Tải bản đầy đủ

bài thảo luận pttttc những biến động của thị trường vốn dài hạn ở việt nam những tháng đầu năm 2011

Bài thảo luận
môn:phân tích thị trường tài chính.
Họ tên:Trần Thị Hoài
Nhóm 4 ca 1


Nội dung:

Những biến động của thị trường vốn
dài hạn ở Việt Nam những tháng đầu
năm 2011.


1-Những vấn đề nổi bật của nền kinh
tế thế giới tác động đến thị trường vốn
Việt Nam năm 2011








Tình hình kinh tế thế giới những tháng
đầu năm 2011 có những diễn biến hết sức
phức tạp và chịu tác động sâu sắc của :
Các biến động chính trị ở Bắc Phi, Trung
Ðông
Thảm họa độngđất, sóng thần ở Nhật
Bản.
Khủng hoảng nợ công phủ bóng đen lên
khu vực châu Âu.


Tình hình thế giới:
Động đất hồi tháng 3 ở
Nhật Bản

Tác động đến thế giới:


Chỉ sau một tuần xảy ra
thảm họa tại Nhật Bản,
chứng khoán thế giới chịu
thiệt hại khoảng 1.600 tỷ
USD, trong khi đó xu hướng
rút vốn khỏi thị trường
chứng khoán của các nước Arập vẫn tiếp tục diễn ra. Còn
tại các thị trường mới nổi ở
châu Á, nhà đầu tư đã rút
gần 25 tỷ USD trong quý I2011 (mức cao nhất kể từ
quý III-2008); Thị trường trái
phiếu quốc tế cũng bị tác
động khi Nhật Bản phải cơ
cấu lại việc nắm giữ loại tài
sản này để tập trung nguồn
lực tài chính tái thiết đất
nước.


Tình hình thế giới

Bất ổn chính trị ở Trung
Đông và Bắc Phi

Tác động:


Lạm phát đang trở
thành mối lo hàng đầu
của tất cả các quốc
gia, khi mà chỉ số
chung của các loại
hàng hóa nguyên liệu
thô đã tăng 8% chỉ
trong vài tháng do ảnh
hưởng từ các chương
trình nới lỏng tiền tệ
của nhiều nền kinh tế
lớn trong năm 2010 và
tình hình bất ổn chính
trị tại Bắc Phi, Trung
Ðông.


Khủng hoảng nợ công ở châu Âu.




Trong bối cảnh kinh tế thế giới đang chuyển từ
trạng thái tăng trưởng yếu sang lạm phát cao,
nhiều nước đã phải thay đổi lại chính sách kinh
tế theo hướng chuyển mục tiêu thúc đẩy tăng
trưởng sang tập trung ổn định kinh tế vĩ mô,
kiềm chế lạm phát; với những biện pháp chủ
yếu như: Thắt chặt chính sách tiền tệ thông qua
nâng lãi suất cơ bản, tỷ lệ dự trữ bắt buộc……….
Những chính sách có tính chất thắt lưng buộc
bụng và thắt chặt tiền tệ của các nước sẽ khiến
cho nền kinh tế thế giới tăng trưởng chậm lại
trong ngắn hạn; lạm phát sẽ được kiểm soát
nhưng chỉ trong trường hợp không gặp bất lợi
từ giá dầu và giá lương thực, thực phẩm; và tại
một vài nước, những khó khăn về kinh tế sẽ là
yếu tố để chuyển hóa thành những bất ổn về
chính trị - xã hội.


Chịu ảnh hưởng của cuộc khủng
hoảng nợ châu Âu, chiến tranh tại
Libya và động đất tại Nhật Bản thị
trường chứng khoán Việt Nam đã
phải chịu ảnh hưởng và phản ánh
những khó khăn, bất ổn của nền
kinh tế vĩ mô. Đồng thời, cũng
chịu những tác động trực tiếp của
chính sách tiền tệ thắt chặt, đặc
biệt là chủ trương cắt giảm tỉ lệ
dư nợ tín dụng phi sản xuất trên
tổng dư nợ của ngành Ngân hàng
xuống 22% đến ngày 30/6/2011
và 16% đến ngày 31/12/2011.


Xu hướng suy giảm của thị trường chứng
khoán chiếm ưu thế trong 7 tháng đầu năm
2011. Mặc dù thị trường cũng chứng kiến
một đợt hồi phục kỹ thuật của thị trường từ
ngày 25/5 đến 15/6 nhưng do không được
ủng hộ của các yếu tố kinh tế vĩ mô cơ bản
nên thị trường tiếp tục đi xuống. Đặc biệt,
gần đây có những phiên giao dịch tại HSX và
HNX khối lượng giao dịch nhiều cổ phiếu rớt
xuống mức thảm hại dưới 100 cổ phiếu trong
1 phiên giao dịch. Thị trường OTC và UPCOM
cũng hầu như bị đóng băng với khối lượng
giao dịch rất ảm đạm, không đáng kể.




Theo số liệu của Ủy ban Giám sát
Tài chính Quốc gia, vốn hóa thị
trường cuối tháng 6/2011 đạt
686.000 tỉ đồng, giảm 40.000 tỉ
đồng so với cuối năm 2010, mức
vốn hóa so với GDP giảm xuống
36% từ mức 39% cuối năm 2010.
Tính đến ngày 22/7 có 200/284 cổ
phiếu niêm yết tại HSX và 309/383
cổ phiếu niêm yết tại HNX có giá
dưới giá trị sổ sách, 107/284 cổ
phiếu niêm yết tại HSX và 214/383
cổ phiếu niêm yết tại HNX có giá
dưới mệnh giá 10.000VND. 6 tháng
đầu năm 2011, vốn huy động qua
phát hành thêm cổ phiếu chỉ đạt
4.500 tỉ đồng, tương đương 16%
và vốn huy động qua đấu giá cổ
phần hóa đạt 560 tỉ đồng, bằng
68% so với cùng kỳ năm trước.
Trong khi đó, nhà đầu tư nước
ngoài đang có xu hướng bán ròng


Tình trạng trên đã khiến một vài công ty
xin hủy đăng ký niêm yết hoặc đang dự
định rút niêm yết khỏi thị trường chứng
khoán. Hiện tượng trục lợi trên thị trường
chứng khoán bùng phát và ngày càng tinh
vi với quy mô lớn, mức độ nghiêm trọng
hơn. Số liệu báo cáo tài chính sai lệch
nhiều, doanh nghiệp cố tình “thổi phổng”
lợi nhuận hoặc che dấu bớt lợi nhuận
cũng gia tăng… Thị trường chứng khoán
ngày một xấu và chưa thấy có điểm tựa
khởi sắc.


bất ổn lãi suất
và tỷ giá


Doanh
nghiệp

Nguy cơ lạm phát tiếp tục cao đồng nghĩa với lãi suất
và tỷ giá tiếp tục bất ổn định và khó có thể giảm nhanh
trong thời gian tới. Các doanh nghiệp tiếp tục phải
gồng mình trước sức ép về lạm phát, về rủi ro lãi suất
và tỷ giá khi chính sách tiền tệ tiếp tục được thắt chặt,
cùng với đó, sự thay đổi chóng mặt của giá vàng đã
bắt đầu rục rịch kéo theo sự chuyển dịch của tỷ giá.
Có thể thấy rằng những rủi ro về lãi suất và tỷ giá có
thể còn sẽ kéo dài và ảnh hưởng đáng kể đến hoạt
động của doanh nghiệp và để trụ vững và tận dụng tốt
nhất những cơ hội đang có nhằm tạo đà cho năm 2012
vốn được dự đoán là rất khó khăn trong bối cảnh
chung.


Việc huy
huy động
động qua
qua cổ
cổ phiếu
phiếu trong
trong điều
điều kiện
kiện thị
thị trường
trường chứng
chứng khoán
khoán
Việc
hiện nay
nay đã
đã trở
trở nên
nên hết
hết sức
sức khó
khó khăn
khăn do
do giá
giá chứng
chứng khoán
khoán giảm
giảm liên
liên
hiện
tục, thực
thực tế
tế này
này đã
đã buộc
buộc các
các doanh
doanh nghiệp
nghiệp phải
phải huy
huy động
động thông
thông qua
qua
tục,
vay nợ
nợ ngân
ngân hàng
hàng hoặc
hoặc các
các công
công cụ
cụ nợ
nợ khác
khác (bao
(bao gồm
gồm trong
trong nước
nước
vay
và nước
nước ngoài),
ngoài), trong
trong đó
đó vay
vay nợ
nợ ngân
ngân hàng
hàng chiếm
chiếm tỷ
tỷ lệ
lệ khá
khá lớn.
lớn.

Khảo sát
sát không
không chính
chính thức
thức và
và thực
thực tế
tế cho
cho thấy,
thấy, các
các doanh
doanh nghiệp
nghiệp
Khảo
Việt Nam
Nam có
có cấu
cấu trúc
trúc tài
tài chính
chính dựa
dựa vào
vào vốn
vốn ngân
ngân hàng
hàng khá
khá nặng
nặng nề,
nề,
Việt
bao gồm
gồm cả
cả vốn
vốn trung
trung và
và dài
dài hạn.
hạn. Tỷ
Tỷ trọng
trọng vốn
vốn tự
tự có
có của
của doanh
doanh
bao
nghiệp trong
trong nguồn
nguồn vốn
vốn kinh
kinh doanh
doanh ở
ở doanh
doanh nghiệp
nghiệp rất
rất thấp,
thấp, phần
phần
nghiệp
còn lại,
lại, 80-90%
80-90% là
là vốn
vốn vay
vay từ
từ ngân
ngân hàng
hàng hay
hay từ
từ các
các tổ
tổ chức
chức tài
tài chính.
chính.
còn
Với nguồn
nguồn vốn
vốn hoạt
hoạt động
động của
của doanh
doanh nghiệp
nghiệp phần
phần lớn
lớn là
là vốn
vốn vay
vay
Với
ngân hàng
hàng (dựa
(dựa vào
vào vốn
vốn tín
tín dụng
dụng ngân
ngân hàng)
hàng) như
như vậy,
vậy, nên
nên kết
kết quả
quả
ngân
hoạt động
động của
của doanh
doanh nghiệp
nghiệp phụ
phụ thuộc
thuộc rất
rất nhiều
nhiều vào
vào lãi
lãi suất
suất ngân
ngân
hoạt
hàng và
và khả
khả năng
năng đáp
đáp ứng
ứng vốn
vốn của
của NHTM.
NHTM. Thông
Thông điệp
điệp của
của Chính
Chính
hàng
phủ gần
gần đây
đây đã
đã phát
phát đi
đi về
về tiếp
tiếp tục
tục chính
chính sách
sách thắt
thắt chặt,
chặt, thận
thận trọng...
trọng...
phủ
báo hiệu
hiệu rằng,
rằng, vấn
vấn nguồn
nguồn vốn
vốn từ
từ khu
khu vực
vực ngân
ngân hàng
hàng sẽ
sẽ tiếp
tiếp tục
tục khan
khan
báo
hiếm và 
và  chắc
chắc chắn
chắn sẽ
sẽ là
là vấn
vấn đề
đề trung
trung hạn,
hạn, trong
trong vài
vài năm
năm nữa.
nữa.
hiếm



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×