Tải bản đầy đủ

khóa luận tốt nghiệp

Chuyên ngành: Kinh tế đầu tư

MỤC LỤC
PHỤ BÌA ...................................................................................................................... i

MỞ ĐẦU...............................................................................................................1
2.1.4.Ngành nghề kinh doanh và các sản phẩm chủ yếu của công ty.................31
2.1.5.Đặc điểm lao động của Công ty.................................................................33

ii


Chuyên ngành: Kinh tế đầu tư

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
ST

DẠNG VIẾT TẮT

DẠNG ĐẦY ĐỦ


T
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12

CP
CSH
DN
DT
ĐVT
LN
TNHH
TSCĐ
TSLĐ
VCĐ
VKD
VLĐ

Cổ phần
Chủ sở hữu
Doanh nghiệp
Doanh thu
Đơn vị tính
Lợi nhuận
Trách nhiệm hữu hạn
Tài sản cố định
Tài sản lưu động
Vốn cố định
Vốn kinh doanh
Vốn lưu động


iii


Chuyên ngành: Kinh tế đầu tư

DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ, HÌNH

MỞ ĐẦU...............................................................................................................1
2.1.4.Ngành nghề kinh doanh và các sản phẩm chủ yếu của công ty.................31
2.1.5.Đặc điểm lao động của Công ty.................................................................33

iv


Chuyên ngành: Kinh tế đầu tư

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thị trường đầy biến động và mang tính cạnh tranh như hiện
nay, bất kỳ một DN nào muốn phát triển và đứng vững trên thị trường đòi hỏi cần phải
có một đội ngũ nhân viên có trình độ, kỹ thuật tay nghề cao cùng với một cơ sở vật
chất hạ tầng hiện đại. Một DN nếu chỉ có con người với kỹ thuật công nghệ thì vẫn
chưa đủ để cho quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra mà cần phải có vốn kinh doanh.
Vốn là một yếu tố rất quan trọng không chỉ đối với mỗi DN mà còn rất quan trọng
trong nền kinh tế của cả thế giới. Để DN hình thành và có thể tiến hành sản xuất kinh
doanh thì bắt buộc DN đó phải có vốn để hoạt động. Hơn thế nữa, một DN sử dụng
nguồn vốn của mình một cách hiệu quả nhất sẽ tồn tại, phát triển và đứng vững trên
toàn thị trường, một phần lợi nhuận từ việc sử dụng hiệu quả của nguồn vốn đem lại sẽ
được đầu tư, tiến hành để tái sản xuất mở rộng quy mô, đưa DN ngày càng phát triển
lớn mạnh hơn. Vậy hoạt động quản lý và sử dụng vốn sao cho hiệu quả là một nội
dung quan trọng trong công tác quản lý tài chính của DN. Nó giúp cho các DN nâng
cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện cho tình hình tài chính của
DN luôn ở trạng thái ổn định và lành mạnh. Đây cũng là một vấn đề luôn thu hút sự
quan tâm của các nhà đầu tư, các nhà lãnh đạo của DN và những người làm công tác
kế toán tài chính.
Công ty TNHH đầu tư và xây lắp Việt Nhật là đơn vị chuyên sản xuất và cung
ứng, thiết kế, lắp đặp các giải pháp cửa thép chống cháy, cửa thép vân gỗ, cửa thép

công nghiệp,...và hệ thống điện công nghiệp trung và hạ thế với công nghệ, dây
chuyền sản xuất hiện đại. Trong những gần đây, công tác sử dụng vốn đầu tư của Công
ty đạt hiệu quả không cao, cơ cấu vốn chưa phù hợp, nợ phải trả chiếm tỷ lệ trên 90%,
vốn CSH chiếm tỷ lệ dưới 10% trong tổng nguồn vốn. Đây là một điểm hạn chế làm
Công ty rơi vào tình trạng bất ổn về tài chính. Xuất phát từ những yêu cầu thực tế trên
đây, qua thời gian thực tập ở Công ty TNHH đầu tư và xây lắp Việt Nhật với sự giúp
đỡ của giáo viên hướng dẫn cùng với sự giúp đỡ của cán bộ công nhân viên trong
Công ty em chọn đề tài “Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty TNHH đầu tư và
xây lắp Việt Nhật” làm đề tài khóa luận của mình.

1


Chuyên ngành: Kinh tế đầu tư

2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
Phân tích thực trạng và đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của Công ty TNHH đầu
tư và xây lắp Việt Nhật. Từ đó, đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn của Công ty trong thời gian tới.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả sử dụng vốn trong
doanh nghiệp.
- Phân tích thực trạng hiệu quả sử dụng vốn đầu tư tại Công ty TNHH đầu tư và
xây lắp Việt Nhật.
- Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty TNHH đầu tư và xây lắp Việt Nhật
thông qua hệ thống các chỉ tiêu phân tích.
- Nêu lên những kết quả đạt được và hạn chế trong việc sử dụng vốn của Công
ty, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Công ty
trong thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Ðối tượng nghiên cứu
Hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty TNHH đầu tư và xây lắp Việt Nhật.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Công ty TNHH đầu tư và xây lắp Việt Nhật.
- Về thời gian: Số liệu phân tích được thu thập trong 3 năm 2013, 2014, 2015.
- Về nội dung: Hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty TNHH đầu tư và xây lắp
Việt Nhật.
4. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, khóa luận gồm 3 chương:
- Chương 1: Tổng quan về vốn đầu tư và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư trong
doanh nghiệp.
- Chương 2: Tổng quan về Công ty TNHH đầu tư và xây lắp Việt Nhật và
phương pháp nghiên cứu.
- Chương 3: Thực trạng và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn của Công ty TNHH đầu tư và xây lắp Việt Nhật.

2


Chuyên ngành: Kinh tế đầu tư

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VỐN ĐẦU TƯ VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
VỐN ĐẦU TƯ TRONG DOANH NGHIỆP
1.1. Cơ sở lý luận về vốn đầu tư và hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp
1.1.1. Lý luận chung về vốn đầu tư trong doanh nghiệp
1.1.1.1. Khái niệm
Để tiến hành sản xuất kinh doanh trước tiên doanh nghiệp cần có vốn, vốn đầu
tư ban đầu và vốn bổ sung để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Do vậy việc quản lý và sử dụng vốn sao cho có hiệu quả là mục tiêu hàng đầu
của doanh nghiệp. Nó đóng vai trò quyết định cho việc ra đời, hoạt động và phát triển
của doanh nghiệp. Vậy vốn đầu tư trong doanh nghiệp là gì? Đứng trên mỗi góc độ và
quan điểm khác nhau, với mục đích nghiên cứu khác nhau thì có những quan niệm
khác nhau về vốn.
Theo quan điểm của Marx, ông cho rằng: “ Vốn chính là tư bản, là giá trị đem
lại giá trị thặng dư, là một đầu vào của quá trình sản xuất ”. Định nghĩa của Marx có
tầm khái quát lớn, tuy nhiên do hạn chế về mặt trình độ phát triển của nền kinh tế mà
Marx quan niệm chỉ có khu vực sản xuất vật chất mới tạo ra giá trị thặng dư cho nền
kinh tế.
Paul.A.Samuelson, nhà kinh tế học theo trường phái Tân cổ điển đã kế thừa các
quan điểm của trường phái cổ điển về yếu tố sản xuất để phân chia các yếu tố của đầu
vào sản xuất thành ba bộ phận là Đất đai, Lao động và Vốn. Theo ông: “Vốn là các
hàng hoá được sản xuất ra để phục vụ cho một quá trình sản xuất mới, là đầu vào cho
hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp, đó có thể là máy móc, thiết bị,
vật tư, nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ…”. Trong quan niệm về vốn của Samuelson
không đề cập đến các tài sản tài chính những tài sản có giá có thể đem lại lợi nhuận
cho doanh nghiệp, ông đã đồng nhất vốn với tài sản của doanh nghiệp.
Trong cuốn kinh tế học của David Beeg, tác giả đã đưa ra hai định nghĩa về
vốn: “Vốn hiện vật và vốn tài chính của doanh nghiệp. Vốn hiện vật là dự trữ các hàng
hoá, sản phẩm đã sản xuất ra để sản xuất các hàng hoá khác. Vốn tài chính là tiền và
các giấy tờ có giá trị của doanh nghiệp”. Như vậy David Beeg đã bổ sung định nghĩa
vốn tài chính cho định nghĩa vốn của Samuelson.
Ngoài ra, có nhiều quan niệm khác về vốn nhưng mọi quá trình sản xuất kinh
doanh đều có thể khái quát thành:

3


Chuyên ngành: Kinh tế đầu tư

T...... H (TLLĐ, TLSX) ....... SX ....... H’......T’
(Tiền – hàng hóa – sản xuất – hàng hóa – tiền)
Công thức này minh họa cho sự biến đổi của vốn dạng tiền (T) sang dạng hàng
hóa (H), trong quá trình sản xuất (SX) lại tạo ra dạng hàng hóa có giá trị lớn hơn (H’)
và cuối cùng quay trở lại dạng tiền (T’) ở mức cao hơn mức ban đầu một lượng ΔT
(nghĩa là T’=T+ ΔT).
Để có các yếu tố đầu vào (TLLĐ, TLSX) phục vụ cho hoạt động kinh doanh,
doanh nghiệp phải có một lượng tiền ứng trước, lượng tiền ứng trước này gọi là vốn
của doanh nghiệp. Vậy ta có thể hiện: “Vốn của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền
của vật tư, tài sản được đầu tư vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
nhằm thu lợi nhuận”.
Nhưng tiền không phải là vốn. Nó chỉ trở thành vốn khi có đủ các điều kiện sau:
• Thứ nhất: Tiền phải đại diện cho một lượng hàng hoá nhất định hay nói cách
khác, tiền phải được đảm bảo bằng một lượng hàng hoá có thực.
• Thứ hai: Tiền phải được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định. Có
được điều đó mới làm cho vốn có đủ sức để đầu tư cho một dự án kinh doanh dù là
nhỏ nhất. Nếu tiền nằm ở rải rác các nơi mà không được thu gom lại thành một món
lớn thì cũng không làm gì được. Vì vậy, một doanh nghiệp muốn khởi sự thì phải có
một lượng vốn pháp định đủ lớn.
• Thứ ba: Khi có đủ một lượng nhất định thì tiền phải được vận động nhằm mục
đích sinh lời.
Từ những vấn đề trên ta thấy vốn có một số đặc điểm sau:
• Thứ nhất: Vốn là hàng hoá đặc biệt vì các lý do sau:
- Vốn là hàng hoá vì nó có giá trị và giá trị sử dụng.
+ Giá trị của vốn được thể hiện ở chi phí mà ta bỏ ra để có được nó.
+ Giá trị sử dụng của vốn thể hiện ở việc ta sử dụng nó để đầu tư vào quá trình
sản xuất kinh doanh như mua máy móc, thiết bị vật tư, hàng hoá...
- Vốn là hàng hoá đặc biệt vì có sự tách biệt rõ ràng giữa quyền sử dụng và
quyền sở hữu nó. Khi mua nó chúng ta chỉ có quyền sử dụng chứ không có quyền sở
hữu và quyền sở hữu vẫn thuộc về chủ sở hữu của nó.
Tính đặc biệt của vốn còn thể hiện ở chỗ: Nó không bị hao mòn hữu hình trong
quá trình sử dụng mà còn có khả năng tạo ra giá trị lớn hơn bản thân nó. Chính vì vậy,
giá trị của nó phụ thuộc vào lợi ích cận biên của của bất kỳ doanh nghiệp nào. Điều

4


Chuyên ngành: Kinh tế đầu tư

này đặt ra nhiệm vụ đối với các nhà quản trị tài chính là phải làm sao sử dụng tối đa
hiệu quả của vốn để đem lại một giá trị thặng dư tối đa, đủ chi trả cho chi phí đã bỏ ra
mua nó nhằm đạt hiệu quả lớn nhất.
• Thứ hai: Vốn phải gắn liền với chủ sở hữu nhất định chứ không thể có đồng
vốn vô chủ.
• Thứ ba: Vốn phải luôn luôn vận động sinh lời.
• Thứ tư: Vốn phải được tích tụ tập trung đến một lượng nhất định mới có thể
phát huy tác dụng để đầu tư vào sản xuất kinh doanh.
Tuỳ vào đặc điểm sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp mà có một lượng
vốn nhất định, khác nhau giữa các doanh nghiệp. Để góp phần nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn tại công ty, ta cần phân loại vốn để có biện pháp quản lý tốt hơn.
Qua một số các khái niệm trên ta có thể hiểu: “Vốn là biểu hiện bằng tiền của
tất cả các tài sản mà doanh nghiệp dùng trong quá trình sản xuất kinh doanh”. Vốn
được phản ánh trong bảng cân đối tài sản của doanh nghiệp. Vốn đưa vào sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp có nhiều hình thái vật chất khác nhau để từ đó tạo ra sản
phẩm hàng hoá, dịch vụ tiêu thụ trên thị trường. Lượng tiền mà doanh nghiệp thu về
sau quá trình tiêu thụ phải bù đắp được chi phí bỏ ra ban đầu, đồng thời phải có lãi.
Quá trình này phải diễn ra liên tục thì mới bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của
doanh nghiệp.
1.1.1.2. Phân loại vốn trong doanh nghiệp
Như đã trình bày ở trên, vốn giữ vai trò quan trọng, thiết yếu trong hoạt động
sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, việc phân loại vốn theo các cách thức khác
nhau sẽ giúp doanh nghiệp đề ra được các giải pháp quản lí và sử dụng sao cho có hiệu
quả. Có nhiều cách phân loại vốn doanh nghiệp theo các giác độ khác nhau.
a) Căn cứ vào đặc điểm luân chuyển vốn
Căn cứ vào đặc điểm luân chuyển vốn có thể chia vốn thành hai loại: Vốn cố
định và Vốn lưu động.
• Vốn cố định
Là một bộ phận của vốn sản xuất, là hình thái giá trị của những tư liệu lao động
đang phát huy tác dụng trong sản xuất. Khi xem xét những hình thái giá trị của những
tư liệu lao động đang nằm trong vốn cố định, không chỉ xét về mặt hiện vật mà quan
trọng là phải xem xét tác dụng của chúng trong quá trình sản xuất kinh doanh. Đối với
tất cả các tư liệu lao động đang phát huy tác dụng trong sản xuất đều là vốn cố định,

5


Chuyên ngành: Kinh tế đầu tư

tuỳ theo tình hình thực tế, từng thời kỳ mà có những quy định cụ thể khác nhau. Hiện
tại Nhà nước quy định các tư liệu sản xuất có đủ hai điều kiện thời gian sử dụng lớn
hơn một năm và giá trị tài sản lớn hơn 5 triệu đồng thì được coi là tài sản cố định.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn cố định tham gia nhiều lần vào sản
xuất, giá trị của tài sản cố định giảm dần, theo đó nó được tách ra làm hai phần: Một
phần gia nhập vào chi phí sản phẩm dưới hình thức khấu hao tương ứng với sự giảm
dần giá trị sử dụng của tài sản cố định. Trong các chu kỳ sản xuất tiếp theo, nếu như
phần vốn lưu chuyển dần tăng lên thì phần vốn cố định giảm đi tương ứng với mức
suy giảm giá trị sử dụng của tài sản cố định. Kết thúc quá trình sản xuất kinh doanh tài
sản cố định hết thời gian sử dụng và vốn cố định hoàn thành một vòng luân chuyển.
Đối với các doanh nghiệp quốc doanh, vốn cố định là phần vốn đầu tư mua sắm
các loại tài sản cố định dưới hai hình thức: Ngân sách cấp phát và vay ngân hàng (một
phần được trích từ quỹ phát triển sản xuất). Vốn cố định giữ vai trò rất quan trọng
trong quá trình sản xuất, nó quyết định đến việc trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật, công
nghệ sản xuất, quyết định việc ứng dụng các thành tựu khoa học tiên tiến. Do có vị trí then
chốt và đặc điểm vận động của nó có tính qui luật riêng nên việc quản lý nâng cao hiệu quả
vốn cố định được coi là công tác trọng điểm của quản lý tài chính doanh nghiệp.
Để tạo điều kiện cho việc quản lý và sử dụng vốn lưu động, người ta thường
tiến hành phân chia tài sản cố định theo các tiêu thức sau:
• Theo mục đích sử dụng tài sản cố định gồm có:
- Tài sản cố định phục vụ mục đích kinh doanh
- Tài sản cố định phục vụ phúc lợi công cộng, an ninh quốc phòng
- Tài sản cố định bảo quản giữ hộ
• Theo hình thái biểu hiện có thể chia tài sản cố định thành hai loại:
- Tài sản cố định vô hình: Là những tài sản cố định không có hình thái vật chất
nó thể hiện một lượng giá trị đã được đầu tư có liên quan trực tiếp đến nhiều chu kỳ
kinh doanh của doanh nghiệp như chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí nghiên cứu,
chi phí mua bằng phát minh sáng chế…
Trong nền kinh tế thị trường do sự tác động của các quy luật kinh tế và để nâng
cao khả năng cạnh tranh, các doanh nghiệp phải đầu tư những khoản chi phí lớn cho
phần tài sản vô hình. Những chi phí này cần phải được quản lý và thu hồi dần dần như
những chi phí mua sắm tài sản cố định khác.
-

Tài sản cố định hữu hình bao gồm:

+ Nhà cửa, vật kiến trúc, đường xá, cầu cảng.

6


Chuyên ngành: Kinh tế đầu tư

+ Máy móc thiết bị
+ Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn
+ Thiết bị, dụng cụ quản lý
+ Vườn cây lâu năm, súc vật làm việc hoặc cho sản phẩm
+ Các loại tài sản cố định khác
Vậy với mỗi cách phân loại trên đây cho phép ta đánh giá xem xét kết cấu tài
sản cố định của doanh nghiệp theo các tiêu thức khác nhau. Kết cấu tài sản cố định là
tỷ trọng của một loại tài sản cố định nào đó so với tổng nguyên giá các loại tài sản cố
định của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định. Kết cấu tài sản cố định giữa các
ngành sản xuất khác nhau hoặc cùng một ngành sản xuất cũng khác nhau.
Đối với các doanh nghiệp việc phân loại và phân tích tình hình kết cấu tài sản
cố định là việc làm cần thiết giúp doanh nghiệp chủ động biến đổi kết cấu tài sản cố
định sao cho có lơị nhất cho việc nâng cao hiêu quả sử dụng vốn cố định của DN.
• Vốn lưu động
Vốn lưu đông là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản lưu động và tài sản lưu
thông được đầu tư vào sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Như vậy vốn lưu động
bao gồm những giá trị của tài sản lưu động như: Nguyên vật liệu chính, phụ, nguyên
vật liệu và phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ, thành phẩm, hàng hoá mua ngoài dùng
cho tiêu thụ sản phẩm, vật tư thuê ngoài chế biến, vốn tiền mặt, thành phẩm trên
đường gửi bán…
Khác với tư liệu sản xuất, đối tượng lao động chỉ được tham gia vào một chu kỳ
sản xuất để góp phần hợp thành giá trị và giá trị sử dụng của một sản phẩm. Vì vậy
vốn lưu động có đặc điểm là luân chuyển toàn bộ giá trị vào sản phẩm trong cùng một
chu kỳ sản xuất.
Vốn lưu động trong các doanh nghiệp vận động liên tục qua các giai đoạn trong
quá trình sản xuất, biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Bắt đầu từ hình thái tiền
tệ ban đầu. Sự vận động liên tục từ giai đoạn này sang giai đoạn khác giữa lĩnh vực sản
xuất và lĩnh vực lưu thông tạo nên sự luân chuyển của vốn lưu động. Qua phân tích
trên cho thấy vốn lưu động là hình thái giá trị của nhiều yếu tố tạo thành, mỗi yếu tố
có tính năng, tác dụng riêng. Để quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả ta phải tiến hành
phân loại theo một số chỉ tiêu chủ yếu sau:

7


Chuyên ngành: Kinh tế đầu tư

- Căn cứ vào quá trình luân chuyển và tuần hoàn của vốn, vốn lưu động được
chia làm ba loại:
+ Vốn dự trữ: Là bộ phận vốn dùng để mua nguyên, nhiên vật liệu, phụ tùng
thay thế và chuẩn bị đưa vào sản xuất.
+ Vốn trong sản xuất: Là bộ phận vốn trực tiếp phục vụ cho giai đoạn sản xuất
như sản phẩm dở dang, nửa thành phẩm tự chế, chi phí chờ phân.
+ Vốn lưu thông: Là phần vốn trực tiếp phục vụ cho việc lưu thông, tiêu thụ
hàng hoá.
- Căn cứ vào phương pháp xác lập vốn, người ta chia vốn lưu động ra làm hai loại
+ Vốn lưu động định mức: Là vốn lưu động được quy định mức tối thiểu cần
thiết thường xuyên cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nó bao gồm
vốn dự trữ, vốn trong sản xuất và thành phẩm hàng hoá mua ngoài dùng cho tiêu thụ
sản phẩm, thuê ngoài chế biến.
+ Vốn lưu động không định mức: Là vốn lưu động có thể phát sinh trong quá
trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhưng không có căn cứ để tính toán định
mức được, chẳng hạn như thành phẩm trên đường gửi bán, vốn kết toán.
- Căn cứ vào hình thái biểu hiện:
+ Vốn vật tư hàng hoá: Là các khoản vốn lưu động có hình thái biểu hiện bằng
hiện vật cụ thể như nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm.
+ Vốn bằng tiền: Bao gồm các khoản vốn bằng tiền mặt, đầu tư ngân hàng…
- Căn cứ vào chủ sở hữu về vốn, vốn lưu động bao gồm:
+ Vốn chủ sở hữu: Là số vốn lưu động thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp
+ Vốn vay hay các khoản nợ khách hàng chưa thanh toán
Tóm lại, từ các cách phân loại trên doanh nghiệp có thể xác định được kết cấu
vốn lưu động của mình theo những tiêu thức khác nhau. Kết cấu vốn lưu động phản
ánh các thành phần và mối quan hệ tỷ lệ giữa các thành phần trong tổng số vốn lưu
động của doanh nghiệp.
Ở các doanh nghiệp Nhà nước khác nhau thì kết cấu vốn lưu động khác nhau.
Việc phân tích kết cấu vốn lưu động của doanh nghiệp theo các tiêu thức khác nhau sẽ
giúp doanh nghiệp hiểu rõ thêm những đặc điểm riêng về số vốn lưu động mà mình
đang quản lý và sử dụng. Từ đó xác định đúng biện pháp quản lý vốn lưu động có hiệu
quả hơn. Qua đó cũng có thể thấy được những biến đổi tích cực hoặc những hạn chế
về mặt chất lượng trong công tác quản lý vốn lưu động của doanh nghiệp mình.
b) Căn cứ vào nguồn hình thành vốn
Nếu xem xét nguồn hình thành của các doanh nghiệp tức là trả lời câu hỏi “Vốn
có được từ đâu? ” thì vốn được chia thành hai loại:

8


Chuyên ngành: Kinh tế đầu tư

• Vốn tự có
Là nguồn vốn có trong nội bộ doanh nghiệp. Với doanh nghiệp Nhà nước thì
vốn tự có do doanh nghiệp Nhà nước cấp từ lúc thành lập doanh nghiệp hoặc cấp bổ
sung theo nhu cầu sản xuất kinh doanh. Với doanh nghiệp tư nhân thì nó là phần vốn
của chủ doanh nghiệp bỏ ra để kinh doanh, còn với công ty cổ phần thì do các cổ đông
đóng góp thông qua việc nắm giữ cổ phiếu của công ty. Ngoài ra phần lợi nhuận không
chia dùng để tái đầu tư cũng bổ sung vào vốn tự có của doanh nghiệp.
• Vốn huy động bên ngoài
Vốn huy động bên ngoài có thể là vốn vay, vốn liên doanh liên kết.
Do nhu cầu sản xuất kinh doanh, do yêu cầu đổi mới, phát triển và mở rộng liên
tục, do khả năng về vốn tự có không thể trang trải được tất cả các thành phần cần thiết,
các doanh nghiệp phải tìm đến một nguồn tài trợ khác là vốn vay.
Doanh nghiệp có thể vay vốn từ ngân hàng thương mại hoặc phát hành tín
phiếu để huy động vốn. Vốn vay dài hạn có thể được thực hiện thông qua các dự án
đầu tư phát triển khả thi. Nó có thể được thực hiện bằng vốn trung và dài hạn của ngân
hàng thương mại hoặc có thể phát hành trái phiếu công ty nếu được phép.
Liên doanh liên kết cũng là một phương pháp huy động vốn rất phổ biến nhờ đó
mà doanh nghiệp có thể nâng cao khả năng về vốn, nâng cao trình độ quản lý, trình độ
chuyên môn nghiệp vụ cũng như hiện đại hoá công nghệ.
c) Căn cứ vào nội dung vật chất vốn
Căn cứ vào nội dung vật chất vốn thì vốn được chia thành vốn thực và vốn tài chính.
- Vốn thực: Là toàn bộ hàng hoá phục vụ cho sản xuất và dịch vụ khác như
máy móc thiết bị, nhà xưởng... phần vốn này phản ánh hình thái vật thể của vốn, nó
tham gia trực tiếp vào sản xuất kinh doanh.
- Vốn tài chính: Là biểu hiện dưới hình thái tiền, chứng khoán và các giấy tờ
có giá khác dùng cho việc mua tài sản, máy móc… phần vốn này phản ánh phương
tiện tài chính của vốn.
1.1.1.3. Vai trò của vốn đối với hoạt động của doanh nghiệp
Qua việc xem xét các khái niệm và phân loại về vốn, ta có thể thấy vốn là tiền
đề cho mọi hoạt động của doanh nghiệp. Phải có một lượng tiền nhất định mới có thể
tiến hành các hoạt động đầu tư của mình, bắt đầu từ việc doanh nghiệp mua các tài sản
cần thiết cho việc xây dựng và khởi động doanh nghiệp (máy móc thiết bị, xây dựng
nhà xưởng, mua phát minh sáng chế…), đảm bảo cho sự vận động của doanh nghiệp
(mua nguyên vật liệu, trả lương cho công nhân, trả lãi…) và sự tăng trưởng của doanh

9


Chuyên ngành: Kinh tế đầu tư

nghiệp (đầu tư mở rộng dây chuyền sản xuất…). Vậy vốn là yếu tố khởi đầu, bắt
nguồn của mọi hoạt động kinh doanh, nó tồn tại và đi liền xuyên suốt giúp cho các
doanh nghiệp hình thành và phát triển.
Vốn của các doanh nghiệp có vai trò quyết định, là điều kiện tiên quyết quan
trọng nhất cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của từng loại doanh nghiệp theo luật
định. Trong những nền kinh tế khác nhau, những loại hình doanh nghiệp khác nhau
tầm quan trọng của vốn cũng được thể hiện ở mức độ khác nhau.
Vốn là yếu tố quyết định mức độ trang thiết bị kỹ thuật, quyết định việc đổi mới
công nghệ, hiện đại hoá dây chuyền sản xuất, ứng dụng thành tựu mới của khoa học và
phát triển sản xuất kinh doanh. Đây là một trong những yếu tố quyết định đến sự thành
công và đi lên của doanh nghiệp.
Vốn còn là một trong những điều kiện để sử dụng các nguồn tiềm năng hiện có
và tiềm năng tương lai về sức lao động, nguồn hàng hoá, mở rộng và phát triển thị
trường, mở rộng lưu thông hàng hoá, là điều kiện để phát triển kinh doanh, thực hiện
các chiến lược, sách lược kinh doanh, là chất keo để nối chắp, dính kết các quá trình và
quan hệ kinh tế, là dầu bôi trơn cho cỗ máy kinh tế hoạt động.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh vốn tham gia vào tất cả các khâu, ở mỗi
khâu nó thể hiên dưới các hình thái khác nhau như vật tư, vật liệu, hàng hoá…và cuối
cùng lại trở về hình thái ban đầu là tiền tệ. Như vậy sự luân chuyển của vốn giúp cho
doanh nghiệp thực hiện được hoạt động tái sản xuất và tái sản xuất mở rộng của mình.

1.1.2. Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư trong doanh nghiệp
1.1.2.1. Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp
Khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp luôn luôn theo
đuổi một mục tiêu chính là làm thế nào để đạt được hiệu quả kinh doanh cao nhất, đem
lại lợi nhuận lớn nhất. Ta biết rằng, vốn là một trong ba yếu tố đầu vào quan trọng nhất
phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp cần phải có một lượng vốn
nhất định và các nguồn tài trợ tương ứng thì mới có thể tồn tại, hoạt động và phát triển.
Làm thế nào để luôn đủ vốn - Đó là điều quan trọng, là tiền đề của sản xuất song việc
sử dụng vốn sao cho đạt hiệu quả mới thực sự là nhân tố quyết định cho sự tăng trưởng
của mỗi doanh nghiệp. Việc thường xuyên kiểm tra tình hình tài chính, tiến hành phân
tích để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn là nội dung quan trọng trong công tác tài chính

10


Chuyên ngành: Kinh tế đầu tư

của doanh nghiệp. Cách đo lường chính xác thể hiện rõ nhất tính hiệu quả là thước đo
tiền tệ để lượng hoá các yếu tố đầu vào và đầu ra. Tuy nhiên quan niệm về hiệu quả sử
dụng vốn được hiểu trên hai khía cạnh:
• Với số vốn hiện có doanh nghiệp có thể sản xuất thêm sản phẩm với chất
lượng tốt, giá thành hạ nhằm mục đích tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
• Đầu tư thêm vốn (mở rộng quy mô sản xuất, tăng doanh thu) sao cho tốc độ
tăng lợi nhuận lớn hơn tốc độ tăng của vốn.
Vậy hiệu quả sử dụng vốn chính là thước đo, phản ánh tương quan so sánh giữa
kết quả thu được với những chi phí về vốn mà doanh nghiệp bỏ ra trong hoạt động để
có được chính kết quả đó. Hiệu quả sử dụng vốn có thể được tính một cách chung nhất
bằng công thức:
Hiệu quả sử dụng vốn

=

Kết quả thu được
Chi phí vốn sử dụng

Trong đó :
-

Kết quả thu được có thể là: Tổng doanh thu, doanh thu thuần, lãi gộp...
Chi phí vốn đã sử dụng có thể là: Tổng vốn bình quân, vốn lưu động bình

quân, vốn cố định bình quân…
Trong một doanh nghiệp, hiệu quả sử dụng vốn phản ánh trình độ sử dụng
nguồn lực hiện có. Trình độ sử dụng nguồn lực thể hiện qua kết quả kinh doanh của
mỗi kỳ hạch toán, qua đó quy mô vốn của doanh nghiệp có thể bị thu hẹp so với đầu
kỳ (doanh nghiệp sử dụng vốn kém hiệu quả, nếu tình trạng này kéo dài có thể doanh
nghiệp sẽ bị phá sản) và cũng có thể được bảo tồn và phát triển. Đây là kết quả mà
doanh nghiệp nào cũng cần phải phấn đấu để đạt được bởi vì khi bảo tồn được đồng
vốn sẽ là cơ sở vững chắc để doanh nghiệp tồn tại và tìm ra những biện pháp, bước đi
đúng đắn phù hợp với điều kiện của nền kinh tế thị trường nhằm phát triển vốn trong
một khoảng thời gian nào đó.
Sử dụng vốn hiệu quả sẽ đảm bảo khả năng an toàn về tài chính cho doanh
nghiệp, ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Qua đó doanh nghiệp
sẽ đảm bảo việc huy động các nguồn tài trợ và khả năng thanh toán, khắc phục được
rủi ro trong kinh doanh. Mặt khác đối với các doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn nhằm tăng uy tín, thế lực, sự bành trướng của DN trên thương trường đồng thời
góp phần tạo ra sản phẩm với chất lượng cao, giá thành hạ đáp ứng nhu cầu của người
tiêu dùng, đảm bảo khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Từ đó tạo ra lợi nhuận lớn

11


Chuyên ngành: Kinh tế đầu tư

hơn. Đó là cơ sở để mở rộng qui mô sản xuất, nâng cao đời sống của cán bộ công nhân
viên, nâng cao hiệu quả đóng góp cho xã hội. Nhưng một DN sử dụng vốn có hiệu quả
khi nào? Chỉ khi DN đó bảo tồn và phát triển được vốn.
1.1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư trong doanh nghiệp
Mục đích cũng như ý tưởng của hoạt động sản xuất kinh doanh đều hướng tới
hiệu quả kinh tế trên cơ sở khai thác và sử dụng triệt để mọi nguồn lực hiện có. Tạo
lập, khai thác và sử dụng các tiềm lực về vốn hợp lý hay không sẽ có tác động tích cực
hay tiêu cực tới hiệu quả sử dụng vốn nói riêng và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh
doanh nói chung của doanh nghiệp. Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là yêu
cầu mang tính thường xuyên và bắt buộc, đánh giá đúng hiệu quả sử dụng vốn sẽ thấy
được chất lượng của việc kinh doanh và khả năng quản lý vốn của doanh nghiệp. Để
thấy rõ được vấn đề trên, thông qua các chỉ tiêu sau đây để nhận xét đánh giá:
a) Nhóm chỉ tiêu tổng hợp đánh giá hiệu quả sử dụng vốn
- Hiệu suất vốn kinh doanh
Hiệu suất
Doanh thu thuần
=
vốn kinh doanh
Vốn bình quân
Vốn bình quân = (Vốn đầu kỳ + Vốn cuối kỳ)/2

× 100%

Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn bỏ vào hoạt động sản xuất kinh doanh sau
một kỳ sẽ thu được bao nhiêu đồng doanh thu.
-

Hàm lượng vốn kinh doanh
Hàm lượng

Vốn bình quân
Doanh thu thuần

=

× 100%
vốn kinh doanh
Chỉ tiêu này phản ánh để thu được một đồng doanh thu thì doanh nghiệp phải
bỏ ra bao nhiêu đồng vốn.
-

Hiệu quả vốn kinh doanh

Hiệu quả
LN trước thuế
=
× 100%
vốn kinh doanh
Vốn bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn kinh doanh đem lại bao nhiêu đồng lợi
nhuận cho DN trong kỳ.
b) Nhóm chỉ tiêu về cơ cấu vốn
-

Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu
Hệ số nợ trên

Tổng nợ phải trả

=
× 100%
Tổng vốn CSH
vốn CSH
Hệ số này cho biết quan hệ giữa vốn huy động bằng vốn đi vay và vốn CSH.

12


Chuyên ngành: Kinh tế đầu tư

-

Hệ số nợ trên tổng nguồn vốn
Tổng nợ phải trả

Hệ số nợ trên tổng

=
Tổng nguồn vốn
nguồn vốn
Hệ số nợ trên tổng nguồn vốn cho thấy mối quan hệ giữa vốn đi vay và tổng
nguồn vốn là cao hay thấp. Hệ số này cho thấy khả năng làm chủ về tài chính của công
ty là cao hay thấp.
-

Hệ số cơ cấu nguồn vốn
Hệ số cơ cấu
nguồn vốn

Tổng vốn CSH
=

Tổng nguồn vốn

× 100%

Hệ số này phản ánh khả năng làm chủ về mặt tài chính của công ty.
c) Nhóm chỉ tiêu về tốc độ luân chuyển vốn
-

Vòng quay vốn chủ sở hữu
Vòng quay
vốn CSH

Doanh thu thuần
=

Tổng vốn CSH

× 100%

Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn chủ sở hữu sẽ tạo ra bao nhiêu đồng doanh
thu thuần.
-

Vòng quay tổng vốn
Vòng quay
tổng vốn

Doanh thu thuần
=

Tổng nguồn vốn

× 100%

Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn bỏ ra sẽ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu.
-

Vòng quay vốn lưu động
Vòng quay
VLĐ

Doanh thu thuần
=

VLĐ bình quân trong kỳ

× 100%

Chỉ tiêu này cho biết số ngày luân chuyển của một vòng quay vốn lưu động là
bao nhiêu.
- Tốc độ luân chuyển vốn lưu động
Tốc độ luân chuyển
VLĐ

365
=

Vòng quay VLĐ

× 100%

d) Nhóm chỉ tiêu về tỷ suất lợi nhuận
- Tỷ suất lợi nhuận của toàn bộ vốn kinh doanh
Tỷ suất lợi nhuận toàn

=

Lợi nhuận sau thuế

13

× 100%


Chuyên ngành: Kinh tế đầu tư

bộ VKD

Tổng nguồn vốn

Chỉ tiêu này phản ánh 100 đồng vốn bỏ ra trong một năm sinh lời được bao
nhiêu đồng lợi nhuận.
- Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu (ROE)
Tỷ suất lợi nhuận VCSH
(ROE)

Lợi nhuận sau thuế
=

Tổng nguồn vốn CSH

× 100%

Chỉ tiêu này cho biết 100 đồng vốn chủ sở hữu tạo ra bao nhiêu nghìn đồng
lợi nhuận, nó thể hiện hiệu quả thực tế của nguồn vốn chủ sở hữu, thấy được mức độ
tiến triển, hiệu quả đầu tư của chủ doanh nghiệp thông qua hệ số của chỉ tiêu.
- Tỷ suất lợi nhuận vốn lưu động
Lợi nhuận sau thuế
Tỷ suất lợi nhuận VLĐ

=

VLĐ bình quân trong kỳ

× 100%

Chỉ tiêu này cho biết cứ 100 đồng CLĐ sử dụng trong kỳ của DN thì tạo ra bao
nhiêu đồng lợi nhuận.
- Tỷ suất lợi nhuận vốn cố định
Lợi nhuận sau thuế
Tỷ suất lợi nhuận VCĐ

=

VCĐ bình quân trong kỳ

× 100%

Chỉ tiêu này cho biết 100 đồng VCĐ sử dụng trong kỳ của DN thì mang lại bao
nhiêu đồng LN.
e) Chỉ tiêu phân tích hiệu quả sử dụng vốn
Hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp được phản ánh bằng hệ thống các chỉ
tiêu hiệu quả tổng hợp và các chỉ tiêu phân tích. Qua chỉ tiêu phân tích sẽ làm rõ được
kết quả, mức độ ảnh hưởng đến chỉ tiêu tổng hợp. Sau đây là các chỉ tiêu phân tích cho
hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp:
-

Hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh
Doanh thu thuần

Hiệu suất sử dụng VKD

=

Tổng nguồn vốn

× 100%

Hiệu suất sử dụng VKD cho biết một đồng vốn của DN sử dụng bình quân
trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu.
-

Hiệu suất sử dụng vốn lưu động

Hiệu suất sử dụng VLĐ

=

Doanh thu thuần

14

× 100%


Chuyên ngành: Kinh tế đầu tư

VLĐ bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu nay cho biết một đồng VLĐ bỏ vào hoạt động sản xuất kinh doanh sau
một kỳ đem lại bao nhiêu đồng doanh thu.
-

Hiệu suất sử dụng vốn cố định
Doanh thu thuần

Hiệu suất sử dụng VCĐ

=

VCĐ bình quân trong kỳ

× 100%

Chỉ tiêu nay cho biết một đồng VCĐ bỏ vào hoạt động sản xuất kinh doanh sau
một kỳ đem lại bao nhiêu đồng doanh thu.
-

Hệ số thực hiện vốn đầu tư
TSCĐ sử dụng bình quân

Hệ số thực hiện VĐT

=

trong kỳ

× 100%

Tổng nguồn vốn
Chỉ tiêu này phản ánh khối lượng VĐT bỏ ra với các TSCĐ (kết quả của
VĐT) được mang vào sử dụng.
1.1.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn
Các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường chịu tác động của nhiều nhân tố,
bao gồm cả những nhân tố khách quan và chủ quan. Do vậy hiệu quả kinh doanh nói
chung và hiệu quả sử dụng vốn nói riêng cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc của những yếu
tố đó.
a) Yếu tố khách quan
• Môi trường pháp luật
Hoạt động của các doanh nghiệp trong nền kinh tế phải tuân theo những quy
định pháp luật do Nhà nước ban hành, qua đó có tác dụng hướng hoạt động kinh tế của
họ tuân theo ý muốn chủ quan của Nhà nước. Tuy nhiên mục tiêu này không phải lúc
nào cũng đạt được kết quả mong muốn bởi vì hệ thống luật pháp ở nhiều quốc gia còn
chưa được kiện toàn. Chính vì vậy đã tạo ra kẽ hở trong luật và bị các cá nhân, tổ chức
lợi dụng để hoạt động kinh doanh bất hợp pháp hay dựa vào những điều luật còn
chồng chéo, thiếu tính cụ thể nghiêm minh nên dẫn tới việc coi thường luật pháp trong
hoạt động kinh tế mà hậu quả có thể là đơn phương phá ngang hợp đồng kinh tế đã ký
kết, hoặc chiếm dụng vốn mà không thanh toán, gây thiệt hại về kinh tế cũng như hiệu
quả sử dụng vốn cho doanh nghiệp là nạn nhân. Vì thế, để chấm dứt được tình trạng

15


Chuyên ngành: Kinh tế đầu tư

này thì biện pháp tối ưu là phải khắc phục những mặt hạn chế trong hệ thống luật
pháp, xử lý thật nghiêm minh những tội phạm kinh tế để làm gương răn đe, giáo dục.
Có như vậy mới tạo được sự ổn định trong hoạt động kinh tế và mục tiêu của Nhà
nước mới thực hiện được triệt để.
• Chính sách quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước
Nhà nước điều tiết nền kinh tế thông qua các chính sách cơ bản là chính sách
thuế, giá cả và lãi suất. Chính sách thuế thay đổi sẽ ảnh hưởng đến công tác hạch toán
kế toán và các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật mà đơn vị đang áp dụng. Chính sách giá cả thay
đổi sẽ làm thay đổi giá thành sản phẩm cũng như giá bán của sản phẩm đó, vì thế sản
lượng tiêu thụ, doanh thu bán hàng... cũng sẽ chịu ảnh hưởng. Chính sách về lãi suất
thay đổi sẽ ảnh hưởng đến thu nhập tài chính của khoản tiền gửi ngân hàng, mức độ
thuận lợi hay khó khăn của việc vay vốn, số lượng tiền được vay nhiều hay ít, và chi
phí tài chính của đơn vị đi vay.
Tóm lại, khi các chính sách kinh tế kể trên tay đổi sẽ có tác động tích cực hoặc
tiêu cực đến hiệu qủa sử dụng vốn cũng như hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Chẳng hạn, trong thời kỳ nền kinh tế tăng trưởng thấp thì nhà nước có thể đối
phó bằng cách: hạ lãi suất cho vay, tiền gửi, tăng thuế nhằm khuyến khích các tổ chức
cá nhân tham gia mạnh mẽ hơn vào hoạt động kinh tế của Đất nước, nhờ đó mà nền
kinh tế sẽ có mức tăng trưởng cao hơn. Với một chính sách lới lỏng như vậy, nếu
doanh nghiệp nào có những dự án đầu tư tốt, có tính khả thi cao mà số vốn cần thiết để
thực hiện dự án chưa đủ thì có thể bổ xung bằng cách huy động số vốn còn thiếu thông
qua hệ thống ngân hàng, các tổ chức tín dụng. Nhờ vậy, các doanh nghiệp sẽ hạn chế
được những cơ hội kinh doanh tốt bị bỏ qua và có thời cơ kiếm lợi nhuận, tăng quy mô
vốn, nâng cao hơn hiệu quả sử dụng vốn, đồng thời giảm dần sự phụ thuộc về vốn vào
các tổ chức tài chính. Ngược lại, trong thời kỳ nền kinh tế “nóng” thì giải pháp đối phó
là hoàn toàn ngược lại. Với chính sách này sẽ hạn chế được những doanh nghiệp thành
lập mới, đồng thời ảnh hưởng đến kế hoạch đầu tư phát triển của các doanh nghiệp
đang hoạt động cũng như hiệu quả sử dụng vốn của từng doanh nghiệp. Vì thế trong
bất kỳ hoàn cảnh nào các doanh nghiệp luôn mong muốn có sự ổn định trong chính
sách kinh tế của Nhà nước, trên cơ sở đó để thiết lập chiến lược kinh doanh phù hợp,
có như vậy mới tạo tâm lý an toàn cho các nhà đầu tư, bởi vì chỉ một thay đổi nhỏ

16


Chuyên ngành: Kinh tế đầu tư

trong chính sách kinh tế sẽ có tác động lớn đến chỉ tiêu chi phí, lợi nhuận và hiệu hiệu
quả sử dụng vốn.
• Thị trường và hoạt động cạnh tranh
Tất cả các loại hình doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trường đều
chịu sự tác động của nhân tố thị trường. Có thể nói, nếu vốn giúp cho doanh nghiệp
bước vào hoạt động thì thị trường là nhân tố quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp,
nó ảnh hưởng đến “đầu ra”- doanh thu và thị trường “đầu vào”- các yếu tố sản xuất
của doanh nghiệp. Sự tác động của thị trường đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh
nghiệp thể hiện ở một số khía cạnh cơ bản sau:
Nếu doanh nghiệp huy động vốn vay để tiến hành hoạt động sản xuất kinh
doanh nhưng hàng sản xuất ra hay nhập về lại không tiêu thụ được sẽ làm cho vốn lưu
động của doanh nghiệp không luân chuyển được, vốn không sinh lời trong khi đó
doanh nghiệp vẫn phải trả lãi vay, mục tiêu của doanh nghiệp không những không đạt
được mà còn đứng trước nguy cơ thua lỗ.
Sự biến động của thị trường cũng là nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng
vốn của doanh nghiệp. Điều đó thể hiện ở cả đầu ra và đầu vào của doanh nghiệp. Sự
biến động của thị trường đầu vào các yếu tố sản xuất, nguồn lực đầu vào trở nên khan
hiếm, giá cả biến động lớn dẫn đên sản phẩm hàng hoá của doanh nghiệp không đủ bù
đắp chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để có được các hàng hoá đó. Sự biến đổi của
thị trường đầu ra, như thay đổi nhu cầu của người tiêu dùng, hàng hoá bán được nhưng
không đủ bù đắp chi phí…Tất cả các yếu tố này tác động đến rủi ro kinh doanh của
doanh nghiệp.
Những ảnh hưởng của nhân tố thị trường đối với hiệu quả sử dụng vốn của
doanh nghiệp không chỉ dừng ở đây mà còn thể hiện ở tính cạnh tranh cố hữu. Ta biết
rằng, trong nền kinh tế hiện nay nhu cầu của thị trường về các loại hàng hoá dịch vụ
rất đa dạng, phong phú, những yêu cầu liên quan đến sản phẩm khi tham gia vào thị
trường ngày càng tăng. Sản phẩm sản xuất ra muốn tiêu thụ được thì phải đáp ứng
được 3 tiêu chí cơ bản của thị trường là chất lượng tốt, giá thành hạ, phù hợp với thị
hiếu và thu nhập của đa số người tiêu dùng. Để đáp ứng được những yêu cầu ấy đòi
hỏi các doanh nghiệp phải tăng cường công tác quản lý, điều hành hoạt động sản xuất
kinh doanh, đồng thời đầu tư vốn đổi mới công nghệ sản xuất. Rõ ràng là dưới sức ép
của thị trường doanh thu tiêu thụ sản phẩm cũng như chi phí sản xuất kinh doanh của

17


Chuyên ngành: Kinh tế đầu tư

doanh nghiệp sẽ bị ảnh hưởng. Vì thế, chắc chắn cũng sẽ tác động đến hiệu quả sử
dụng vốn của doanh nghiệp ấy. Mặt khác, bên cạnh sự cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp đang sản xuất kinh doanh cùng một mặt thì do cơ chế chính sách về kinh tế của
Đảng và Nhà nước đã tạo ra sự tăng nhanh số lượng của các loại hình doanh nghiệp
mới, trong đó có những doanh nghiệp đăng ký sản xuất kinh doanh những mặt hàng
mà thị trường đã có. Vì thế, càng làm tăng thêm sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp,
làm ảnh hưởng đến doanh thu và hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
• Tính chất ổn định của môi trường
Kết quả sản xuất kinh doanh cũng như hiệu quả sử dụng vốn của một doanh
nghiệp tốt hay xấu không những chỉ phụ thuộc vào trình độ quản lý, điều hành hoạt
động sản xuất kinh doanh của ban lãnh đạo công ty mà còn phụ thuộc vào tính chất
của môi trường kinh doanh. Một môi trường kinh doanh tốt được coi là có thể chế
pháp lý chặt chẽ nghiêm minh, các chính sách quản lý về kinh tế của Nhà nước có tính
ổn định rõ ràng, cụ thể. Trên cơ sở đó các doanh nghiệp mới thực sự an tâm sản xuất,
lập kế hoạch đầu tư cho tương lai, nhờ đó hiệu quả sử dụng vốn sẽ tốt hơn. Ngược lại,
các kế hoạch đầu tư dài hạn cũng như hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp sẽ bị
ảnh hưởng tiêu cực gây tâm lý chán nản cho các nhà đầu tư. Do đó sẽ làm giảm khả
năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế.
b) Yếu tố chủ quan
• Cơ cấu vốn của doanh nghiệp
Cơ cấu vốn là tỷ trọng của từng loại vốn trong tổng số vốn của doanh nghiệp.
Tuỳ thuộc vào từng loại hình doanh nghiệp mà cơ cấu vốn của chúng cũng khác nhau,
trong các doanh nghiệp thương mại thì vốn lưu động chiếm tỷ trọng chủ yếu. Chính
điều này có tác động đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp trên hai góc độ là:
Với cơ cấu vốn khác nhau thì chi phí bỏ ra để có được nguồn vốn đó cũng khác
nhau. Cơ cấu vốn khác nhau thì khi xét đến tính hiệu quả của công tác sử dụng vốn
người ta tập trung vào những khía cạnh khác nhau. Chẳng hạn như đối với doanh
nghiệp thương mại thì khi xét hiệu quả sử dụng vốn người ta chủ yếu tập trung vào xét
hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
Cơ cấu vốn sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn thông qua sự ảnh hưởng
của nó đến chi phí vốn của doanh nghiệp. Việc sử dụng vốn của doanh nghiệp chỉ
được coi là có hiệu quả nếu nó đem lại một tỷ suất lợi nhuận lớn hơn chi phí mà doanh
nghiệp bỏ ra để có được nguồn vốn đó.

18


Chuyên ngành: Kinh tế đầu tư

• Chi phí vốn
Chi phí vốn được hiểu là chi phí trả cho nguồn vốn huy động và sử dụng, chi
phí vốn được đo bằng tỷ suất doanh lợi mà doanh nghiệp cần phải đạt được trên tổng
vốn huy động để giữ không làm thay đổi tỷ lệ sinh lời cần thiết dành cho cổ đông cổ
phiếu thưòng hay vốn tự có của doanh nghiệp. Liên quan đến các nguồn huy động bởi
các nguồn khác nhau, là các chi phí vốn khác nhau mà doanh nghiệp phải bỏ ra.
Đối với các doanh nghiệp thì nguồn vốn có thể được huy động bởi các nguồn:
-

Vốn do Nhà nước cấp
Vốn vay ngân hàng
Lợi nhuận giữ lại
Vay các đơn vị khác
Vốn liên doanh liên kết…

Tuy nhiên ở đây chỉ xét đến chi phí vốn liên quan đến hai nguồn huy động
chính của các doanh nghiệp Nhà nước là vốn vay ngân hàng và vốn do Nhà nước cấp.
- Chi phí vốn liên quan đến vốn vay ngân hàng:
+ Chi phí nợ vay trước thuế (t) là lãi suất mà các doanh nghiệp phải trả cho
khoản vay ngân hàng của mình.
+ Chi phí nợ vay sau thuế Kđ = t (1- T ) với Kđ là nợ vay sau thuế, T là thuế
suất thuế thu nhập doanh nghiệp.
- Chi phí liên quan đến vốn ngân sách Nhà nước cấp
Theo nghị định 59/CP về thu sử dụng vốn ngân sách nhà nước, thì các doanh
nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước hàng năm phải trả 6% trên tổng số vốn Nhà nước cấp
cho doanh nghiệp. Do đó, 6% được gọi là chi phí sử dụng vốn do Nhà nước cấp
Từ hai yếu tố trên, ta xác định được chi phí bình quân gia quyền của vốn theo
công thức: WACC = wd.kđ + ws.ks
Trong đó: wd tỷ trọng vốn vay trong tổng nguồn vốn
ws tỷ trọng lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư trong tổng nguồn vốn
ks chi phí lợi nhuận giữ lại
WACC ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp, trong
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải tạo ra được tỷ suất lợi nhuận tối
thiểu là WACC thì doanh nghiệp mới được coi là sử dụng vốn có hiệu quả.
Từ hai nhân tố trên sẽ giúp cho doanh nghiệp xác định được cho mình một cơ
cấu vốn tối ưu. Điều này sẽ giúp cho doanh nghiệp nếu cần mở rộng qui mô huy động
vốn mà vẫn giữ nguyên tỷ trọng này thì chi phí vốn vẫn là thấp nhất.
• Yếu tố con người

19


Chuyên ngành: Kinh tế đầu tư

- Trình độ quản lý doanh nghiệp
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp luôn trăn trở phải làm gì để
có vốn để đầu tư, sử dụng nó như thế nào, quản lý tài sản hiện có ra sao để mang lại
hiệu quả sử dụng vốn cao nhất. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp sẽ đề ra giải pháp nhằm
đối phó với tình hình thực tế. Nếu doanh nghiệp có trình độ quản lý tốt thì ngoài việc
lập được kế hoạch huy động vốn nhanh chóng, kịp thời với chi phí thấp, và sử dụng
vào thời điểm thích hợp nhất, còn có thể tổ chức tốt công tác quản lý hàng tồn kho,
tiền mặt tại quỹ cũng như khả năng khai thác vốn cao nên hiệu quả sử dụng vốn
thường rất tốt. Trường hợp ngược lại, không chỉ có hiệu quả sử dụng vốn bị tác động
tiêu cực mà doanh nghiệp còn có thể bị phá sản do quy mô vốn bị thu hẹp.
-

Tình trạng tay nghề của người công nhân

Bên cạnh yếu tố về trình độ quản lý doanh nghiệp thì yếu tố chất lượng lao
động cũng có tác động đáng kể đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Đặc biệt là
đối với doanh nghiệp sản xuất thì chất lượng sản phẩm sản xuất ra phụ thuộc rất lớn
vào trình độ tay nghề của người công nhân sản xuất. Chính vì vậy mà doanh thu tiêu
thụ sản phẩm, chi phí sản xuất cũng như uy tín của một doanh nghiệp chịu ảnh hưởng
lớn của đối tượng này nên hiệu quả sử dụng vốn cũng bị ảnh hưởng theo.
• Tính linh hoạt trong hoạt động sản xuất kinh doanh
Để thích ứng với thị trường thì việc giải quyết các vấn đề kinh tế cơ bản, sản
xuất cái gì? sản xuất cho ai? sản xuất bao nhiêu và sản xuất như thế nào? là rất cần
thiết. Đời sống của người dân ngày càng cao hơn do đó nhu cầu không ngừng tăng lên
cả về chất lượng và số lượng. Thực tế này đòi hỏi các doanh nghiệp phải năng động,
nhạy cảm với thị trường thông qua các hình thức như thay đổi mẫu mã, nâng cao chất
lượng để đảm bảo sản phẩm đủ sức cạnh tranh trên thị trường. Khi trên thị trường xuất
hiện những sản phẩm có khả năng thay thế sản phẩm của doanh nghiệp hoặc xuất hiện
các đối thủ cạnh tranh thì phải bằng mọi cách doanh nghiệp phải làm sao cho khách
hàng nhận rõ ưu điểm sản phẩm của doanh nghiệp mình. Có thể thông qua các hình
thức khuyến mại, tặng quà và các hình thức yểm trợ bán hàng khác, doanh nghiệp phải
hướng sự chú ý của khách hàng đến sản phẩm của doanh nghiệp, phát sinh nhu cầu và
thực sự cảm thấy hữu ích khi dùng sản phẩm đó và có ý định tiêu thụ lâu dài với sản
phẩm của doanh nghiệp. Những điều trên là rất cần thiết đối với bất kỳ một doanh
nghiệp nào vì nó ảnh hưởng trực tiếp tới mức doanh thu của doanh nghiệp trước mắt.

20


Chuyên ngành: Kinh tế đầu tư

Sau đó thực chất là ảnh hưởng đến mức độ luân chuyển vốn, làm tốc độ quay vòng
vốn giảm, hiệu quả sử dụng vốn thấp.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Một số công ty sử dụng vốn đầu tư có hiệu quả
1.2.1.1. Hiệu quả sử dụng vốn của Công ty cổ phần Tập đoàn Hòa Phát
Tập đoàn Hòa Phát là một trong những Tập đoàn sản xuất công nghiệp tư nhân
hàng đầu Việt Nam. Khởi đầu từ một Công ty chuyên buôn bán các loại máy xây dựng
từ tháng 8/1992, Hòa Phát lần lượt mở rộng sang các lĩnh vực Nội thất (1995), Ống
thép (1996), Thép (2000), Điện lạnh (2001), Bất động sản (2001). Năm 2007, Hòa
Phát tái cấu trúc theo mô hình Tập đoàn, trong đó Công ty Cổ phần Tập đoàn Hòa Phát
giữ vai trò là Công ty mẹ cùng các Công ty thành viên và Công ty liên kết. Ngày
15/11/2007, Hòa Phát chính thức niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt
Nam với mã chứng khoán HPG. Tính đến tháng 2/2016, Tập đoàn Hòa Phát có 18
Công ty thành viên. Tập đoàn Hòa Phát hoạt động chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực:
Sắt thép; Các ngành nghề điện lạnh, nội thất, máy móc thiết bị; Bất động sản, gồm Bất
động sản Khu công nghiệp, Bất động sản nhà ở; Lĩnh vực nông nghiệp gồm sản xuất
thức ăn chăn nuôi và chăn nuôi với hàng chục nhà máy tại rất nhiều tỉnh thành trên cả
nước. Đến thời điểm hiện tại, sản xuất thép là lĩnh vực sản xuất cốt lõi chiếm tỷ trọng
79,4% doanh thu và 82,3% lợi nhuận toàn Tập đoàn.
Bảng 1.1: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty CP Tập đoàn Hòa Phát
ĐVT: Triệu đồng
Chỉ tiêu
Năm 2013
Năm 2014
Năm 2015
Tổng doanh thu
19.200.234,2
25.851.816,5
27.864.558,4
Lợi nhuân trước thuế
2.394.404,2
3.769.520,7
3.989.828,7
Lợi nhuận sau thuế
2.010.435,4
3.250.214,6
3.504.382,5
(Nguồn: Báo cáo thường niên năm 2013-2015 của Công ty CP Tập đoàn Hòa Phát)
- Kết thúc năm 2015, Tập đoàn Hòa Phát đạt 27.864 tỷ đồng doanh thu và
3.504 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế, tăng trưởng 8% so với 2014. Đây là chỉ số tăng
trưởng ngoạn mục khi xét trong hoàn cảnh Tập đoàn đẩy mạnh mở rộng sản xuất cả
với các ngành hàng chủ lực, truyền thống, đồng thời phân bổ nhiều nguồn lực cho phát
triển ngành hàng mới trong lĩnh vực nông nghiệp, gồm sản xuất kinh doanh thức ăn
chăn nuôi và chăn nuôi – một bước ngoặt mới đầy hứa hẹn trong tiến trình phát triển
của Hòa Phát. Đặc biệt, sản phẩm chủ lực của Hòa Phát là thép xây dựng đạt mức sản
lượng xấp xỉ 1,4 triệu tấn thép thành phẩm, tăng 15% so với kế hoạch năm và gần 38%
so với cùng kỳ 2014. Các sản phẩm mang tính truyền thống khác như ống thép, nội
thất, điện lạnh, bất động sản duy trì tăng trưởng ổn định, trong đó riêng ống thép sản

21


Chuyên ngành: Kinh tế đầu tư

lượng tăng tới trên 40% so với cùng kỳ. Với tư cách Top 5 doanh nghiệp tư nhân lớn
nhất, Công ty CP Tập đoàn Hòa Phát hiện nay thực sự là một bộ máy quản trị hiệu quả
hàng đầu và không ngừng được hoàn thiện nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, linh
hoạt và phản ứng nhanh với những biến động của thị trường, qua đó hoàn thành mọi
mục tiêu kinh doanh từng giai đoạn và đóng góp ngày càng lớn hơn vào sự phát triển
kinh tế của Việt Nam.
Bảng 1.2: Một số chỉ tiêu về năng lực tài chính của Công ty CP Tập đoàn Hòa Phát
Chỉ tiêu
I. Chỉ tiêu về khả năng thanh toán
1. Khả năng thanh toán hiện thời
2. Khả năng thanh toán nhanh
II. Chỉ tiêu về Cơ cấu vốn
1. Hệ số Nợ/Tổng tài sản
2. Hệ số Nợ/Vốn chủ sở hữu
III. Chỉ tiêu về Khả năng sinh lời
1. Tỷ suất LNST/DT thuần
2. Tỷ suất LNST/VCSH
3. Tỷ suất LNST/Tổng tài sản
4. Tỷ suất Lợi nhuận từ hoạt động

ĐVT

Năm 2013 Năm 2014 Năm 2015

Lần
Lần

1,11
0,37

1,29
0,47

1,19
0,47

Lần
Lần

0,58
1,42

0,46
0,86

0,43
0,76

%
%
%
%

10,62
21,16
8,71

10,62
27,55
14,71

12,76
24,22
13,74

13,81
16,51
14,90
SXKD/DT thuần
(Nguồn: Báo cáo thường niên năm 2013-2015 của Công ty CP Tập đoàn Hòa Phát)
- Chỉ số khả năng thanh toán nhanh và thanh toán hiện thời của Tập đoàn tại thời
điểm cuối năm 2015 lần lượt là 0,47 và 1,19 lần. Điều này cho thấy sức khỏe tài chính
của Tập đoàn hoàn toàn khỏe mạnh.
- Hệ số nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu được cải thiện, năm 2014 hệ số nợ phải
trả trên vốn chủ sở hữu của Công ty CP Tập đoàn Hòa Phát là 0,86 lần, giảm 0,56 lần
so với năm 2013. Sang đến năm 2015, hệ số này giảm từ 0,86 lần xuống chỉ còn 0,76
lần (giảm 0,1 lần so với năm 2014).
- Do trong năm 2015 Tập đoàn tiếp tục đầu tư các dự án lớn nên giá trị tài sản
tăng trong khi các dự án đó chưa đi vào hoạt động và mang lại doanh thu làm cho hai
chỉ số tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) và tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu
(ROE) giảm nhẹ nhưng vẫn duy trì ổn định là 14% và 24%. Về dài hạn, khi các dự án
đi vào hoạt động, các chỉ số trên sẽ cải thiện tốt nhờ doanh thu từ đầu tư các dự án này
mang lại.
1.2.1.2. Hiệu quả sử dụng vốn của Công ty cổ phần xây dựng Coteccons
Bảng 1.3: Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của
Công ty CP xây dựng Coteccons
Chỉ tiêu

ĐVT

22

Năm 2013 Năm 2014

Năm 2015


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×