nhau.
2.3.Hệ thống các chế độ BHXH.
Chính sách BHXH là một trong những chính sách xã hội cơ bản nhất của
mỗi quốc gia. Nó là những quy định chung, rất khái quát về cả đối tợng, phạm
vi, các mối quan hệ và những giải pháp lớn nhằm đạt đợc mục tiêu chung đã đề
ra đối với BHXH. Việc ban hành các chính sách BHXH phải dựa vào điều kiện

kinh tế - xã hội của đất nớc trong từng thời kỳ và xu hớng vận động khách quan
của toàn bộ nền kinh tế xã hội.
Chế độ BHXH là sự cụ thể hoá chính sách BHXH, là hệ thống các quy
định cụ thể và chi tiết, là sự bố trí, sắp xếp các phơng tiện để thực hiện BHXH
đối với ngời lao động. Nói cách khác, đó là một hệ thống các quy định đợc pháp
luật hoá về đối tợng hởng, nghĩa vụ và mức đóng góp cho từng trờng hợp
BHXH cụ thể. Chế độ BHXH thờng đợc biểu hiện dới dạng các văn bản pháp
luật và dới luật, các thông t, điều lệ, Tuy nhiên, dù có cụ thể đến đâu thì các
chế độ BHXH cũng khó có thể bao hàm đầy đủ mọi chi tiết trong quá trình thực
hiện chính sách BHXH. Vì vậy, khi thực hiện mỗi chế độ thờng phải nắm vững
những vấn đề mang tính cốt lõi của chính sách BHXH, để đảm bảo tính đúng
đắn và nhất quán trong toàn bộ hệ thống các chế độ BHXH.
Theo khuyến nghị của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã nêu trong
Công ớc 102 tháng 6 năm 1952 tại Giơnevơ, hệ thống các chế độ BHXH bao
gồm:
(1) Chăm sóc y tế.
(2) Trợ cấp ốm đau.
(3) Trợ cấp thất nghiệp.
(4) Trợ cấp tuổi già.
(5) Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp.
(6) Trợ cấp gia đình.
(7) Trợ cấp sinh đẻ.
(8) Trợ cấp khi tàn phế.
(9) Trợ cấp cho ngời còn sống.
Chín chế độ trên hình thành một hệ thống các chế độ BHXH. Tuỳ điều
kiện kinh tế xã hội mà mỗi nớc tham gia công ớc Giơnevơ thực hiện khuyến
nghị đó ở mức độ khác nhau, nhng ít nhất phải thực hiện đợc 3 chế độ. Trong
đó, ít nhất phải có một trong năm chế độ : (3), (4), (5), (8), (9).

Toàn bộ hệ thống cũng nh mỗi chế độ BHXH trong hệ thống trên khi xây
dựng đều phải dựa vào những cơ sở kinh tế xã hôi nh : Cơ cấu ngành kinh tế
quốc dân, tiền lơng và thu nhập của ngời lao động, hệ thống tài chính của quốc
gia, Đồng thời tuỳ từng chế độ khi xây dựng còn phải tính đến các yếu tố sinh
học, yếu tố môi trờng nh: tuổi thọ bình quân của ngời lao động, nhu cầu dinh d-
ỡng, xác suất tai nạn lao động và tử vong, độ tuổi sinh đẻ của lao động nữ, môi
trờng lao động,
Để áp dụng các chế độ BHXH phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội
của Việt Nam, Đảng và Nhà nớc ta đã không ngừng đổi mới các chính sách
BHXH và ngày càng hoàn thiện. Hiện nay, theo điều 2 của điều lệ BHXH Việt
Nam, BHXH nớc ta bao gồm 5 chế độ : chế độ trợ cấp ốm đau, chế độ trợ cấp
thai sản, chế độ trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, chế độ hu trí,
chế độ tử tuất. So với trớc đây, chế độ trợ cấp mất sức lao động đã bị loại bỏ.
2.4.Quỹ Bảo Hiểm Xã Hội.
Quỹ BHXH là một quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách
Nhà nớc. Mục đích của tạo lập quỹ BHXH là dùng để bù đắp hoặc thay thế thu
nhập cho ngời lao động khi họ gặp phải những biến cố rủi ro làm suy giảm sức
khoẻ, mất khả năng lao động, mất việc làm, chết ; nhằm đảm bảo cuộc sống cho
bản thân ngời lao động và những ngời ruột thịt của ngời lao động trực tiếp phải
nuôi dỡng, góp phần đảm bảo an toàn xã hội và phát triển kinh tế đất nớc. Quỹ
đợc hình thành chủ yếu từ các nguồn sau :
Ngời sử dụng lao động đóng góp.
Ngời lao động đóng góp.
Nhà nớc đóng và hỗ trợ thêm.
Các nguồn khác (nh cá nhân và các tổ chức từ thiện ủng hộ, lãi do đầu t
phần quỹ nhàn rỗi).
Trong nền kinh tế hàng hoá, trách nhiệm tham gia đóng BHXH cho ngời
lao động đợc phân chia cho cả ngời sử dụng lao động và ngời lao động trên cơ
sở quan hệ lao động. Điều này không phải là sự phân chia rủi ro mà là lợi ích

giữa hai bên. Về phía ngời sử dụng lao động, sự đóng góp một phần BHXH cho
ngời lao động sẽ tránh thiệt hại khi có rủi ro xảy ra với lao động của họ, đồng
thời nhằm cải thiện mối quan hệ chủ thợ. Về phía ngời lao động, sự đóng góp
vừa thể hiện sự tự gánh chịu trực tiếp với rủi ro của minh vừa có ý nghĩa ràng
buộc nghĩa vụ và quyền lợi một cách chặt chẽ.
Mối quan hệ chủ thợ trong BHXH thực chất là mối quan hệ lợi ích. Vì
thế, cũng nh nhiều lĩnh vực khác trong quan hệ lao động, BHXH không thể
thiếu đợc sự tham gia đóng góp của Nhà nớc. Trớc hết là luật lệ về BHXH,
ngoài ra bằng nhiều hình thức, biện pháp và mức độ can thiệp khác nhau, Nhà
nớc không chỉ tham gia đóng góp và hỗ trợ thêm cho quỹ BHXH mà còn trở
thành chỗ đứng để đảm bảo cho BHXH chắc chắn và ổn định.
Phần lớn các nớc trên thế giới, quỹ BHXH đều đợc hình thành từ các
nguồn trên. Tuy nhiên, phơng thức đóng góp và mức đóng góp của các bên có
khác nhau.
Về phơng thức đóng góp BHXH của ngời lao động và ngời sử dụng lao
động hiện vẫn còn 2 quan điểm. Quan điểm thứ nhất cho rằng, phải căn cứ vào
mức lơng cá nhân và quỹ lơng của cơ quan, doanh nghiệp. Quan điểm thứ hai
lại nêu lên, phải căn cứ vào mức thu nhập cơ bản của ngời lao động đợc cân đối
chung trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân để xác định mức đóng góp.
Về mức đóng góp BHXH, một số nớc quy định ngời sử dụng lao động
phải chịu toàn bộ chi phí cho chế đội tai nạn lao động, Chính phủ trả chi phí y
tế và trợ cấp gia đình, các chế độ còn lại cả ngời lao động và ngời sử dụng lao
động cùng đóng góp mỗi bên một phần bằng nhau. Một số nớc khác lại quy
định, Chính phủ bù thiếu cho quỹ BHXH hoặc toàn bộ chi phí quản lý BHXH,

Mức đóng góp BHXH thực chất là phí BHXH, phí BHXH là yếu tố quyết
định sự cân đối thu chi quỹ BHXH. Vì vậy, quỹ này thờng đợc tính toán một
cách khoa học. Trong thực tế, việc tính phí BHXH là chuyên sâu của BHXH và
ngời ta thờng sử dụng các phơng pháp toán học khác nhau để xác định. Khi tính
phí BHXH, có thể có những căn cứ tính toán khác nhau :

Dựa vào tiền lơng và thang lơng để xác định mức trợ cấp BHXH, từ đó có
cơ sở xác định mức phí đóng.
Quy định mức phí BHXH trớc rồi từ đó mới xác định mức hởng.
Dựa vào nhu cầu khách quan của ngời lao động để xác định mức hởng, rồi
từ mức hởng BHXH này có thể xác định đợc mức phí phải đóng.
Mặc dù chỉ thuần tuý mang tính kỹ thuật nhng xác định phí BHXH lại
khá phức tạp vì nó liên quan đến cả ngời lao động, ngời sử dụng lao động và
Nhà nớc. Liên quan đến khả năng cân đối thu nhập của ngời lao động và điều
kiện phát triển kinh tế xã hội của đất nớc. Tuy nhiên, khi xác định phí vẫn phải
đảm bảo các nguyên tắc : Cân bằng thu chi, lấy số đông bù số ít và có dự
phòng. Mức phí xác định phải đợc cân đối với mức hởng, với nhu cầu BHXH và
điều chỉnh sao cho tối u nhất.
Phí BHXH đợc xác định theo công thức sau :
P = f
1
+ f
2
+ f
3
Trong đó :
P phí BHXH.
f
1
phí thuần tuý trợ cấp BHXH.
f
2
phí dự phòng.
f
3
phí quản lý.
Phí thuần tuý trợ cấp BHXH cho cả chế độ ngắn hạn và dài hạn. Đối với
các chế độ BHXH ngắn hạn, việc đóng và hởng BHXH xảy ra trong thời gian
ngắn (thờng là 1 năm) nh : ốm đau, thai sản, tai nạn lao động nhẹ,.. Vì vậy, số
đóng góp BHXH phải đủ cho số phát sinh chi trả trong năm. Đối với các chế độ
BHXH dài hạn nh : Hu trí, trợ cấp mất ngời nuôi dỡng, tai nạn lao động hoặc
bệnh nghề nghiệp nặng, quá trình đóng và quá trình h ởng BHXH tơng đối
độc lập với nhau và diễn ra trong khoản thời gian nhất định. Cho nên, sự cân
bằng giữa đóng góp và hởng BHXH phải đợc dàn trải trong cả thời kỳ dài. Vì

thế , ngoài phí thuần tuý phải có phí dự phòng để đảm bảo quỹ BHXH có dự trữ
đủ lớn.
Nh vậy, để xác định đợc mức phí phải đóng và mức hởng BHXH phải
dựa vào nhiều yếu tố và nhiều thông tin khác nhau về nguồn lao động, cơ cấu
nguồn lao động theo độ tuổi, giới tính, ngành nghề, Ngoài ra, còn phải xác
định và dự báo đợc tuổi thọ bình quân của mỗi quốc gia, xác suất ốm đau, tai
nạn, tử vong của ngời lao động,
II.Khái quát chung về kế toán BHXH.
1. Bản chất của hoạt động kế toán BHXH.
1.1.Khái niệm.
Kế toán Bảo hiểm xã hội là công việc tổ chức hệ thống thông tin bằng số
liệu để quản lý và kiểm soát nguồn kinh phí, tình hình sử dụng, quyết toán kinh
phí, tình hình quản lý và sử dụng các loại vật t, tài sản công ; tình hình chấp
hành dự toán thu, chi và thực hiện các tiêu chuẩn, định mức của Nhà nớc ở đơn
vị.
Chế độ kế toán Bảo hiểm xã hội áp dụng cho tất cả các đơn vị Bảo hiểm
xã hội quận, huyện, tỉnh, thành phố và Bảo hiểm xã hội Việt Nam. Các đơn vị
BHXH quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh là đơn vị dự toán cấp III.
Các đơn vị Bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ơng và các đơn vị
Bảo hiểm xã hội khác trực thuộc BHXH Việt Nam là đơn vị dự toán cấp II. Bảo
hiểm xã hội Việt Nam là đơn vị dự toán cấp I. Các đơn vị Bảo hiểm xã hội phải
chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của Nhà nớc về kế toán và các quy định
trong Chế độ kế toán Bảo hiểm xã hội.
Kế toán Bảo hiểm xã hội có nhiệm vụ sau :
Thu thập, phản ánh, xử lý và tổng hợp thông tin về các khoản thu, các
khoản chi BHXH, về các nguồn kinh phí đợc cấp, đợc tài trợ và tổng hợp
tình hình sử dụng các khoản kinh phí tại đơn vị.

Thực hiện kiểm tra, kiểm soát tình hình chấp hành chế độ thu, chi Bảo
hiểm xã hội, chấp hành dự toán thu, chi ; tình hình thực hiện các chỉ tiêu
kinh tế, tài chính và các tiêu chuẩn, định mức của Nhà nớc ; kiểm tra việc
quản lý, sử dụng các loại vật t, tài sản công ở đơn vị ; kiểm tra tình hình
chấp hành kỷ luật thu nộp Bảo hiểm xã hội lên cơ quan Bảo hiểm xã hội
cấp trên, chấp hành kỷ luật thanh toán và các chế độ, chính sách tài chính
của Nhà nớc.
Theo dõi và kiểm soát tình hình phân phối kinh phí cho các đơn vị Bảo
hiểm xã hội cấp dới, tình hình chấp hành dự toán thu, chi và quyết toán sử
dụng kinh phí của các đơn vị Bảo hiểm xã hội cấp dới.
Lập và nộp đúng thời hạn các báo cáo tài chính cho cơ quan Bảo hiểm xã
hội cấp trên và cơ quan tài chính theo quy định. Cung cấp thông tin và tài
liệu cần thiết phục vụ cho việc xây dựng dự toán, xây dựng định mức chi
tiêu. Phân tích và đánh giá hiệu quả sử dụng các nguồn kinh phí, vốn, quỹ
ở đơn vị.
1.2.Nội dung hoạt động của kế toán BHXH Việt Nam.
Bảo hiểm xã hội là một loại hình bảo hiểm đặc biệt. Nó khác với những
loại hình kinh doanh khác bởi tính xã hội và tính phi lợi nhuận. Đặc trng của hệ
thống Bảo hiểm xã hội là có nguồn tài chính đợc hình thành từ sự đóng góp bắt
buộc của ngời sử dụng lao động, ngời lao động, tài trợ của Nhà nớc và các loại
trợ cấp đều đợc chi dùng từ nguồn tài chính riêng. Nh vậy, hoạt động của kế
toán BHXH bao gồm những nội dung sau :
1- Kế toán vốn bằng tiền : Phản ánh số hiện có và tình hình biến động
các loại vốn bằng tiền của đơn vị gồm tiền mặt, ngoại tệ và các chứng chỉ có giá
tại quỹ của đơn vị hoặc gửi tại ngân hàng, kho bạc Nhà nớc.
2- Kế toán vật t, tài sản :
+ Phản ánh số lợng, giá trị hiện có và tình hình biến động vật t, sản
phẩm, hàng hoá tại đơn vị.

+ Phản ánh số lợng, nguyên giá và giá trị hao mòn của tài sản cố
định hiện có và tình hình biến động của TSCĐ, công tác đầu t xây
dựng cơ bản và sửa chữa tài sản tại đơn vị.
3- Kế toán thanh toán :
+ Phản ánh các khoản nợ phải thu và tình hình thanh toán các khoản
nợ phải thu của các đối tợng trong và ngoài đơn vị.
+ Phản ánh các khoản nợ phải trả, các khoản trích nộp theo lơng, các
khoản phải trả viên chức, các khoản phải nộp về số thu Bảo hiểm
xã hội, Bảo hiểm y tế lên cơ quan Bảo hiểm xã hội cấp trên, các
khoản phải nộp Ngân sách và việc thanh toán các khoản phải trả,
phải nộp.
4- Kế toán nguồn kinh phí, vốn, quỹ : Phản ánh số hiện có và tình hình
biến động các nguồn kinh phí đã hình thành tài sản cố định, kinh phí đầu t xây
dựng cơ bản ; kinh phí quản lý bộ máy ; kinh phí thực hiện dự án ; kinh phí
Ngân sách cấp để chi BHXH ; kinh phí khác và các loại vốn, quỹ ở đơn vị.
5- Kế toán các khoản thu : Phản ánh đầy đủ, kịp thời các khoản thu Bảo
hiểm xã hội, thu hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ và các khoản thu khác
phát sinh tại đơn vị và nộp kịp thời các khoản thu Bảo hiểm xã hội lên cơ quan
Bảo hiểm xã hội cấp trên và các khoản phải nộp Ngân sách.
6- Kế toán các khoản chi :
+ Phản ánh tình hình chi phí quản lý bộ máy ; chi lơng hu và trợ
cấp ; chi khám chữa bệnh ; chi thực hiện chơng trình , dự án theo
dự toán đợc duyệt và việc thanh quyết toán các khoản chi đó.
+ Phản ánh chi phí của các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
và chi phí của các hoạt động khác, trên cơ sở đó để xác định kết
quả hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.
+ Lập báo cáo tài chính và phân tích quyết toán của đơn vị.

2. Chứng từ kế toán.
Chứng từ kế toán là những giấy tờ chứng minh nghiệp vụ kinh tế, tài
chính đã phát sinh và đã thực sự hoàn thành. Mọi số liệu ghi sổ kế toán bắt buộc
phải có chứng từ kế toán hợp pháp, hợp lệ chứng minh.
Mọi nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh trong việc thu, chi BHXH,
BHYT ; trong việc hình thành và sử dụng các loại vốn, quỹ, tài sản, vật t của
mọi đơn vị BHXH đều phải lập chứng từ. Chứng từ đợc dùng làm căn cứ ghi sổ
kế toán phải là chứng từ kế toán hợp pháp, hợp lệ.
Chứng từ kế toán hợp pháp : là chứng từ đợc lập theo đúng mẫu quy định
của chế độ này, việc ghi chép trên chứng từ phải đúng bản chất nội dung,
nghiệp vụ kinh tế phát sinh và đợc luật pháp cho phép, có đủ chữ ký của ngời
chịu trách nhiệm và dấu đơn vị (theo quy định cụ thể).
Chứng từ kế toán hợp lệ : là chứng từ kế toán đợc ghi chép đầy đủ, kịp
thời các yếu tố, các tiêu thức và theo đúng quy định về phơng pháp lập của từng
loại chứng từ.
Chứng từ kế toán bao gồm các loại:
Chứng từ kế toán ban hành trong chế độ kế toán HCSN, gồm có 4 chỉ
tiêu :
+ Chỉ tiêu lao động, tiền lơng.
+ Chỉ tiêu vật t.
+ Chỉ tiêu tiền tệ.
+ Chỉ tiêu TSCĐ.
Các chứng từ kế toán của ngành BHXH Việt Nam.
Các chứng từ kế toán ban hành ở các văn bản pháp quy khác.
Chứng từ kế toán phải có đầy đủ các yếu tố sau:
1- Tên gọi của chứng từ (hoá đơn, phiếu thu, phiếu chi, )
2- Ngày, tháng, năm lập chứng từ.

3- Số liệu của chứng từ.
4- Tên gọi, địa chỉ của đơn vị hoặc cá nhân nhận chứng từ.
5- Tên, địa chỉ của đơn vị hoặc cá nhân lập chứng từ.
6- Nội dung nghiệp vụ kinh tế phát sinh của chứng từ.
7- Các chỉ tiêu về số lợng và giá trị.
8- Chữ ký của ngời lập và những ngời chịu trách nhiệm về tính chính
xác của nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Những chứng từ phản ánh
quan hệ kinh tế giữa các pháp nhân phải có chữ ký của ngời kiểm
soát, kế toán trởng (hoặc phụ trách kế toán) và ngời phê duyệt (thủ
trởng đơn vị), đóng dấu đơn vị.
Đối với những chứng từ liên quan đến việc bán hàng, cung cấp dịch vụ
(nếu có) thì đơn vị phải sử dụng theo đúng mẫu chứng từ do Bộ tài chính thống
nhất ban hành và phát hành. Những chứng từ dùng làm căn cứ trực tiếp để ghi
sổ kế toán phải có thêm chỉ tiêu định khoản kế toán.
Chứng từ kế toán phải đợc lập đầy đủ số liên theo quy định. Ghi chép
chứng từ phải rõ ràng, trung thực, đầy đủ các yếu tố, gạch bỏ phần để trống. Tr-
ờng hợp viết sai cần huỷ bỏ, không xé rời ra khỏi cuống.
Nghiêm cấm kế toán có các hành vi sau đây:
Giả mạo chứng từ kế toán.
Hợp pháp hoá chứng từ kế toán.
Chủ tài khoản và kế toán trởng (hoặc phụ trách kế toán) đơn vị ký khống
trên chứng từ trắng đặc biệt là séc trắng và các mẫu in sẵn.
Xuyên tạc hoặc cố ý làm sai lệch nội dung, bản chất hoạt động kinh tế, tài
chính phát sinh.
Sửa chữa, tẩy xoá trên chứng từ kế toán.
Huỷ bỏ chứng từ trái quy định hoặc cha hết thời hạn lu trữ.
Sử dụng các chứng từ biểu mẫu không hợp lệ.

Trình tự luân chuyển chứng từ:
Trình tự và thời gian luân chuyển chứng từ kế toán do kế toán trởng (hoăc
phụ trách kế toán) đơn vị quy định. Chứng từ kế toán do đơn vị lập hoặc từ bên
ngoài vào phải tập trung vào bộ phận kế toán đơn vị. Bộ phận kế toán phải kiểm
tra kỹ chứng từ đó và chỉ sau khi kiểm tra và xác minh là đúng thì mới dùng
chứng từ đó để ghi kế toán.
Trình tự luân chuyển chứng từ kế toán bao gồm các bớc sau :
1- Lập chứng từ kế toán và phản ánh các nghiệp vụ kinh tế tài chính
phát sinh vào chứng từ.
2- Kiểm tra chứng từ kế toán.
3- Phân loại, xắp xếp chứng từ và ghi sổ kế toán.
4- Lu trữ, bảo quản chứng từ kế toán.
Khi kiểm tra chứng từ kế toán nếu phát hiện có hành vi vi phạm chính
sách, chế độ, thể lệ quản lý kinh tế, tài chính của Nhà nớc, phải từ chối thực
hiện (không xuất quỹ, không thanh toán, không xuất kho, ), đồng thời báo
ngay cho Thủ trởng đơn vị biết để xử lý kịp thời theo đúng pháp luật hiện hành.
Đối với những chứng từ kế toán lập không đúng thủ tục, nội dung và con
số không rõ ràng, thì ngời chịu trách nhiệm kiểm tra hoặc ghi sổ phải trả lại
hoặc báo cho nơi lập chứng từ biết để làm lại, làm thêm thủ tục và điều chỉnh,
sau đó mới dùng làm căn cứ để ghi sổ.
3. Tài khoản kế toán.
Tài khoản kế toán là phơng pháp kế toán dùng để phân loại và hệ thống
hoá các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh theo nội dung kinh tế. Tài khoản
kế toán phản ánh và kiểm soát thờng xuyên, liên tục, có hệ thống tình hình vận
động của các quỹ BHXH và sử dụng các quỹ đó ở các đơn vị BHXH và tổng
hợp toàn hệ thống BHXH Việt Nam.
Tài khoản kế toán đợc mở cho từng đối tợng kế toán có nội dung kinh tế
riêng biệt. Toàn bộ các tài khoản kế toán sử dụng trong kế toán hình thành hệ

thống tài khoản kế toán áp dụng cho tất cả đơn vị BHXH trong cả nớc. Hệ thống
tài khoản thống nhất là bộ phận cấu thành quan trọng của kế toán, bao gồm
những quy định thống nhất về loại tài khoản, số lợng tài khoản, ký hiệu và nội
dung ghi chép của từng tài khoản. Hệ thống tài khoản kế toán áp dụng cho các
đơn vị BHXH thuộc hệ thống BHXH Việt Nam đợc quy định thống nhất trong
chế độ kế toán BHXH.
Hệ thống tài khoản kế toán áp dụng cho các đơn vị BHXH thuộc hệ
thống BHXH đợc xây dựng theo nguyên tắc dựa vào bản chất và nội dung hoạt
động của đơn vị BHXH, có vận dụng nguyên tắc phân loại và mã hoá của hệ
thống tài khoản kế toán quy định cho các đơn vị hành chính sự nghiệp theo
quyết định số 999/TC/QĐ/CĐkế toán BHXH ngày 2/11/1996 của Bộ trởng Bộ
tài chính, nhằm mục đích :
Đáp ứng đầy đủ các yêu cầu quản lý và kiểm soát thu, chi quỹ BHXH
đồng thời thoả mãn yêu cầu quản lý và sử dụng các loại quỹ của đơn vị.
Phản ánh đầy đủ các hoạt động kinh tế, tài chính phát sinh của các đơn vị
BHXH, phù hợp với mô hình tổ chức và tính chất hoạt động của từng đơn
vị.
Đáp ứng yêu cầu xử lý thông tin bằng các phơng tiện tính toán (máy vi
tính, máy tính quay tay, ) và thoả mãn đầy đủ nhu cầu thông tin cho các
cơ quan quản lý chức năng của Nhà nớc.
Hệ thống tài khoản kế toán gồm các tài khoản trong bảng cân đối tài
khoản và các tài khoản ngoài bảng cân đối tài khoản.
Trong hệ thống tài khoản kế toán có quy định những tài khoản kế toán
dùng chung cho các đơn vị BHXH, quy định rõ số lợng các tài khoản cấp 2 của
một số tài khoản có tính chất phổ biến trong đơn vị. Hạch toán các tài khoản
trong bảng đợc thực hiện theo phơng pháp ghi sổ kép.
Các tài khoản ngoài bảng cân đối tài khoản phản ánh những tài sản hiện
có ở đơn vị nhng không thuộc quyền sở hữu của đơn vị (nh tài sản thuê ngoài,
nhận giữ hộ, nhận gia công, tạm giữ, ), những chỉ tiêu kinh tế đã phản ánh ở

các tài khoản trong bảng cân đối kế toán, nhng cần theo dõi để phục vụ yêu cầu
quản lý nh: giá trị công cụ, dụng cụ lâu bền, nguyên tệ các loại,
Nguyên tắc ghi sổ các tài khoản ngoài bảng cân đối tài khoản kế toán
theo phơng pháp ghi sổ đơn nghĩa là khi ghi vào một tài khoản thì không phải
ghi đối ứng với các tài khoản khác, số d của tài khoản này không nằm trong
bảng cân đối kế toán.
Căn cứ vào Hệ thống tài khoản kế toán thống nhất, BHXH quận Hai Bà
Trng sử dụng hệ thống tài khoản kế toán cấp 2 phù hợp đặc điểm, nội dung các
hoạt động và yêu cầu quản lý của đơn vị BHXH. Hệ thống danh mục tài khoản
sử dụng ở BHXH Quận thể hiện ở phụ lục.
4. Sổ kế toán và hình thức sổ kế toán.
Tất cả các đơn vị BHXH phải mở sổ kế toán, ghi chép, bảo quản, lu trữ sổ
kế toán theo đúng quy định của chế độ sổ kế toán này.
Đối với các đơn vị kế toán cấp I và cấp II, ngoài việc mở sổ kế toán theo
dõi tài sản và sử dụng kinh phí trực tiếp của cấp mình còn phải mở sổ theo dõi
việc cấp phát và quyết toán việc sử dụng kinh phí của các đơn vị trực thuộc để
tổng hợp báo cáo quyết toán với cơ quan quản lý cấp trên và cơ quan tài chính.
Sổ kế toán gồm 2 loại:
Sổ của phần kế toán tổng hợp gọi là sổ kế toán tổng hợp. Sổ kế toán tổng
hợp gồm 2 sổ kế toán chủ yếu là : Sổ Cái, Sổ Nhật Ký.
+ Sổ nhật ký là sổ kế toán dùng để ghi chép các nghiệp vụ kinh tế
tài chính đã phát sinh theo trình tự thời gian. Trong trờng hợp cần
thiết có thể kết hợp với việc ghi chép, phân loại hoạt động kinh tế
tài chính phát sinh theo nội dung kinh tế. Số liệu kế toán ghi
trên sổ Nhật ký phản ánh tổng số các hoạt động kinh tế phát sinh
trong một kỳ kế toán.
+ Sổ cái là sổ kế toán dùng để ghi chép các nghiệp vụ kinh tế, tài
chính phát sinh theo nội dung kinh tế (theo tài khoản kế toán). Số

liệu trên Sổ cái phản ánh một cách tổng hợp tình hình tài sản,
nguồn kinh phí và tình hình sử dụng các nguồn kinh phí đó. Có thể
kết hợp việc ghi chép theo trình tự thời gian phát sinh của hoạt
động kinh tế trên sổ kế toán.
Sổ của phần kế toán chi tiết gọi là sổ kế toán chi tiết. Sổ kế toán chi tiết
gồm các sổ, thẻ kế toán chi tiết. Sổ, thẻ kế toán chi tiết dùng để ghi chép
chi tiết các đối tợng kế toán theo yêu cầu quản lý. Số liệu trên sổ kế toán
chi tiết cung cấp các thông tin phục vụ cho việc quản lý trong nội bộ, phục
vụ cho việc tính và lập các chỉ tiêu trong báo cáo quyết toán.
ở các đơn vị BHXH thờng sử dụng 2 hình thức sổ kế toán :
Nhật ký Sổ Cái : Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh đợc kết hợp ghi chép
theo trình tự thời gian và phân loại hệ thống hoá theo nội dung kinh tế
(theo tài khoản kế toán) trên cùng một quyển sổ kế toán tổng hợp là sổ
Nhật ký - Sổ Cái và trong cùng một quá trình ghi chép. Căn cứ để ghi vào
sổ Nhật ký - Sổ Cái là các chứng từ kế toán hoặc bảng tổng hợp chứng từ
kế toán cùng loại.
Chứng từ ghi sổ : là một loại sổ kế toán dùng cho đơn vị để phân loại, hệ
thống hoá xác định nội dung kinh tế của các hoạt động kinh tế tài chính
đã phát sinh. Việc ghi sổ kế toán tổng hợp đợc căn cứ trực tiếp vào các
chứng từ ghi sổ, và đợc tách biệt thành 2 quá trình riêng rẽ :
+ Ghi theo trình tự thời gian phát sinh của nghiệp vụ kinh tế tài chính
trên sổ Đăng ký chứng từ ghi sổ.
+ Ghi theo nội dung kinh tế của nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát
sinh trên Sổ Cái.
Tuỳ theo hình thức kế toán áp dụng, đơn vị phải mở đầy đủ các sổ kế
toán tổng hơp, sổ , thẻ kế toán chi tiết và thực hiện đầy đủ, đúng các quy định
của chế độ kế toán về : nội dung, trình tự và phơng pháp ghi chép đối với từng
mẫu sổ kế toán.

Mỗi đơn vị kế toán chỉ đợc mở, sử dụng một hệ thống sổ kế toán chính
thức và duy nhất. Việc ghi sổ kế toán nhất thiết phải căn cứ vào chứng từ kế
toán. Mọi số liệu ghi trên sổ kế toán buộc phải có chứng từ kế toán hợp pháp,
hợp lệ chứng minh.
Việc mở và ghi sổ kế toán phải đảm bảo phản ánh đầy đủ, kịp thời, chính
xác, trung thực, liên tục, có hệ thống tình hình tài sản, tình hình nhận, cấp phát
và sử dụng các loại nguồn kinh phí, các khoản thu, chi nhằm cung cấp các
thông tin cần thiết cho việc lập báo cáo tài chính kế toán của đơn vị BHXH. Sổ
kế toán phải đợc mở ngay từ ngày đầu niên độ kế toán hoặc ngay sau khi có
quyết định thành lập, bắt đầu đi vào hoạt động. Thủ trởng đơn vị và kế toán tr-
ởng (hoặc phụ trách kế toán) của đơn vị có trách nhiệm làm thủ tục pháp lý cho
các sổ kế toán trớc khi sử dụng.
Sổ kế toán phải dùng mẫu in sẵn hoặc kẻ sẵn có thể đóng thành quyển
hoặc để tờ rời. Nếu sổ tờ rời sau khi dùng xong phải đóng thành quyển để lu trữ.
Số liệu ghi trên sổ kế toán phải rõ ràng, liên tục, có hệ thống, không đợc ghi xen
kẽ, ghi chồng đè, không đợc bỏ cách dòng. Nếu có dòng cha ghi hết phải gạch
bỏ chỗ thừa. Khi hết trang sổ phải cộng số liệu tổng cộng của mỗi trang, đồng
thời phải chuyển số tổng cộng này sang đầu trang kế tiếp.
Trong các trờng hợp có sai sót hoặc nhầm lẫn trong quá trinh ghi chép sổ
kế toán thì phải đợc sửa chữa hoặc đính chính theo một trong 3 phơng pháp :
phơng pháp cải chính (còn gọi là phơng pháp xoá bỏ), phơng pháp ghi số âm
(còn gọi là phơng pháp ghi đỏ), phơng pháp ghi bổ sung.
Hết kỳ kế toán (tháng, quý) và hết niên độ kế toán phải khoá sổ kế toán.
Ngoài ra, phải khóa sổ kế toán trong các trờng hợp : kiểm kê tài sản, sát nhập,
chia tách, đình chỉ hoạt động, giải thể đơn vị, Mỗi lần khoá sổ kế toán, ng ời
giữ sổ, ngời kiểm tra sổ và kế toán trởng phải ký tên vào sổ.
Kết thúc niên độ kế toán, sau khi đã hoàn tất toàn bộ công việc kế toán
(bao gồm các việc ghi sổ, kiểm tra, đối chiếu, khoá sổ và cung cấp số liệu báo
cáo tài chính), đơn vị phải sắp xếp, phân loại, gói buộc, lập danh mục sổ kế toán
lu trữ và đa vào lu trữ tại bộ phận lu trữ chung của đơn vị.

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×
x