Tải bản đầy đủ

xuhuong phat trien cua thi truong ck thứ cấp viet nam nam 2009 đến

xuhuong phat trien cua thi truong ck thứ cấp viet nam nam 2009 đến
2011(((((((N4c1.nh2@gmail.com
Pham Tran Viet Linh….
Tính từ năm 2009:
TTCK Việt Nam là thị trường tăng trưởng tệ nhất châu Á tính từ đầu năm
2009 đến nay. Lợi nhuận các công ty năm 2008 giảm tới 30%. Tuy nhiên
một số công ty vẫn có kết quả kinh doanh tốt và giá cổ phiếu của những
công ty này hiện vẫn ở trong mức rất hấp dẫn.
Thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn tiếp tục đi xuống trong năm 2009.
Chỉ số Vn-Index từ đầu năm đến nay hạ 22%, mức hạ tệ nhất so với các thị
trường châu Á khác. Giá trị giao dịch cổ phiếu trung bình trong ngày tháng
2/2009 tại Sàn giao dịch chứng khoán TPHCM và Sở giao dịch chứng khoán
Hà Nội chỉ là 13 triệu USD. Tổng giá trị vốn hoá thị trường rơi xuống mức
khoảng 10 tỷ USD, không một cổ phiếu niêm yết nào có giá trị vốn hoá thị
trường lớn hơn 1 tỷ USD và chỉ có 4 cổ phiếu có giá trị vốn hoá hơn 500
triệu USD.
Nhà đầu tư nước ngoài đã giảm bán, sau khi bán ra số cổ phiếu với tổng giá
trị 127 triệu USD trong khoảng thời gian từ tháng 9/2008 đến hết tháng
12/2008, nhà đầu tư nước ngoài chỉ bán ra lượng cổ phiếu có giá trị khoảng
2 triệu USD từ đầu năm đến nay. Nguyên nhân chính cho điều này là phần
lớn tiền đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài, nếu không tính đến những quỹ

đóng, đã rút hết khỏi thị trường Việt Nam (Quỹ đầu tư chứng khoán PXP
Vietnam Emerging Equity Fund mới đây cho phép nhà đầu tư rút cổ phiếu ra
và sau đó họ có thể bán số cổ phiếu này).
Chưa hết thông tin về lợi nhuận các công ty không mấy tích cực. Tăng
trưởng doanh số khoảng 40% so với cùng kỳ năm trước nhưng lợi nhuận
hoạt động chỉ tăng 8%. Thua lỗ ở các khoản đầu tư địa ốc và chứng khoán
đẩy lợi nhuận ròng giảm 25%. Trong số 329 công ty niêm yết, 23 công ty
thua lỗ, trong đó có cả một số công ty trước đây từng được nhà đầu tư nước
ngoài hết sức ưa chuộng như Công ty cổ phần cơ điện lạnh (REE), Công ty
cổ phần Gemadept (GMD) và Công ty cổ phần cáp và vật liệu viễn thông
(SAM).
Tuy nhiên cũng có một số công ty công bố lợi nhuận ấn tượng, đây là những
công ty có hoạt động kinh doanh đi theo hướng thế mạnh và không đầu tư
vào thị trường bất động sản và ngân hàng.Một số nhà đầu tư mạo hiểm có
thể tiếp tục tham gia vào thị trường với mục tiêu dài hạn, họ có thể mua một
số cổ phiếu của các công ty tốt. Tuy nhiên theo đánh giá của HSBC thị
trường chứng khoán Việt Nam năm nay sẽ vẫn khó khăn.
Suốt 2 tháng đầu năm 2009, thị trường chứng khoán luôn trong tình trạng ảm
đạm, èo uột. Cảnh vắng lặng tại sàn giao dịch cho thấy thị trường chứng


khoán đã không còn sức hấp dẫn đối với nhà đầu tư trong thời điểm này. Bởi
trong suốt năm 2008, thị trường vẫn tiếp tục chuỗi ngày suy giảm với mức
độ ngày càng trầm trọng hơn. Nhà đầu tư mất niềm tin vào thị trường, các
ngân hàng bán cổ phiếu giải chấp… tất cả những yếu tố này đã làm thị
trường giảm sâu. Tính chung cho cả tháng 2/2009 VN Index đã mất 57,47
điểm (18,95%) so với phiên cuối tháng 1.
Bất ngờ, sáng (11/3) thị trường chứng khoán tập trung của Việt Nam trở nên
rất sôi động, mở đầu cho một loạt các phiên tăng điểm của thị trường chứng
khoán. Các
nhà đầu tư đã chứng kiến một tháng 3 tăng điểm ấn tượng nhất kể từ tháng
11/2008. VN-Index không chỉ khởi sắc về điểm số mà khối lượng giao dịch
cũng tăng mạnh trong hai tuần cuối tháng, mức tăng kỷ lục trong nửa năm
qua.
Kết thúc tháng 3, VN-Index đã tăng lên 280,67 điểm, tăng 14%. Chỉ số
HASTC tăng 17% lên 98,37.
Ngày 24-6 tới, thị trường UPCoM - sàn giao dịch cổ phiếu của các công ty
đại chúng chưa niêm yết sẽ chính thức đi vào hoạt động.Đồng thời đổi tên
HASTC index thành HNX index.
Xu hướng rút vốn đầu tư khỏi các thị trường, tài sản có độ rủi ro cao chuyển

sang thị trường và tài sản có độ rủi ro thấp, cùng với việc giảm mạnh tỷ lệ
đòn bẩy trong hoạt động đầu tư và chuyển sang giữ tiền mặt đã sẽ còn tiếp
tục tác động mạnh tới khả năng tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài vào
thị trường trái phiếu cũng như cổ phiếu Việt Nam, ít nhất là trong nửa đầu
năm 2009.
Thứ hai, mặc dù ở nước ngoài khi kinh tế bộc lộ nhiều rủi ro tiềm ẩn thì các
nhà đầu tư thường có xu hướng tăng cường đầu tư vào trái phiếu Chính phủ
nhưng ở Việt Nam xu hướng này chưa có điều kiện hình thành rõ, do đối
tượng nhà đầu tư trái phiếu trong nước chưa đa dạng, chủ yếu mới chỉ là các
ngân hàng thương mại và các công ty bảo hiểm.
Việc đẩy mạnh mua khối lượng lớn trái phiếu Chính phủ từ các nhà đầu tư
nước ngoài của các ngân hàng trong nước thời gian qua sẽ có thể dẫn đến
khả năng tham gia đầu tư vào trái phiếu của đối tượng này sẽ bị hạn chế
trong năm 2009 vì lý do thanh khoản và giới hạn đầu tư trên tổng tài sản.
Năm 2010:


Trong điều kiện chính sách tiền tệ thắt chặt, chi phí vốn tăng cao, nhưng
tổng mức huy động vốn trên thị trường chứng khoán vẫn tăng mạnh; mức
vốn hóa tiếp tục tăng cao ngay cả khi thị trường tăng trưởng không ấn tượng;
sự tham gia của công chúng đầu tư ngày càng nhiều, đặc biệt là thu hút các
nhà đầu tư nước ngoài.
Trong năm 2010, nhiều văn bản quan trọng đã ra đời nhằm hoàn thiện khung
pháp lý phát triển thị trường chứng khoán như ngày 24/11/2010 Quốc hội đã
thông qua Luật Chứng khoán sửa đổi bổ sung có hiệu lực thi hành từ ngày
1/7/2011; Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 3 nghị định; Bộ Tài chính ban
hành 5 thông tư và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã ban hành nhiều văn
bản hướng dẫn, trình Bộ Tài chính nhiều đề án quan trọng...
Cũng trong năm 2010, công tác giám sát, thanh tra và xử lý vi phạm trên thị
trường chứng khoán được đẩy mạnh. Ủy ban Chứng Khoán Nhà nước đã kịp
thời xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về chứng khoán và thị
trường chứng khoán, đặc biệt là hành vi giao dịch nội bộ và thao túng giá
chứng khoán.
Năm 2010, đã có 195 công ty đăng ký đại chứng chưa niêm yết nâng tổng số
công ty đại chúng chưa niêm yết lên 977 và tính đến cuối năm có 1.608 công
ty đại chúng, có thêm 187 công ty niêm yết trên hai sàn. Như vậy, tính tới
cuối năm 2010, đã có 649 cổ phiếu và chứng chỉ niêm yết.
Hoạt động của các công ty chứng khoán tiếp tục được củng cố về tiền lực và
mở rộng về quy mô. Đã có thêm 53 chi nhánh và 38 văn phòng giao dịch của
các công ty chứng khoán đã được cấp phép thành lập, nâng tổng số chi
nhánh lên 133 và 80 văn phòng giao dịch. Quy mô vốn hoạt động của các
công ty chứng khoán ngày càng nâng cao, đến nay, tổng số vốn điều lệ của
các công ty chứng khoán là 33,3 nghìn tỷ đồng, tăng 1,3 lần so với năm
2009.
Thị trường chứng khoán đã từng bước hoàn thiện theo cấu trúc hợp lý gồm
khu niêm yết cổ phiếu quy mô lớn, khu vực doanh nghiệp quy mô vừa và
nhỏ, khu vực công ty đại chúng chưa niêm yết; khu vực giao dịch trái phiếu
chính phủ chuyên biệt...
Năm 2010 là một năm không thuận lợi cho thị trường chứng khoán
(TTCK) Việt Nam. Đa số thời gian trong năm là giai đoạn thị trường
trầm lắng, giảm điểm, thanh khoản thất thường. Thị trường chỉ chuyển
biến tích cực trong thời gian ngắn, vào khoảng từ tháng 3 đến tháng 4


và từ giữa tháng 11 đến giữa tháng 12. Vn-Index kết thúc năm ở mức
478,75 điểm, giảm 2,04% so với phiên đầu năm, HNX-Index kết thúc
năm ở mức 114,24 điểm, giảm 32,07% so với đầu năm.

Tại sàn Tp.HCM (HSX), bình quân 1 phiên là 46,4 triệu đơn vị và 1.506 tỷ
đồng chứng khoán được chuyển nhượng. Tại sàn HNX, nhờ áp dụng hình
thức giao dịch trực tuyến, giao dịch đã được cải thiện, bình quân 1 phiên có
35,1 triệu cổ phiếu và 972 tỷ đồng chứng khoán được chuyển nhượng. Mức
P/E trung bình trên sàn HSX dao động trong khoảng 11,6 - 11,8 lần, trên sàn
HNX trong khoảng từ 10,6 - 10,8 lần.
Trong năm 2010, có thể nhận ra rõ sự sụt giảm của dòng tiền đổ vào TTCK
và sự phân hóa giữa dòng tiền của các nhà đầu tư trong nước và các nhà đầu
tư nước ngoài. Dòng tiền của các nhà đầu tư trong nước luôn trong xu hướng
giảm và thay đổi thất thường. Nguyên nhân là do bị ảnh hưởng mạnh bởi các
yếu tố vĩ mô, trong đó có thể kể đến mặt bằng lãi suất cao, duy trì liên tục
trong năm và sự kiểm soát chặt chẽ và những hạn chế của Ngân hàng Nhà
nước (NHNN) đối với dòng vốn đổ vào TTCK.
Trong khi dòng tiền nội bất ổn, nhà đầu tư nước ngoài đã liên tục mua ròng
từ đầu năm 2010 đến nay. Tính đến ngày 29/12/2010, tại sàn HSX, khối
ngoại đã mua vào trên 266 triệu đơn vị chứng khoán, tương ứng với giá trị
mua ròng đạt 15,521 tỷ đồng, cao gấp 7,7 lần về lượng và 5,7 lần về giá trị
so với năm 2009. Tính đến cuối năm 2010, tổng giá trị cổ phiếu niêm yết mà
khối ngoại nắm giữ hiện đạt gần 130.000 tỷ đồng, tương đương với khoảng
6,6 tỷ USD.
Mặc dù phát triển khá ổn định nhưng trong năm 2010, Việt Nam vẫn bộc lộ
nhiều điểm yếu có thể ảnh hưởng đến sự ổn định: chỉ số lạm phát vượt kế
hoạch và đang ở mức hai con số, lãi suất cao và không có biện pháp hiệu quả
để hạ thấp, nhập siêu cao, chưa có xu hướng giảm, dự trữ ngoại hối gặp khó


khăn do cán cân thanh toán không được cải thiện. Ngoài ra, giá vàng, USD
biến động thất thường cũng là gánh nặng cho dự trữ quốc gia và ngân sách
Nhà nước. Trong năm 2010, Việt Nam bị các tổ chức đánh giá thế giới hạ
mức tín nhiệm xuống một bậc do những lo ngại về tình hình tài chính trong
nước mà điển hình là việc Vinashin có khả năng không trả được nợ trái
phiếu phát hành quốc tế. Đây là một thông tin không tốt cho TTCK Việt
Nam, vì phần nào đó sẽ làm giảm niềm tin của các nhà đầu tư nước ngoài và
dòng vốn trực tiếp và gián tiếp đổ vào Việt Nam.
Nam 2011
Với những khó khăn để lại trong năm 2010, năm 2011 sẽ không phải là năm
dễ dàng đối với TTCK. Nửa đầu năm 2011 sẽ là giai đoạn trầm lắng. Sự
chuyển biến thực sự sẽ bắt đầu vào nửa sau của năm, khi mà Chính phủ mới
đã được thành lập. Sẽ không có sự thay đổi lớn trong đường lối chính sách
của Chính phủ mới, tuy nhiên trong năm 2011, TTCK sẽ chịu ảnh hưởng rất
lớn bởi các yếu tố vĩ mô như tỷ giá USD, lãi suất, mục tiêu tăng trưởng, lạm
phát của năm 2011 và mức độ hấp dẫn của các kênh đầu tư khác như bất
động sản, vàng, ngoại tệ…
Kết thúc kỳ họp thứ 8 Khóa XII, Quốc hội đã thông qua chỉ tiêu phát triển
kinh tế, trong đó GDP tăng 7,0 - 7,5%, lạm phát dưới 7%. Với những gì để
lại của năm 2011, đạt được hai mục tiêu này là một việc hoàn toàn không
đơn giản. Nếu giữ được tốc độ phát triển và giữ được lạm phát ở mức một
con số, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ tiếp tục là điểm đầu tư hấp dẫn, tuy
nhiên đối với tỷ lệ lạm phát cao, sức hấp dẫn của TTCK sẽ giảm đi đáng kể.
Lạm phát càng cao đồng nghĩa với rủi ro đầu tư cao, nhà đầu tư sẽ có xu
hướng đầu tư vào các tài sản có mức độ rủi ro thấp như hàng hóa, kim loại
quý.
Trong năm 2011, do sức ép của thâm hụt ngoại thương và sự co hẹp của dự
trữ quốc gia, rất có thể Chính phủ sẽ tiếp tục phá giá đồng USD trong nước.
Lộ trình có thể diễn ra từ một đến hai đợt. Đợt một có thể diễn ra trong nửa
đầu của năm 2011 để tạm thời "giải nguy" cho dự trữ quốc gia, đợt 2 sẽ có
thể diễn ra vào nửa năm sau của năm 2011, khi Chính phủ mới được thành
lập và sẽ có đường lối chính sách rõ ràng.
Khi tỷ giá USD thay đổi, dòng tiền của các nhà đầu tư nước ngoài vào
TTCK Việt Nam sẽ có thay đổi. Việc trông đợi vào nguồn tiền này để nâng
đỡ TTCK trong dài hạn là một việc không có nhiều hy vọng khi có quá


nhiều các yếu tố bất ổn ảnh hưởng đến quyết định của các nhà đầu tư. Việc
điều chỉnh tỷ giá có thể tạo ra một dòng tiền "nóng" chảy vào TTCK Việt
Nam của các nhà đầu cơ.
Dòng tiền "nóng" này sẽ cải thiện các chỉ số trong thời gian ngắn, nhưng nếu
có bất kỳ một dấu hiệu bất hiệu bất thường nào xảy ra tác động tiêu cực đến
nền kinh tế, dòng tiền này cũng sẽ nhanh chóng rời khỏi TTCK. Nếu việc
này xảy ra, TTCK Việt Nam có thể sẽ phải trải qua một cú sốc mới do sự
dịch chuyển quá nhanh của dòng vốn "nóng". Để dòng tiền này được ổn
định, trước hết Chính phủ phải giải quyết triệt để các vấn đề tồn đọng, như:
thâm hụt ngoại thương, dự trữ quốc gia, chênh lệch tỷ giá giữa thị trường tự
do và chính thức…
Tỷ giá USD thay đổi sẽ ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất của các doanh
nghiệp nói chung và các doanh nghiệp niêm yết nói riêng. Điều chỉnh tăng
giá USD sẽ điều kiện thuận lợi đối với các doanh nghiệp hoạt động trong
lĩnh vực xuất khẩu và trở ngại cho các doanh nghiệp nhập khẩu. Đối với các
doanh nghiệp có doanh thu chủ yếu từ xuất khẩu, khi tỷ giá USD tăng,
doanh nghiệp sẽ gặp nhiều thuận lợi.
Tuy nhiên, nếu xem xét kỹ về cơ cấu chi phí thì điều chỉnh tỷ giá sẽ không
mang lại nhiều lợi ích cho tất cả các công ty có hoạt động xuất khẩu là chủ
yếu. Lợi ích thực thụ của việc điều chỉnh tỷ giá USD sẽ mang lại cho các
doanh nghiệp có tỷ lệ chi phí nhập khẩu thấp như: sản xuất lúa gạo, cà phê,
cao su… Đối với các doanh nghiệp có tỷ lệ chi phí sản xuất từ nhập khẩu
cao, lợi ích của việc này không nhiều. Khi tỷ giá tăng, doanh thu và chi phí
sẽ đồng thời tăng, lợi ích thực sự sẽ không nhiều như kỳ vọng. Điển hình là
các doanh nghiệp ngành da giày, may mặc, điện tử.
Thiệt thòi sẽ đến với các doanh nghiệp nhập khẩu và bán sản phẩm trong
nước. Khi tỷ giá tăng, chi phí sản xuất sẽ tăng, để tiếp tục hoạt động, doanh
nghiệp sẽ đứng trước hai lựa chọn: giữ nguyên giá cũ và tự thu hẹp lợi
nhuận của mình hoặc là tăng giá và hậu quả đi kèm là doanh thu sẽ giảm. Dù
doanh nghiệp lựa chọn giải pháp nào thì kết quả hoạt động kinh doanh cũng
sẽ trở nên khó khăn hơn.
Như vậy, việc điều chỉnh tỷ giá USD sẽ làm thay đổi sự cân bằng trên thị
trường dưới góc độ sức hấp dẫn của các doanh nghiệp. Có thể việc thay đổi
tỷ giá sẽ làm thay đổi cơ cấu đầu tư của các nhà đầu tư cũng như độ thanh
khoản của từng loại cổ phiếu, trái phiếu. Các ngành sản xuất, xuất khẩu nông


nghiệp, nông sản sẽ trở nên "hấp dẫn" hơn nhờ chính sách điều chỉnh tỷ giá,
các ngành xây dựng, ngân hàng, may mặc, da giày… sẽ trở nên "kém hấp
dẫn" hơn.
Dự báo diễn biến của TTCK
Theo kế hoạch đề ra, tăng trưởng tín dụng năm 2011 sẽ là 23%, giảm hơn so
với mức 27,65% của năm 2011 và 37,73% của năm 2009. Như vậy, tín hiệu
do NHNN đưa ra là sẽ tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ, điều này đồng
nghĩa với dòng vốn ngoài thị trường sẽ tiếp tục sụt giảm. NHNN sẽ ưu tiên
phát triển tín dụng cho sản xuất kinh doanh và hạn chế phát triển tín dụng
cho tín dụng phi sản xuất (đầu tư, chứng khoán, bất động sản, tiêu dùng).
Điều này cho thấy dòng tiền đổ vào TTCK sẽ tiếp tục bị kiểm soát và có
nguy cơ sụt giảm. Nhận định này một lần nữa được khẳng định qua thông
điệp của Thủ tướng vào đầu năm 2011: Chính phủ sẽ tập trung vào ổn định
kinh tế vĩ mô, thậm chí có thể chấp nhận giảm tăng trưởng. Đây là một quyết
định đúng đắn vì sự ổn định kinh tế sẽ mang lại lợi ích lâu dài. Tuy nhiên,
việc theo đuổi chính sách này sẽ đồng nghĩa với việc duy trì lãi suất ngân
hàng ở mức cao, theo dự đoán sẽ không thể thấp hơn mức lãi suất cuối năm
2010.
Năm 2011 sẽ không phải là năm dễ dàng đối với TTCK Việt Nam, nhưng so
sánh với năm 2010 thì sẽ thuận lợi hơn. Trước tiên, có thể khẳng định những
gì tồi tệ nhất đã qua: TTCK Việt Nam liên tục trải qua các đợt trồi sụt: trong
suốt năm 2006, VN-Index đã liên tục tăng điểm từ mốc 300 đến khi đạt kỷ
lục gần 1.200 điểm vào năm 2007; sau đó, trong suốt năm 2008, VN-Index
liên tục giảm điểm và đến đầu năm 2009, VN-Index tìm được đáy ở mức
241,9 điểm; đến tháng 11/2009, thị trường đạt điểm đỉnh mới ở mức 630
điểm và sau đó, trong gần 1 năm, thị trường luôn trong xu thế giảm điểm.
Thanh khoản của thị trường cũng tăng giảm thất thường: có những phiên
giao dịch chỉ vẹn vẹn trên 200.000 cổ phiếu và có thời điểm giao dịch trên
125 triệu cổ phiếu.
Trong năm 2010, thị trường được dẫn dắt bởi các cổ phiếu "làm giá"; các cổ
phiếu blue-chip có trị giá vốn hóa lớn, hoạt động kinh doanh ổn định lại
phần lớn trong xu thế giảm điểm. Trong thời gian trước năm 2010, khi dòng
tiền đổ vào TTCK chưa được kiểm soát chặt chẽ, các nhà đầu tư - đầu cơ
luôn sử dụng đòn bẩy để tạo cơ hội "làm giá" gây sóng gió cho thị trường.
Năm 2011, với chính sách tiền tệ được thắt chặt, các nhà đầu tư - đầu cơ sẽ


không còn nhiều cơ hội để "làm giá". Đây là thời điểm tốt đối với các nhà
đầu tư dài hạn với tiềm lực kinh tế thực sự. Tại thời điểm hiện tại, giá các
loại cổ phiếu tốt đã gần với giá trị thực và khá hợp lý, các nhà đầu tư dài hạn
có nhiều thời gian và cơ hội để thu gom các loại cổ phiếu có thực lực tốt với
mức giá hợp lý. Tuy nhiên, việc huy động vốn mới cho đầu tư chứng khoán
sẽ không còn dễ dàng như những năm trước, các nhà đầu tư sẽ phải trông
chờ vào nguồn vốn tự có của mình.
Dưới góc độ ngành nghề, các doanh nghiệp trong lĩnh vực xản xuất, xuất
khẩu các mặt hàng nông sản, thực phẩm và các ngành công nghiệp phụ trợ
trong lĩnh vực này sẽ tăng trưởng tốt liên quan đến việc điều chỉnh tỷ giá.
Bất động sản, ngân hàng sẽ không có đột biến do việc thắt chặt chính sách
tiền tệ, các công ty chứng khoán, quỹ đầu tư, các doanh nghiệp có tỷ trọng
đầu tư tài chính sẽ được hoàn dự phòng chứng khoán, doanh thu từ hoạt
động môi giới tăng của các công ty chứng khoán cũng sẽ tăng. Các ngành
còn lại sẽ không có sự đột biến.
Về thời gian, trong nửa đầu năm 2011, thị trường sẽ tiếp tục trong giai đoạn
lưỡng lự, chỉ số VN-Index và HNX-Index sẽ chủ yếu là đi ngang và tăng
nhẹ, thanh khoản sẽ tiếp tục duy trì như cuối năm 2011 và sẽ cải thiện dần.
Sang giai đoạn nửa cuối của năm 2011, thị trường sẽ có giai đoạn bứt phá,
Chính phủ sẽ dần cải thiện được sự ổn định, nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng
và lạm phát sẽ dần trong tầm kiểm soát. Chỉ số VN-Index, HNX-Index và
thanh khoản sẽ dần được cải thiện. Dự kiến VNIndex sẽ đạt hoặc vượt mốc
600 điểm vào cuối năm 2011, HNX-Index có thể đạt hoặc vượt mốc 200
điểm.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×