Tải bản đầy đủ

Nghiên cứu biến động đường bờ biển phục vụ quản lý tai biến xói lở tỉnh bà rịa vũng tàu

Nghiên cứu biến động đƣờng bờ biển phục vụ
quản lý tai biến xói lở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu


Bùi Quang Dũng

Trƣờng Đại học Khoa học Tự nhiên
Luận văn ThS chuyên ngành: Sử dụng và bảo vệ tài nguyên môi trƣờng
Mã số: 60 85 15
Ngƣời hƣớng dẫn: PGS.TS Vũ Văn Phái
Năm bảo vệ: 2012


Abstract: Nghiên cứu biến động bờ biển ở trong nƣớc và trên thế giới. Xác định rõ các
nhân tố tự nhiên và xã hội ảnh hƣởng đến biến động bờ biển vùng nghiên cứu. Nghiên
cứu hiện trạng biến động bờ biển các tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu trong khoảng thời gian từ
1965 đến nay. Xác định đƣợc nguyên nhân trực tiếp gây ra và các nhân tố ảnh hƣởng đến
biến động bờ biển vùng nghiên cứu. Đề xuất một số các giải pháp thích hợp nhằm hạn
chế, giảm thiểu tai biến biến động bờ biển khu vực nghiên cứu.

Keywords: Bảo vệ tài nguyên môi trƣờng; Đƣờng bờ biển; Tai biến xói lở; Vũng Tàu



Content
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Bà Rịa-Vũng Tàu là một tỉnh ven biển thuộc vùng Đông Nam Bộ, nằm trong vùng kinh tế
trọng điểm phía Nam, thuộc vùng Đô thị Thành Phố Hồ Chí Minh. Đây chính là cửa ngõ của các
tỉnh miền Đông Nam Bộ hƣớng ra Biển Đông và cũng là một trong ba cực tam giác tăng trƣởng
kinh tế Nam Bộ với thế mạnh khai thác dầu khí, du lịch, đánh bắt hải sản và giao thông vận tải
đƣờng biển vởi cảng nƣớc sâu Cái Mép ở cửa sông Thị Vải. Với đƣờng bờ biển dài, nhiều bãi
tắm đẹp, cơ sở hạ tầng đƣợc đầu tƣ xây dựng giúp cho Bà Rịa - Vũng Tàu trở thành một trong
những trung tâm du lịch hàng đầu cả nƣớc. Hàng loạt dự án du lịch lớn đã và đang đƣợc thẩm
định và cấp phép nhƣ: Saigon Atlantis (300 triệu USD), Công viên giải trí Bàu Trũng và Bể cá
ngầm Nghinh Phong (500 triệu USD), công viên bách thú Safari Xuyên Mộc (200 triệu USD)
Tuy nhiên, trong những năm gần đây bờ biển Bà Rịa – Vũng Tàu bị biến đổi rất mạnh
mẽ. Có thể nói, hoạt động phá hủy đang xảy ra trên toàn bộ chiều dài bờ biển trong khu vực. Bờ
biển lấn sâu vào đất liền phá hủy các công trình ven bờ gây ra hậu quả rất nặng nề, ảnh hƣởng rất
lớn đến đời sống kinh tế - xã hội của cộng đồng dân cƣ địa phƣơng cũng nhƣ chi phí khắc phục,
hạn chế tác hại của xói lở bờ biển gây ra. Vì vậy Đề tài: “Nghiên cứu biến động đƣờng bờ biển
phục vụ quản lý tai biến xói lở tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu” là rất cần thiết.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu chung: Làm sáng tỏ hiện trạng và nguyên nhân biến đổi bờ biển tỉnh Bà Rịa-
Vũng Tàu qua các giai đoạn phục vụ cho quản lý tai biến xói lở khu vực nghiên cứu.
Nhiệm vụ nghiên cứu
1) Làm sáng tỏ tình hình nghiên cứu biến động bờ biển ở trong nƣớc và trên thế giới.
2) Xác định rõ các nhân tố tự nhiên và xã hội ảnh hƣởng đến biến động bờ biển vùng nghiên cứu.
3) Làm sáng tỏ hiện trạng biến động bờ biển các tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu trong khoảng thời gian
từ 1965 đến nay.
4) Xác định đƣợc nguyên nhân trực tiếp gây ra và các nhân tố ảnh hƣởng đến biến động bờ biển
vùng nghiên cứu.
5) Đề xuất một số các giải pháp thích hợp nhằm hạn chế, giảm thiểu tai biến biến động bờ biển
khu vực nghiên cứu.
3. Nội dung nghiên cứu
Nội dung 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu biến động bờ biển
Nội dung 2: Phân tích các nhân tố động lực gây biến động bờ biển tỉnh Bà Rịa – Vũng
Tàu
Nội dung 3: Phân tích biến động bờ biển khu vực nghiên cứu
Nội dung 4: Đề xuất và định hƣớng các giải pháp
4. Giới hạn phạm vị nghiên cứu
Luận văn tiến hành thực hiện trên phạm vi 82km bờ Đông tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, bao


gồm 12km bờ đá và 70km bờ cát chạy dài từ bờ biển xã Bình Châu huyện Xuyên Mộc đến bờ
biển khu vực Núi Lớn thành phố Vũng Tàu.
Nội dung của luận văn, ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, sẽ đƣợc trình
bày trong 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Tổng quan về nghiên cứu biến động đƣờng bờ
Chƣơng 2: Nhân tố ảnh hƣởng đến biến động đƣờng bờ tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Chƣơng 3: Đánh giá khả năng biến động dựa vào chỉ số tổn thƣơng bờ biển phục vụ
quản lý tai biến xói lở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỘNG ĐƢỜNG BỜ
1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM
Đường bờ biển. Theo quan niệm chung, đƣờng bờ biển là ranh giới tiếp xúc giữa biển và
đất liền.
Đường bờ trong (coastline) là ranh giới tác động cao nhất của sóng trong năm (thƣờng là
sóng bão) với đất liền;
Đường bờ ngoài (shoreline) là ranh giới tác động của sóng vào lúc thủy triều cao trung
bình.
Tính dễ bị tổn thương của bờ biển (coastal vulnerability). Tính dễ bị tổn thƣơng, nói
chung, là một thuật ngữ đƣợc sử dụng khi đánh giá tai biến hoặc rủi ro. Khi có tai biến hoặc rủi
ro xảy ra, thì một hay nhiều hợp phần nào đó của tự nhiên hay xã hội sẽ có những phản ứng lại
đối với chúng.
1.2. CƠ Sở LÝ LUậN VÀ PHƢƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ
1.2.1. Cơ sở lý luận: cách tiếp cận hệ thống
Tiếp cận hệ thống là phƣơng pháp luận sử dụng để giải quyết những vấn đề thực tế trên
cơ sở xem xét xử lý đầy đủ các đặc điểm hệ thống của đối tƣợng. Các công cụ chủ yếu của tiếp
cận hệ thống là vận trù học, lý thuyết điều khiển và lý thuyết hệ thống. Khi áp dụng phƣơng pháp
luận hệ thống vào thực tiễn cần chú ý các vấn đề: Tính nhất thể; Tính hướng đích của hệ thống;
Tính trồi; Cấu trúc, hành vi, phân cấp
1.2.2. Các phƣơng pháp nghiên cứu
1.2.2.1. Thiết lập các đƣờng bờ trong lịch sử
Để đánh giá biến động bờ biển trong tƣơng lai ngƣời ta phải dựa vào tốc độ biến động
đƣờng bờ trên cơ sở thay đổi vị trí của nó theo thời gian. Do đó, trƣớc hết cần phải thiết lập đƣợc
các đƣờng bờ biển trong lịch sử. Các tài liệu có thể giúp xác lập các đƣờng bờ qua các thời kỳ
khác nhau là các bản đồ, ảnh hàng không và ảnh viễn thám, đo vẽ theo hệ thống định vị toàn cầu,
hoặc hiện đại hơn là đo vẽ LIDAR.
1.2.2.2. Chỉ số mức độ tổn thƣơng bờ biển
Chỉ số mức độ tổn thương bờ biển (Coastal Vulnerability Index - CVI) đƣợc tính toán
theo 6 biến số là: địa mạo, biến động đƣờng bờ, độ nghiêng của bờ, thay đổi mực nƣớc biển
tƣơng đối, độ cao sóng có ý nghĩa và độ lớn thủy triều. CVI đƣợc tính nhƣ sau:
CVI =
6
***** fedcba

ở đây a là địa mạo, b là tốc độ biến động đƣờng bờ, c là độ nghiêng của bờ, d là thay đổi mực
nƣớc biển tƣơng đối, e là độ cao sóng có ý nghĩa trung bình và f là độ cao trung bình của thủy
triều.
1.2.2.3. Các phƣơng pháp địa mạo
1) Phương pháp phân tích hình thái - động lực
Thực chất đây là phƣơng pháp hình thái- nguồn gốc. Nhƣng do địa hình bờ biển đều đƣợc
hình thành chủ yếu do các tác nhân động lực của biển, nhƣ sóng và dòng chảy do nó sinh ra, thủy
triều, hoặc có sự kết hợp của cả sóng và thủy triều, hoặc giữa biển và sông, v.v. Giữa hình thái địa
hình bờ biển và các nhân tố động lực thành tạo chúng có mối liên quan rất mật thiết với nhau theo
quan hệ nhân - quả.
2) Phương pháp phân tích trắc lượng hình thái
Đây là một trong những phƣơng pháp nghiên cứu địa mạo truyền thống và mang lại hiệu
quả cao. Tài liệu đƣợc sử dụng trong phƣơng pháp này là bản đồ địa hình năm năm xuất bản
khác nhau của vùng nghiên cứu. Dựa vào bản đồ địa hình và quan sát ngoài thực tế, có thể cho ta
thấy bờ biển dốc hay thoải. Trên cơ sở độ mau-thƣa và sự phân bố của các đƣờng bình độ, có thể
thấy đƣợc hình dạng của địa hình: kéo dài, đẳng thƣớc, lồi hay lõm. Nếu trên một vùng bằng
phẳng, độ mau của các đƣờng bình độ, có thể cho thấy đó là đá gốc có độ bền vững cao.
3) Phương pháp phân tích hình thái - thạch học
Cơ sở của phƣơng pháp này đƣợc dựa trên mối liên quan chặt chẽ giữa đặc điểm hình thái
với các tính chất của vật liệu (đất đá gắn kết hay bở rời, kích thƣớc hạt, v.v.) tạo nên chúng. Chẳng
hạn, độ dốc của bãi phụ thuộc rất nhiều vào kích thƣớc hạt. Hạt càng thô, độ dốc của bãi càng lớn
và ngƣợc lại
1.3. TÌNH HÌNH NGHIÊN CứU
1.3.1. Nghiên cứu biến động bờ biển trên thế giới
Biến động bờ biển tự nhiên bao gồm xói lở bãi cũng nhƣ vùng đất ven biển và tích tụ
trầm tích để tạo ra một vùng đất mới là một hiện tƣợng tự nhiên trong quá trình tiến hóa vùng bờ
biển. Nó xảy ra sau những thay đổi về mực nƣớc biển tƣơng đối, khí hậu và các nhân tố khác
trên những quy mô thời gian-không gian khác nhau từ các sự kiện theo thời gian địa chất đến các
hiện tƣợng cực đoan trong khoảng thời gian ngắn. Nó cũng có thể đƣợc làm tăng lên bởi các hoạt
động của con ngƣời hoặc là ngay tại bờ, hoặc trên các lƣu vực sông, đặc biệt trên các lƣu vực
sông lớn vốn có nguồn cung cấp một lƣợng trầm tích to lớn cho bờ biển, nhƣ sông Hoàng Hà,
Trƣờng Giang, Ấn-Hằng, sông Mê Kông và sông Hồng ở Việt Nam.
1.3.2. Nghiên cứu biến động bờ biển ở Việt Nam
Cũng nhƣ trên quy mô toàn cầu, bờ biển Việt Nam bị biến đổi theo những quy luật của tự
nhiên: xói lở và bồi tụ. Đây là hai mặt của một quá trình tiến hóa bờ biển Việt Nam đã đƣợc ghi
nhận trong các văn liệu từ lâu. Tuy nhiên, việc nghiên cứu quá trình này chỉ mới đƣợc bắt đầu
trong khoảng thời gian gần đây.
1.3.3. Nghiên cứu biến động bờ biển tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Bờ biển Bà Rịa – Vũng Tàu trong những năm gần đây đang bị xói lở nghiêm trọng đặc
biệt trong các đoạn bờ nhƣ Bình Châu, Hồ Tràm, Lộc An, Cửa Lấp. Tuy chƣa có thiệt hại về
ngƣời, nhƣng xói lở bờ biển đã làm mất đất, làm sập đổ các công trình, đe dọa đƣờng giao thông,
v.v. gây ảnh hƣởng đến tâm lý của ngƣời dân.


CHƢƠNG 2
NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN BIẾN ĐỘNG ĐƢỜNG BỜ TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Bà Rịa - Vũng Tàu là một tỉnh ven biển thuộc vùng Đông Nam Bộ, tiếp giáp tỉnh Đồng
Nai ở phía bắc, Thành phố Hồ Chí Minh ở phía tây, tỉnh Bình Thuận ở phía đông, còn phía nam
giáp Biển Đông.
Đƣờng bờ biển phần đất liền là 104 km (không kể bờ biển huyện Côn Đảo), trong đó có
70 km là bờ cát (từ mũi Nghinh Phong về phía Đông - Bắc), 12 km bờ đá (Núi Lớn, Núi Nhỏ và
núi Kỳ Vân) và 22 km bờ biển thấp cấu tạo bằng bùn - sét (trong vịnh Gành Rái).
2.1. CÁC NHÂN TỐ NỘI SINH
2.1.1. Cấu trúc địa chất
Đới cấu trúc Đà Lạt: nằm phía Bắc, Tây Bắc đứt gãy Hòn Khoai - Cà Ná kéo dài từ vịnh
Ba Kiềm về tới thành phố Vũng Tàu. Đới cấu trúc Đà Lạt cơ bản là một khối nâng tƣơng đối.
Tuy nhiên vào Holocen sớm giữa ở trung tâm khu vực nghiên cứu có sự sụt lún cục bộ, tạo một
đới trũng ở độ sâu 25 - 30m nƣớc, đới trũng này do bị thiếu hụt trầm tích nên bề dày của trầm
tích Holocen mỏng hơn so với vùng còn lại. Đới cấu trúc bồn trũng Cửu Long: nằm ngoài khơi
phía Nam đới nâng Đà Lạt, trong phạm vi nghiên cứu chỉ thấy đƣợc một phần của đới sụt này.
Đặc trƣng cấu tạo của đới là một đơn nghiêng, trên băng địa chấn nông phân giải cao quan sát
thấy chiều dày lớp phủ Đệ tứ khá lớn, trên bề mặt địa hình cũng tạo ra một máng trũng chạy dài
theo phƣơng Đông Bắc - Tây Nam. Đới cấu trúc bồn trũng Cửu Long: đƣợc chia 2 tầng cấu trúc
2.1.2. Đặc điểm thạch học
1. Hệ tầng Nha Trang (Knt): lộ ra thành các chỏm nhỏ nằm rải rác ven biển ở khu
vực mũi Kỳ Vân và mũi Vũng Tàu. Trong không gian chúng có quan hệ khăng khít với granit
phức hệ Đèo Cả.
2. Trầm tích sông biển (amQ
1
3)
: Phân bố trong vịnh Gành Rái, và các vùng cửa sông
Bà Đáp, Cửa Lấp. Thành phần thạch học gồm: bùn cát chứa sạn, cát, cát sạn, cát pha bột lẫn
sạn nhỏ và bột sét, ít cát lẫn vụn thực vật, trầm tích có màu xám, xám nâu, xám tối, ở khu vực
cửa sông Cửa Lấp trầm tích còn chứa các vỏ sò ốc do sóng biển đƣa từ ngoài vào. Bề dày
thay đổi 1 - 5m.
3. Trầm tích biển (mQ
1
3
): Phân bố dọc theo dải đồng bằng ven biển nằm ở độ cao 2-4m
thuộc các xã Phƣớc Long Hội, Lộc An, Phƣớc Thuận và thành phố Vũng Tàu. Thành phần trầm
tích gồm: cát thạch anh màu trắng hạt trung đến nhỏ, cát bột sét màu xám. Bề dày 2 - 6m.
4. Trầm tích biển (mQ
2
3)
: Phân bố hầu khắp chiều dài bờ biển vùng nghiên cứu, có
chiều rộng trung bình 500m từ lục địa ra đến vùng biển ven bờ. Thành phần trầm tích gồm: cát
thạch anhm ilmenit, bột, sét, xác sinh vật
2.2. CÁC NHÂN TỐ NGOẠI SINH
2.2.1. Địa hình ban đầu
2.2.1.1. Địa hình lục địa ven biển:
Do nằm ở vị trí tiếp xúc giữa khối cao nguyên Đà Lạt nâng mạnh ở phía Bắc và vùng đáy
biển sụt lún trong giai đoạn Kainozoi (trũng Cửu Long) đồng thời chịu sự chi phối mạnh của hệ
thống sông rạch chằng chịt (sông Dinh, sông Ray, sông Thị Vải, ), nên địa hình lục địa ven biển
khu vực Hồ Tràm - Vũng Tàu chia làm hai dạng điển hình. Dạng 1 là các khối núi thấp ven biển
với độ cao dƣới 300 mét bị phân cắt bóc mòn mạnh. Dạng 2 là đồng bằng lục địa ven biển: bao
gồm các đồng bằng nhỏ trƣớc núi, giữa núi và các đồng bằng tam giác châu thổ.
2.2.1.2. Địa hình đường bờ:
Đƣờng bờ biển Hồ Tràm - Vũng Tàu đƣợc chia làm 2 phần rõ rệt: từ mũi Hồ Tràm đến
mũi Vũng Tàu đƣờng bờ có hƣớng kéo dài theo phƣơng Đông, Đông Bắc - Tây Nam với hệ số
thẳng của đƣờng bờ đạt khoảng 0,68, bị phân cắt bởi các mũi nhô, đƣợc cấu tạo bởi đá magma
phức hệ Đèo Cả (ở mũi Vũng Tàu) và phun trào hệ tầng Nha Trang ở mũi Kỳ Vân (Long Hải).
Các đoạn bờ tƣơng đối thẳng đƣợc cấu tạo bởi cả trầm tích biển, sông - biển tuổi Holocen lẫn
Pleistocen. Phần còn lại từ mũi Vũng Tàu đến mũi Gành Rái là phần địa hình với đƣờng bờ rất
phức tạp, bị phân cắt mạnh bởi hàng loạt các cửa sông và rạch nhƣ sông Dinh, sông Ray, sông
Thị Vải phần ngoài đƣợc khống chế bởi bán đảo Vũng Tàu tạo nên vũng vịnh. Đây là nơi cƣ
trú rất tốt cho thuyền bè mỗi khi có gió, bão hay biển động.
2.2.2. Khí hậu
Khí hậu vùng nghiên cứu mang đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia thành hai
mùa rõ rệt: mùa mƣa và mùa khô. Mùa mƣa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô bắt đầu từ
tháng 11 đến tháng 4 năm sau.
Nhiệt độ không khí: vùng nghiên cứu có giá trị trung bình hàng năm
18,6  34,7C, trung bình là 25,8C. Độ chênh lệch giữa mùa mƣa và mùa khô không lớn, vào
mùa mƣa nhiệt độ trung bình tháng đạt 27
o
C, mùa khô là 25,5
o
C. Tháng nóng nhất là tháng 4 và
5 (trung bình 28,8C). Tổng giờ nắng trung bình hàng năm đạt 2.600 giờ. Độ ẩm trung bình
trong vùng hàng năm là khoảng 79,8%.
2.2.3. Đặc điểm thủy văn
Vùng nghiên cứu có mạng lƣới sông suối phát triển, gồm 3 hệ thống sông chính là hệ thống
sông Thị Vải, sông Dinh và hệ thống sông Ray.
- Hệ thống Sông Thị Vải: Chiều dài khoảng 30km. Đây là sông có ý nghĩa giao thông
đƣờng thuỷ quan trọng nhất trong khu vực.
- Hệ thống sông Dinh: Bắt nguồn từ vùng đồi núi thấp Châu Thành, có chiều dài khoảng
35km gồm trên 10 chi lƣu nhập vào, thƣợng lƣu là sông Soài.
- Hệ thống sông Ray: giữ vai trò quan trọng về việc cung cấp nƣớc ngọt cho tỉnh Bà Rịa -
Vũng Tàu và là sông lớn nhất trong khu vực.
2.2.4. Đặc điểm hải văn
Sóng biển:Trong khu vực nghiên cứu, các đặc trƣng của sóng thay đổi theo mùa.
Thủy triều: Thủy triều vùng nghiên cứu khá phức tạp nhƣng thiên về bán nhật triều. Các
ngày bán nhật triều trong tháng thƣờng xảy ra vào đầu và giữa tháng âm lịch. Biên độ triều vào
kỳ nƣớc cƣờng đạt 3 - 4m. Trong kỳ nƣớc kém, triều chỉ lên xuống khoảng 1,5 - 2 mét và hàng
ngày có thêm 1 con nƣớc nhỏ.
Dòng chảy biển: Vào mùa Đông dòng chảy có hƣớng Nam là chủ yếu với tốc độ khá lớn,
về mùa hạ, do ảnh hƣởng của gió mùa Tây Nam dòng có hƣớng Bắc
2.2.5.Mực nƣớc biển dâng
2.2.5.1. Thay đổi mực nước biển: quá khứ, hiện tại và tương lai
Các kết quả nghiên cứu địa chất và địa mạo bờ biển đều chỉ ra rằng, mực nƣớc biển dâng
lên, hạ xuống tƣơng đối đã xảy ra nhiều lần trong lịch sử hình thành và tiến hóa lớp vỏ trên cùng
của bề mặt Trái đất. Các lần mực nƣớc dâng lên (biển tiến) và hạ xuống (biển lùi) trong kỷ Đệ tứ
có mối quan hệ rất mật thiết với những lần tan băng và đóng băng trên các lục địa. Các nhà khoa
học trên thế giới đều cho rằng, trong kỷ Đệ tứ có 4 lần băng hà gây ra biển lùi chính là: Gun,
Midel, Riss và Vuộc và 4 lần gian băng gây ra biển tiến xen kẽ bốn thời kỳ băng hà nêu trên.
Trên thế giới. Từ cuối thế kỷ XX đến nay, hiện tƣợng mực nƣớc biển dâng lên liên quan
tới biến đổi khí hậu toàn cầu là vấn đề nóng bỏng đƣợc nhiều quốc gia, các tổ chức quốc tế và
nhiều nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực quan tâm, trƣớc hết là Tổ chức Liên Chính phủ về Biến
đổi Khí hậu (IPCC). Các kết quả quan trắc mực nƣớc tại nhiều nơi trên thế giới cho thấy, trong
thế kỷ XX, mực nƣớc biển dâng trên toàn cầu đạt tốc độ từ 0,8 đến 3,3 mm/năm và giá trị trung
bình là 1,8 mm/năm, còn theo số liệu đo mực nƣớc biển từ vệ tinh, thì trong giai đoạn 1993-
2010, mực nƣớc biển dâng lên với tốc độ 2,9-3,4 ± 0,4-0,6 mm/năm.
Ở Việt Nam. Trong khoảng vài chục năm trở lại đây, việc nghiên cứu thay đổi mực nƣớc
biển đã đƣợng nhiều nhà khoa học quan tâm. Trên cơ sở số liệu đo mực nƣớc biển trong khoảng
thời gian 37 năm (1957-1994) tại 4 trạm Hải văn dọc bờ biển Việt Nam là Hòn Dấu, Đà Nẵng,
Quy Nhơn và Vũng Tàu, tác giả Nguyễn Ngọc Thụy đã tính đƣợc mực nƣớc dâng lên tại các
trạm tƣơng ứng là 2,15; 1,198; 0,957 và 3,203 mm/năm.
2.2.5.2 Những tác động của thay đổi mực nƣớc biển
Ở quy mô chung nhất, thay đổi mực nƣớc biển gây ra sự dịch chuyển vị trí đƣờng bờ biển
theo chiều nằm ngang hàng chục, thậm chí hàng trăm km, kèm theo đó là hàng chục đến hàng
trăm mét theo chiều thẳng đứng. Khi mực biển hạ xuống, thì diện tích lục địa đƣợc mở rộng.
Đƣờng bờ biển liên tục dịch chuyển ra phía biển vừa do mực nƣớc rút đi, vừa do quá trình tích tụ
chiếm ƣu thế. Ngƣợc lại, khi mực nƣớc biển dâng, dù do bất cứ nguyên nhân nào, cũng gây ra sự
thu hẹp diện tích đất liền và có những tác động mạnh mẽ đến các điều kiện tự nhiên và kinh tế-xã
hội, hay nói rộng hơn là toàn bộ môi trƣờng bờ biển.
2.2.6. Hoạt động nhân sinh
Con ngươ
̀
i la
̀
ta
́
c nhân đi
̣
a ma
̣
o hoạt động ở mọi nơi cả trên bề mặt Trái đất, lẫn dƣới đáy
biển và đại dƣơng thuộc nhiều đơ
́
i địa lý khác nhau và đã trơ
̉
th ành tác nhân đ ịa mạo phi đi
̣
a đơ
́
i.
Các hoạt động của con người trên bờ biển. Trong vùng nghiên cứu, các hoạt động của
con ngƣời trên bờ biển diễn ra rất đa dạng, bao gồm xây dựng và mở rộng thành phố Vũng Tàu,
xây dựng hạ tầng cơ sở (mở rộng và làm mới các tuyến đƣờng giao thông ven biển, bến cảng,
v.v.), xây dựng các khu du lịch nghỉ dƣỡng, các công trình bảo vệ bờ biến, san lấp biển để mở
rộng diện tích, v.v.
Các hoạt động của con người trên lưu vực sông. Hầu hết các lƣu vực sông trong vùng
nghiên cứu đều có diện tích nhỏ (trừ hệ thống sông Sài Gòn-Đồng Nai), nên các hoạt động nhân
sinh ở đây có ảnh hƣởng không nhiều đến quá trình biến đổi đƣờng bờ biển.
CHƢƠNG 3
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG BIẾN ĐỘNG DỰA VÀO CHỈ SỐ TỔN THƢƠNG BỜ BIỂN
PHỤC VỤ QUẢN LÝ TAI BIẾN XÓI LỞ TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Cơ sở tài iệu đánh giá
 Bản đồ địa hình tỷ lệ 1:50.000 UTM năm 1965
 Bản đồ địa chất tỷ lệ 1:200.000 vùng nghiên cứu
 Bản đồ địa hình tỷ lệ 1:50.000 VN2000 năm 2004
 Bản đồ độ sâu đáy biển ven bờ (0-30m nƣớc) Việt Nam tỷ lệ 1:200.000 tờ C-48-
XVII. C-48-XVIII, C-49-XIII năm 2001
 Bản đồ địa mạo tỷ lệ 1:50.000 vùng nghiên cứu.
 Ảnh landsat 1990 chup 12/05/1990
 Ảnh quickbird 2010 chụp 04/05/2010
 Thực địa 2/2012 tại đƣờng bờ biển tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu
3.1. PHÂN LOạI Bờ BIểN TỉNH BÀ RịA – VŨNG TÀU
1. Bờ đá
Có thể dễ dàng nhận ra hình thái đƣờng bờ biển tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có các mũi đá
nhô ra biển xen lẫn với các đoạn bờ lõm vào. Bờ đá phát triển tại khu vực Núi Lớn, Núi Nhỏ tạo
ra hình thái điển hình của thành phố Vũng Tàu, các mũi Cơm Thiều, Kỳ Vân, Hồ Tràm, Ba
Kiềm. Phần bờ này là những đoạn vách dốc đứng hoặc những đoạn bờ đá thấp thoải dần ra phía
biển, vật liệu tích tụ dƣới chân thƣờng chỉ là một lớp mỏng hoặc không có, đáy biển phía ngoài
có độ dốc lớn, năng lƣợng sóng tác động rất mạnh, tuy nhiên với đặc điểm thạch học đƣợc cấu
tạo chủ yếu bởi các đá xâm nhập thuộc phức hệ Đèo Cả và đá phun trào thuộc hệ tầng Nha
Trang độ bền vững cao. Biến động đƣờng bờ chủ yếu là hoạt động mài mòn không đáng kể.
2. Bờ cát cao
Xen giữa các đoạn bờ đá là các dải bờ cát cao, loại bờ này chiếm chiều dài lớn nhất trong
vùng nghiên cứu. Đây là các bờ đƣợc cấu tạo bởi cát thuộc các thềm biển có tuổi từ Holocen
giữa đến Pleistocen muộn với độ cao từ 4-6 mét đến 20-50 mét. Tuy đó, phần lớn bờ cát cao đều
đƣợc phát triển trên thềm biển có độ cao 4-6 mét, có tuổi Holocen giữa. Hiện nay, hầu nhƣ toàn
bộ bờ biển loại này đang bị xói lở rất mạnh mẽ. Phần đất liền của các đoạn bờ này khá bằng
phẳng và đƣợc cấu tạo chủ yếu bởi cát, phần lớn là đất trống, quá trình xói mòn và rửa trôi bề
mặt xảy ra tƣơng đối mạnh. Về 3) Bờ cát thấp
Bờ cát thấp cũng đƣợc cấu tạo bởi cát, nhƣng có độ cao thấp hơn (chỉ từ 1,5-2,0m). Loại
bờ này chiếm tỷ lệ không nhiều trong khu vực nghiên cứu, phân bố tại cửa Bình Châu, cửa Lộc
An, cửa Lấp. Thực chất, các đọan bờ này, trƣớc đây cũng có các dải cát cao, nhƣng do xói lở,
nên các dải cát cao đã bị phá hủy lấn vào các đầm phá, cửa sông, rồi trở thành bờ cát thấp.
3.2. HIỆN TRẠNG BIẾN ĐỔI BỜ BIỂN
Trên các bờ đá
Nhìn chung các đoạn bờ đá: Núi Lớn, Núi Nhỏ, Mũi Cơm Thiêu, Mũi Kỳ Vân, Mũi Hồ
Tràm và Mũi Ba Kiềm qua biến đổi không lớn.
Đối với các bờ cát
Giai đoạn 1965 – 1990: Nhìn chung trong giai đoạn này, xói lở và bồi tụ diễn ra đan xen,
trải dài trên toàn vùng bờ cát, điều này phản ảnh đúng qui luật, vật liệu bị sóng biển phá hủy
không mang đi xa mà đƣợc tích tụ ở các đoạn bờ bên cạnh, cùng với lƣợng trầm tích phong phú
từ lục địa mang ra, xu hƣớng bồi tụ chiếm ƣu thế hơn.
Giai đoạn 1990-2010: Biến động các bờ cát biểu hiện rất rõ rệt và phổ biến rộng rãi trong
những năm gần đây với tốc độ ngày càng tăng. Điều này thấy đƣợc cả trên các bờ cát cao lẫn các
bờ cát thấp, hầu hết các đoạn bờ cấu tạo bằng cát trong vùng nghiên cứu đều đang bị xói lở.

Hình 3.1. Sơ đồ biến động đường bờ biển giai đoạn 1965-2010 tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
3.3. ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ DỄ BỊ TỔN THƢƠNG BỜ BIỂN
3.3.1. Quy trình tính toán chỉ số dễ bị tổn thƣơng bờ biển (CVI)
a) Tham số địa mạo. Tham số địa mạo đƣợc hiểu là đặc điểm địa hình bờ biển, trong đó
quan tâm nhiều đến các loại đất đá tạo bờ, độ cao nhƣ đã phân loại ở trên. Từ đó xác định đƣợc
3 giá trị cho 3 loại bờ đã nêu. Cụ thể: bờ đá: 1; bờ cát cao: 3; bờ cát thấp 5 (bảng 3.1 ).
Bảng 3.1.Bảng phân loại và tính điểm trọng số cho kiểu bờ
Kiểu bờ
Bờ đá
Bờ cát cao
Bờ cát thấp
Điểm trọng số
1
3
5
b) Tham số độ dốc (%). Độ dốc chung đƣợc xác định bằng một mặt cắt với chiều dài 10
km, cắt vuông góc với bờ, từ bờ vào lục địa là 5km và từ bờ hƣớng ra phía biển là 5km.
Bảng 3.2. Bản phân loại và tính điểm trọng số cho độ dốc
Độ dốc (%)
<0,1
0,1-0,2
0,2-0,3
0,3 – 0,45
>0,45
Điểm trọng số
5
4
3
2
1
c) Tham số mực nước biển dâng (mm/năm). Tốc độ dâng lên trung bình của mực nƣớc
biển đƣợc xác định theo Kịch bản biến đổi khí hậu và mực nƣớc biển dâng cho Việt Nam của Bộ
Tài nguyên và Môi trƣờng năm 2011. Tại vùng nghiên cứu giá trị này đƣợc xác định là
3mm/năm và đƣợc cho 3 điểm trọng số.
d) Tốc độ biến đổi đường bờ biển giai đoạn 1990 - 2010(m/năm). Trong khu vực nghiên
cứu, xói lở chiếm ƣu thế rõ rệt, chi một đoạn bờ nhỏ tại khu vực Cửa Lấp bồi tụ. Xói lở thấp nhất
tại khu vực Núi lớn, 0,44m/năm, cao nhất tại cửa Lộc An, 12,7m/năm và phía Nam mũi Hồ
Tràm, 11,7m/năm, tốc độ xói lở trung bình toàn dải bờ biển vùng nghiên cứu đạt 4m/năm. Trên
cơ sở này giá trị đƣợc cho điểm trọng số nhƣ trong bảng 3.3.
Bảng 3.3 Phân loại và tính điểm trọng số cho tốc độ xói lở - bồi tụ
Tốc độ xói lở - bồi tụ
(m/năm)
Bồi tụ
Xói 0 - 3
Xói 3 - 5
Xói 5 - 7
Xói >7
Điểm trọng số
1
2
3
4
5
e) Đô cao trung bình của thủy triều. Đối với khu vực bờ biển tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu giá
trị thủy triều trung bình đƣợc xác định là 3,3m. Tham số này đƣợc gán điểm trọng số là 3
f) Độ cao sóng trung bình. Trong vùng biển nghiên cứu, độ cao sóng trung bình đƣợc xác
định là 1,5m. Điểm trọng số của sóng đƣợc đƣa vào tính toán giá trị CVI có giá trị là 3.
Các giá trị CVI đƣợc chia thành 4 cấp. Trong đó khoảng giá trị 3-5,2 tƣơng ứng với
khoảng 25% đƣợc quy là mức độ tổn thƣơng yếu, khoảng giá trị CVI từ 5,2-9 tƣơng ứng với
khoảng 50% đƣợc quy là mức độ tổn thƣơng trung bình, khoảng giá trị CVI từ 9-12,7 tƣơng ứng
với khoảng 75% đƣợc quy cho là mức độ tổn thƣơng cao và cuối cùng khoảng giá trị 12,7-23,7
đƣợc quy cho là mức độ tổn thƣơng rất cao.
Bảng 3.4. Phân cấp giá trị tổn thương đường bờ tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu
CVI
< 5,2
5,2-9
9-12,7
>12,7
Tổn thƣơng
Thấp
Trung bình
Cao
Rất cao

Hình 3.2. Sơ đồ khả năng tổn thương bờ biển tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
3.3.2. Đánh giá khả năng tổn thƣơng bờ biển tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Trên bản đồ khả năng tổn thƣơng bờ biển từ Bà Rịa – Vũng Tàu cho thấy một cách bao
quát những khu vực có khả năng tổn thƣơng thấp, trung bình, cao và rất cao.
Những đoạn bờ có khả năng tổn thƣơng thấp chỉ xuất hiện tại đoạn bờ đá: Núi Lớn, Núi
nhỏ, mũi Cơm Thiều, mũi Kỳ Vân, mũi Hồ Tràm, mũi Ba Kiềm và một đoạn nhở bờ biển phía
Tây thị trấn Long Hải huyện Long Điền. Đây là những đoạn bờ đƣợc cấu tạo bởi đá magma xâm
nhập thuộc phức hệ Đèo Cả và một số ít đá phun trào hệ tầng Nha Trang, có cấu tạo thạch học
rắn chắc, độ dốc trung bình cao, giá trị tính toán CVI nằm trong khoảng 3-5,7.
Những đoạn bờ có mức độ tổn thƣơng trung bình là những đoạn bờ đƣợc cấu tạo bở các
bờ cát cao 4- 6m, những đoạn bờ này phân bố gần những đoạn bờ có khả năng tổn thƣơng thấp,
có thể nhận thấy các đoạn bờ này tuy cấu tạo thạch học không rắn chắc bằng, nhƣng độ dốc vẫn
tƣơng đối lớn, giá trị CVI dao động từ 5,7 đến 9. Tuy nhiên tại những đoạn bờ này tình trạng xói
lở bờ biển hiện vẫn tiếp diễn và chƣa có dấu hiệu dừng lại.
Những đoạn bờ biển có khả năng tổn thƣơng cao là những khu vực mà bờ biển cấu tạo
bởi bờ cát trầm tích bở rời, đây là những đoạn bờ rất nhạy cảm với biến đổi khí hậu, mực nƣớc
biển dâng cao giúp sóng dễ dàng phá vỡ các liên kết và mang vật liệu đi ra xa ngoài khơi. Giá trị
CVI của các đoạn bờ này này trong khhoảng 9-12,7. .
Những đoạn bờ biển có khả năng tổn thƣơng rất cao là những đoạn bờ có giá trị CVI nằm
trong khoảng từ 12,7 đến 23,7. Trên bản đồ khả năn tổn thƣơng bờ biển tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
có thể quan sát thấy bờ biển này phân bố chủ yếu tại các bờ cát thấp, độ dốc thấp, trầm tích
không gắn kết làm khu vực này biến động bờ biển rất mạnh mẽ. Tại thành phố Vũng Tàu có tới 3
đoạn bờ có khả năng tổn thƣơng rất cao: đoạn bờ phía Bắc phƣờng 2, các đoạn bờ phía nam Cửa
Lấp đây là những đoạn bờ biển có những khu du lịch biển rất lớn, thuộc thành phố Vũng Tàu nơi
dân cƣ tập trung đông đúc.
3.4. NGUYÊN NHÂN XÓI LỞ - BỒI TỤ BỜ BIỂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
3.4.1. Nguyên nhân trực tiếp
Cả lý thuyết và thực tiễn nghiên cứu địa mạo bờ biển đều thừa nhận rằng, sóng và các
loại dòng chảy do nó sinh ra là nhân tố động lực giữ vai trò chủ đạo và trực tiếp trong quá trình
hình thành và làm thay đổi địa hình bờ biển. Do đó, nguyên nhân trực tiếp làm biến động địa
hình bờ biển ở đây trong khoảng thời gian qua, đặc biệt từ năm 1990 đến này chính là sự gia tăng
năng lƣợng sóng tác động tới địa hình bờ biển. Có nhiều minh chứng để khẳng định cho nhận
định này.
3.4.2. Các nguyên nhân gián tiếp
Các nguyên nhân gián tiếp gây ra biến đổi đƣờng bờ có rất nhiều. Tuy nhiên, trong khuôn
khổ Luận văn, học viên chỉ đề cập đến ba tác nhân vừa nêu ở trên.
 Sự gia tăng của bão và áp thấp nhiệt đới
Nguyên nhân trực tiếp gây biến động đƣờng bờ biển là sóng (chủ yếu là sóng gió) và
dòng chảy do nó sinh ra. Về phần mình, các đặc trƣng của sóng gió (độ cao, chiều dài, chu kỳ,
năng lƣợng, v.v.) lại phụ thuộc rất nhiều vào các tính chất của gió, nhất là gió bão.
 Mực nước biển dâng
Một trong những sự kiện tự nhiên quan trọng trong giai đoạn hiện nay là sự dâng lên của
mực nƣớc biển và là một trong những hậu quả rõ ràng và rộng rãi nhất của sự thay đổi khí hậu.
Các kết quả nghiên cứu về hiện tƣợng này trên thế giới đều thừa nhận rằng, trong thế kỷ XX,
mực nƣớc biển tăng lên từ 10 đến 25 cm và dự báo trong thế kỷ XXI giá trị này sẽ dao động
trong phạm vi từ 9 - 88 cm, trung bình là 48 cm. Theo đánh giá số liệu quan trắc tại các trạm đo
mực nƣớc trên thế giới, giá trị này đạt khoảng 1,5 - 2,0 mm/năm. Gần đây, các kết quả đo mực
nƣớc bằng vệ tinh Jason-1, cho thấy từ năm 1992 đến năm 2004, giá trị mực nƣớc biển tăng lên
trung bình là
2,8 ± 0,4 mm/năm, trong đó, từ năm 1999 đến 2004 là 3,7 ± 0,2 mm/năm.
 Các hoạt động của con người
Các hoạt động sản xuất nông nghiệp, đô thị hóa, xây dựng đƣờng sá, khai thác khoáng
sản và biến đổi điều kiện dòng chảy, kiểm soát các dòng chảy sông đang làm tình trạng xói lở trở
nên trầm trọng hơn. Hiện tƣợng xói lở đã trở nên rất nguy hiểm bởi có tác động của con ngƣời
trong việc khai thác vật liệu san lấp và nạo vét luồng lạch không đúng quy trình. Các hoat động
của con ngƣời, dù trên lƣu vực hay ngay tại bờ biển, cuối cùng đều làm thay đổi cán cân bồi tích
ở bờ biển gây ra thiếu hụt bồi tích.
3.5 QUẢN LÝ TAI BIẾN DO BIẾN ĐỔI BỜ BIỂN VÙNG NGHIÊN CỨU
3.5.1. Quan niệm chung
Quy hoạch và quản lý bờ biển là một việc phức tạp và liên tục đòi hỏi sự tham gia của
nhiều ngành, nhiều cấp thuộc tất cả các lĩnh vực tự nhiên và xã hội. Trong đó, quản lý đƣợc tiến
hành sau khi đã có quy hoạch. Mục tiêu của quản lý là nằm đạt đƣợc những mục tiêu của quy
hoạch đã đặt ra. Trong quá trình quản lý, nếu thấy cần thiết, thì có thể đề xuất điều chỉnh mục
tiêu quy hoạch cho phù hợp.
3.5.2. Các giải pháp phi công trình bào vệ bờ
1) Trong số các giải pháp phi công trình, thì quy hoạch phát triển bờ biển đƣợc xem là
quan trọng nhất nhằm giảm thiểu tai biến xảy ra và các rủi ro đi kèm. Địa hình và các quá trình
địa mạo là nguồn tài nguyên quan trọng làm cơ sở cho quy hoạch sử dụng lãnh thổ một cách hợp
lý, trong đó chú ý tới: quá trình, địa hình và vật chất cấu tạo nên địa hình (cát-sỏi hay bùn sét,
hay còn đƣợc gọi là nguyên liệu thô)
2) Giải pháp phi công trình thứ hai là trồng rừng phòng hộ bao gồm cả ngập mặn và rừng
chắn cát (phi lao và các loại cây chịu hạn khác). Rừng phòng hộ có tác dụng rất lớn để giữ lại vật
liệu trầm tích và làm giảm năng lƣợng tác động của các yếu tố động lực sóng và gió.
Cho đến nay, cả trồng rừng ngập mặn và trồng rừng chắn cát còn rất hạn chế ở bờ biển
của các tỉnh trong vùng nghiên cứu.
3) Giải pháp phi công trình thứ ba là nuôi bãi. Theo các chuyên gia về lĩnh vực bảo vệ bờ
biển, thì giải pháp nuôi bãi mang lại hiệu quả khá tốt. Nuôi bãi nghĩa là bổ sung thêm nguồn vật
liệu trầm tích cho bãi nhằm tạo ra cán cân trầm tích dƣơng cho bãi. Lƣợng vật liệu bổ sung này
cũng phải có những tính chất chung giống nhƣ vật liệu đang hiện có trên bãi. Nguồn vật liệu bổ
sung có thể đƣợc hút lên từ đáy biển hoặc mang đến từ trong đất liền.
3.5.3.Phƣơng án công trình
Hiện nay bờ biển tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu đã có một số các giải pháp công trình, các
phƣơng pháp này hiện đang có hiệu quả khá tích cực:
Công nghệ Stabiplage bảo vệ bờ biển Lộc An. Đây là một giải pháp công nghệ sử dung
vải địa kỹ thuật may thành bao rồi đổ đầy cát vào trong, sau đó đặt vuông góc (theo kiểu kè mỏ)
hoặc song song với bờ (dƣới dạng kè chắn sóng-nếu đặt trong đới sóng vỡ ; hoặc dƣới dạng kè
lát mái-nếu đặt ngay tại đƣờng bờ biển). Công trình này đƣợc hoàn thành vào năm 2005. Chiều
dài đƣợc bảo vệ bằng công nghệ Stabiplage là 500 mét. Trên đoạn bờ này, theo nhiều nguồn tin,
hiện tƣợng bồi tụ đã xảy ra. Tuy nhiên, các đoạn bờ bên cạnh vẫn bị xói lở khá mạnh thông tin từ
nghiên cứu tại vị trí có công trình, bờ biển không bị xói lở. Nhƣng cách đó không xa, theo hƣớng
của dòng chảy ven bờ, hoạt động xói lở diễn ra khá mạnh (hình 3.14).
Tường biển tại Phước Tỉnh (2004) và Phước Hải (2010). Đây là các công trình cứng
đƣợc đặt ngay tại đƣờng bờ. Tƣờng biển đƣợc xây thẳng đứng và có độ cao khác nhau. Tại vị trí
các công trình đê Phƣớc Tỉnh, Phƣớc Hải và một số vị trí kè đá… xói lở đã ngƣng hoạt động.
Song có thể không lâu dài.
KẾT LUẬN
1. Bờ biển tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu từ năm 1965 trở lại đây có những diễn biến phức tạp,
nếu nhƣ giai đoạn 1965-1990 xói lở và bồi tụ đan xen, vật liệu bị xâm thực đƣợc lắng đọng tại
chỗ kết hợp với lƣợng bồi tích từ lục địa mang ra, khiến cho đƣờng bờ biển đạt tới trạng thái cân
bằng, biến đổi đƣờng bờ vẫn diễn ra nhƣng không gây nhiều hậu quả. Tuy nhiên giai đoạn 1990
đến nay hầu khắp chiều dài bờ biển đã bị xói lở với cƣờng độ khác nhau, trung bình 4m/năm, xói
lở lớn nhất tại cửa Lộc An trung bình 12,7m/năm và khu vực phía nam mũi Hồ Tràm lên tới
11,7m/năm, gây ra nhiều thiệt hại đáng kể.
2. Trên cơ sở tích hợp sáu biến số đầu vào là độ dốc, kiểu bờ biển, tốc độ xói lở bồi tụ, độ
cao trung bình thủy triều, độ cao sóng trung bình, mực nƣớc biển dâng trung bình nhiều năm đã
xây dựng đƣợc bản đồ khả năng tổn thƣơng bờ biển tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, có giá trị dao động
trong từ 3 đến 23,7, giá trị trung bình là 10,3. Từ đó phân vùng mức độ tổn thƣơng bờ biển theo
4 cấp độ: rất mạnh, mạnh, trung bình và yếu. Bốn cấp tổn thƣơng đó tƣơng ứng với các đoạn bờ
xung yếu về đặc điểm đất đá cấu tạo nên đƣờng bờ cũng nhƣ khả năng nhạy cảm về tốc độ xói
lở.
3. Nguyên nhân trực tiếp của hiện tƣợng xói lở bờ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu hiện nay chính
là sự gia tăng năng lƣợng sóng tác động đến bờ liên quan tới sự gia tăng của bão và áp thấp nhiệt
đới và mực nƣớc biển dâng do biến đổi khí hậu gây ra, đồng thời liên quan với cả các hoạt động
của con ngƣời (chủ yếu làm thay đổi cán cân bồi tích ở bờ biển).
4. Xói lở bờ biển đã và đang trở thành một trong những tai biến thiên nhiên có tác động
mạnh mẽ và làm ảnh hƣởng đến phát triển du lịch và hoạt động giao thông vận tải, kinh tế cho
tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, là vấn đề lớn đối với tỉnh, cần phải đƣa ra các giải phảp quy hoạch chi
tiết từng đoạn bờ, cân nhắc kết hợp linh hoạt giữa các biện pháp công trình và phi công trình đảm
bảo hiệu quả cao nhất trong điều kiện kinh tế eo hẹp hiện nay.


References
Tiếng Việt
1. Bộ tài nguyên và môi trƣờng (2011), “Kịch bản nƣớc biển dâng cho Việt Nam đến năm 2100”
2. Nguyễn Mạnh Hùng, Phạm Văn Ninh (2005), Hiện trạng nghiên cứu xói lở bờ biển huyện Hải
Hậu. Trong “Tài nguyên và Môi trƣờng biển”, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, trg. 200-211
3. Nguyễn Kỳ Phùng (chủ trì), 2010. Nghiên cứu quá trình tƣơng tác biển-lục địa và ảnh hƣởng của
chúng đến các hệ sinh thái ven bờ Đông và bờ Tây Nam Bộ. Báo cáo tổng kết đề tài cấp Nhà
nƣớc, Mã số: KC.09-12/06-10, TP HCM, 311 trg. (Lƣu trữ tại Bộ Khoa học và Công nghệ)
4. Vũ Văn Phái (chủ trì), 2012. Nghiên cứu biến động bờ biển trong mối quan hệ với mực nƣớc
biển dâng phục vụ quy hoạch và quản lý môi trƣờng đới bờ biển các tỉnh cực Nam Trung Bộ -
Đông Nam Bộ. Báo cáo tổng kết Đề tài cấp Đại học Quốc gia, Mã số: QGTĐ-10-08, Hà Nội,
180tr
5. Vũ Văn Phái (2009), Xói lở bờ biển Việt Nam và biến đổi khí hậu toàn cầu, Môi trường và phát
triển bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu, tr233-240.
6. Trần Đức Thạnh, Đinh Văn Huy (2001), “Tổng quan về tai biến sa bồi và xói lở bờ biển Việt
Nam”, Tạp chí Hoạt động khoa học, 2, tr 6-9.
7. Tập bản đồ hành chính 64 tỉnh, thành phố Việt Nam (2005), Nhà xuất bản Bản đồ, 121tr
8. Viện Khoa học Khí tƣợng, Thủy văn và Môi trƣờng, (2010). Biến đổi khí hậu và tác động ở Việt
Nam. Những ngƣời thực hiện: Nguyễn Văn Thằng, Nguyễn Trọng Hiệu, Trần Thục, Phạm Thị
Thanh Hƣơng, Nguyễn Thị Lan và Vũ Văn Thắng. Nxb KH&KT, Hà Nội, 260 trg.
Tiếng anh
9. Bird E., 2008. Coastal geomorphology: An introduction. John Wiley&Sons Ltd., Chichester,
UK, 411 pp (Second Edition)
10. Badgley P.C et all (1982), Oceans from Space. Gulf Publishing. Houston. USA. 233pp.
11. IPCC, 2007. Climate change 2007: Physical Science Basic. Cambridge University Press
12. Kaiser G., 2007. Coastal vulnerability to climate change and natural hazards.
(http://www.cedim.de/download/39_kaiser.pdf)
13. Panizza M., 1996. Environmental geomorphology. Elsevier, Amsterdam, The Netherland, 268 p
14. Slaymaker O., Spencer T. and Embleton-Hamann C. (Eds), 2009. Geomorphology and global
environmental change. Cambridge University Press, UK, 434 pp.
15. Stattegger K., 2008. Holocene evolution and actual geologic processes in coastal zone of South
Vietnam. Tuyển tập báo cáo Hội nghị toàn quốc lần I: Địa chất biển Việt Nam và Phát triển bền
vững, Hạ Long, 10/2008, trg. 42-53.
16. Technical Report 89 – 19 (1991), Report 2-workbook and system user’s manaual CERC –
9/1991
17. Wismann V.R. (1995), “New and Integrated Apptoaches to Remotesensing Data Analysis”.
Coastal and Marine Applications of Microware Remote Sensing. ESA Workshop on ERS. ATI.
Bangkok, Thai Lan. pp 0-9.
Một số trang web
18. http://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%87_th%E1%BB%91ng
19. http://vi.wikipedia.org/wiki/V%C5%A9ng_T%C3%A0u
20. http://www.baria-vungtau.gov.vn/
21. http://www.baobariavungtau.com.v



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×