Tải bản đầy đủ

SKKN Một số giải pháp phòng chống suy dinh dưỡng, dư cân, béo phì cho trẻ tại trường mầm non

SÁNG KIẾN
Đề tài:
Một số giải pháp phòng chống suy dinh dưỡng, dư cân, béo phì
cho trẻ tại trường mầm non
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sức khoẻ là vốn quý báu nhất của con người, để tham gia vào các hoạt
động thì con người cần phải có sức khoẻ. Đặc biệt đối với trẻ em lứa tuổi mầm
non thì sức khoẻ lại càng quan trọng vì ở giai đoạn này cơ thể các bé đang phát
triển mạnh các cơ quan chức năng tâm sinh lý của trẻ đang dần dần được hoàn
thiện. Do đó dinh dưỡng chiếm vị trí rất quan trọng đối với con người, nhất là đối
với trẻ em dinh dưỡng rất cần thiết, nó ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và sự phát
triển của trẻ như Bác Hồ đã nói “ Trẻ em như búp trên cành ” ý nói giai đoạn quan
trọng nhất của cuộc đời cần được chăm sóc nuôi dưỡng tốt.
Qua khảo sát tỉ lệ trẻ từ 2 - 6 tuổi bị suy dinh dưỡng, dư cân trong trường
vẫn còn cao. Thực tế cho thấy đa số các gia đình kinh tế còn khó khăn, không đủ
điều kiện cung cấp đầy đủ nhu cầu dinh dưỡng cho trẻ và có nhiều bà mẹ thiếu
hiểu biết cách nuôi con theo khoa học như: kiêng cử quá mức dẫn đến trẻ suy dinh
dưỡng hoặc đối với gia đình khá giả cho con ăn quá nhiều chất dinh dưỡng không
cân đối dẫn đến trẻ dư cân, béo phì. Dựa vào tình hình thực tế năm học 2015-2016
thì tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng, dư cân còn khá cao. Vì thế cần phải giảm tỉ lệ trẻ suy
dinh dưỡng và dư cân xuống mức thấp nhất.

Bệnh suy dinh dưỡng và béo phì ảnh hưởng đến sự phát triển thể lực và trí
tuệ của trẻ. Tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng và béo phì càng cao thì nòi giống càng kém
phát triển, ảnh hưởng đến sự tiếp thu nền khoa học kỹ thuật tiên tiến. Do đó, suy
dinh dưỡng và béo phì là gánh nặng của gia đình và xã hội, liên quan trực tiếp đến
nguồn nhân lực tương lai của đất nước.
Chính vì vậy mà phòng chống suy dinh dưỡng, dư cân và béo phì cho trẻ
đang là một trong những vấn đề hết sức quan trọng và bức xúc hiện nay, vì sức
khỏe trẻ em hôm nay là sự phồn vinh của đất nước ngày mai. Cho nên chúng tôi
chọn đề tài: “ Một số giải pháp phòng chống suy dinh dưỡng, dư cân, béo phì cho
trẻ tại trường mầm non ”.

1


GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Cơ sở lý luận.
- Các nhà khoa học nghiên cứu và cho biết trẻ em ở lứa tuổi mầm non nhu
cầu về dinh dưỡng và nhu cầu về hoạt động của trẻ là rất cao. Hơn thế nữa cơ thể
trẻ là cơ thể đang phát triển cho nên vấn đề về dinh dưỡng cho trẻ đòi hỏi phải đảm
bảo đầy đủ các chất và cân đối phối hợp đủ 4 nhóm thực phẩm trong một ngày.
Bên cạnh đó nhu cầu ngủ, hoạt động của trẻ cũng rất cao, trẻ thường hiếu động
thích chạy nhảy. Đặc biệt hoạt động vui chơi đóng vai trò rất cao, nó là hoạt động
chủ đạo của trẻ mầm non.
- Nghị quyết lần 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII về định
hướng chiến lược phát triển giáo dục đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đã tiếp tục khẳng định mục tiêu của giáo dục mầm non là: “Phát triển bậc
học mầm non phù hợp với điều kiện và yêu cầu của từng nơi – Bảo đảm hầu hết
trẻ 5 tuổi được học chương trình mẫu giáo lớn chuẩn bị vào lớp một”. Đồng thời
Nghị quyết cũng vạch ra mục tiêu đến năm 2020 là “ Xây dựng hoàn chỉnh và phát
triển bậc học mầm non cho hầu hết trẻ em trong độ tuổi – Phổ biến kiến thức nuôi
dạy trẻ cho các gia đình”, “ Huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các
tầng lớp nhân dân xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của nhà nước
”.
- Nếu những trẻ được người lớn chăm sóc nuôi dưỡng tốt ngay từ đầu khi
còn rất nhỏ thì lúc trẻ mới được vào trường mầm non trẻ luôn được hoạt động khoẻ
mạnh thông minh, hồn nhiên, ít ốm đau. Cho nên, sức khỏe là vô cùng quan trọng
đối với con người, nếu không có sức khỏe thì cơ thể chậm phát triển và sinh ra
nhiều bệnh tật. Nhất là trẻ ở lứa tuổi mầm non đang phát triển rất nhanh về thể lực
và trí tuệ. Nếu được chăm sóc nuôi dưỡng đầy đủ trẻ sẽ phát triển tốt, trẻ sẽ dễ
dàng lĩnh hội những kiến thức trong quá trình giáo dục đồng thời hạn chế ốm đau,

bệnh tật. Vì vậy, nâng cao chất lượng dinh dưỡng đóng vai trò rất quan trọng đến
sự phát triển của trẻ.
II. Thực trạng về phòng chống suy dinh dưỡng, dư cân, béo phì cho trẻ.
1. Đặc điểm tình hình.
a.Thuận lợi.
Được sự quan tâm của Đảng ủy, Uỷ ban nhân dân xã và Phòng Giáo dục Đào tạo huyện Bình Đại vào năm 2008 - 2009 trường được xây dựng 1 bếp ăn đạt
theo yêu cầu của y tế theo hướng qui trình một chiều. Với sự quản lý và tham mưu
chỉ đạo chặt chẽ của Ban giám hiệu, nhà trường đã vận động được sự ủng hộ của
ban ngành, đoàn thể, hội cha mẹ học sinh trong việc đầu tư cơ sở vật chất, trang
thiết bị phục vụ cho công tác chăm sóc, giáo dục trẻ tương đối khang trang.
Nhà trường có một đội ngũ giáo viên tương đối đồng đều về chuyên môn,
nghiệp vụ, trình độ trên chuẩn 100%. Cán bộ, giáo viên, nhân viên nhiệt tình, tâm
huyết với nghề nghiệp, đoàn kết tốt, đồng lòng, đồng sức thực hiện tốt mục tiêu
nhiệm vụ năm học, không chạy theo thành tích.
Nhiều giáo viên năng lực sư phạm xếp loại tốt đạt giáo viên dạy giỏi, có uy
tín với phụ huynh, nhân dân, đồng nghiệp. Phẩm chất, đạo đức tốt, trung thực, tận
2


tụy với công tác nhất là nhiệt tình chăm sóc trẻ, không ngại khó khăn, giàu lòng
thương yêu các cháu.
Nhà trường có nhân viên y tế theo dõi sức khỏe thường xuyên và có các biện
pháp tuyên truyền với phụ huynh kiến thức nuôi con theo khoa học.
Hội phụ huynh chấp hành đầy đủ các nội dung, quy định, hưởng ứng tích
cực trong việc tổ chức bán trú cho trẻ, đảm bảo khẩu phần ăn cho trẻ theo yêu cầu,
nhiệt tình tham gia các phong trào và các hoạt động của nhóm, lớp.
b. Khó khăn.
Bên cạnh những thuận lợi nêu trên nhà trường vẫn còn gặp không ít những
khó khăn như:
- Là một xã dân đông sống chủ yếu vào nông nghiệp, nuôi tôm không bền
vững, điều kiện phục vụ cho việc vận động của trẻ còn hạn chế.
- Thời tiết không thuận lợi, giá cả không ổn định ảnh hưởng trực tiếp đến
kinh tế mỗi gia đình dẫn đến đời sống của phụ huynh gặp nhiều khó khăn.
- Một số giáo viên nghỉ hộ sản, trường hợp đồng giáo viên mới ra trường dạy
thay cho các lớp, nghiệp vụ chuyên môn còn hạn chế, chưa linh hoạt, chủ động
trong công việc, trao đổi, phối hợp cùng phụ huynh.
- Nhận thức của các bậc phụ huynh về phòng chống suy dinh dưỡng, dư cân,
béo phì trẻ em còn nhiều hạn chế như: Kĩ năng chăm sóc con cái của một số các bà
mẹ còn thiếu hụt, chưa phù hợp. Chưa phân biệt thế nào là bữa ăn đủ dinh dưỡng,
đáp ứng nhu cầu về chất...Và một nguyên nhân nữa là do điều kiện kinh tế còn khó
khăn nên phụ huynh chỉ mới nghỉ đến bữa ăn đủ no chứ chưa nghỉ đến bữa ăn có
đủ chất dinh dưỡng; Ngược lại đối với gia đình kinh tế khá giả thì cho con ăn quá
mức, thích con mình tròn trịa, dễ thương, không nghỉ đến trẻ dư cân sẽ dẫn đến béo
phì và các bệnh có liên quan về sau này.
Do vậy, mà ngay từ đầu năm học tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng, dư cân ở trường
còn khá cao.
2. Kết quả và thực trạng.
Với những khó khăn và thuận lợi nêu trên, qua khảo sát của trường đầu năm
học 2015- 2016 trẻ suy dinh dưỡng và dư cân như sau:
Tổng số trẻ toàn trường 298 trẻ.
T Độ tuổi
T

1
2
3
4

Nhà trẻ
Khối mầm
Khối chồi
Khối lá

Tổng cộng

Tổng
số trẻ

Tổng
số trẻ
được
cân đo

Trẻ phát triển Trẻ suy dinh Trẻ dư cân
bình thường
dưỡng
Tổng
số

Tỉ lệ % Tổng
số

Tỉ lệ Tổng Tỉ lệ
%
số
%

23
60
86
129

23
60
86
129

22
59
80
121

96.65
98.33
93.02
93.79

0
1
2
1

0
1.67
2.32
1.55

1
0
4
7

4.34
0
4.65
5.42

298

298

282

95.44

4

1.84

12

4.8

3


Qua kết quả chăm sóc trẻ năm học 2015 - 2016 thì chúng tôi thấy rằng tỷ lệ
trẻ suy dinh dưỡng, dư cân còn ở mức độ khá cao. Từ đó chúng tôi áp dụng một số
giải pháp như sau:
III. Những giải pháp phòng chống suy dinh dưỡng, dư cân, béo phì cho
trẻ.
Năm học 2015 - 2016 trường đạt kiểm định chất lượng cấp độ I, đó cũng là
thành quả của tập thể cán bộ, giáo viên, nhân viên trường. Vì vậy để nâng cao chất
lượng chăm sóc trẻ ở trường. Chúng tôi đã nghiên cứu các biện pháp góp phần
phòng chống suy dinh dưỡng, dư cân, béo phì cho trẻ ở trường.
Đầu năm học hiệu trưởng xây dựng kế hoạch năm học chăm sóc nuôi dưỡng
giáo dục trẻ. Họp phụ huynh toàn trường thông qua kế hoạch năm học và phối hợp
với y tế phổ biến kiến thức về cách phòng chống suy dinh dưỡng, dư cân, béo phì ở
trẻ từ 2 - 6 tuổi đồng thời áp dụng các biện pháp phù hợp như:
1. Bồi dưỡng kiến thức thực hành dinh dưỡng, thực hiện tốt vệ sinh an
toàn thực phẩm trong chế biến cho đội ngũ cán bộ, giáo viên, phòng chống suy
dinh dưỡng, dư cân, béo phì cho trẻ.
Để thực hiện tốt công tác phòng chống suy dinh dưỡng, dư cân, béo phì cho
trẻ thì ngay từ đầu năm học nhà trường đã tổ chức vận động cho 100% trẻ điểm
chính ở bán trú tại trường, nhà trường luôn đảm bảo chế độ ăn theo qui định. Căn
cứ vào nhu cầu năng lượng của từng độ tuổi để xây dựng khẩu phần ăn cho phù
hợp. Đặc biệt quan tâm đến việc chăm sóc về tinh thần, tạo bầu không khí đầm ấm
giúp trẻ có cảm giác như bữa ăn tại gia đình, trẻ ăn ngon miệng hơn.
Hiệu trưởng chỉ đạo giáo viên ở các nhóm lớp quan sát trẻ ăn và động viên
khuyến khích trẻ ăn hết suất, không làm rơi vãi thức ăn. Giáo viên tạo môi trường
lớp sạch đẹp, gọn gàng, ngăn nắp. Tăng cường làm đồ chơi ở khu phát triển vận
động như: Sân banh mi ni, cầu tre, xe trược, đi trên đường gập gềnh, một số đồ
chơi ngoài trời khác và một số đồ chơi trong nhà thư giản giúp trẻ tham gia rèn
luyện cơ thể khỏe mạnh. Đồng thời xác định phát triển vận động là một trong
những điều kiện quan trọng để phòng tránh suy dinh dưỡng và kéo giảm dư cân có
nguy cơ béo phì.
Khẩu phần và thực đơn của trẻ y tế, nhân viên nầu ăn cần được thay đổi theo
mùa, theo tháng và theo tuần, đảm bảo cân đối các chất dinh dưỡng, chế biến phù
hợp khẩu vị của trẻ.
Giáo viên cho trẻ dư cân tham gia đầy đủ các bài tập buổi sáng, các trò chơi
vận động, trong giờ hoạt động ngoài trời, giờ học thể dục với một thời lượng vừa
sức với trẻ từ ít đến nhiều, từ thời gian ngắn đến dài. Giáo viên phải tạo thói quen
và duy trì tập luyện một cách đều đặn vào một giờ nhất định trong ngày và trong
tuần. Chú ý, do trẻ lười hoạt động nên giáo viên thường xuyên quan tâm, gần gủi
để trẻ tự tin tham gia tập luyện, không nên chiều theo ý trẻ mà bỏ giờ tập luyện.
Ngoài ra giáo viên còn cho trẻ dư cân tham gia các hoạt động trong lớp như: Xếp
ghế, dọn đồ chơi,... Hoạt động ngoài trời như chạy, nhảy, đá bóng, đi bộ, các trò
chơi dân gian, trò chơi vận động, vừa sức với trẻ và đảm bảo an toàn. Đối với trẻ
4


suy dinh dưỡng cho trẻ tham gia các hoạt động nhẹ nhàng đầy đủ các lĩnh vực
ngôn ngữ, tạo hình... phù hợp với trẻ. Khi trẻ tham gia thực hiện cùng với các bạn,
giáo viên nên có lời khen đối với trẻ. Hàng ngày giáo viên thường xuyên trao đổi
tình hình trẻ ở tại trường trong giờ đón, trả trẻ với phụ huynh để biết được tình
hình sức khỏe của trẻ, đồng thời có biện pháp phòng ngừa và điều trị kịp thời.
Ví dụ : Đối với trẻ suy dinh dưỡng cho trẻ ăn món khô trước, món nước sau
và ngược lại đối với trẻ dư cân món nước trước, món khô sau.
Phát động cuộc thi sáng tạo, sưu tầm thơ, câu chuyện, câu đố, bài viết có nội
dung giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm. Hướng cho giáo viên
lồng ghép giáo dục dinh dưỡng vào các môn học như: Làm quen văn học, môi
trường xung quanh….thể hiện rõ nhất vào hoạt động vui chơi của trẻ chính là hoạt
động “Bé tập làm nội trợ ”, giáo viên dạy trẻ biết sử dụng thành thạo các đồ dùng
dụng cụ như dao, thớt, cốc, chén…
Xây dựng vườn rau của bé tại trường để trẻ vừa được tiếp xúc với thiên
nhiên, giúp trẻ trải nghiệm với thực tế và phát triển. Đồng thời cải thiện bữa ăn cho
trẻ, có rau xanh theo mùa đảm bảo hợp vệ sinh.
Luôn chú trọng khâu chọn lựa thực phẩm, khâu sơ chế, chế biến thức ăn,
khâu bảo quản và chia thức ăn một cách khoa học nhất, đảm bảo vệ sinh an toàn
thực phẩm, tránh lãng phí đặc biệt là đảm bảo giá trị dinh dưỡng. Hàng ngày phải
công khai tài chánh cho các bậc phụ huynh được biết và giám sát. Hợp đồng nơi
cung cấp thực phẩm đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
Đối với giáo viên phụ trách tại nhóm, lớp tôi luôn bồi dưỡng những kiến
thức qua tài liệu, thông tin trên mạng, qua thử nghiệm hàng ngày và qua hội thi
ngôi nhà dinh dưỡng để giáo viên có kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm nhằm
nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ phù hợp với mọi lứa tuổi. Nhân viên nấu ăn
phải biết cách chế biến thức ăn và thực hiện đúng quy trình bếp một chiều, thực
hiện tốt việc lưu mẫu thức ăn kể cả thực phẩm sống.
Việc chăm sóc nuôi dưỡng trẻ phải đảm bảo đúng 10 nguyên tắc vàng trong
ăn uống.
Chúng tôi luôn phối hợp cùng nhân viên y tế theo dõi biểu đồ hàng tháng
của trẻ đặc biệt quan tâm đến trẻ suy dinh dưỡng, dư cân và béo phì.
Giáo viên sắp xếp những trẻ suy dinh dưỡng, dư cân, béo phì ngồi riêng khi
ăn để dễ quan sát theo dõi trẻ giúp trẻ suy dinh dưỡng ăn hết suất, trẻ dư cân ăn
theo chế độ khẩu phần của trẻ.
2. Thực hiện tốt công tác tuyên truyền.
Lên kế hoạch về nội dung chăm sóc nuôi dưỡng trẻ tại các nhóm lớp. Lượng
thông tin bao gồm các vấn đề liên quan đến dinh dưỡng, vệ sinh, phòng bệnh, các
hoạt động hưởng ứng các phong trào giáo dục sức khỏe của nhà trường cụ thể là:
- Tình hình sức khỏe của trẻ qua biểu đồ tăng trưởng.
- Tình hình bệnh tật của trẻ có thể phát sinh do thời tiết, khí hậu, môi trường
để phụ huynh có thể nắm được và biết cách phòng tránh bệnh cho trẻ

5


- Thường xuyên xây dựng góc tuyên truyền tại trường, nhóm lớp như:
Những điều phụ huynh cần biết; Bé thích ăn gì….để giúp cha mẹ trẻ nắm những
thông tin cần thiết và từ đó thực hiện tốt nội quy của nhà trường như: Cho trẻ ăn
ngủ đúng giờ giấc, không cho trẻ mang quà bánh đến lớp. Kết hợp với các bản tin
và hình ảnh được thay đổi nhiều lần trong tháng để thu hút được sự quan tâm chú ý
của phụ huynh.
- Phụ huynh nên cho trẻ ăn rau, củ, trái cây hàng ngày. Hạn chế các món ăn
giàu đạm như thịt, cá, trứng, bánh ngọt đối với trẻ thừa cân, béo phì. Riêng đối với
trẻ suy dinh dưỡng tăng cường đạm, béo... tăng cường cho trẻ suy dinh dưỡng
uống sữa vào buổi tối. Điều quan trọng phải đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng hợp lý
và cần thiết trong khẩu phần ăn hàng ngày. Không những trẻ được chơi ở tại
trường, gia đình nên cho trẻ chơi thêm những trò chơi vận động vừa sức phù hợp
với độ tuổi như: chạy chậm, chạy xe đạp, đá bóng, đi bộ, chạy nhảy chơi đùa với
các bạn cùng xóm, không nên cho trẻ nằm một chỗ, không xem ti vi nhiều nếu trẻ
lười cha mẹ nên cùng chơi với trẻ. Các thông tin cần thiết về cách chăm sóc con
theo khoa học.
Ví dụ: Nhu cầu khuyến nghị với phụ huynh về năng lượng của trẻ trong một
ngày là 1470 Kcal.
a.Đối với trẻ suy dinh dưỡng.
- Cung ứng lương thực thực phẩm đầy đủ cho trẻ.
- Chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ bằng bữa ăn hợp lý. Cho trẻ ăn đầy đủ 4
nhóm chất dinh dưỡng (bột đường, đạm, béo), không kiêng khem, ăn theo khẩu
phần dinh dưỡng.
- Vệ sinh an toàn thực phẩm: Là vấn đề quan trọng hàng đầu trong việc bảo
vệ trẻ tránh các bệnh nhiễm trùng đường ruột, giun sán… Chọn thực phẩm tươi
cho trẻ, tránh bảo quản dài ngày trừ trường hợp có tủ cấp đông đúng quy cách, hạn
chế cho trẻ dùng các loại thực phẩm chế biến sẵn, đóng hộp, chế biến, nấu nướng
thức ăn chín kỹ.
- Có thể theo phương châm ăn nhiều bữa trong ngày và sử dụng bữa ăn theo
hình vuông thực phẩm. Không cho trẻ ăn ngọt trước bửa ăn chính, cho trẻ ăn món
ăn đặc trước, món nước sau.
- Điều trị tại nhà bằng cách hướng dẫn bà mẹ hoặc người nhà điều chỉnh lại
chế độ ăn hợp lý và theo dõi sự tăng cân của trẻ qua “ Biểu đồ phát triển”. Nên cho
thêm thức ăn có độ năng lượng cao như dầu hay các hạt có dầu, các thức ăn giàu
Protein động vật, các loại rau xanh và quả giàu vitamin A và các vitamin khác cùng
muối khoáng. Cần tiếp tục cho trẻ uống thêm sữa đầy đủ.
Quá trình điều trị khi trẻ mắc các bệnh thông thường.
* Trẻ bị tiêu chảy.
- Trường hợp mất nước nhẹ và vừa: Nên cho uống dung dịch Oresol với
lượng 50 - 100ml/kg cân nặng cơ thể trong vòng 4 - 6 giờ, cho uống ít một đến khi
hết khát. Nếu trẻ đỡ, tiếp tục duy trì với liều lượng như ban đầu và tiếp tục theo dõi
sát trong vòng 3 giờ để có thái độ xử lý tiếp.
6


- Chế độ ăn: Ở những trẻ không bị mất nước hoặc những bệnh nhi mất nước
đã được điều trị thì bắt đầu cho ăn bằng đường miệng với độ pha loãng, số lượng ít
nhưng nhiều lần. Về thức ăn nên dùng sữa hoặc các loại thức ăn khác có năng
lượng cao. Khi tiêu chảy đã đỡ, trẻ có cảm giác thèm ăn trở lại, cho trẻ ăn theo ý
thích và theo truyền thống địa phương nhưng phải là thức ăn có giá trị cao và phải
ăn từ từ không kiêng khem quá mức.
- Chống nhiễm khuẩn: Cần phát hiện các ổ nhiễm khuẩn, đặc biệt là các ổ
nhiễm khuẩn tìm tàng và điều trị bằng các kháng sinh đặc hiệu.
- Chăm sóc: Giữ gìn vệ sinh thân thể, chăm sóc da tay, mắt miệng.
- Điều trị triệt để các bệnh lý nhiễm trùng hô hấp, tiêu chảy… không cần
lạm dụng kháng sinh mà chỉ dùng đủ liều, đủ thời gian, chăm sóc dinh duỡng tích
cực trong thời gian bệnh và phục hồi dinh dưỡng sau thời gian bệnh nếu trẻ mất
nước nặng đưa ngay đến cơ sở y tế điều trị.
b. Đối với trẻ dư cân, béo phì.
- Để ngăn chặn chứng béo phì ở trẻ em, cần tác động lên 2 lĩnh vực: Lĩnh
vực ăn và uống và lĩnh vực tiêu hao vật chất (dépeuse physique).
- Đối với vấn đề ăn uống, khó khăn đầu tiên của bác sĩ nhi khoa thường gặp
là phải thuyết phục cha mẹ trẻ thay đổi cách nuôi dưỡng giúp trẻ giảm cân. Cha mẹ
trẻ có thể tham khảo một số gợi ý sau:
+ Tôn trọng một nhịp độ (rytsme) 4 bữa ăn/ngày (kể cả bữa ăn phụ, nhẹ
(legouter) đầu buổi chiều, kiên quyết loại bỏ thói quen ăn vặt (gugnotage) quà,
bánh kẹo...
+ Tăng cường ăn rau quả, lý tưởng nhất là 5 trái cây, rau/ngày.
+ Hạn chế các món ăn giàu protein (đạm) như thịt, cá, trứng... chỉ 1
lần/ngày.
+ Thay thế những loại bánh kem, bánh quy, bánh ngọt, gatô bằng bánh mì
trắng, các loại bánh mì làm bằng bột gạo lức (pain complet), tránh các loại bánh
xốp (có nhiều ruột) có đường, sữa, chất béo (pain de mie)...
+ Hạn chế sự tiêu thụ các loại phomat khô, chỉ nên dùng 1 lát/ngày và ưu
tiên cho các loại sữa chua (yaourts) ở các bữa ăn khác.
+ Không nên bỏ các chất tinh bột (féculents): Cơm, bột gạo, bánh mì, khoai
tây... cần có ở các bữa ăn để trẻ khỏi ăn vặt kẹo, bánh ngọt...
+ Không được bắt trẻ béo phì nhịn ăn, làm như vậy trẻ sẽ cảm thấy quá đói
dẫn đến khi ăn trẻ sẽ ăn bù.
Điều quan trọng cần chú ý là làm sao đáp ứng được nhu cầu dinh dưỡng hợp
lý và cần thiết của trẻ ở các lứa tuổi trong khẩu phần ăn hàng ngày.
- Khuyến khích trẻ vận động phù hợp với lứa tuổi và thể lực của trẻ nhất là
các trò chơi vận động (chơi bóng, đuổi bắt), trò chơi nhân gian (cướp cờ, mèo đuổi
chuột).
- Trong bữa ăn của trẻ chúng ta cho trẻ ăn món canh trước để tạo cho trẻ cảm
giác no trước khi ăn cơm vì cơm có chứa tinh bột nhiều.
7


- Thường xuyên theo dõi cân nặng và chiều cao của trẻ để có thể can thiệp
sớm khi tốc độ tăng cân quá nhiều.
3. Phối hợp với y tế huyện, xã, trường khám sức khỏe và cân đo theo
định kỳ, kiểm tra thường xuyên vệ sinh an toàn thực phẩm.
Hằng năm nhà trường phối hợp với y tế xã khám sức khỏe cho trẻ 2 lần /
năm học, kiểm tra phân loại sức khỏe của trẻ theo biểu đồ tăng trưởng để có chế độ
chăm sóc kịp thời, phù hợp. Những trẻ có biểu hiện như béo phì, suy dinh dưỡng
cần kiểm tra, cân đo hàng tháng để điều chình chế độ ăn cho phù hợp.
Bác sĩ, y sĩ của trạm y tế tư vấn cho các bà mẹ đang trong thời kỳ mang thai
và cách nuôi con theo khoa học.
Y tế dự phòng huyện kiểm tra sức khỏe cho đội ngũ cấp dưỡng trước khi
hợp đồng làm việc theo định kỳ hàng năm như khám sức khỏe, xét nghiệm máu,
xét nghiệm phân, xét ngiệm phổi….để đảm bảo tránh các bệnh lây truyền cho trẻ.
Giáo viên được khám sức khỏe đầu năm học để sớm sàng lọc các bệnh
truyền nhiểm lây cho trẻ. Kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm theo định kỳ.
Nhiệm vụ chăm sóc trẻ trong nhà trường cũng không thể thiếu vai trò và
trách nhiệm của cán bộ y tế trường học.
Chỉ đạo y tế xây dựng kế hoạch phối hợp với trạm để khám sức khỏe cho trẻ
ngay từ đầu năm, mở sổ theo dõi kết quả tình hình sức khỏe của trẻ hàng tháng,
quí. Cân đo và theo dõi trẻ dư cân, có nguy cơ béo phì, suy dinh dưỡng hàng tháng.
Kiểm tra việc theo dõi cân đo sức khỏe của trẻ đến trường được cân đo 3 tháng 1
lần, sau mỗi lần cân đo các lớp tổng hợp kết quả, y tế tuyên truyền cho phụ huynh
nắm được sức khỏe của con em mình để cùng phối hợp chăm sóc trẻ.
IV. Hiệu quả của sáng kiến.
Kết quả cụ thể khi áp dụng sáng kiến có sự so sánh đầu năm cho đến tháng 2
năm 2016 như sau:
T
T

HỌ VÀ
TÊN TRẺ

1

ĐẦU NĂM

THÁNG 2/2016

Tháng
tuổi

Cân
nặng

Chiều Xếp
cao loại

Tháng
tuổi

Cân
nặng

Đặng
Ngọc
Thiên Hà

22

15

81.5

2

Hồ Đức
Vinh

50

23

3

Hồ Đăng
Khoa

49

4

La Gia
Hân

66

A+

27

15

85

A

108

A+

54

23.5

114

A

23

109

A+

54

22

113.5

A

28

111

A+

71

28

114

A+

8

Chiều Xếp
cao
loại


5

Nguyễn
Thanh
Duy

68

28

108

A+

73

27

113

A

6

Nguyễn
Thành
Luân

66

28

111

A+

71

27.5

113

A+

7

Hồ Trọng
Phúc

68

28

115

A+

73

27

117.5

A

8

Nguyễn
Trọng Kha

50

26

110

A+

55

24

112

A+

9

Đỗ Quốc
Thịnh

54

23

106

A+

59

21

108

A

10 Đặng
Nguyễn Gia
Huy

64

29

112

A+

69

29

113.5

A+

11 Bùi Nguyễn
Anh Khoa

63

28

119

A+

68

25.5

123

A

12 Trần Hữu
Phước

60

29

115

A+

65

29

117

A+

13 Đoàn Trung
Khang

54

14

97

B

59

15.5

99

A

14 Nguyễn
Hồng Yến

51

12

90

B

56

14

96

A

15 Hồ Lê Thúy
Vy

43

11

92

B

48

12.5

95

A

16 Đỗ Võ
Minh Thư

61

13

102

B

66

15.5

107

A

- Tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng đến tháng 02/2016 là: 0 % so với đầu năm giảm 4
trẻ, tỉ lệ:100 %.
- Tỉ lệ trẻ dư cân đến tháng 02/2016 là: 5 trẻ, tỉ lệ:1.67 % so với đầu năm
giảm 7 trẻ, tỉ lệ: 2.35 %.
- Phụ huynh nắm được cách chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ ở gia đình, góp phần
giúp nhà trường hoàn thành tốt nhiệm vụ năm học; Thực hiện tốt công tác chăm
sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ trong trường.
- Đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên có nhiều kiến thức hơn về chăm sóc,
nuôi dưỡng trẻ. Từ đó, nâng cao được chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ ở
trường.
KẾT LUẬN
9


1. Ý nghĩa của sáng kiến.
Qua những năm làm công tác quản lý, phụ trách bên công tác nuôi dưỡng,
người trực tiếp chăm sóc trẻ tại nhà trường, chúng tôi đã lựa chọn những giải pháp
tốt nhất trong công tác chăm sóc nuôi dưỡng và phòng chống suy dinh dưỡng, dư
cân, béo phì ở trường mình. Tôi thấy rằng: Việc nghiên cứu, tìm tòi những phương
pháp, giải pháp để áp dụng vào thực tiễn là việc làm tích cực và bổ ích. Nó mang
lại hiệu quả đáng kể, đặc biệt là hiệu quả “ Phòng chống suy dinh dưỡng, dư cân,
béo phì” ở trường mầm non là vô cùng cần thiết. Qua đó giúp cho phụ huynh nhận
thức đúng đắn về vai trò, tầm quan trọng của công tác chăm sóc nuôi dưỡng và
phòng chống suy dinh dưỡng, dư cân, béo phì cho trẻ ở trường mầm non. Cần
được triển khai nghiêm túc và chỉ đạo chặt chẽ việc xây dựng và thực hiện đến
từng nhóm, lớp để giáo viên thực hiện tốt hơn nữa.
2. Khả năng ứng dụng, triển khai.
Giúp phòng ngừa và giảm được tình trạng suy dinh dưỡng, dư cân có nguy
cơ béo phì cho trẻ.
Một số biện pháp phòng chống suy dinh dưỡng, dư cân và béo phì đã được
áp dụng cho trẻ ở trường và đem lại kết quả tốt. Đặc biệt là đạt kết quả tốt nhất ở
nhóm trẻ từ 25- 36 tháng tuổi đầu năm có 01 trẻ dư cân, qua áp dụng các biện pháp
trong công tác chăm sóc, giáo dục trẻ đến tháng 2 cân nặng của trẻ trở lại bình
thường đúng theo độ tuổi. Do đó, các biện pháp này đã được áp dụng tốt ở trường
mình và sẽ được áp dụng cho các trường mầm non, mẫu giáo trong huyện và trong
tỉnh.
3. Bài học kinh nghiệm.
Bên cạnh đó cần có sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, chính quyền địa
phương, phối hợp với các ban ngành, đoàn thể trong xã (như trạm y tế, hội phụ nữ,
hội nông dân,…) có kế hoạch cụ thể.
Cần nâng cao nhận thức về trách nhiệm tạo mọi điều kiện tốt nhất cho cán
bộ, giáo viên, nhân viên nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ trong công tác
chăm sóc nuôi dưỡng. Nhà trường cần xây dựng kế hoach cụ thể và ưu tiên đầu tư
cho cơ sở vật chất phục vụ cho công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ.
Thực hiện có hiệu quả về chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ cũng là một
trong những giải pháp huy động trẻ đến lớp và làm tốt công tác tuyên truyền chăm
sóc, giáo dục trẻ. Nâng cao nhận thức của các bậc phụ huynh thông qua công tác
tuyên truyền.
Thiết lập bộ hồ sơ quản lý chế độ ăn cho trẻ chặt chẽ, có sự thống nhất, phù
hợp với tình hình thực tế của đơn vị.
Thực hiện tốt công tác kiểm tra nội bộ trường học trong đó chú trọng kiểm
tra chế độ dinh dưỡng của trẻ. Trong khi kiểm tra đòi hỏi người cán bộ phải tinh
thông về nghiệp vụ, nhanh nhạy nắm bắt tình hình thực tế, linh hoạt xử lý mọi tình
huống, có kết luận chính xác.
Giáo viên, y tế, nhân viên nấu ăn trường học cần chú trọng vệ sinh an toàn
thực phẩm, từ khâu mua thực phẩm tại thị trường hoặc tại các cơ sở hợp đồng đến
khâu sơ, chế biến, bảo quản và tổ chức cho trẻ ăn.
10


Tạo mọi điều kiện tốt nhất để nâng cao chất lượng về mọi mặt cho trẻ, đặc
biệt là công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ ở trường mầm non.
4. Ý kiến đề xuất.
Căn cứ vào thực tế của nhà trường, tình hình chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ năm
học 2015 - 2016 chúng tôi có đề xuất như sau:
Phòng Giáo dục cần quan tâm xây dựng và hỗ trợ về cơ sở vật chất xây thêm
2 phòng học. Bổ sung đồ chơi ngoài trời cho các điểm lẻ để đảm bảo cho công tác
huy động trẻ 3, 4 tuổi đến trường. Đồng thời tạo điều kiện cho trường chăm sóc trẻ
tốt hơn nữa ở những năm sau.
Định Trung, ngày 17 tháng 02 năm 2016
Đồng sáng kiến

Nguyễn Thị Toàn

Hồ Thị Thùy Dương

Trần Minh Thơ

11



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×