Tải bản đầy đủ

Bài thảo luận môn phân tích tài chính phân tích các yếu tố tác động đến thị trường chứng khoán

Phân tích các yếu tố tác động đến:
6. thị trường Chứng khoán tổng hợp(Hợp đồng hoán đổi; Các chứng khoán
cơ bản được sử dụng để hình thành chứng khoán tổng hợp;Chứng khoán lựa
chọn và giao sau tổng hợp)
Các nhóm đưa ra các yếu tố tác động đến các thị trường (gồm các yếu tố cơ
bản: lãi suất, lạm phát, tình hình kinh tế,tâm lý, thời tiết…) qua đó đưa ra
các ý kiến xem trong thời điểm hiện nay nên đầu tư vào thị trường hay
không? đầu tư vào loại hàng hóa nào trong thị trường? nếu là nhà đầu tư và
có đủ vốn (tự đưa số vốn) thì sẽ đầu tư trong thị trường này thế nào

Bài làm
Đinh Thiện Hiếu
I.

CÁC NHÂN TỐ RỦI RO ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIÁ CHỨNG

KHOÁN
1.

Rủi ro về kinh tế:


Sự phát triển của nền kinh tế thường được đánh giá thông qua tốc độ tăng trưởng GDP, sự
biến động về lạm phát, lãi suất hay tỷ giá hối đoái,... Các yếu tố rủi ro mang tính hệ thống
này tác động đến mọi chủ thể tham gia vào nền kinh tế, đặc biệt gây ảnh hưởng không
nhỏ đến hoạt động của TTCK cũng như tình hình kinh doanh của các tổ chức tài chính,
quỹ đầu tư và công ty chứng khoán.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế: Nền kinh tế ổn định và tăng trưởng làm gia
tăng nhu cầu đầu tư của xã hội và có thể sẽ làm gia tăng giá chứng khoán
trên thị trường. Ngược lại, trong nền kinh tế bất ổn định hoặc chậm phát
triển thì giá chứng khoán có thể giảm do nhu cầu đầu tư thấp và rủi ro khi
đầu tư vào chứng khoán sẽ tăng.
Lạm phát: Chỉ số lạm phát của Việt Nam đã vượt lên mức hai con số. Theo dự báo trong
thời gian tới, chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước sẽ ngày càng thắt chặt thận


trọng, mặt bằng lãi suất tiếp tục gia tăng. Điều này có thể gây khó khăn cho hoạt động
sản xuất kinh doanh và tốc độ tăng trưởng của các doanh nghiệp, cũng như giảm sức hấp
dẫn về yếu tố vĩ mô đối với nhà đầu tư. Sự ảnh hưởng này được dự báo sẽ thể hiện ngay
trên giá cổ phiếu. Do vậy, tỷ lệ lạm phát cũng được cân nhắc và xem xét một cách thận
trọng trong việc hoạch định chiến lược phát triển của CLSC.
Lãi suất: Sự thay đổi lãi suất có ảnh hưởng lớn đến hành vi của các nhà đầu tư cũng như
các doanh nghiệp. Lãi suất tăng làm cho chi phí vay nợ để tài trợ cho hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp tăng lên, tác động trực tiếp đến kết quả kinh doanh của doanh
nghiệp cũng như mức độ hấp dẫn của TTCK đối với các nhà đầu tư. Và trên thực tế, sự
biến động về tỷ lệ lãi suất có thể gây tác động không nhỏ đến TTCK nói chung, hoạt
động kinh doanh của các công ty chứng khoán nói riêng. Nhận thức được sự ảnh hưởng
này, CLSC đã xây dựng biện pháp phòng ngừa rủi ro nhằm hạn chế tối đa ảnh hưởng từ
biến động lãi suất đến hoạt động kinh doanh của Công ty.

Tỷ giá: Trong tình hình nền kinh tế thế giới nhiều biến động như hiện nay thì
rủi ro về tỷ giá là điều phải tính đến. Do đó, CLSC cũng cần phải có biện
pháp dự phòng nhằm hạn chế những ảnh hưởng của các biến động về tỷ giá
đối với kế hoạch doanh thu, lợi nhuận của Công ty.
2.

Rủi ro về luật pháp:

Rủi ro pháp lý liên quan đến các thay đổi, bổ sung các chính sách, các văn bản quy phạm
pháp luật liên quan đến hoạt động chứng khoán, thị trường vốn, cổ phần hóa, hay luật
thuế. Các rủi ro này ảnh hưởng lớn đến hoạt động của Công ty.

Hoạt động của các chủ thể trên TTCK Việt Nam, trong đó có Công ty Cổ phần Chứng
khoán Chợ Lớn chịu sự chi phối trực tiếp bởi Luật doanh nghiệp, Luật chứng khoán, Luật
đầu tư, Luật thuế Thu nhập cá nhân, và các luật có liên quan. Tồn tại những rủi ro do các
văn bản luật hoặc hướng dẫn chưa rõ ràng hoặc không đồng bộ hoặc sự thay đổi luật.
3.

Rủi ro ngành


Ngành chứng khoán là ngành mới đối với Việt Nam, các hoạt động của ngành này còn
chịu ảnh hưởng nhiều bởi sự non trẻ, kinh nghiệm quản lý, sự tác động bởi các ngành
trong nền kinh tế nói chung. Là cầu nối về vốn giữa doanh nghiệp và nhà đầu tư, sự phát
triển của các doanh nghiệp và sự quan tâm của các nhà đầu tư có ý nghĩa quan trọng đối
với ngành chứng khoán.
4.

Rủi ro cạnh tranh

Cạnh tranh là quy luật tất yếu trong cơ chế thị trường. Nguy cơ rủi ro cạnh tranh trong sự
phát triển ngày càng mạnh mẽ của TTCK Việt Nam và trong lộ trình mở cửa theo cam kết
WTO đặt các công ty chứng khoán luôn trong một áp lực lớn. CLSC cũng không nằm
ngoài áp lực này.
Tính đến tháng 5/2009, TTCK Việt Nam đã có tổng cộng khoảng 350 công ty cổ phần và
công ty quản lý quỹ niêm yết trên Sở GDCK TP.HCM và TTGDCK Hà Nội. Tuy nhiên,
thị trường hiện có đến 105 công ty chứng khoán đã được cấp phép và đã đi vào hoạt động
khoảng gần 100 công ty. Do vậy, cuộc cạnh tranh giành thị phần đang diễn ra khá gay
gắt. Trong đó:
- Cuộc chiến giảm phí môi giới, giảm phí tư vấn để lôi kéo khách hàng có ảnh hưởng
không nhỏ đến doanh thu của các công ty chứng khoán, đặc biệt là các công ty mới gia
nhập ngành.
- Cuộc chạy đua về công nghệ thông tin, mặt bằng kinh doanh,… làm cho chi phí vận
hành và đầu tư phát triển doanh nghiệp ngày càng tăng cao.
Mặc dù vậy, cạnh tranh cũng tạo động lực và tạo dựng cơ hội cho những công ty chứng
khoán có chiến lược đầu tư, chính sách nhân sự hợp lý, nắm bắt được tính quy luật và sự
phát triển của thị trường.
Đối với CLSC, với lợi thế nằm ngay trên khu vực Chợ Lớn của Quận 5 Thành phố Hồ
Chí Minh, một quận với số lượng người Hoa rất đông và là khu vực rất năng động về
phát triển kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh. Do vậy ngay từ những ngày đầu thành
lập, Công ty đã hướng đến các khách hàng trên địa bàn này để tập trung phục vụ. Ngoài


ra Công ty cũng đã phát triển các khách hàng ở các tỉnh thành khác thông qua các đại lý
nhận lệnh.
5.

Rủi ro lĩnh vực hoạt động:

Thiệt hại có thể xảy ra khi nhân viên môi giới nhập sai lệnh của khách hàng. CLSC đã
thiết lập Bộ phận Kiểm soát Nội bộ để kiểm tra việc tuân thủ quy trình nhập lệnh và tổ
chức huấn luyện cho nhân viên nhằm giảm thiểu sai sót. CLSC lưu trữ các thông tin giao
dịch dưới dạng băng ghi âm, phiếu lệnh, hợp đồng, và dữ liệu điện tử để làm bằng chứng
trong quá trình các tranh chấp với khách hàng.
Thiệt hại xảy ra khi số liệu trong hệ thống giao dịch và kế toán bị phá hủy, bị sai lệch,
hoặc không liên tục sẵn sàng. CLSC thực hiện các biện pháp hạn chế rủi ro hoạt động
như: bảo mật mạng máy tính, thực hiện so khớp dữ liệu hàng ngày, sao lưu hàng ngày và
lưu trữ dữ liệu ở nhiều nơi khác nhau.
6.

Rủi ro khác

Các rủi ro khác bao gồm cháy nổ, ngập nước, động đất, trộm cắp có thể gây mất mát, hư
hỏng tài sản hoặc hệ thống giao dịch hay văn phòng công ty và làm gián đoạn các giao
dịch.

Nhiệm vụ của Hiếu: phân tích các yếu tố ảnh hưởng các chứng khoán cơ bản
được sử dụng để hình thành chứng khoán tổng hợp
Chứng khoán tổng hợp gồm có cổ phiếu, trái phiểu không chịu rủi ro, các
chứng khoán được quyền chuộc lại và các chứng khoán tự chọn trả
1. Một số yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu
Giá của cổ phiếu bị ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố, cả những yếu tố vĩ mô và vi mô. Do
đó, khi đầu tư cổ phiếu, nhà đầu tư cần quan tâm tìm hiểu và phân tích tác động của các
yếu tố tới cổ phiếu mình đang đầu tư, để đưa ra các quyết định đầu tư thích hợp. Sau đây
là một số yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu mà nhà đầu tư cần biết.


Một số yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu:
- Sự tiến triển của nền kinh tế quốc dân, tình hình kinh tế khu vực và thế giới: Thông
thường, giá cổ phiếu có xu hướng tăng khi nền kinh tế phát triển (và có xu hướng giảm
khi nền kinh tế yếu đi). Bởi khi đó, khả năng về kinh doanh có triển vọng tốt đẹp, nguồn
lực tài chính tăng lên, nhu cầu cho đầu tư lớn hơn nhiều so với nhu cầu tích luỹ và như
vậy, nhiều người sẽ đầu tư vào cổ phiếu.
- Lạm phát: Lạm phát tăng thường là dấu hiệu cho thấy, sự tăng trưởng của nền kinh tế
sẽ không bền vững, lãi suất sẽ tăng lên, khả năng thu lợi nhuận của DN bị hạ thấp khiến
giá cổ phiếu giảm. Lạm phát càng thấp thì càng có nhiều khả năng cổ phiếu sẽ tăng giá và
ngược lại.
- Tình hình biến động của lãi suất: Lãi suất tăng làm tăng chi phí vay đối với DN. Chi
phí này được chuyển cho các cổ đông vì nó sẽ hạ thấp lợi nhuận mà DN dùng để thanh
toán cổ tức. Cùng lúc đó, cổ tức hiện có từ cổ phiếu thường sẽ tỏ ra không mấy cạnh
tranh đối với nhà đầu tư tìm lợi tức, sẽ làm họ chuyển hướng sang tìm nguồn thu nhập tốt
hơn ở bất cứ nơi nào có lãi suất cao. Hơn nữa, lãi suất tăng còn gây tổn hại cho triển vọng
phát triển của DN vì nó khuyến khích DN giữ lại tiền nhàn rỗi, hơn là liều lĩnh dùng số
tiền đó mở rộng sản xuất, kinh doanh. Chính vì vậy, lãi suất tăng sẽ dẫn đến giá cổ phiếu
giảm. Ngược lại, lãi suất giảm có tác động tốt cho DN vì chi phí vay giảm và giá cổ phiếu
thường tăng lên.
Tuy nhiên, sự dao động của lãi suất không phải luôn được tiếp theo bởi sự phản ứng
tương đương và trái ngược của giá cổ phiếu. Chỉ khi nào lãi suất phản ánh xu hướng chủ
đạo trong lạm phát, nó mới trở thành thước đo hiệu quả sự dao động của TTCK. Lãi suất
có xu hướng giảm khi lạm phát giảm và lạm phát giảm khiến giá cổ phiếu tăng cao hơn.
Ngược lại, lạm phát tăng cùng với lãi suất, giá cổ phiếu sẽ giảm. Nhưng nếu lạm phát
không phải là một vấn đề nghiêm trọng và lãi suất tăng, đầu tư vào TTCK thường mang
lại nhiều lãi. Bởi vì trong trường hợp này, lãi suất tăng là do nền kinh tế tăng trưởng.

Phân tích tác động của lãi suất và lạm phát đến giá chứng khoán
Lãi suất hiểu đơn giản là cái giá mà người đi vay phải trả cho người có tiền cho vay.
Lạm phát là sự mất đi sức mua hay giá trị nội tại của một loại bản tệ (ở đây là đồng Việt Nam).
Lãi suất thực của tiền tiết kiệm - hiệu số giữa lãi suất danh nghĩa và mức lạm phát - trở nên giá
trị âm. Hơn nữa, sự thay đổi không mong đợi của tỷ lệ lạm phát sẽ gây khó khăn cho doanh
nghiệp trong việc lập kế hoạch, ngăn cản sự tăng trưởng và đổi mới doanh nghiệp.
Do lãi suất là yếu tố cơ bản quyết định việc đầu tư, nhà đầu tư cần nghiên cứu kỹ mối quan hệ
giữa lãi suất và giá chứng khoán:
Mối quan hệ giữa lãi suất và giá trái phiếu: đây là mối quan hệ trực tiếp và ngược chiều nhau.
Giá của trái phiếu là giá trị hiện tại của các dòng tiền. Khi lãi suất thị trường càng cao thì các
dòng tiền bị chiết khấu với lãi suất càng lớn, do vậy dẫn đến giá trái phiếu càng nhỏ. Vì vậy, khi
lãi suất cao, giá trái phiếu thấp có thể là một cơ hội tốt để mua vào trái phiếu.
Khi kinh tế phát triển mà không có lạm phát lớn thì trái phiếu dài hạn là đối thủ cạnh tranh trực
tiếp số một của cổ phiếu. Lãi suất cao thu hút dân chúng đầu tư vào trái phiếu, kể cả tiền gửi tiết


kiệm có kỳ hạn vì đó là những bến đậu an toàn cho đồng vốn. Ở mức lãi suất thấp, tiền tiết kiệm
được đầu tư vào cổ phiếu nhiều hơn, tính thanh khoản tăng cao làm TTCK phát triển. Lạm phát
thuần túy (lạm phát ngầm) không nguy hiểm cho TTCK vì tiền mua cổ phiếu thực chất là đầu tư
vào hiện vật.
Mối quan hệ giữa lãi suất và giá cổ phiếu: đây là mối quan hệ không trực tiếp và không hoàn
toàn diễn ra theo một chiều. Lý do ở chỗ, dòng tiền thu nhập của cổ phiếu không cố định như của
trái phiếu, mà chúng có thể thay đổi cùng với lãi suất và mức thay đổi này có thể lớn hơn hoặc
nhỏ hơn thay đổi của lãi suất.
- Lãi suất tăng - giá cổ phiếu ổn định hoặc tăng: xảy ra khi giá hàng hóa bán ra của các công ty
có thể tăng, dẫn đến thu nhập của công ty tăng lên cùng với lạm phát do chi phí đầu vào tăng.
Do vậy, giá cổ phiếu trong trường hợp này có thể giữ ổn định vì lãi suất chiết khấu tăng và dòng
thu nhập tăng bù đắp được cho nhau.
- Lãi suất tăng - giá cổ phiếu giảm: xảy ra khi các dòng thu nhập tương lai của công ty tăng
không nhiều hoặc thậm chí giảm, vì trước đó công ty phải huy động vốn với lãi suất cao, đến khi
hàng hóa được sản xuất và bán ra thì lại gặp phải sự cạnh tranh gay gắt, trong khi sức mua lại
có hạn, thu nhập của công ty giảm sút, công ty không có khả năng tăng giá hàng hóa để bù lại
mức lạm phát. Khi lãi suất giảm thì cũng có thể xảy ra các khả năng tương tự.
Nhiều nghiên cứu cho thấy, mối quan hệ giữa lãi suất và giá cổ phiếu thường là quan hệ ngược
chiều, nhất là trong giai đoạn ngắn hạn, nhưng điều này không phải lúc nào cũng đúng.
Nếu chỉ xét trong mối tương quan giữa thị trường cổ phiếu và trái phiếu thì trên thực tế, thông
thường quan hệ giữa lãi suất và giá cổ phiếu là mối quan hệ ngược chiều. Điều này có thể lý giải
như sau: khi dự đoán lãi suất thị trường tăng, tức là giá trái phiếu sẽ giảm, thì người đầu tư có xu
hướng chuyển từ cổ phiếu sang mua trái phiếu và làm cho giá cổ phiếu giảm.

- Chính sách thuế của Nhà nước đối với thu nhập từ chứng khoán: Nếu khoản thuế đánh
vào thu nhập từ chứng khoán cao (hoặc tăng lên) sẽ làm cho số người đầu tư giảm xuống,
từ đó làm cho giá chứng khoán giảm.
- Những biến động về chính trị, xã hội, quân sự: Đây là những yếu tố phi kinh tế
nhưng cũng ảnh hưởng không nhỏ đến giá cổ phiếu trên thị trường. Nếu những yếu tố này
có khả năng ảnh hưởng tích cực tới tình hình kinh doanh của DN thì giá cổ phiếu của DN
sẽ tăng lên.
- Những yếu tố nội tại gắn liền với nhà phát hành biến động: yếu tố về kỹ thuật sản
xuất: trang thiết bị máy móc, công nghệ, tiềm năng nghiên cứu phát triển...; yếu tố về thị
trường tiêu thụ: khả năng về cạnh tranh và mở rộng thị trường...; yếu tố về con người:
chất lượng ban lãnh đạo, trình độ nghề nghiệp của công nhân; tình trạng tài chính của
DN...
- Tâm lý nhà đầu tư: Theo thuyết lòng tin về giá cổ phiếu, yếu tố căn bản trong biến
động của giá cổ phiếu là sự tăng hay giảm lòng tin của nhà đầu tư đối với tương lai của
giá cổ phiếu, của lợi nhuận DN và của lợi tức cổ phần. Vào bất cứ thời điểm nào, trên thị
trường cũng xuất hiện 2 nhóm người: nhóm người lạc quan và nhóm người bi quan. Khi
số tiền do người lạc quan đầu tư chiếm nhiều hơn, thị trường sẽ tăng giá và khi số tiền


bán ra của người bi quan nhiều hơn, thị trường sẽ hạ giá. Tỷ lệ giữa 2 nhóm người này sẽ
thay đổi tuỳ theo cách diễn giải của họ về thông tin, cả về chính trị lẫn kinh doanh, cũng
như những đánh giá của họ về nền kinh tế nói chung và TTCK nói riêng.
Chính vì thế, cùng một loại chứng khoán, có người cho rằng, xấu quá cần phải bán đi,
nhưng ngược lại có người cho rằng, tương lai của nó rất sáng lạn cần phải mua vào. Điều
này cũng lý giải tại sao trên TTCK lúc nào cũng có người mua, người bán.
Ngoài ra, các hành động lũng đoạn, tung tin đồn nhảm, các biện pháp kỹ thuật của nhà
điều hành thị trường, ý kiến của các nhà phân tích... cũng có thể khiến thị giá cổ phiếu
biến động.

2.

Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến giá Trái phiếu( trái phiếu
không rủi ro)
1. Rủi ro thanh toán : Là rủi ro thua lỗ của người nắm giữ trái phiếu khi tổ
chức phát hành không thanh toán đầy đủ, đúng hạn nợ gốc hoặc và tiền
lãi theo định kỳ
Phòng chống:
- xếp hạng tín dụng
- đảm bảo tài sản hoặc bảo lãnh của bên thứ ba
- nghiên cứu tình hình hoạt động của tổ chức phát hành thông qua phân
tích cơ bản
2. Rủi ro về lãi suất :
- Là rủi ro về giảm giá các trái phiếu đang nắm giữ khi lãi suất thị trường
tăng
- Chỉ báo: biến động lãi suất trên thị trường tiền tệ
- Nguyên nhân chính: Chính sách tiền tệ của NHNN
- Tác động đến trái phiếu lãi suất cố định: Thước đo rủi ro lãi suất là thời
gian đáo hạn bình quân, nếu D (Duration) càng lớn thì rủi ro lãi suất của trái
phiếu càng lớn. Biểu hiện cụ thể như sau
Thời gian đáo hạn càng dài thì ảnh hưởng của lãi suất càng lớn
Lãi suất cuống phiếu ( lãi suất danh lợi) càng thấp thì ảnh hưởng của lãi
suất càng lớn
- Ít tác động đến trái phiếu là lãi suất thả nổi
3. Rủi ro về lạm phát
- Lạm phát làm xói mòn sức mua của đồng tiền, gây tác động lên lãi suất
chiết khấu kỳ vọng. Lạm phát tăng làm giá trái phiếu xu hướng giảm
- Lãi suất danh nghĩa = lãi suất thực + tỷ lệ lạm phát
- Vì mọi người đều kỳ vọng lãi suất danh nghĩa có xu hướng biến động tỷ
giá lạm phát
- Tác động tương tự như lãi suất thị trường


4.
-

Rủi ro thanh khoản
Lả rủi ro không bán lại được chứng khoán, hoặc bán lại với chi phí cao
Liên quan đến mức độ hoạt động của thị trường trái phiếu thứ cấp
Tác động đến nhà đầu tư tổ chức mạnh hơn đến nhà đầu tư cá nhân
( vốn có xu hướng nắm giữ trái phiếu đến ngày đáo hạn)
5. Rủi ro về tỷ giá hối đoái
- Nhà đầu tư dùng đồng tiền này để đầu tư vào phái phiếu phát hành bằng
đồng tiền khác
- Rủi ro hối đoái xảy ra khi tỷ giá hối đoái giữa hai thời điểm đầu tư và rút
vốn là khác nhau, làm giảm giá trị của vốn đầu tư ban đầu
- Về mặt lý thuyết, tỷ giá sẽ vận động theo hướng bù chênh lệch lãi suất
giữa 2 đồng tiền. trong thực tế kinh doanh chênh lệch lãi suất vẫn xảy ra
do chính sách điều hành tỷ giá của một số quốc gia, do rào cản đối với
dòng tiền vào và dòng tiền ra
- Rủi ro này ảnh hưởng đến đầu tư qua biên giới

3. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chứng khoán chuộc lại và

chứng khoán tự trả
Khái niệm: Chứng khoán được quyền chuộc lại là chứng khoán cho phép công ty phát
hành tự định ngày chuộc lại (thường là giá cao hơn thị trường) còn chứng khoán tự chọn
trả cũng là chứng khoán được chuộc lại nhưng ngày cho công ty phát hành chuộc lại, lại
là do ngườI sở hữu quyết định
1. Khi thị trường xuống dốc mạnh do khủng hoảng kinh tế toàn cầu, kinh tế vĩ mô
diễn biến phức tạp khiến kết quả sản xuất - kinh doanh của các doanh nghiệp bị
ảnh hưởng, nhiều công ty rơi vào tình trạng thua lỗ khiến giá cổ phiếu giảm
mạnh. Từ đó, chứng khoán được quyền chuộc lại, chứng khoán tự chọn trả có thể
không được thực hiện gây rủi ro cho nhà đầu tư và các công ty phát hành
2. Tình trạng mất thanh khoản của thị trường làm ảnh hưởng tới việc mua bán, xử lý
chứng khoán được quyền chuộc lại và chứng khoán tự chọn trả. Khi thị trường ảm
đạm thì hiệu quả đầu tư của các nhà đầu tư cũng giảm sút dẫn đến việc mua bán
lại gặp rất nhiều khó khăn



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×