Tải bản đầy đủ

Nghệ thuật tuồng trong nội thất resort

ir
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT COÂNG NGHỆ
KHOA MỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP

Đ ồ ÁN TÓT NGHIỆP

NGHỆ THUẬT TUỒNG TRONG
NỘI THẤT RESORT
Chuyên ngành: thiết kế nội thâ't
Mã sô" ngành : 301

T H u f V âỆ ĩsl
TRƯỞNG BH KỸ THUẬT CÒNG NGriậ T? K • Ị

/1C •ÁOOTli^i

GVHD : ĐINH ANH TUẤN
SVTH

: HÒ THỊ HÒNG MẬN


MSSV .106301071
KHÓA : 2006-2010

TP HCM, ngày 07. tháng07.. năm 2010

h


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG
NGHẸ TP. HCM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHIỆM VỤ Đ ồ ÁN TỐT NGHIỆP
HỌ VÀ TÊN: Hồ THỊ HồNG MÂN
NGÀNH:
THIẾT KẾ NỘI THẤT

MSSV: 106301071
LỚP: 06DNT2

/. Đầu đề Đổ án tốt nghiệp . nghệ thuật tuồng trong không gian nội thât
2. Nhiệm vụ (yêu cầu về nội dung và số liệu ban đầu):
Thiết kế nội thất resort tuồng
thiết kế 3 không gian
Khu vực sảnh -khu nhà hàng -khu caphe
3. Ngày giao Đồ án tốt nghiệp ngày 22 tháng 03năm2010
4. Ngày hoàn thành nhiệm vụrngày 15 tháng 07 năm 2010
5. Họ tên người hướng dẫn
Thầy: ĐINH ANH TUẤN
Nội dung và yêu cầu ĐATN đã được thông qua Bộ môn.
TP.HCM Ngày tháng 07 năm 20ỉ 0
CHỦ NHIỆM BỘ MÔN
(Ký và ghi rõ họ tên)

PHẦN DÀNH CHO KHOA, BỘ MÔN

Người duyệt (chấm sơ bộ):

Đơnvị:.................. .................
Ngày bảo vệ...........................
Điểm tổng kết:.......................
Nơi lưu trữ Đồ án tốt nghiệp:

NGƯỜI HƯỚNG DẪN
(Ký và ghi rõ họ tên)


NHÂN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DÂN


LỜI CẢM ƠN

Để bài đồ án hoàn thành một cách tốt nhất, bản thân tôi rất cô" gắng. Nhưng
bên cạnh đó, sinh viên còn được sự truyền đạt, dẫn dắt của tất cả các thầy cô trong
ngành, đặc biệt Là Thầy Đinh Anh Tuân. Chính vì vậy, lời đầu tiên tôi xin cảm ơn
đên nhà trường và các thầy cô giáo đã tạo điều kiện tốt cho tôi học tập suốt 4 năm
qua (2006-2010).
Xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới giáo viên hướng dẫn đinh anh
tuân đã không ngại thời gian hướng dẫn nhiệt tình cho bài đồ án.
Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành
khóa học này.


LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do nghiên cứu đề tài
- Tuồng (hát bội hay hát bộ) - Một loại hình nghệ thuật sân khấu mang tính cồ
điển khá độc đáo của Việt Nam. Ngôn ngừ của tuồng là văn chương bác học kêt hợp
nhuần nhuyễn văn chừ Hán với văn nôm.
Kho tàng các vở diễn tuồng cổ ước có đến vài trăm nhưng lâu dân bị thât lạc phân lớn,
trong đó có thể kể vài vở đặc trưng như Sơn Hậu, Tam nữ đồ vương, Đào Phi Phụng,
Trưng nữ vưong... Tuồng đă trở thành vốn quý của sân khấu truyền thống và mãi mãi
là viên ngọc trong kho tàng văn hoá của dân tộc.
- Các bộ môn nghệ thuật truyền thống, trong đó có nghệ thuật tuồng đã mât dân
chồ đứng của mình, nhất là sau khi các loại hình nghệ thuật mới ở phương tây băt đâu
du nhập vào Việt Nam, chúng đã được lớp trẻ, lớp người mới đón tiếp một cách nồng
nhiệt. Cùng với nhịp sống văn minh đô thị, các loại hình nghệ thuật mới đã nhanh
chóng phát triển và lan toả về tận nông thôn, nơi mà trước đây người dân chỉ biêt
thướng thức các loại hình nghệ thuật truyền thống, đặc biệt là nghệ thuật tuồng, thì giờ
dây một bộ phận khán giả trẻ đã bắt dầu quay lưng dân với bộ môn nghệ thuật này.
Còn lớp người già khi hồi tưởng lại những dêm thâu di xem hát bội (tuồng)
Với tinh thần bao tồn di sản văn hoá dân tộc, gìn giữ tinh hoa vốn cô của ông cha, đặc
biệt là đối với bộ môn nghệ thuật truyền thống đã gắn liền với dân tộc qua bao thể kỷ.
2. ý nghĩa nghiên cứu :
- Tìm hiều và nghiên cứu Nghệ thuật Tuồng - một loại hình sân khâu độc đáo
của Việt Nam ấn chứa những giá trị văn hoá, tinh thần của dân tộc, nhừng giá trị nghệ
thuật mang tính chất bền vững, ta sẽ tìm thấy giá trị văn hóa của dân tộc ân chứa trong
bộ mồn nghệ thuật này
Hiện nav, nghệ thuật tuồng truyền thống của Việt Nam đang gặp nhiều khó
khăn trong việc phục hồi và phát triền, sinh viên muốn tìm hiểu vê bộ môn nghệ thuật
tuồng ,giá trị văn hóa dân nhằm bảo tồn và phát huy bộ môn nghệ thuật truyên thông
này trên tinh thần giừ gìn bản sác Văn hóa dân tộc, giừ gìn những cái hay cái đẹp do
cha ông để lại.

1


MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐÀU
1 Lý do nghiên cứu đề tài
2. ý nghĩa nghiên cứu
3. mục tiêu nghiên cứu
4 phương pháp nghiên cứu
I TÌM HIEU NGHỆ THUẬT TUỒNG
1. khái niệm
2. nguồn gốc
3 . Ba trường phái lớn trong hát bội là:
Tuồng Bình Đinh
Tuống Quảng Nam
Tuồng Gia Đinh
4 . Đặc điểm nghệ thuật tuồng
4. ]. sân khấu
4.2 Tính tượng trưng, ước lệ của nghệ thuật tuồng
4.3. hóa trang
4.4. dàn nhạc
4.5 Làn điệu, ca nhạc của tuồng
4.6 về cấu trúc kịch bản
II HƯỚNG NGHIÊN CỦG c ụ THỂ
1. Diện mao,nét mặt
2.. màu sắc

3. nét mặt
4. bàn tay
5. mặt nạ trong nghệ thuật Tuồng
6. Trang phục
7. hoạ tiết trang trí
III Ý TƯỞNG KHÔNG GIAN NỘI THẤT RESORT
1.hồ sơ kiến trúc
2. khu trung tâm
3. Khu nha hang
4. khu caphe
Kết luận


Ị.

TÌM HIÊU NGHỆ THUẬT TUỎNG

1.khái niệm
Tuồng hay còn gọi là hát bội là một trong nhưng loại hình nghệ thuật sân khâu,
tức là nghệ thuật tồng hợp gồm có cà vãn học, hội họa, âm nhạc, múa, trò diễn,... ; là
một trong những loại hình âm nhạc dân gian chuyên nghiệp, cũng như chèo, ca trù, cải
lương, hát văn, nhạc cung đình,... Riêng với tuồng lại là một trường hợp đặc biệt, do là
một loại hình nghệ thuật được giai cấp thống trị sử dụng vừa được nhân dân yêu mến,
do đó có lúc chỉ trong một lớp tuồng lại chứa đựng cả hai ý thức hệ đôi lập, chông chọi
nhau.
Sân khấu Việt Nam có ba bộ môn thịnh hành là hát bội, cải lương và thoại kịch.
Riêng hát bội là loại hình sân khấu cồ điển và đặc biệt, bởi: 1/ Nội dung luồng tích
phản ảnh lối sống theo luân lý Nho giáo, bài bản xưa, cho nên không phải người nào
xem hát bội củng hiếu; 2/ Nghệ thuật hát bội từ cảnh trí sân khấu, điệu bộ ca múa, vẽ
mặt vừa cường điệu vừa mang tánh "‘tượng trưng”, ấn dụ khiến người coi phải quan sát
tường tận, suy nghĩ và phải am tường nghệ thuật mới lãnh hội được
2. nguồn gốc
Có nguồn gốc từ Trung Quốc, được chính thức công nhận bởi triều đỉnh phong
kiến vào thời Hán Vũ Đế (140 - 86 trước công nguyên), Hát Bội đã truyền vào Việt
Nam

theo

chân

các

đoàn

quân

xâm

lược trong

thời

kỳ

Băc

thuộc.

Thời kỳ Việt Nam độc lập vào thế kỳ thứ X, triều nhà Lý, đến nhà Trần nước ta phát
triền rực rờ về chánh trị, học hành, xã hội và hát bội chắc sẽ phát triên vào lúc này.
Hát bội thời nhà Lý cũng như Hát Chèo, chi ỉà trò chơi ca múa giải trí và tự phát trong
dân gian. Khi hát bội vào đến cung đình thì có xiêm y rực rỡ, có nội dung hỉ, nộ, ái,
ố... và tuồng tích rồ nét.
Cứ như thé hát bội ở nước ta phát triển song hành làm 2 dòng: dân gian và cung
đình, tương tác nhau, bồ sung nhau đưa nghệ thuật hát bội phát triển đến thời Hậu Lê.
Đến năm 1437 vua Lê Thái Tông (1437-1442) ra lịnh đuổi hát bội ra khỏi cung
đình.
Năm 1462 vua Lê Thánh Tông còn định ra lê cấm con nhà hát bội, tuồng, chèo,
ả đào không được đi thi, và ông Đào Duy Từ nằm trong trường hợp này.
Do đó hát bội chỉ còn tồn tại trong dân gian và hoạt động không công khai. Nên
mới có câu ca dao “Trồng trầu, trồng lộn với tiêu/ Con theo hát bội, mẹ liều con hư!”
3


như vậy hát bội nguồn gốc cua Việt Nam, sau nầy lấy thêm “điệu múa”, nhạc của
Trung Hoa từ thế kỳ XIII. Hát bội bị suy tàn ở đàng Ngoài và phát triển manh ờ đàng
Trong nhờ Đào Duy Từ.
Nguyễn Hoàng vốn có ý muốn “dời đồi phong tục” (Phan Khoang, Lịch sử
Đàng Trong) nên đến khi Đào Duy Từ chạy vào Nam, được chúa Sãi Nguyền Phúc
Nguyên (1613-1635 thâu dùng cử làm Nội Tán. Đào Duy Từ (1572 -1634) vốn thông
minh, giòi thơ vãn, binh thơ đồ trận, nhưng vì thân phụ ông là Đào Tá Hán xuất thân
nghề ca hát nên ông bị Hiến Ty Thanh Hóa không cho thi Hương.
Những người theo Đào Duy Từ, trong đó có bà con vốn theo hát bội, vào định
cư ở phủ Hoài Nhơn Bình Định, thâu nhận một số người địa phương lập gánh hát. Đào
Duy Từ cố ý dạy dân hát theo giọng địa phương và ca hát kéo dài ra làm cho khác lối
ca ngắt câu “ví ư, í ư” như lối ca hát bội của Lê Trịnh ở Bắc.

Đến năm 1404 Lý Thái Tông đi đánh Chiêm
«4 ’

í

{ *•&"S> ,iÀI

I

I ,*r

v' ;

m

Thành bắt được nhiều hầu thiếp của vua Chiêm là Xạ
Đấu, đem về xây nhà riêng cho ờ và truyền họ múa hát
cho vua xem từ đó hát bội mang ảnh hưởng Chàm.
(Theo Việt Nam Sư Lược của Trần Trọng Kim)

Đến năm 1679 các tướng Minh như Dương Địch Ngạn, Hoàng Tiến, Trần
Thượng Xuyên được Chúa Nguyền cho tị nạn ở Mỹ Tho, Biên Hòa; rồi đến năm 1708
Mạc Cửu dâng đất Hà Tiên cho Chúa thì nghệ thuật hát Tiều, hát Quảng của người
Hoa ảnh hưởng lên hát bội Việt Nam đồng thời và làm cho tánh chất Chàm mờ đi rất
nhiều.
Năm 1698 Nguyễn Hừu Cảnh đật nền móng cho Đông Phố, Gia Định, Biên
Hòa, rồi đất Lục Tỉnh thuộc về chúa, nhưng văn hóa Chân Lạp (Miên) không đề lại
dấu vết nào trong nghệ thuật hát bội Việt Nam.
Hát bội Việt Nam vào đàng Trong phát triển mạnh, về nghệ thuật khởi đầu chịu
ảnh hưởng người Chàm qua điệu “hơi Nam” nghe u buồn, uẩn ức, tâm tình thương
cảm... rồi cuối cùng tiếp nhận hát Tiều, hát Quảng qua “hơi Khách” nghe vui tươi,
trong sáng và huy hoàng làm nê hát bội Việt Nam.
Riêng ở Binh Định hát bội tạo riêng cho mình sắc thái đặc biệt trở thành cái nôi
của hát bội miền Trung.
4


Hát bội Bình Định cũng gốc từ Đào Duy Từ cải biến từ Hát Chèo ngoài Bắc với
lối hát của Chiêm Thành. Đến thời Tự Đức hát bội Bình Dịnh được Đào Tấn xây đựng
nặng phát triển hướng về “trí thức - cung đình” văn chương bác học.
Đào Tấn (1845-1917) người Bình Định. Đỗ Cử nhân, làm quan đến hiệp tá đại
học sĩ, có tiếng là người thanh liêm và công bình.
Tương truyền rằng thuở xưa Đào Tấn có mở trường dạy hát bội tại quê ông lấy
tên là “Học bộ đình”. Đào Tấn là người có cồng sáng lập và phát triền hát bội Bình
Định lên đến “tuyệt đỉnh về nghệ thuật cùng như văn chương” và những kép hát nổi
tiếng thời Đào Tấn đều được phong tặng phẩm hàm. (Theo Quách Tấn, Nước Non
Bình Định)
Đào Tấn còn là người soạn nhiều tuồng hát bội hay được lưu truyền về sau như
tuồng Trầm Hương, Tân Dã, cổ Thành, Hoàng cổ, Vạn Bửu Trình Tường, Quần Tiên
Hiến Thoại, Tứ Quốc Lai Vương... Các tuồng ông nhuận sắc như Hồ Sanh, Khuê Các
Anh Hùng, Sơn Hậu, Hoàng Phi Hồ...
Hát bội Bình Định xưa cũng hát trong đình, miếu hoặc tại tư gia. Rạp dựng tạm,
sân khấu “không có gì hết” ngoài bộ ván, cỏ tấm vải che hậu trường làm phông, trên
có đôi liễn. Người coi hát chỉ quan tâm đến điệu bộ hơn là ca trúng hay trật khen chê
tùy tùy theo người cầm chầu.
Người Bình Định rất mê hát bội và sau nấy có nhiều người trở thành đào kép
cải lương. Vua Tự Đức và Thành Thái cũng rất mê hát bội. Hát bội Bình Định bắt đầy
suy tàn sau khi Đào Tấn chết.

5


Ngày xưa, Hát Bội đã có sằn một lượng khán giả khống lồ ở khắp các làng quê,
và cà thành phố, vì nơi đâu có đình là có Hát Bội, quanh năm không sợ ế. Do bước
ngoặt chiến tranh, tất cả im ắng xuống. Rồi công nghệ giải trí hiện đại, phim ảnh...
xuất hiện. Một lần nữa đánh bật môn nghệ thuật cổ truyền này. Nhiều gánh hát tan rã,
diỗn viên bỏ nghề tìm đường mưu sinh, số người tâm huyết thì về nhừng địa phương
xa nơi mà các phương tiện giải trí còn thiếu thốn, và vẫn còn những khán giả trung
thành say mê.
Gần 10 năm nay, khi các lễ hội được phục hồi thì Hát Bội mới lại sống dậy
mạnh mẽ. Bây giờ dân Nam Bộ có đến hai mùa chầu trong năm, chứ không chỉ là một
mùa nữa, đó là thượng ngươn vào tháng hai, tháng ba, và hạ ngươn vào tháng mười,
tháng mười một âm lịch, nên các đoàn, các gánh lại có thể nhớ về lúc vàng son đã qua.
Hát Bội hiện đại cũng có hẳn sân khấu nhà hát đàng hoàng, cũng lên chương trình
truyền hình, cũng làm live show đi khắp nơi
3. Ba trường phái lớn trong hát bội là:
1. Tuồng Bình Định
2. Tuồng Quảng Nam
3. Tuồng Gia Định
4.

Đặc điểm nghệ thuật tuồng

1 Sân khấu
-Về cảnh trí sân khấu hát bội rất đơn giản “không có gì hết. Đó có thể là bộ ván, cái
sạp bằng gỗ trên có trải đệm hoặc chiếu bông, cũng có thể là “tiền đình của cái đình”...
không đu lớn và đủ cao, khán giả ngồi xa không trông thấy được.
Mọi cảnh trí bày ra trong cái không gian gọi là sân khấu đó đều đơn giản
“nghèo nàn tầm thường” mang tánh ước lệ, tượng trưng. Yếu tố thời gian và không
gian không được ghi trên tấm báng “ 10 năm sau” hay “đây là từng núi”... như sân khấu
cổ thời Shakespeare.
2. Tính tượng trưng, ước lệ của nghệ thuật tuồng
Tuồng thuộc dòng sân khấu tự sự phương Đông. Phương thức phản ánh đã đé ra
thủ pháp và phương tiện biếu diền Tuồng. Trong quá trình tái hiện cuộc sống Tuồng
không có xu hướng tả thực mà chú trọng lột tả cái thần. Tả thần là biện pháp nhằm lột
tá cái cốt lỗi cơ bản, không đi sâu vào những chi tiết vụn vặt khi những chi tiết ấy
không gây được hiệu quả nghệ thuật. Để lột tả được cái thần của nhân vật Tuồng dùng
6


thủ pháp khoa trương cách điệu. Tất cả nhừng lời nói, động tác hình thề sự đi lại trên
sân khấu Tuồng đều dược khoa trương và cách điệu đề trở thành những điệu hát, điệu
nói, điệu múa có nguyên tắc và niêm luật cụ thể.
Nghệ thuật Tuồng, với cách hoá trang tạo diện mạo cho nhân vật, không có gì
là tả chân, mà hoàn toàn tượng trưng. Người diền viên, ngoài khả năng ca xướng, vũ
đạo, diễn xuất, còn phải biết vẽ mặt mình, khi thủ bất cứ vai nào. Nhờ những gương
mặt được hoá trang, khán giả biết ngay tâm lý, tính cách, giai cấp xã hội của nhân vật,
khi mới vừa thấy diễn viên bước ra sân khấu
Tuồng còn dùng thủ pháp biểu trưng ước lệ nghĩa là thủ pháp lấy chi tiết để
thay cho toàn thể cuốn hút khán giả cùng tham gia vào sự tưởng tượng và sáng tạo của
người diền viên. Không gian và thời gian được gói gọn trong những câu hát, động tác
múa với những đạo cụ thô sơ... nhờ đó mà khán giả có thể tưởng tượng ra núi, sông,
sáng sớm, chiều hôm, trận mạc, đi ngựa, xuống thuyền...
Đạo cụ trên sân khấu Tuồng cũng mang đầy tính ước lệ
3 hóa trang
Vẽ mặt không phải như hóa trang ngày nay, mà màu sắc rất sặc sỡ như đò tươi,
đen sậm, tráng bạch... nói lên tánh tình của nhân vật. Tất cả cũng phải theo nguyên tắc
“tượng trưng” của hát bội.
4 dàn nhạc
Dàn nhạc dùng trong hát bội gồm có nhừng nhạc cụ như:đồng la, kèn dờn cò và
có khi ống sáo. Dàn nhạc được đặt bên tay phải sân khấu (từ trong nhìn ra). Tav phải
ứng với cửa "sinh” trong khi bên trái là cửa "tử".
5.Làn điệu, ca nhạc của tuồng

về phần ca diễn, Tuồng có nhừng lối hát xướng như :
- Nói Lố gồm Nói Lối Tuồng (đào kép xưng tên), Nói Lối Bóp (hai tướng địch gặp
nhau), Nói Lối Dặm (gần như nói thường)...
- Thán, ngâm cũng là hình thức xướng gồm : Thán Nhớ, Thán sầu, Thán Chết, Thán
Hận (diền viên hay thán trước khi Hát Nam)...
- Hát nam gồm Nam Xuân (sửa soạn lên đường), Nam Ai, Nam Thương (cho những
vai buồn), Nam Thiên (dành riêng cho nhà sư), Nam Hồn (riêng cho hồn ma), Nam Đi,
Nam Chạy (cảnh loạn lạc, hoạn nạn)...

7


- Hát khách (thơ chữ Hán) gồm: Khách Thường (tướng ra trận hay đi tuần tiễu),
Khách Phú (hát đối đáp, hàn huyên), Khách Tẩu (rượt giặc hay có chuyện cấp bách),
Khách Tử (khi tướng tử trận, nhân vật sắp chết)...
Ngoài ra, một số điệu vặt được dùng trong Tuồng như điệu Lý (dành cho vai người
Thượng Du), điệu Giá Ban, điệu Quỳnh Tương
Điệu hát
Ngôn ngữ ca ngâm thì dùng giọng thật to, thật cao và rồ. Điệu hát quan trọng
nhất trong hát bội là "nói lối", tức là nói một lúc rồi hát, thường để mở đầu cho các
khúc hát khác. "Nói lối" có hai giọng chính là "Xuân" và "Ai". "Xuân" là giọng hát vui
tươi, còn "Ai" là bi thương, ảo não. Nói lối giọng Ai còn được gọi là "lối rịn". Ngoài ra
còn có những "lối hằng", "lối hường", "lối giậm". Hát thì cỏ nhừng điệu "Nam",
"Khách", "thán", "oán", và "ngâm".
6.

về cấu trúc kịch bản:
Câu chuyện được trình bày có đầu có đuôi và theo trật tự thời gian phát triển

của nó.

về mặt này nó giống như những câu chuyện cổ tích dân gian. Kịch bản được

viết dưới dạng là kể một câu chuyện đã xày ra
Mồi kịch bản thường được chia ra làm ba hồi. Hồi I nói chung là giao đãi hoàn
cảnh và nhân vật chủ yếu, nêu ra mâu thuần cơ bản của kịch. Hồi thứ II, xung đột nồ
ra quyết liệt, phe đối lập đánh đồ phe chính diện và tạm thời chiếm ưu thế; tình huống
kịch ờ hồi này rất phứuc tạp và rắc rối. Hồi III xung dột lên cao trào, đấu tranh giữa
hai phe đi đến quyết liệt cao độ rồi giải quyết cuối cùng bằng sự thắng lợi của phe
chính nghĩa.

8


II. Hướng nghiên cứu cụ thề:
I. Diện mao,nét mặt

Nét mặt thường thể hiện nội tạng và nội tâm của con người. Nét mặt là một yếu
tố quan trọng đế diễn tả tình cảm của một nhân vật trẽn sân khấu.
2. .màu sắc
Trước tiên là màu nền da mặt, nói lên các tính khí, tính chất xã hội, sắc thái tâm lý của
nhân vật.
Màu đò son hay đỏ ngân: người anh hùng, trung trinh tiết liệt (Quan Công, Cao Hoài
Đức, Địch Thanh...).
Màu trắng mốc: ké gian thần dua nịnh (Bàng Hồng, Đổng Trác, Tào Tháo...).
Màu đen: người chất phác, bộc trực, nóng nảy, nhưng ngay thẳng và chân thực
(Trương Phi,

9


Màu xám dợt: người tuổi tác, ké bần dân (lão chài, lão tiều...).
Màu xanh: người mưu mô xào quyệt, lũ yêu ma (Ngô Tôn Quyền, Cáp Tô Văn...).
Màu xanh chàm: tướng núi, người miền biền (Vương Bá Đường, Đơn Hùng Tín...).
Vẽ vòng quanh mắt cũng có nhiều loại:
Mắt tròng xẻo: kép võ còn trẻ (con nhà tướng).
Tròng trứng: võ tướng.
Tròng táo: tướng đứne tuổi.
Tròng lõa: lão tướng.
Mặt vẽ nhiều nét rằn ri: gười hung ác, tướng cướp, yêu đạo.
1 rên trán có vẽ thêm 1 con mắt: người có huệ nhãn, nhìn xa biết rộng, thông thiên đạt
địa (Thái sư Vân Trọng).
Trên trán vẽ vòng tròn trắng đỏ chia đôi là âm dương (nhật nguyệt): người sáng suốt,
thông giao trời đất, soi rọi những oan ức của mọi người (Bao Công).
Ngoài ra, các nhân vật nguyên là cầm thú thành người, nét mặt vẽ theo nét cầm thú:
mặt khỉ (Tôn Ngộ Không, Hầu Ân), mật rùa (các Tả đạo bàng môn) mặt chim (Lý
Nguyên Bá, Tiết Quỳ...) Chân mày cũng mang tính cách nhân vật...
Mày tằm, lười mác: Khách trượng phu, người anh hùng.
Mày đoản (ngắn, gãy khúc): kẻ gian xảo, trí trá.
10


Mày rô: ké nịnh thần.
Mày lửa (có viền đò): người nóng tính.
Hàm râu cũng có đặc tính: Râu ba chòm, năm chòm (đen, bạc) dài, suôn đuột: người
đôn hậu, trầm tĩnh, quí phái.
Râu đen xoắn: người nóng tính, dữ dàn. Râu cắt (đen, đỏ): người có tính khôi hài, dễ
dãi, hay đùa cợt.
Râu liên tu đen: ké gian nịnh. Râu liên tu bạc: lão tướng anh hùng.
Râu liên tu đỏ: tướng phản phúc, yêu đạo, phù thuỷ.
Râu ngắn, ba chòm (bạc, đen): người dân thường, lão chài, lão tiều...

Râu chuột (ngực ngoắt khi nói chuyện): kẻ liếng thoắng, người bộp chộp.
Râu dê, râu vẽ: các vai hề giễu, những tay học trò dốt đi thi, công tử ve gái.

3. nét mặt
- Nét ngang diễn tả nét mặt bình thản, không buồn cũng không vui.
-. Nét dấu * diền tả nét mặt đang buồn.
- Nét dấu v diễn tả nét mặt đang vui.

11


4.

bàn tay

12


khái niệm về vấn đề vẽ mặt của Hát bội đại khái như sau liên quan đến tuồng Sơn Hậu
như sau:
Mặt mẩu đỏ là loai kép văn pha vỏ trung trinh như Kim Lân.
_ Trong nghệ thuật hóa trang, nhiều nhân vật kép võ chính diện vùng mắt được vẽ
hình con chim bay, đầu chim ở khóe mát, giáp sống mũi, cánh chim lấp cả lông mày,
xếch lên thái dương và cánh kia dưới m ắt, xếch lên bên trên tai, tạo thành những tròng
tréo.
'/ hàn

'Vịnh

Comi

'ìạ On 'Vinh

'h\hỉi'ổttiị 'Jíi Linh

'Vèntị 'Kim Làn

6. .Trang phục

13


7. . họa tiết trang phục :

14


8. M àu sắc cổ

III ỨNG DỤNG Ý TƯƠNG VÀO KHÔNG GIAN
1. hồ sơ thiết kế

UÀT BẰKG QLY HOACH TỗNG THỂ

’Viívat

Mặt băng tông thê

Resort là một nơi dành cho thư giản hoặc giải trí. Con người có xu hướng tìm ra một
nơi nghỉ dưỡng cho nhừng ngày lễ hoặc nhừng kì nghĩ. Thông thường, một khu nghi
dưỡng thường được đi bởi một công ty đơn lẻ mà họ cố gắng chuẩn bị đầy đủ mọi thứ
hoặc hầu hết những người đi nghỉ có mong muốn trong thời gian đi nghỉ ở đó có đầy
đủ tiện nghi,phục vụ họ một cách chu đáo,và một cảm giác Thiên đường .sảng khoái.

15


2 ,K hu trung tâm

Với không gian theo lôi kiên trúc cổ,vật liệu chủ yếu là gỗ tạo nên một sự ấm cúng ,
nhã nhặn,nhác ta nhớ tới một hoài cồ xa xưa nào đó.kết hợp lối kiến trúc cổ với hiện
đại , không gian có gì đó bí ẩn,không gian phòng chờ là sự nối tiếp giữa thế giới bên
ngoài ôn ào với không gian khá yên bình khi bước chân vào resort này.

16


Không gian có nhều họa tiết cổ,cửa sổ được làm bằng các thanh cấu tạo từ chữ
thọ.quầy tiếp tân cũng được lấy theo chuồi chừ hán.
Nối bật là những chiếc mật nạ dùng làm vật trang trí.làm không gian trở nên lung
linh,huyền hoặc,mơ hồ như trong một thế giới khác.nó dã truyền tải được phần nào ý
nghĩa của thế giới nghệ thuật tuồng trong không gian.
Giấy dán tường cũng mang lại cho ta càm nhẹ nhàng,thanh tịnh,với những đường nét
hoa văn cồ.
Màu sắc quyết định rất lớn tạo khỏng gian ấm áp,yên bình, mát mẽ.màu sắc của mỗi
chiếc mặt nạ cũng sẽ làm thay đổi tính cách của nhân vật.
Màu nâu đỏ tượng trưng khí tiết người anh hùng.
Thì trong không gian nội thất màu nâu đỏ làm không gian trở nên ấm cúng,thân thiên.

17


3. khu nha hàng

Màu săc chủ đạo vần là màu nâu đỏ,không gian trở nên ấm cúng
1 rong tuồng lá cờ đóng một vai trò quan trọng là sự hào hùng của dân tộc.khung tranh
được xêp thành nhiều lớp với nhiều cấp độ màu khác nhau.

I rần nhà cũng vậy,như nhừng ngọn cờ đang tung bay của người anh hùng tráng kiệt.

18


4 K hu caphe

19


Ọuạt là một trong những dụng cụ không thế thiếu,nó thay thế làm vật tượng trưng
cho những dụng cụ khác khi người nghệ sĩ vừa múa vừa hát có khi nó tượng trưng là
tay lái chèo,con ngựa,cái ô.......
Vật liệu tre ,giấy được sử dụng trong bài làm không gian mang hơi thở hồn quê,nhẹ
nhàng thanh thoát hơn.

T H

u

v T ẹ N

i:" H É TP.HCIA
mĩ-.. THw
U'.~
.ic i c ư i í 'ĩ//

trường£*

20


Kết luận
Tuồng còn gọi là hát bội, hát bộ hay luồng tuồng, bộ môn nghệ thuật cố điển và bác
học bậc nhất Việt Nam, là một loại văn nghệ trình diễn cổ truyền ờ Việt Nam, phát
triển từ loại hình sân khấu dân gian của văn học Việt Nam, được hình thành trên cơ sở
ca vũ nhạc và các trò diền xưởng dân gian vốn có từ lâu đời và rất phong phú của dân
tộc Việt Nam. Đến cuối thế kỷ XVIII, Tuồng đã phát triển một cách hoàn chỉnh về mọi
mặt từ kịch bản văn học đến nghệ thuật biểu diễn, ngàv nay môn nghệ thuật này vần
dược coi là “quốc hồn, quốc túy” của người Việt, sánh như Kinh kịch của Trung Quốc
hay kịch Noh của Nhật Bản.niềm tự hào của dân tộc viêt.
Vậy nên, việc quan trọng là định hướng bảo tồn phát triển tuồng cần giữ gìn và phát
huy môn nghệ thuật dân tộc.và nó sẽ được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhiều
hơn nữa.đề cho mồi người trong chúng ta có nhiều hiểu biết,yêu mến môn nghê thuật
này.
Với sự hiểu biết có hạn về môn nghệ thuật Tuồng sinh viên gặp rất nhiều trờ ngại và
hạn chế.không thể đưa ra hết được nhừng đặc tính của Tuồng nhung vẫn mong muốn
đưa tiếng nói của Tuồng vào không gian nội thất của mình với mong muốn khám phá
giá trị đặc sắc trong nghệ thuật tuồng trong không gian resort, ứng dụng được trong
thiết kế kiến trúc và vật dụng.
Tìm ra sự mới lạ trong không gian tuồng cổ.hi vọng sẽ góp phần nhỏ bé của mình
trong công cuộc bảo tồn giá trị vãn hóa dân tộc.

21


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×