Tải bản đầy đủ

Vấn đề ly hôn giữa công dân việt nam với người nước ngoài theo pháp luật việt nam, so sánh với pháp luật một số nước trên thế giới

Vấn đề ly hôn giữa công dân Việt Nam với
người nước ngoài theo pháp luật Việt Nam, so
sánh với pháp luật một số nước trên thế giới


Bùi Thị Minh Nhã


Khoa Luật
Luận văn ThS. ngành: Luật quốc tế; Mã số: 60 38 60
Người hướng dẫn: TS. Nông Quốc Bình
Năm bảo vệ: 2012


Abstract. Nghiên cứu những vấn đề mang tính khái quát về ly hôn có yếu tố nước
ngoài nói chung và ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài nói riêng.
Nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về ly hôn giữa công dân Việt Nam
với người nước ngoài. Với nội dung này, luận văn đi sâu phân tích nội dung những
quy định về ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài theo Luật Hôn
nhân và gia đình Việt Nam năm 2000, so sánh với pháp luật của một số nước trên
thế giới để thấy rõ những điểm thành công và hạn chế của pháp luật Việt nam trong

vấn đề ly hôn. Tìm hiểu thực tiễn áp dụng pháp luật về ly hôn giữa công dân Việt
Nam với người nước ngoài thông qua hoạt động xét xử của Tòa án, cụ thể là qua các
vụ việc. Qua đó, đánh giá về những thành công và hạn chế của việc áp dụng pháp
luật về ly hôn để từ đó sẽ nêu lên một số những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật
về ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài.

Keywords. Luật hôn nhân và gia đình; Luật Quốc tế; Ly hôn; Pháp luật Việt Nam


Content
MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong những năm gần đây, cùng với những thay đổi về kinh tế - xã hội, quan hệ giữa con
người với con người trong đó có quan hệ hôn nhân và gia đình cũng bị tác động mạnh mẽ.
Ngày nay ly hôn đã được nhìn nhận đúng với bản chất tích cực và tiến bộ của nó. Dưới
góc độ pháp lý, ly hôn được ghi nhận là một chế định độc lập của Luật Hôn nhân và gia đình,
nó là cơ sở cho Tòa án và các bên đương sự giải quyết vấn đề ly hôn một cách thấu tình đạt
lý, góp phần giải quyết con người ra khỏi sự ràng buộc không cần thiết khi tình cảm vợ chồng
không còn. Nhà nước đặt ra chế độ hôn nhân tự nguyện, bình đẳng, tiến bộ, nhằm xây dựng
gia đình dân chủ, hòa thuận, bền vững ngay cả khi gia đình đó tan vỡ thì sự bình đẳng về
quyền và lợi ích giữa vợ và chồng vẫn được đảm bảo. Đó là sự tiến bộ thể hiện quyền tự do ly
hôn của hai vợ chồng.
Từ khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 ra đời, nhà nước đã tuyên truyền và phổ
biến rộng rãi để mọi người dân hiểu biết trong việc bảo vệ quyền lợi của mọi thành viên và
xây dựng hạnh phúc gia đình Xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, trong thực tế xét xử các vụ án ly
hôn cho thấy, còn tồn tại một số vướng mắc như vấn đề xác định căn cứ ly hôn, hậu quả pháp
lý của ly hôn. Ở nước ta, những năm gần đây, do việc mở rộng quan hệ hợp tác, giao lưu mọi
mặt về kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội với các nước trong khu vực và trên thế giới đã làm
cho quan hệ hôn nhân giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài ngày càng nhiều. Cùng
với việc gia tăng số lượng các quan hệ hôn nhân là việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với
người nước ngoài đã và đang ngày càng trở lên phổ biến trong xã hội.
Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 được coi là văn bản pháp lý đầu tiên trong hệ thống
pháp luật Việt Nam ghi nhận các quy định điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước
ngoài, tuy nhiên chỉ gói gọn trong Chương IX với ba Điều (từ Điều 52 đến Điều 54), trong đó
chỉ quy định một số nguyên tắc giải quyết và đối tượng là công dân Việt Nam với người nước
ngoài. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã dành Chương XI (từ Điều 100 đến Điều 106),
ngoài ra còn được quy định rải rác tại Khoản 2 Điều 2, Điều 7, Khoản 14 Điều 8 để quy định
vấn đề nêu trên. Trên cơ sở các quy định này, các văn bản pháp luật điều chỉnh ly hôn có yếu
tố nước ngoài nói chung, ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài nói riêng lần
lượt ra đời. Bên cạnh đó, tính đến thời điểm hiện nay, Việt Nam đã ký kết 15 Hiệp định


tương trợ tư pháp với các nước về lĩnh vực này.
Nhìn chung, những vấn đề pháp lý về ly hôn có yếu tố nước ngoài nói chung, ly hôn giữa
công dân Việt Nam với người nước ngoài nói riêng đóng một vai trò quan trọng trong việc
xây dựng và phát triển xã hội. Nếu những vấn đề pháp lý không phù hợp sẽ làm xã hội hỗn
loạn và hậu quả là làm cho xã hội suy yếu. Ngược lại, nếu phù hợp thì không những làm cho
xã hội ổn định mà còn làm cho xã hội vững mạnh, mối quan hệ giữa Việt Nam với các quốc
gia trên thế giới cũng được phát triển, khăng khít. Bởi vì như đã nêu trên, ly hôn cũng có
những điểm tích cực trong việc thúc đẩy sự phát triển một xã hội dân chủ, công bằng, văn
minh.
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển không ngừng của đời sống xã hội, nhất là một xã hội
mở rộng, hội nhập quốc tế như hiện nay thì thực tiễn áp dụng pháp luật giải quyết ly hôn giữa
công dân Việt Nam với người nước ngoài vẫn cần được nghiên cứu, làm sáng tỏ những vấn
đề lý luận và thực tiễn áp dụng nhằm đạt hiệu quả hơn. Vì vậy tác giả chọn đề tài "Vấn đề ly
hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài theo pháp luật Việt Nam, so sánh với
pháp luật một số nước trên thế giới" để viết luận văn nhằm tìm hiểu sâu hơn và mạnh dạn
phân tích, đưa ra những ý kiến chủ quan, thể hiện sự quan tâm của bản thân cũng như tính
bức thiết của đề tài.
1. Tình hình nghiên cứu
Vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài đã được nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu, tuy nhiên
ly hôn giữa công dân Việt Nam với người ngoài mới chỉ được lồng ghép trong nội dung nói
trên mà chưa có nghiên cứu chuyên sâu.
2. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài này là dựa trên cơ sở các quy định của luật thực định
để giải quyết việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài; giới thiệu một cách
khái quát các quy định về ly hôn có yếu tố nước ngoài, nghiên cứu quá trình phát triển các
quy định về ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giải quyết xung đột pháp
luật, chọn luật áp dụng, kết hợp so sánh với pháp luật một số nước trên thế giới. Trên cơ sở
đó, tìm hiểu những quy định còn bất cập, chưa cụ thể, để từ đó có những nhận xét, kiến nghị
nhằm hoàn thiện vấn đề ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài.
Với mục đích trên, luận văn thực hiện những nhiệm vụ sau đây:
- Nghiên cứu những vấn đề mang tính khái quát về ly hôn có yếu tố nước ngoài nói
chung và ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài nói riêng.
- Nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về ly hôn giữa công dân Việt Nam
với người nước ngoài. Với nội dung này, luận văn đi sâu phân tích nội dung những quy định
về ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt
Nam năm 2000, so sánh với pháp luật của một số nước trên thế giới để thấy rõ những điểm
thành công và hạn chế của pháp luật Việt nam trong vấn đề ly hôn.
- Tìm hiểu thực tiễn áp dụng pháp luật về ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước
ngoài thông qua hoạt động xét xử của Tòa án, cụ thể là qua các vụ việc. Qua đó, đánh giá về
những thành công và hạn chế của việc áp dụng pháp luật về ly hôn để từ đó sẽ nêu lên một số
những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước
ngoài.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu bao gồm các vấn đề lý luận và thực tiễn pháp lý
về ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài theo pháp luật Việt Nam. Nghiên
cứu các vấn đề lý luận để xác định tính khoa học trong việc xây dựng và áp dụng pháp luật.
Phạm vi nghiên cứu: Trong luận văn này tác giả chủ yếu đi sâu nghiên cứu các vấn đề
pháp lý có liên quan tới ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài theo pháp luật
Việt Nam, so sánh với pháp luật của một số quốc gia khác nhằm hoàn thiện pháp luật Việt
Nam về vấn đề này.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lê Nin, kết
hợp hiệu quả với các phương pháp khoa học truyền thống khác như phương pháp phân tích,
so sánh, tổng hợp, logic, lịch sử
5. Những đóng góp mới của luận văn
Luận văn nghiên cứu có hệ thống và toàn diện cả về lý luận và thực tiễn ly hôn giữa công
dân Việt Nam với người nước ngoài, tìm ra những điểm còn tồn tại trong quy định của pháp
luật về ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài từ đó khuyến nghị một số giải
pháp nhằm thực thi có hiệu quả các quy định của pháp luật về vấn đề trên trong thời điểm
hiện nay.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm
3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài.
Chương 2: Pháp luật Việt Nam về ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài,
so sánh với pháp luật một số nước trên thế giới.
Chương 3: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh ly hôn giữa công dân
Việt Nam với người nước ngoài.

Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUAN HỆ LY HÔN
CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
1.1. Khái niệm
1.1.1. Ly hôn
Ly hôn mang bản chất xã hội và tính giai cấp sâu sắc, vì vậy ở mỗi chế độ xã hội khác
nhau, giai cấp thống trị đều thông qua nhà nước và bằng quy định hôn nhân nói chung, ly hôn
nói riêng phù hợp với lợi ích của giai cấp mình. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, ly
hôn được ghi nhận trong các văn bản pháp luật cụ thể như Bộ luật Dân sự, Luật Hôn nhân và
gia đình. Điều 42 Bộ luật Dân sự Việt Nam 2005 quy định "Vợ, chồng hoặc cả hai người có
quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn", hoặc theo Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình
năm 2000 thì " Ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do Tòa án công nhận hoặc quyết định
theo yêu cầu của vợ hoặc của chồng hoặc cả hai vợ chồng".
Như vậy, ly hôn là việc chấm dứt quan hệ hôn nhân trước pháp luật theo yêu cầu của vợ
hoặc của chồng hoặc cả hai vợ chồng được công nhận hoặc quyết định của Tòa án.
1.1.2. Ly hôn có yếu tố nước ngoài
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 lần đầu tiên đưa ra khái niệm này, hôn nhân có yếu
tố nước ngoài, điều mà trước đây chưa một văn bản pháp luật nào về hôn nhân quy định theo
Khoản 14 Điều 8 Luật hôn nhân gia đình.
Việc xác định dấu hiệu có yếu tố nước ngoài trong quan hệ ly hôn theo Luật Hôn nhân và
gia đình căn cứ vào chủ thể, sự kiện pháp lý, đối tượng của quan hệ là tài sản và nơi cư trú
của các bên đương sự.
1.1.3. Ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài
Theo Khoản 1 Điều 5 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 thì "Người có quốc tịch Việt
Nam là công dân Việt Nam". Người có quốc tịch Việt Nam bao gồm người đang có quốc tịch
Việt Nam; người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà chưa mất quốc tịch Việt Nam theo quy
định của pháp luật Việt Nam trước ngày 01/7/2009 thì vẫn còn quốc tịch Việt Nam và trong
thời hạn 5 năm, kể từ ngày 01/7/2009, phải đăng ký với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước
ngoài để giữ quốc tịch Việt Nam.
Người nước ngoài được hiểu bao gồm công dân nước ngoài và người không quốc tịch.
Ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài là một trong những nội dung cơ
bản của quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài. Vấn đề này đã được đề cập trong Luật Hôn
nhân và gia đình năm 1986 tuy nhiên chưa có quy định cụ thể, rõ ràng. Chỉ đến Luật Hôn
nhân và gia đình năm 2000, tại Điều 104 thì việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người
nước ngoài mới được quy định chi tiết vấn đề lựa chọn luật áp dụng.
1.2. Nguồn luật điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài
1.2.1. Pháp luật trong nước
- Hiến pháp;
- Bộ luật dân sự;
- Luật Hôn nhân và gia đình;
- Các văn bản quy phạm pháp luật khác.
1.2.2. Điều ước quốc tế
Nội dung của các Điều ước quốc tế về ly hôn có yếu tố nước ngoài thường không quy định
cụ thể việc điều chỉnh quan hệ này mà chủ yếu quy định nguyên tắc chọn pháp luật áp dụng.
Hay nói cách khác, các quy phạm được quy định trong các Điều ước quốc tế về ly hôn
thường là các quy phạm xung đột.
1.2.3. Tập quán quốc tế
Tập quán quốc tế là những quy tắc xử sự được hình thành trong một thời gian dài, được
áp dụng khá liên tục và một cách có hệ thống, đồng thời được sự thừa nhận của đông đảo các
quốc gia.Tập quán quốc tế chỉ có thể là nguồn của pháp luật khi được pháp luật trong nước
quy định áp dụng hoặc được các quốc gia liên quan quy định trong Điều ước quốc tế hoặc do
thỏa thuận của các bên chủ thể tham gia quan hệ Tư pháp quốc tế.
Theo pháp luật Việt Nam, nguyên tắc áp dụng tập quán quốc tế không được quy định cụ
thể trong Luật Hôn nhân và gia đình 2000 nhưng được quy định tại khoản 4 Điều 759 Bộ luật
dân sự.
1.2.4. Mối quan hệ giữa các loại nguồn pháp luật điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố
nước ngoài
a) Nguồn luật trong nước
Nguồn pháp luật trong nước điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài được coi là
nguồn luật cơ bản và phổ biến, dựa trên những cơ sở:
Chủ thể trong quan hệ ly hôn nói chung và quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng
là những con người cụ thể, vì vậy pháp luật điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của một người
trong đó có quyền và nghĩa vụ trong quan hệ ly hôn được dựa trên dấu hiệu quốc tịch hoặc
dấu hiệu nơi cư trú. Vì vậy, dù dựa trên dấu hiệu quốc tịch hay nơi cư trú thì hệ thống pháp
luật được chọn áp dụng vẫn được coi là hệ thống pháp luật của một quốc gia nhất định.
Vì vậy, có thể nhận định, pháp luật trong nước được coi là nguồn luật cơ bản và phổ biến
điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài.
b) Nguồn luật quốc tế
 Đối với Điều ước quốc tế
Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa quy định rõ ràng về việc điều ước quốc tế mà Việt
Nam đã ký kết hoặc gia nhập có vị trí như thế nào trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp
luật trong nước. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 6 của Luật ký kết, gia nhập và thực hiện
điều ước quốc tế năm 2005, trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật và điều ước quốc
tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một
vấn đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế,
 Đối với Tập quán quốc tế
Tập quán quốc tế không được coi là nguồn pháp luật bắt buộc áp dụng đương nhiên trong
việc điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài. Thông thường, tập quán quốc tế chỉ
được áp dụng trong trường hợp không có quy phạm ghi nhận trong pháp luật trong nước hoặc
trong điều ước quốc tế có liên quan không có quy định hoặc các bên của thể không có thỏa
thuận.
1.3. Phương pháp điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài
Hiện nay ở Việt Nam cũng như các nước trên thế giới, Tư pháp quốc tế nói chung hay
quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng có hai phương pháp điều chỉnh đó là: Phương
pháp xung đột; phương pháp thực chất.
Hai phương pháp này luôn phối hợp và tác động, bổ sung cho nhau để thiết lập một cơ chế
điều chỉnh giải quyết các quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài.
1.4. Các nguyên tắc cơ bản điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài theo
pháp luật Việt Nam
Các nguyên tắc điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài cũng chính là những
nguyên tắc điều chỉnh quan hệ ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, được
chia thành nguyên tắc chung và các nguyên tắc chuyên biệt.
1.4.1. Các nguyên tắc chung
a) Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ở
Việt Nam phù hợp với pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc
tham gia
b) Nguyên tắc bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam ở nước ngoài
phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật nước sở tại, pháp luật và tập quán quốc tế
c) Nguyên tắc đãi ngộ như công dân
d) Nguyên tắc áp dụng pháp luật nước ngoài không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp
luật Việt Nam đối với các quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài
e) Nguyên tắc áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật trong nước đối với quan hệ ly
hôn có yếu tố nước ngoài
1.4.2. Các nguyên tắc chuyên biệt
a) Nguyên tắc áp dụng luật quốc tịch của đương sự
b) Nguyên tắc áp dụng luật nơi cư trú của đương sự
c) Nguyên tắc áp dụng nơi có tài sản
d) Nguyên tắc áp dụng luật nơi có tòa án, cơ quan có thẩm quyền đối với các vấn đề phát
sinh (gọi tắt là luật tòa án)

Chương 2
PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ LY HÔN GIỮA CÔNG DÂN VIỆT NAM VỚI NGƯỜI
NƯỚC NGOÀI, SO SÁNH VỚI PHÁP LUẬT
MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
2.1. Khái quát quá trình hình thành và phát triển pháp luật về ly hôn giữa công dân
Việt Nam với người nước ngoài
2.1.1. Pháp luật quốc gia
Hôn nhân là một hiện tượng xã hội mang tính giai cấp. Trong từng giai đoạn lịch sử, ở
mỗi chế độ khác nhau, giai cấp thống trị xã hội đều thông qua Nhà nước và pháp luật quy
định chế độ hôn nhân phù hợp với lợi ích của giai cấp mình. Có nghĩa là, bằng hệ thống pháp
luật, Nhà nước đưa ra những điều kiện, căn cứ nhất định cho phép xóa bỏ hôn nhân hay còn
gọi là ly hôn.
2.1.1.1. Giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945
2.1.1.2. Giai đoạn từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước khi ban hành Luật Hôn
nhân và gia đình năm 1986.
Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi ban hành Luật Hôn nhân và gia đình đầu tiên được
chia thành ba giai đoạn:
a) Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1954.
Ngày 10/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh về quy định tạm giữ các luật lệ hiện
hành ở Việt Nam để thi hành cho đến khi ban hành những bộ luật mới cho toàn cõi Việt Nam,
trừ những quy định đi ngược lại độc lập dân tộc và quyền lợi của nhân dân.
Sắc lệnh số 51-SL ngày 17/4/1946 đã có một bước phát triển mới trong việc quy định về
vấn đề liên quan đến yếu tố nước ngoài,
Văn bản pháp lý có giá trị cao nhất đầu tiên đề cập gián tiếp đến quan hệ hôn nhân là
Hiến pháp năm 1946.
Ngày 22/5/1950, Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ký Sắc lệnh số 85/SL về cải
cách tư pháp và luật tố tụng đã có những quy định mới về việc hòa giải các việc kiện dân sự,
kể cả việc ly hôn. Cùng ngày, Sắc lệnh số 97-SL cũng được ra đời, quy định sửa đổi một số quy
lệ và chế định dân luật. Sau khi đã đưa ra các quy định tiến bộ điều chỉnh quan hệ dân sự nói
chung,
Văn bản pháp lý riêng biệt đầu tiên đề cập đến lĩnh vực hôn nhân là Sắc lệnh số 159-SL
ban hành ngày 17/11/1950, quy định về vấn đề ly hôn.
Nhìn chung, pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình nói chung, quan hệ ly hôn
nói riêng trong giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1954, đã có những bước tiến bộ trong quan
niệm về ly hôn, tuy nhiên chưa có quy định cụ thể nào về vấn đề ly hôn giữa công dân Việt
Nam với người nước ngoài.
b) Giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1975
Đây là thời kỳ nước ta bị chia cắt thành hai miền Nam- Bắc bởi vĩ tuyến 17 (được coi là
ranh giới tạm thời giữa hai miền). Miền Bắc làm cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân,
sau đó tiến hành công cuộc xâu dựng chủ nghĩa xã hội; miền Nam mặc dù sống trong sự kìm
kẹp của chính quyền bù nhìn, nhân dân vẫn tiến hành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ để
thống nhất nước nhà. Do đó, trong thời kỳ này, pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự nói chung,
quan hệ hôn nhân nói riêng, trong đó có quan hệ ly hôn ở mỗi miền là khác nhau.
c) Giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1986
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, quan hệ hôn nhân và gia
đình trên cả nước được điều chỉnh bởi Luật hôn nhân và gia đình năm 1959.
2.1.1.3. Giai đoạn từ năm 1986 đến trước khi ban hành Luật Hôn nhân và gia đình năm
2000
Ngày 26/6/1986, Quốc hội Khóa VII kỳ họp thứ 12 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam đã thông qua Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986. Việc dành một chương riêng
trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 để quy định về quan hệ hôn nhân và gia đình có
yếu tố nước ngoài là một bước phát triển, tiến bộ mới trong công tác lập pháp ở nước ta về
lĩnh vực này. Bên cạnh đó là các văn bản liên quan: Thông tư số 06/TTLN ngày 30/12/1986
hướng dẫn về thủ tục và thẩm quyền giải quyết những việc ly hôn giữa công dân Việt Nam
mà một bên ở nước chưa ký Hiệp định tương trợ tư pháp với Việt Nam; Pháp lệnh Thủ tục
giải quyết các vụ án dân sự ra đời ngày 29/11/1989; Pháp lệnh về hôn nhân và gia đình giữa
công dân Việt Nam với người nước ngoài được Chủ tịch nước công bố ngày 15/12/1993, có
hiệu lực thi hành từ ngày 01/3/1994; Pháp lệnh công nhận và thi hành tại Việt Nam bản án,
quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài ngày 17/4/1993; Pháp lệnh thi hành án dân sự, được
Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua ngày 21/4/1993, quy định về vấn đề thi hành án các
bản án, quyết định dân sự, trong đó có vấn đề ly hôn của Tòa án nước ngoài tuyên
Có thể nói trong giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2000, cùng với các văn bản khác, Luật
Hôn nhân và gia đình năm 1986, Pháp lệnh hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với
người nước ngoài đã đánh dấu sự phát triển đáng kể của pháp luật về ly hôn giữa công dân
Việt Nam với người nước ngoài. Cho dù, hiện nay các văn bản này không còn hiệu lực bằng
sự ra đời của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, nhưng những nội dung cơ bản của các
văn đề nêu trên đã được kế thừa và ghi nhận trong các văn bản pháp luật hiện hành.
2.1.1.4. Giai đoạn từ khi ban hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đến nay
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã giành một chương riêng (Chương XI) gồm 7
điều quy định chế độ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Riêng ly hôn có yếu tố nước
ngoài nói chung, ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài nói riêng được quy
định tại hai điều, Điều 102 và Điều 104 đã chấm dứt hiệu lực của Pháp lệnh về hôn nhân và
gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài năm 1993.
Nhằm cụ thể hóa một số quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 về quan hệ
hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, Chính phủ đã ban hành Nghị định số
68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 về Quy định chi tiết một số điều của Luật Hôn nhân và gia
đình có yếu tố nước ngoài. Bên cạnh đó, ngày 16/4/2003, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng pháp luật
trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, trong đó có việc ly
hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài
Ngày 15/6/2004, tại kỳ họp thứ V Quốc hội khóa XI đã thông qua Bộ luật Tố tụng dân sự
của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đây là lần đầu tiên các vấn đề của luật tố
tụng được ban hành dưới hình thức một bộ luật, đánh dấu bước phát triển mới của hệ thống
pháp luật Việt Nam
2.1.2. Điều ước quốc tế
Trong giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1992, Việt Nam đã ký được 06 Hiệp định và kể từ
khi ban hành Hiến pháp 1992 đến trước khi ban hành Luật Tương trợ tư pháp 2007, Việt
Nam ký thêm được 09 Hiệp định Tương trợ tư pháp với các nước, cụ thể: Ba Lan, Bêlarút,
Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên, Lào, Mông Cổ, Pháp, Trung Quốc, Ucraina, Hàn
Quốc.
2.1.3. Tập quán quốc tế
Với tính chất là một loại nguồn của tư pháp quốc tế, tập quán quốc tế cũng có thể áp
dụng để điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài nói chung, quan hệ ly hôn giữa
công dân Việt Nam với người nước ngoài nói riêng. Tuy nhiên, tập quán quốc tế chỉ được coi
là giải pháp cuối cùng để điều chỉnh quan hệ ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước
ngoài.
2.2. Quy định của pháp luật Việt Nam về ly hôn giữa công dân Việt Nam với
người nước ngoài, so sánh với pháp luật một số nước trên thế giới
2.2.1. Quy định về chọn luật áp dụng
2.2.1.1. Pháp luật quốc gia
Việc giải quyết xung đột pháp luật về ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước
ngoài được quy định tại Điều 104 Luật Hôn nhân và gia đình
Luật Việt Nam được áp dụng giải quyết ly hôn, chia tài sản cũng như quyền và nghĩa vụ
của vợ chồng đối với con cái được xác định từ Điều 85 đến Điều 99 của Luật Hôn nhân và
gia đình năm 2000. Tuy nhiên, việc áp dụng các quy định này để giải quyết các trường hợp ly
hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài là không đơn giản. Để giải quyết vấn đề
này, Nghị định 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành một
số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài, theo văn
bản này thì vấn đề ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài chỉ được ghi nhận
tại Khoản 2 Điều 20 về trường hợp công nhận việc ly hôn được tiến hành ở nước ngoài.
2.2.1.2. Điều ước quốc tế
Theo các quy định của Hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam đã ký kết với các nước
thì việc lựa chọn pháp luật áp dụng để giải quyết vấn đề ly hôn giữa công dân Việt Nam với
người nước ngoài được quy định đối với từng trường hợp cụ thể:
+ Trường hợp công dân Việt Nam xin ly hôn với người nước ngoài nhưng có cùng nơi cư
trú, thì pháp luật để giải quyết việc ly hôn là pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ
chồng.
+ Trường hợp công dân Việt Nam xin ly hôn với người nước ngoài và không có cùng nơi
cư trú, thì pháp luật để giải quyết việc ly hôn là pháp luật của nước có Tòa án thụ lý đơn ly
hôn.
2.2.1.3. Tập quán quốc tế
Khoản 3 Điều 100 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 ghi nhận việc bảo hộ quyền, lợi
ích hợp pháp của công dân Việt Nam ở nước ngoài trong quan hệ hôn nhân và gia đình phù
hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật nước sở tại, pháp luật quốc tế và tập quán quốc tế.
Đây cũng chính là một quy định pháp luật cần thiết, là cơ sở pháp lý để các cơ quan có thẩm
quyền áp dụng tập quán quốc tế khi pháp luật trong nước hoặc Điều ước quốc tế mà Việt
Nam là thành viên không có quy định áp dụng. Tuy nhiên, chủ thể trong quan hệ ly hôn có
yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam không chỉ có công dân Việt Nam ở nước ngoài,
mà còn có người nước ngoài và người không quốc tịch trên lãnh thổ Việt Nam. Như vậy, tập
quán quốc tế không được áp dụng đối với chủ thể là người nước ngoài và người không quốc
tịch. Như vậy, có thể thấy quy định này đang chưa phù hợp và cần thiết phải sửa đổi, bổ sung
nhằm hoàn thiện vấn đề này.
2.2.2.Quy định của pháp luật Việt Nam điều chỉnh quan hệ ly hôn giữa công dân Việt
Nam với người nước ngoài
2.2.2.1. Quy định về luật nội dung
- Về căn cứ cho ly hôn
So sánh với pháp luật Nhật Bản có điểm giống pháp luật Việt Nam khi căn cứ vào bản
chất của cuộc hôn nhân nếu thấy có tồn tại những lý do dẫn tới các bên không thể tiếp tục
hôn nhân. Tuy nhiên, bên cạnh đó, pháp luật Nhật Bản cũng căn cứ yếu tố lỗi của vợ chồng
nếu một trong hai bên bị bên kia ngược đãi, hành hạ thậm tệ hoặc một trong hai bên có
hành vi không chung thủy. Căn cứ để kiện đòi ly hôn theo pháp luật Thái Lan được quy
định rất cụ thể. Tuy nhiên, cũng như pháp luật Nhật Bản, yếu tố lỗi cũng được xem là một
trong những căn cứ chủ yếu làm phát sinh quan hệ ly hôn.
- Về việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn
Vấn đề cấp dưỡng sau khi ly hôn như quy định của pháp luật Việt Nam mặc dù không
được pháp luật dân sự Nhật Bản quy định cụ thể trong Bộ luật, song "những vấn đề cần thiết
khác đối với việc chăm sóc" đã bao hàm rất nhiều nội dung liên quan đến việc cha mẹ có
nghĩa vụ đóng góp tài chính, cùng nhau nuôi dưỡng, dạy bảo con cái họ sau khi ly hôn. Tuy
nhiên, pháp luật dân sự Nhật Bản lại dành một chương riêng (Chương VI) quy định về nghĩa
vụ cấp dưỡng, áp dụng đối với những người thân theo huyết thống trực hệ và anh chị em hoặc
trong hoàn cảnh nhất định Tòa án có thể buộc những người thân trong phạm vi ba đời có
nghĩa vụ cấp dưỡng cho nhau. Quy định này cũng bao gồm việc cấp dưỡng của cha mẹ đối
với con cái sau khi ly hôn, song không cụ thể và rõ ràng. Tuy nhiên có thể thấy nghĩa vụ cấp
dưỡng được pháp luật ghi nhận và là cơ sở vững chắc để giải quyết vấn đề nuôi dạy con cái
khi hôn nhân tan vỡ. Điều 1522 Bộ Luật Dân sự và thương mại Thái Lan quy định: "Trong
trường hợp ly hôn có sự đồng ý của cả hai bên, thì phải có một sự dàn xếp và ghi vào bản
thỏa thuận ly hôn về việc người nào, vợ hay chồng hay cả hai sẽ đóng góp vào việc nuôi
dưỡng con cái và sẽ phải đóng góp bao nhiêu. Trong trường hợp Tòa án xử ly hôn hoặc
trong trường hợp thỏa thuận ly hôn không ghi nhận gì về việc nuôi dưỡng con cái, thì Tòa án
sẽ quyết định vấn đề đó".
Tóm lại, vấn đề nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con cái sau khi ly hôn hầu hết được pháp
luật các nước tôn trọng sự thỏa thuận của vợ chồng, nếu không thỏa thuận được Tòa án sẽ ra
phán quyết có tính đến yếu tố thuận lợi nhất cho sự phát triển của con trẻ. Những quy định
này được áp dụng trong mọi trường hợp xin ly hôn nói chung và ly hôn giữa công dân nước
sở tại với người nước ngoài nói riêng.
- Về chia tài sản sau khi ly hôn
So sánh với pháp luật Nhật Bản và pháp luật Thái Lan về vấn đề này có thể thấy pháp
luật hiện hành điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài nói chung với quan hệ ly hôn
giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài; quy định chặt chẽ về thủ tục tố tụng ly hôn có
yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên, các quy định hướng dẫn cụ thể về ly hôn giữa công dân Việt
Nam với người nước ngoài còn hạn chế, chưa được đầy đủ cụ thể là một trong những nguyên
nhân gây khó khăn cho các cơ quan hữu quan trong việc thực thi nhiệm vụ và khó khăn cho
các đương sự khi tham gia quan hệ này.
2.2.2.2. Quy định về luật tố tụng
a) Thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết vụ việc ly hôn giữa công dân Việt Nam
với người nước ngoài
Thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm vụ án ly hôn giữa công dân Việt Nam với
người nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, trừ trường hợp
công dân Việt Nam với người nước ngoài là công dân nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực
biên giới thì thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cư trú của công dân Việt
Nam giải quyết.
Thẩm quyền theo lãnh thổ để giải quyết vụ án ly hôn giữa công dân Việt Nam với người
nước ngoài được xác định theo Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu được quy định tại Điều 36
Bộ luật Tố tụng dân sự.
b) Vấn đề thủ tục giải quyết các vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài nói chung, ly hôn
giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài nói riêng
Thủ tục sơ thẩm vụ án ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài tựu chung
có những đặc điểm sau:
- Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ án giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài nếu
vợ chồng trong quan hệ kết hôn đó đã đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của Việt
Nam theo pháp luật Việt Nam hoặc đăng ký kết hôn của họ được công nhận trên lãnh thổ
Việt Nam, hoặc đã được hợp pháp hóa lãnh sự và đã được ghi chú vào các sổ thay đổi về hộ
tịch theo quy định tại Nghị định số 83/NĐ-CP ngày 10/10/1998 của Chính Phủ.
- Đơn ly hôn của đương sự ở nước ngoài phải được chứng thực hợp pháp.
- Việc lấy lời khai của đương sự ở nước ngoài, việc điều tra, xác minh về tài sản chung ở
nước ngoài phải được thực hiện qua con đường ủy thác tư pháp cho Tòa án nước ngoài
hoặc cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở sở tại.
- Vấn đề hòa giải đoàn tụ trong vụ án ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước
ngoài trong trường hợp người nước ngoài không có mặt tại Tòa án vào thời điểm thụ lý, giải
quyết vụ án không được đặt ra, coi như trường hợp không thể hòa giải. Do đó, Tòa án không
phải báo gọi đương sự ở nước ngoài về tham gia hòa giải.
- Đối với trường hợp thuận tình ly hôn mà có một trong hai bên đương sự đang ở nước
ngoài, mặc dù cả hai bên thuận tình ly hôn và quan điểm của họ được thể hiện trong đơn cùng
các lời khai, đồng thời đương sự ở nước ngoài xin giải quyết vắng mặt tại Tòa án, thì Tòa án
có thẩm quyền phải mở phiên tòa họp để xét việc xin thuận tình ly hôn, sau đó mới được ra
quyết định công nhận thuận tình ly hôn.
- Tòa án không phải triệu tập đương sự ở nước ngoài tham gia tố tụng tại phiên tòa mà
chỉ thông báo cho họ biết việc Tòa án ở phiên tòa.
- Việc tống đạt bản án, quyết định của Tòa án cho đương sự ở nước ngoài cũng được thực
hiện qua con đường ủy thác tư pháp.
Nhìn chung, thông qua việc so sánh với pháp luật dân sự Nhật Bản và Thái Lan có thể
thấy một số nước có quy định chế định ly thân là một trong những căn cứ để xin ly hôn. Chế
định này không được pháp luật Việt Nam quy định trong khi thực tế việc ly thân của vợ
chồng trước khi ly hôn là hiện tượng xảy ra phổ biến. Vì vậy, đây được xem là một nội dung
mà pháp luật Việt Nam còn bỏ ngỏ, thiết nghĩ nên công nhận ly thân, thời gian ly thân trở
thành một căn cứ pháp lý để dẫn tới ly hôn.

Chương 3
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH LY HÔN GIỮA CÔNG DÂN VIỆT NAM VỚI NGƯỜI
NƯỚC NGOÀI
3.1. Tình hình giải quyết vụ việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước
ngoài tại Tòa án Việt Nam
3.1.1. Trước khi ban hành Bộ luật Tố tụng dân sự
Theo Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự thì một trong những căn cứ để Tòa án
ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài là do không tìm thấy
được địa chỉ của bị đơn (Điểm c Khoản 1 Điều 45). Vì vậy đối với việc giải quyết vụ án ly
hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài phần lớn bị tạm đình chỉ vì sau khi ủy
thác tư pháp để lấy lời khai của đương sự ở nước ngoài, đã hết thời hạn chuẩn bị xét xử mà
không có kết quả do không liên hệ được với bị đơn, hoặc do họ đã chuyển đến địa chỉ khác
mà không rõ địa chỉ mới hoặc bị đơn là người sống lưu vong không ai quản lý thì Tòa án vận
dụng Điểm c Khoản 1 Điều 45 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự để ra quyết định
tạm đình chỉ. Trường hợp công dân Việt Nam trong nước bị bị đơn là người nước ngoài bỏ
lửng nhiều năm và không có căn cứ cho rằng họ vẫn thường xuyên liên lạc với thân nhân của
họ ở trong nước và thân nhân của họ không chịu cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn ở nước
ngoài, thì áp dụng hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân nhân Tối cao, căn cứ vào Điểm c Khoản 1 Điều 45 Pháp lệnh
coi đây là trường hợp "không tìm được địa chỉ của bị đơn" để ra quyết định tạm đình chỉ việc
giải quyết vụ án; nếu bị đơn đã biệt tích hai năm không có tin tức, Tòa án giải thích cho nguyên
đơn biết họ có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án cấp huyện nơi họ thường trú xác định bị đơn mất
tích hoặc đã chết. Trên thực tế thì Tòa án không ra quyết định tạm đình chỉ để chờ giải quyết mất
tích xong mới giải quyết ly hôn mà thường là ra quyết định chuyển vụ án cho Tòa án cấp huyện
có thẩm quyền giải quyết việc mất tích đồng thời giải quyết luôn việc ly hôn. Hướng giải
quyết này chỉ là giải pháp tình thế vì quy định của pháp luật chưa có chế định về vấn đề ly
thân như một số nước trên thế giới, chưa coi ly thân là một trong những căn cứ pháp lý để
giải quyết cho ly hôn.
3.1.2. Từ khi ban hành Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 ra đời đã khắc phục những điểm bất cập không còn phù
hợp nói trên. Theo Điều 189 quy định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thì không có quy
định về trường hợp không tìm thấy địa chỉ của bị đơn. Để hướng dẫn áp dụng thống nhất
pháp luật trong toàn ngành Toà án khôngdân, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
đã ban hành Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 hướng dẫn thi hành các quy
định trong phần thứ hai "Thủ tục giải quyết các vụ án Tòa án cấp sơ thẩm của Bộ luật Tố
tụng dân sự".Do đó, kể từ khi áp dụng Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 và các văn bản
hướng dẫn, việc ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài nói
chung, vụ án ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài nói riêng vì lý do chưa
tìm được địa chỉ của bị đơn đã không còn, chấm dứt tình trạng các vụ án bị "treo" trong sổ
thụ lý như những thời gian trước đây.
3.2. Kiến nghị việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam về ly hôn giữa công dân Việt
Nam với người nước ngoài
3.2.1. Hoàn cảnh quốc tế liên quan đến vấn đề ly hôn giữa công dân Việt Nam với
người nước ngoài
Các vụ việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài hiện nay diễn ra ngày
càng phổ biến khi xu thế hội nhập quốc tế về kinh tế, xã hội ngày càng mở rộng. Theo báo
cáo thống kê của Liên Hợp quốc thì số lượng người di cư trên thế giới tăng nhanh đáng kể từ
mức 84 triệu người vào năm 1975 lên 104 triệu người vào năm 1985 và hiện nay ước tính có
khoảng 130 đến 145 triệu người sống ở ngoài đất nước mình. Những con số thống kê trên chỉ
bao gồm những người nhập cư có đăng ký hợp pháp, trên thực tế, số người nhập cư bất hợp
pháp chiếm một số lượng đáng kể do đó con số thực tế về số người nhập cư trên thế giới hàng
năm là một con số không nhỏ.
Thường thì pháp luật mỗi quốc gia quy định nội dung các quy phạm pháp luật điều chỉnh
quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài phụ thuộc vào các nguyên tắc pháp lý của hệ thống pháp
luật nước đó. Tuy nhiên, để góp phần thực hiện tốt chức năng đối nội và đối ngoại của mình,
nội dung pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài của một nước không
chỉ tuân thủ theo các nguyên tắc pháp lý cơ bản của nhà nước đó mà còn phải phù hợp với
các nguyên tắc pháp lý quốc tế và tập quán quốc tế về vấn đề này. Nói cách khác, trong bối
cảnh quốc tế hiện nay, vấn đề hoàn thiện pháp luật cần phải đưa ra, trong đó có pháp luật điều
chỉnh quan hệ ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài là một điều cần thiết.
3.2.2. Thực trạng vấn đề ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài tại Việt
Nam
Trong những năm qua, do nhiều nguyên nhân khác nhau, số các vụ án ly hôn giữa công
dân Việt Nam với người nước ngoài tăng lên đáng kể. Theo thống kê của Tòa án nhân dân
thành phố Hà Nội, từ năm 2006 đến năm 2010 đã thụ lý 538 vụ án ly hôn giữa công dân Việt
Nam với người nước ngoài, giải quyết được 485 vụ, đạt tỷ lệ 90.1%. Đối với những vụ án ly
hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài do Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội
thụ lý xét xử đa số lại do công dân Việt Nam đứng nguyên đơn và trong quá trình xét xử
thường vắng mặt bị đơn là người nước ngoài.
3.3. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về ly hôn giữa công dân Việt Nam
với người nước ngoài
3.3.1. Xây dựng một số chế định phù hợp với thực tế của đời sống quốc tế trong lĩnh
vực ly hôn
3.3.1.1. Ly thân
Ở Việt Nam, ly thân đã từng được đặt ra và xem xét như một đối tượng điều chỉnh của
pháp luật về hôn nhân (Khoản 7 Điều 8 Dự thảo lần thứ 12 Luật Hôn nhân và gia đình năm
2000). Tuy nhiên, pháp luật hiện hành không có quy định ly thân. Do đó kiến nghị nên bổ
sung một số quy định cần thiết về việc sống ly thân của vợ chồng, cách tính thời gian ly thân,
hậu quả của việc ly thân. Nếu ly thân phát triển theo chiều hướng làm tan vỡ gia đình thì nên
coi ly thân là căn cứ cho ly hôn.
3.3.1.2. Nên quy định án lệ là nguồn pháp luật trong nước
Ở Việt Nam, khái niệm án lệ còn mới không chỉ đối với các nhà thực thi pháp luật mà
còn cả đối với các nhà khoa học, hiện nay còn nhiều quan điểm nhìn nhận khác nhau, nhiều
câu hỏi đặt ra mà chưa có câu trả lời rõ ràng. Song trong thực tiễn, án lệ đã được xem như
một nguồn tài liệu quan trọng trong việc giải thích và hướng dẫn thực hiện pháp luật. Hàng
năm, Tòa án nhân dân Tối cao thường đưa ra các vụ án điển hình để rút kinh nghiệm.Vì vậy,
kiến nghị cơ quan có thẩm quyền nên xem xét công nhận án lệ như một nguồn pháp luật
trong nước điều chỉnh các quan hệ pháp luật nói chung, quan hệ ly hôn giữa công dân Việt
Nam với người nước ngoài nói riêng.
3.3.1.3. Thành lập Tòa án gia đình nằm trong hệ thống Tòa án Việt Nam
Ở Nhật Bản đã có Tòa án gia đình ở cấp quận, huyện từ năm 1949. Tòa án gia đình theo
quy định của pháp luật Nhật Bản có nhiệm vụ giải quyết các vụ án về hôn nhân và gia đình
như hủy bỏ việc kết hôn, yêu cầu ly hôn, quan hệ cha mẹ với con cái, cấp dưỡng Ở một số
nước khác như Đài Loan, Hàn Quốc thì Tòa án gia đình cũng được thành lập và nằm trong hệ
thống Tòa án.
Vì vậy, nên chăng khi pháp luật Việt Nam cũng thành lập Tòa án gia đình ở cấp quận,
huyện để giải quyết các vấn đề về hôn nhân và gia đình, nhằm đẩy mạnh việc thụ lý và giải
quyết các vụ việc ngay từ địa phương và chuyên môn hóa cao chức năng, nhiệm vụ của tòa
án đặc biệt này.
3.3.2. Đưa ra những giải pháp nhằm bảo đảm quyền lợi của đương sự
3.3.2.1. Quy định rõ hơn về cách thức tống đạt cho đương sự ở nước ngoài trong một số
trường hợp cụ thể
Để việc ủy thác tư pháp có hiệu quả, ngoài việc nguyên đơn cần phải cung cấp chính xác
địa chỉ của bị đơn ở nước ngoài thì cần nghiên cứu bổ sung quy định pháp luật về cách thức
tống đạt giấy tờ qua trực tiếp qua đường bưu điện hoặc qua nhân thân của đương sự ở nước
ngoài sẽ mang lại hiệu quả cao. Trên thực tế có nhiều trường hợp Tòa án làm thủ tục lấy lời
khai, tống đạt bản án qua ủy thác tư pháp thì không có kết quả nhưng khi làm thủ tục gửi trực
tiếp cho đương sự thì họ có đơn và văn bản phúc đáp yêu cầu của Tòa án rất kịp thời.
3.3.2.2. Đưa ra cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa Tòa án và Bộ Tư pháp, các cơ quan đại
diện ngoại giao của nước ta ở nước ngoài trong việc ủy thác tư pháp
Để việc điều tra, xác minh, định giá, lấy lời khai của đương sự ở nước ngoài trong vụ án
ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, cũng như việc tống đạt cho họ bản án,
quyết định của Tòa án và các tài liệu liên quan bảo đảm cho việc xét xử được thuận lợi cần
thiết có cơ chế phối hợp chặt chẽ, cụ thể giữa Tòa án và Bộ Tư pháp, các cơ quan đại diện
ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài trong việc ủy thác tư pháp.
3.3.3. Tăng cường ký kết, tham gia và bảo đảm hiệu quả việc thực hiện các Điều ước
quốc tế về hôn nhân và gia đình, trong đó có ly hôn giữa công dân Việt Nam với người
nước ngoài
Thông qua một số ví dụ về các vụ việc ly hôn cho thấy để có cơ sở pháp lý vững chắc
nhằm điều chỉnh quan hệ ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, Việt Nam
cần tăng cường hơn nữa việc đàm phán, ký kết các Hiệp định tương trợ tư pháp với các nước
trên thế giới đặc biệt là một số quốc gia như Mỹ, các nước Đông Nam Á, nơi có nhiều công
dân Việt Nam làm ăn, sinh sống.
3.3.4. Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và nâng cao cơ sở vật chất
- Làm tốt công tác đào tạo, tập huấn chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ, Thẩm phán và
Hội thẩm Tòa án các cấp để tạo nguồn nhân lực có chất lượng cho Ngành Tòa án;
- Tăng cường công tác ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của Tòa án;
- Tập trung kinh phí và xác định trọng điểm đầu tư xây dựng mới hoặc sửa chữa, cải tạo,
mở rộng trụ sở làm việc cho Tòa án nhân dân các cấp, đảm bảo đáp ứng yêu cầu hoạt động
hiện nay của các Tòa án và có tính đến việc đổi mới mô hình tổ chức Tòa án; tăng cường hơn
nữa việc bổ sung các trang thiết bị làm việc của Tòa án các cấp để có đủ điều kiện làm việc
bảo đảm cho công tác xét xử nói chung đạt hiệu quả cao nhất.



KẾT LUẬN
Ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài theo pháp luật Việt Nam là việc ly
hôn giữa công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam với người nước ngoài và giữa công dân
Việt Nam không thường trú tại Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn với người nước ngoài.
Những vấn đề pháp lý liên quan đến quan hệ ly hôn giữa công dân Việt Nam với người
nước ngoài là tổng thể các nguyên tắc, quy phạm điều chỉnh nằm trong sự hình thành và phát
triển theo lịch sử hệ thống pháp luật Việt Nam. Trong quan hệ quốc tế, Việt Nam đã ký kết
một số Điều ước quốc tế với các quốc gia, trong đó có thỏa thuận về nguyên tắc xác định luật
áp dụng để giải quyết quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài nói chung, ly hôn giữa công dân
Việt Nam với người nước ngoài nói riêng. Việc áp dụng các quy phạm quy định trong Điều
ước quốc tế tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết các vấn đề liên quan đến ly hôn giữa
công dân Việt Nam với công dân các nước là thành viên.
Bên cạnh đó, mặc dù việc áp dụng các tập quán quốc tế để giải quyết ly hôn giữa công
dân Việt Nam với người nước ngoài còn hạn chế, song cùng với việc áp dụng các quy phạm
pháp luật được quy định trong luật trong nước và điều ước quốc tế, tập quán quốc tế cũng
được Việt Nam thừa nhận và áp dụng.
Việc điều chỉnh quan hệ ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài phải tuân
thủ một số nguyên tắc chung: Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quan hệ hôn nhân và gia đình
có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam phù hợp với pháp luật Việt Nam và Điều ước quốc tế mà
Việt Nam ký kết hoặc tham gia; nguyên tắc bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Việt Nam ở nước ngoài phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật nước sở tại, pháp luật và
tập quán quốc tế….
Các quy định điều chỉnh quan hệ ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài
đã và đang đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết cụ thể các vụ án ly hôn. Tuy nhiên,
để đáp ứng những yêu cầu thực tiễn về lĩnh vực này, hệ thống các văn bản pháp luật cần được
hoàn thiện hơn và cần thiết tăng cường ký kết, tham gia, bảo đảm thực hiện các Điều ước
quốc tế song phương và đa phương về vấn đề hôn nhân và gia đình với các quốc gia trên thế
giới. Đó cũng là nhiệm vụ trọng tâm mà Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về Chiến
lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đã đề ra. Bên cạnh đó, nên xây
dựng một số chế định phù hợp với thực tế của đời sống quốc tế trong lĩnh vực ly hôn như ly
thân; quy định án lệ là nguồn pháp luật trong nước; thành lập Tòa án gia đình nằm trong hệ
thống Tòa án Việt Nam. Quy định rõ hơn về cách thức tống đạt cho đương sự ở nước ngoài
trong một số trường hợp cụ thể; tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và nâng cao
cơ sở vật chất cũng chính là một trong những nội dung quan trọng góp phần hoàn thiện pháp
luật và nâng cao hiệu quả trong việc giải quyết các vụ án ly hôn. Hoàn thiện hệ thống pháp
luật nói chung cũng chính là góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hội nhập kinh tế,
quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ theo xu thế thời đại ở đất nước ta.



References
a. Nông Quốc Bình (2003), Pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài
tại Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật học, Hà Nội.
b. Nông Quốc Bình - Nguyễn Hồng Bắc (2006), Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố
nước ngoài ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế, Nxb Tư pháp, Hà Nội.
c. Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan (1995), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
d. Bộ Tư pháp (1980), Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự, gia
đình, lao động và hình sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa
dân chủ Đức, Hà Nội.
e. Bộ Tư pháp (1982), Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự, gia
đình, lao động và hình sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc, Hà Nội.
f. Bộ Tư pháp (1984), Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự, gia
đình, lao động và hình sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng
hòa Cu Ba, Hà Nội.
g. Bộ Tư pháp (1985), Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự, gia
đình, lao động và hình sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng
hòa nhân dân Hungari, Hà Nội.
h. Bộ Tư pháp (1986), Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự, gia
đình, lao động và hình sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng
hòa nhân dân Bungari, Hà Nội.
i. Bộ Tư pháp (1993), Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự, gia
đình, lao động và hình sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng
hòa Ba Lan, Hà Nội.
j. Bộ Tư pháp (1998), Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự, gia
đình, lao động và hình sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên bang
Nga, Hà Nội.
k. Bộ Tư pháp (1998), Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự, gia
đình, lao động và hình sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng
hòa dân chủ nhân dân Lào, Hà Nội.
l. Bộ Tư pháp (1998), Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự, gia
đình, lao động và hình sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng
hòa nhân dân Trung Hoa, Hà Nội.
m. Bộ Tư pháp (1999), Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự, gia
đình, lao động và hình sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng
hòa Pháp, Hà Nội.
n. Bộ Tư pháp (2000), Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự, gia
đình, lao động và hình sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Ucraina,
Hà Nội.
o. Bộ Tư pháp (2000), Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự và hình
sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Mông Cổ, Hà Nội.
p. Bộ Tư pháp (2000), Hiệp định tương trợ về hình sự và dân sự giữa nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam với Bêlarus, Hà Nội.
q. Chính phủ (1950), Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5 của Chủ tịch Nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa, Hà Nội.
r. Chính phủ (1950), Sắc lệnh số 159/SL ngày 17/11 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa, Hà Nội.
s. Chính phủ (2002), Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7 về quy định chi tiết thi hành
một số điểm của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố
nước ngoài, Hà Nội.
t. Chính phủ (2006), Nghị định số 69/2006/NĐ-CP ngày 21/7 về sửa đổi, bổ sung một số
điều của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 về quy định chi tiết thi hành một
số điểm của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước
ngoài, Hà Nội.
u. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 27/11 của Bộ Chính trị
về hội nhập kinh tế quốc tế, Hà Nội.
v. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01 của Bộ Chính trị
về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội.
w. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6 của Bộ Chính trị
về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội.
x. Lê Hồng Hạnh (dịch) (1993), Bộ luật Dân sự Nhật Bản, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
y. Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội (2001), Giáo trình Tư pháp quốc tế, Nxb Đại học
quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
z. Liên hợp quốc (1969), Công ước Viên về Luật Điều ước quốc tế.
aa. Châu Tu Phát (1975), Luật dân sự tố tụng lược giải, Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn.
bb. Nhà Pháp luật Việt - pháp (2005), Bộ luật dân sự Pháp, Nxb Tư pháp, Hà Nội.
cc. Quốc hội (1946), Hiến pháp, Hà Nội.
dd. Quốc hội (1959), Hiến pháp, Hà Nội.
ee. Quốc hội (1959), Luật Hôn nhân và gia đình, Hà Nội.
ff. Quốc hội (1980), Hiến pháp, Hà Nội.
gg. Quốc hội (1986), Luật Hôn nhân và gia đình, Hà Nội.
hh. Quốc hội (1992), Hiến pháp, Hà Nội.
ii. Quốc hội (1992), Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Hà Nội.
jj. Quốc hội (1998), Luật Quốc tịch, Hà Nội.
kk. Quốc hội (2000), Luật Hôn nhân và gia đình, Hà Nội.
ll. Quốc hội (2001), Hiến pháp (sửa đổi, bổ sung), Hà Nội.
mm. Quốc hội (2004), Bộ luật Tố tụng dân sự, Hà Nội.
nn. Quốc hội (2005), Bộ luật Dân sự, Hà Nội.
oo. Quốc hội (2007), Luật Ký kết điều ước quốc tế, Hà Nội.
pp. Tòa án nhân dân tối cao (1974), Thông tư số 11/TATC ngày 12/7/1974 của Tòa án nhân
dân tối cao về thủ tục giải quyết vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài, Hà Nội.
qq. Tòa án nhân dân tối cao (1977), Thông tư số 96/NCPL ngày 8/2 hướng dẫn về trình tự
xét xử sơ thẩm về dân sự, Hà Nội.
rr. Tòa án nhân dân tối cao (2000), Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12 của Hội
đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật
Hôn nhân và gia đình năm 2000, Hà Nội.
ss. Tòa án nhân dân tối cao (2003), Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày 12/5 của Hội
đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành các quy định trong Phần
thứ hai "thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm" của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hà
Nội.
tt. Tòa án nhân dân tối cao (2005), Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/3/ của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong
phần thứ nhất "Những quy định chung" của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, Hà Nội.
uu. Tòa án nhân dân tối cao (2006), Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5 hướng dẫn
thi hành các quy định trong phần thứ hai "Thủ tục giải quyết các vụ án Tòa án cấp sơ
thẩm của Bộ luật Tố tụng dân sự", Hà Nội.
vv. Tòa án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp (1986), Thông tư
liên tịch số 06/TTLN ngày 30/12 hướng dẫn về thủ tục và thẩm quyền giải quyết những
việc ly hôn giữa công dân Việt Nam mà một bên ở nước chưa ký Hiệp định tương trợ tư
pháp với Việt Nam, Hà Nội.
ww. Nguyễn Hùng Trương (1972), Bộ luật dân sự và thương sự tố tụng năm 1972, Nhà sách
Khai Trí, Sài Gòn.
xx. Trường Đại học Luật Hà Nội (1994), Giáo trình Luật quốc tế, Nxb Công an nhân dân,
Hà Nội.
yy. Trường Đại học Luật Hà Nội (2000), Giáo trình Tư pháp quốc tế, Nxb Công an nhân dân, Hà
Nội.
zz. Trường Đại học Luật Hà Nội (2006), Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam,
Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
aaa. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (1989), Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, Hà
Nội.
bbb. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (1993), Pháp lệnh Hôn nhân và gia đình giữa công dân
Việt Nam với người nước ngoài, Hà Nội.
ccc. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (1993), Pháp lệnh Thi hành án dân sự, Hà Nội.









Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×