Tải bản đầy đủ

Đồ án thiết kế nhà máy sản xuất phân vi sinh từ rác thải sinh hoạt năng suất 5 tấngiờ

NHIỆM VỤ
ĐỒ ÁN CÔNG NGHỆ 2
Họ và tên sinh viên: Nguyễn Văn Ngọ
Lớp: 08SH
I.

TÊN ĐỀ TÀI:
Thiết kế nhà máy sản xuất phân vi sinh từ rác thải sinh hoạt năng suất 5 tấn/giờ

II.

CÁC SỐ LIỆU BAN ĐẦU:
- Nguyên liệu: Rác thải sinh hoạt thành phố Đà Nẵng

- Chế phẩm EM và hỗn hợp men vi sinh phân hủy:
+ Lượng EM sử dụng 2lit/1 tấn rác thải
+ Men vi sinh thêm vào 1,5% so với tổng lượng rác thải
III.

NỘI DUNG CỦA ĐỒ ÁN:


-

Tổng quan tài liệu

-

Chọn và thuyết minh dây chuyền công nghệ

-

Tính cân bằng vật chất

-

Tính và chọn thiết bị

-

Tài liệu tham khảo

Các bản vẽ: bản vẽ dây chuyền công nghệ; bản vẽ mặt bằng và mặt cắt phân xưởng
sản xuất chính (Ao)


MỤC LỤC


Đồ án công nghệ 2

GVHD: TS. Bùi Xuân Đông

LỜI NÓI ĐẦU
Ở nước ta những năm gần đây, tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng trở nên
trầm trọng và phổ biến, đặc biệt là tại các đô thị lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí
Minh, Đà Nẵng, Bình Dương…Và hiện tượng rác thải bị ứ đọng ở một số thành phố
và các địa phương khác đã trở thành vấn đề đáng báo động. Hầu như tất cả các bãi
chôn lấp rác của các thành phố nước ta đều đang ở trong tình trạng quá tải. Với các
nước công nghiệp phát triển như Pháp, Nhật, Mỹ, Đức, Hà Lan… việc xử lý rác chủ
yếu sử dụng phương pháp thiêu huỷ bằng công nghệ cao, hoặc đem đi chôn lấp.
Trong khi đó, nước ta vẫn phổ biến cách thiêu trực tiếp hoặc chôn lấp lộ thiên.

Những cách làm này không những không giải quyết được lượng rác tồn đọng, mà còn
gây ảnh hưởng xấu tới môi trường.
Đứng trước thực trạng về tình hình ô nhiễm rác thải sinh hoạt đang nhức nhối,
nước ta cũng đã có nhiều biện pháp xử lý, sử dụng nhiều phương pháp như chôn lấp,
đốt rác và sản xuất phân bón hữu cơ từ rác v.v. mỗi phương pháp đều có ưu nhược
điểm riêng và chỉ phù hợp với từng đối tượng rác. Thêm nữa các công nghệ xử lý rác
từ trước, chủ yếu là công nghệ nhập ngoại, rất đắt tiền và chưa phù hợp với rác thải
Việt Nam chưa qua phân loại. Yêu cầu thực tế cần có công nghệ vừa đảm bảo hiệu
quả xử lý vừa phù hợp với điều kiện kinh tế trong nước và biến nguồn hữu cơ này
thành phân bón phục vụ phát triển nông nghiệp bền vững.
Gần đây đã xuất hiện công nghệ nội với đầu tư thấp để xây nhà máy xử lý rác
thải sinh hoạt (Nhà máy rác Thủy Phương, Thừa Thiên Huế), công nghệ phân hữu cơ
vi sinh đa chủng POLYFA (Bình Định)…. Đấy là ví dụ cho vai trò của công nghệ nội
đối với việc giảm thiểu ô nhiễm chất thải rắn.
Tại Đà Nẵng, tình hình ô nhiễm môi trường do rác thải sinh hoạt cũng đang là
vấn đề cấp bách cần được giải quyết. Bãi rác Khánh Sơn đã quá tải, chính quyền
thành phố cũng đã tạm thời giải quyết bằng một bãi chôn lấp mới nằm ngay gần đó để
kéo dài thời gian sử dụng của bãi chôn lấp này lên vài chục năm nữa. Như vậy, với
thực trạng xử lý rác thải sinh hoạt ở Đà Nẵng như hiện nay thì việc áp dụng biện pháp
SVTH: Nguyễn Văn Ngọ

Trang 3


Đồ án công nghệ 2

GVHD: TS. Bùi Xuân Đông

xử lý vừa hiệu quả vừa đem lại lợi ích kinh tế là một hướng đi đúng đắn nhất. Sản
xuất phân vi sinh từ rác thải sinh hoạt phục vụ cho nông nghiệp sạch. Với những
thành quả và hiệu quả của việc áp dụng công nghệ xử lý rác ở nhiều thành phố trong
cả nước, hy vọng Đà Nẵng chúng ta sẽ có nhiều cải tiến, áp dụng hiệu quả và thành
công nhất các công nghệ nội trong việc xử lý rác thải sinh hoạt thành phố.
“Thiết kế nhà máy sản xuất phân vi sinh từ rác thải sinh hoạt, năng suất 5
tấn/giờ” là đề tài đồ án của em. Đây không phải là một đề tài mới vì đã có nhiều nơi
trong cả nước áp dụng phương pháp này, nhưng là một đề tài có tính thực tiễn cao,
bên cạnh việc giải quyết vấn đề bức bách là ô nhiễm môi trường đang rất cần ý thức
trách nhiệm của người dân và của toàn xã hội, nó còn tạo ra sản phẩm phục vụ cho
nông nghiệp sạch. Phân bón vi sinh có ưu điểm là không gây tổn hại cho môi trường,
là loại phân bón chứa nhiều VSV có lợi cho môi trường, giúp cây hấp thu chất dinh
dưỡng tốt hơn và có tác dụng cải tạo đất rất tốt. Phân vi sinh sẽ thay thế dần cho phân
bón hoá học, thích hợp cho phát triển nông nghiệp bền vững.

SVTH: Nguyễn Văn Ngọ

Trang 4


Đồ án công nghệ 2

CHƯƠNG 1:

GVHD: TS. Bùi Xuân Đông

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Tổng quan về rác thải sinh hoạt
1.1.1. Tình hình ô nhiễm rác thải trên thế giới
Trong vài thập kỷ vừa qua, do sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật
dẫn đến sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế, cùng với sự bùng nổ dân số, nhu cầu sinh
hoạt ngày càng cao, vì vậy lượng các chất thải do con người thải ra càng nhiều và đa
dạng về thành phần.
Đối với các thành phố và đô thị, ngoài những vấn đề về nhà ở, ô nhiễm do nước
thải,…, chất thải rắn mà đặc biệt là rác thải sinh hoạt là vấn đề đáng quan tâm không
chỉ đối với các nhà lãnh đạo, quản lý, quy hoạch, mà còn gây ảnh hưởng lớn đến sức
khỏe cộng đồng, đến mỹ quan thành phố. Thực tế, chất thải gây ô nhiễm môi trường
đã không được quản lý chặt chẽ, đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển. Nếu tính
bình quân mỗi người một ngày đưa vào môi trường 0,5kg chất thải thì mỗi ngày trên
thế giới hơn 6 tỷ người sẽ thải vào môi trường hơn 3 triệu tấn rác và mỗi năm sẽ thải
trên 1 tỷ tấn rác thải.
Nếu các số liệu trên đổi thành đơn vị tấn chất thải rắn được thu gom mỗi năm trên
đầu người, thì tại các khu đô thị ở Hoa Kỳ có đến hơn 700 kg chất thải và gần 150 kg
ở Ấn Độ. Tỷ lệ phát sinh chất thải đô thị cao, đứng đầu là Hoa Kỳ, tiếp sau là Tây Âu
và Úc (600-700 kg/người), sau đó đến Nhật Bản, Hàn Quốc và Đông Âu (300400kg/người). Một số thành phố lớn trong khu vực châu Á: Băng cốc 1,6 kg/người,
Singapo 2kg/người, Hồng Kông 2,2 kg/người.
Hiện nay, chất thải được tái chế bằng nhiều cách vừa biến thành năng lượng lẫn
thu hồi nguyên liệu.
Với một lượng rác khổng lồ như vậy, việc xử lý chất thải sinh hoạt đã trở thành
một ngành công nghiệp thu hút nhiều công ty lớn. Tuy nhiên các bãi rác tập trung vẫn
tồn tại và ngày càng có xu hướng gia tăng. Điều này do nhiều nguyên nhân, từ thiếu
SVTH: Nguyễn Văn Ngọ

Trang 5


Đồ án công nghệ 2

GVHD: TS. Bùi Xuân Đông

vốn đầu tư, thiếu thiết bị đến thiếu kiến thức về chuyên môn, không nhận thức đầy đủ
về tầm quan trọng trong việc quản lý rác. Rác có thể gây ô nhiễm nghiêm trọng đến
môi trường đất, nước, không khí.[1]
1.1.2. Tình hình ô nhiễm rác thải ở Việt Nam
Việt Nam với trên 85 triệu người đã thải ra mỗi năm hơn 17 triệu tấn rác. Trong đó
rác sinh hoạt đô thị và nông thôn chiếm khoảng 13,8 triệu tấn; rác thải công nghiệp
khoảng 2,7 triệu tấn; lượng rác thải y tế khoảng 2,1 vạn tấn, lượng rác thải độc hại
trong công nghiệp là 13 vạn tấn và rác thải trong nông nghiệp (kể cả hóa chất khoảng
4,5 vạn tấn)…Dự kiến đến năm 2010, lượng rác thải hàng năm sẽ lên tới 23 triệu tấn
và đương nhiên tỉ lệ rác độc hại sẽ tăng lên. Với khối lượng rác thải ngày càng gia
tăng cùng với các giải pháp xử lý chưa khả thi nên ô nhiễm rác thải sinh hoạt đang
diễn ra hằng ngày, hằng giờ. Theo thống kê hiện nay trên cả nước có 91 bãi rác lớn,
chỉ có 17 bãi hợp vệ sinh, chiếm chưa tới 19%. Trong khi đó có 49 bãi rác (chiếm gần
54%) đang gây ô nhiễm nghiêm trọng. Các bãi rác chôn lấp không hợp vệ sinh và các
bãi rác lộ thiên gây ra ô nhiễm nước ngầm và nước mặt do nước rác không được xử
lý, các chất ô nhiễm không khí, tạo ra nhiều mùi hôi thối hoặc các loại côn trùng, ruồi
muỗi, chuột, bọ, gây ảnh hưởng rất lớn đến người dân đặc biệt là những người dân
sống cạnh bãi rác. Nguyên nhân gây tình trạng ô nhiễm rác thải sinh hoạt hiện nay
xuất phát từ thực trạng quản lý môi trường và ý thức của người dân. Để giải quyết vấn
đề này một cách triệt để cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa các nhà quản lý, nhà khoa
học và người dân nhằm tìm ra giải pháp hợp lý trong việc giảm thiểu, tái sử dụng và
quay vòng rác thải đô thị.[1]
1.1.3. Nguồn gốc, đặc điểm, thành phần, tính chất của rác thải sinh hoạt
1.1.3.1. Nguồn gốc
Rác thải sinh hoạt được tạo ra trong hoạt động sống của con người, chủ yếu từ các
hộ gia đình, các khu dân cư, các cơ quan, trường học, các trung tâm, dịch vụ, thương
mại. Rác thải bao gồm các thành phần như: Kim loại, sành sứ, thuỷ tinh, đất đá, nhựa,

SVTH: Nguyễn Văn Ngọ

Trang 6


Đồ án công nghệ 2

GVHD: TS. Bùi Xuân Đông

ni lông, các thực phẩm dư thừa, quá hạn sử dụng, xương động vật, tre, gỗ, giấy, rơm
rạ, xác động vật, vỏ rau quả,...có thể phân ra các nguồn phát sinh chất thải sau:
+ Chất thải thực phẩm bao gồm các thức ăn thừa, rau quả,...Các loại này có bản
chất dể phân huỷ sinh học, quá trình phân huỷ tạo ra mùi khó chịu, đặc biệt trong điều
kiện thời tiết nóng ẩm.
+ Chất thải trực tiếp của động vật: Phân, da, lông.
+ Chất thải lỏng chủ yếu là bùn ga, cống rãnh, là chất thải từ khu sinh họat của dân
cư.
+ Tro và các chất dư thừa thải bỏ khác như: Các loại vật liệu sau khi đốt cháy, các
sản phẩm sau khi đun nấu bằng than, củi và các chất dể cháy khác trong gia đình, các
cơ quan, nhà máy, xí nghiệp, các loại xỉ than...
+ Các chất thải từ đường phố có thành phần chủ yếu là lá cây, ni lông, thuỷ tinh,
bao,...[1]
1.1.3.2. Đặc điểm
Chất thải sinh hoạt thường có đặc điểm là không đồng nhất, chúng bao gồm cả những
chất hữu cơ dễ phân hủy, các chất hữu cơ khó phân hủy và cả các chất vô cơ. Đặc điểm này
gây khó khăn rất lớn cho các quá trình xử lý sau này. [3, trang 76]
Nhìn chung rác thải sinh hoạt của nước ta có những đặc điểm cơ bản sau:
- Rác thải sinh hoạt chiếm tỷ lệ rất lớn khoảng 80% tổng các loại rác thải (13,8
triệu tấn), trong đó các loại chất thải từ nguồn thực vật chiếm số lượng nhiều hơn cả.
- Chất thải hữu cơ từ rác thải sinh hoạt có nguồn gốc chủ yếu từ thực vật nên
chúng có hàm lượng nước rất cao, kết hợp với các chất dinh dưỡng và vi sinh vật có
sẵn trong chất thải gây nên hiện tượng thối rữa nhanh làm ô nhiễm đất, nước và không
khí nghiêm trọng.
- Rác thải sinh hoạt ở Việt Nam chưa được phân loại tại nguồn. Do đó, rất khó
khăn trong việc xử lý chúng.[1]

SVTH: Nguyễn Văn Ngọ

Trang 7


Đồ án công nghệ 2

GVHD: TS. Bùi Xuân Đông

1.1.3.3. Thành phần và một số tính chất của rác thải sinh hoạt
Do không được phân loại tại nguồn nên thành phần các loại chất thải trong rác thải
sinh hoạt rất đa dạng và phức tạp. Trong đó tỷ lệ rác thải hữu cơ dễ phân hủy chiếm tỷ
lệ lớn từ 55-75% . Thành phần cụ thể được thống kê trong bảng sau:
* Bảng 1.1. Thành phần rác thải sinh hoạt của thành phố Đà Nẵng [1]
Thứ tự

Thành phần

Phần trăm tỷ lệ theo
trọng lượng tươi (%)

1

Trái cây, rau quả, lá cây

73,3

2

Thức ăn thừa, phế thải chế biến thức ăn

0,4

3

Phân động vật

3,2

4

Lông động vật

0,2

5

Nhựa

4,0

6

Da

0,5

7

Sợi

2,3

8

Cao su

1,6

9

Giấy, bìa carton

3,1

10

Gỗ

0,7

11

Thủy tinh

0,9

12

Sành sứ

0,8

13

Kim loại

1,9

14

Các loại khác

7,1

Tổng cộng

100,0

Dựa vào bảng trên ta thấy thành phần của rác thải chủ yếu là chất hữu cơ, chiếm
hơn 50% nên rất thuận lợi cho việc xử lý rác thải bằng phương pháp sinh học mà cụ
thể là sản xuất phân vi sinh. Nếu rác thải được phân loại trước khi đưa vào sản xuất
thì việc sử dụng các phương pháp sinh học càng có hiệu quả, sản phẩm của quá trình

SVTH: Nguyễn Văn Ngọ

Trang 8


Đồ án công nghệ 2

GVHD: TS. Bùi Xuân Đông

đạt chất lượng cao, khả năng sử dụng làm phân bón để cải tạo đất tốt, dẫn đến giảm
thiểu đáng kể lượng rác thải, cải tạo môi trường, mang lại hiệu quả kinh tế cao.
1.1.4. Các phương pháp xử lý rác thải sinh hoạt thường gặp
1.1.4.1. Phương pháp đổ rác thành đống ngoài trời
Đây là phương pháp được sử dụng nhiều nhất, rác được thu gom vận chuyển đến
địa điểm xác định để xử lý. Tại đó người ta đổ rác thành từng đống có kích thước
khác nhau. Lớp rác này đổ chồng lên lớp rác khác tạo nên sự hỗn độn không theo một
qui luật nào. [1, trang 97]
* Ưu điểm
Phương pháp này đơn giản, ít tốn kém nhất.
* Nhược điểm
- Hiện tượng thoát khí từ bãi rác do không được che phủ kín ảnh hưởng đến không
khí khu vực xung quanh.
- Nước mưa thấm vào rác thải, lượng nước rò rỉ cần xử lý lớn, độ ô nhiễm cao.
Phụ thuộc vào tự nhiên, thời gian dài 8 tháng đến 2 năm.
- Chất thải chưa được phân loại nên chất lượng sản phẩm không cao. Việc quản lý
bãi rác rất khó khăn và tốn kém.
1.1.4.2.Phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh (Landfill)
Đây là phương pháp chôn lấp rác vào các hố đào có tính toán về dung lượng, có
gia cố cẩn thận để kiểm soát khí thải và kiểm soát lượng nước rò rỉ. Nền tảng của
phương pháp này là tạo môi trường yếm khí để vi sinh vật tham gia phân huỷ các
thành phần hữu cơ có trong rác thải, có kiểm soát hiện tượng ô nhiễm nước, đất và
không khí.
Các bước tiến hành xử lý:
- Phân loại chất thải xử lý theo phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh
- Lựa chọn địa điểm chôn lấp
- Lựa chọn qui mô bãi chôn lấp
- Phân loại bãi chôn lấp
SVTH: Nguyễn Văn Ngọ

Trang 9


Đồ án công nghệ 2

GVHD: TS. Bùi Xuân Đông

- Thiết kế bãi chôn lấp
- Quản lý và xử lý nước rò rỉ tại bãi chôn lấp
* Ưu điểm
Phương pháp này có ưu điểm là kiểm soát được hiện tượng ô nhiễm môi trường.
* Nhược điểm
- Chi phí đầu tư xây dựng cao.
- Tốn diện tích để chứa rác.
- Thời gian phân hủy rác thải lâu, kể cả phương pháp landfill mặc dù có bổ sung vi
sinh vật.
- Đối với chôn lấp lộ thiên, phần bề mặt không được phủ kín, nên từ bãi rác thoát
ra các loại khí như NH4, CO2, H2S, NH3, indol và nhiều khí khác gây mùi khó chịu, ô
nhiễm không khí trầm trọng ở khu vực xung quanh.
- Phương pháp chôn lấp đơn giản, nước mưa thấm vào bãi rác tạo ra lượng nước
rò rỉ rất lớn, rửa trôi các chất dễ phân hủy gây ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng.
- Rác chôn lấp chưa được phân loại, chứa rất nhiều các chất khó phân hủy, các
chất độc hại có sẵn trong rác và các chất độc phát sinh trong quá trình ủ tạo ra mối
nguy hiểm rất lớn cho môi trường đất.
- Bãi rác chứa rất nhiều vi sinh vật gây bệnh, do chôn lấp lộ thiên các tác nhân gây
bệnh này sẽ tác động trực tiếp tới sức khỏe của những người sống gần khu vực bãi
rác.
- Với phương pháp landfill, chi phí cho lớp lót, hệ thống thu và xử lý khí, nước rác
rất lớn. [1]
1.1.4.3. Phương pháp đốt
Rác thải sau khi thu gom, vận chuyển về được đốt trong các lò đốt, có thể thu nhiệt
để chạy máy phát điện, còn phần tro có thể đem chôn lấp.
* Ưu điểm
- Tiêu diệt được mầm bệnh, loại bỏ được các chất độc hại trong chất thải.
- Hạn chế được vấn đề ô nhiễm liên quan đến nước rác.
SVTH: Nguyễn Văn Ngọ

Trang 10


Đồ án công nghệ 2

GVHD: TS. Bùi Xuân Đông

- Cho phép xử lý nhiều loại rác.
- Tiết kiệm được diện tích đất cho chôn lấp.
* Nhược điểm
- Chi phí vận hành và bảo trì thiết bị rất cao.
- Gây ô nhiễm môi trường không khí nghiêm trọng, khó kiểm soát lượng khí thải
chứa dioxin, gây hiệu ứng nhà kính và các bệnh đường hô hấp.
- Tốn nhiều nguyên liệu đốt.
Phương pháp này chỉ thích hợp với rác thải công nghiệp, rác thải y tế. Không thích
hợp cho xử lý rác thải sinh hoạt có hàm lượng rác hữu cơ cao như ở Việt Nam.[10]
1.1.4.4. Phương pháp ủ sinh học (Composting method)
* Bản chất phương pháp
Phương pháp ủ chất thải hữu cơ là quá trình phân giải một loạt các chất hữu cơ
có trong chất thải sinh hoạt, bùn cặn, phân gia súc,… dưới tác dụng của tập đoàn vi
sinh vật bản địa và vi sinh vật bổ sung vào. Quá trình ủ được thực hiện trong cả điều
kiện hiếu khí và kị khí.
* Mục đích phương pháp
Phương pháp ủ chất hữu cơ có những mục đích sau:
+ Ổn định chất thải: Các quá trình sinh học xảy ra khi ủ chất thải hữu cơ sẽ chuyển
hoá các chất thải hữu cơ dễ phân huỷ thành các chất ổn định.
+ Tiêu diệt các vi sinh vật gây bệnh: Do trong quá trình ủ, nhiệt độ tăng cao (có thể
lên tới 80oC, trung bình khoảng 55-60 oC) nên các vi sinh vật gây bệnh sẽ bị tiêu diệt
sau 4-5 ngày ủ.
+ Làm cho chất hữu cơ có giá trị phân bón cao: Phần lớn các chất dinh dưỡng như
N, P, K có trong thành phần các chất hữu cơ, khi bón cho cây thì cây không thể hấp thụ
được, sau khi ủ thì các chất này sẽ chuyển sang vô cơ như NO 3-, PO43- dễ dàng cho cây
hấp thụ.
+ Làm tơi xốp đất: Sau khi ủ chất hữu cơ trở thành dạng mùn, tơi xốp giúp cây dễ
hấp thụ.[1, tr 106-107]
* Các vi sinh vật trong quá trình ủ
SVTH: Nguyễn Văn Ngọ

Trang 11


Đồ án công nghệ 2

GVHD: TS. Bùi Xuân Đông

Theo bài đăng trên website:
http://www.agroviet.gov.vn/engine.asp?page=1&tu=ch%E1%BA%BF
Các vi sinh vật chính trong quá trình ủ bao gồm:
- Vi khẩn
Vi khuẩn đóng vai trò chính trong quá trình phân huỷ và cũng là nguồn phát sinh
nhiệt. Hầu hết chúng có nhu cầu dinh dưỡng khác nhau và sử dụng hệ enzyme để phân
huỷ hoá học nhiều loại hợp chất hữu cơ khác nhau.
Vi khuẩn là các vi sinh vật đơn bào, chúng có dạng hình que, hình cầu và hình xoắn,
có một số loài vi khuẩn di động. Ở thời gian đầu của quá trình ủ (25-40 oC) các loài vi
khuẩn không ưa nhiệt chiếm ưu thế và vài loài được tìm thấy ở vùng bề mặt các tầng
đất mặt.
Khi nhiệt độ khối ủ tăng lên trên 40 oC vi khuẩn ưa nhiệt tiếp tục phát triển. Giống
Bacillus chiếm ưu thế trội hơn hẳn và là giống có số lượng nhiều nhất. Bacillus chiếm
ưu thế khi ở nhiệt độ 50-55oC nhưng lại bị suy giảm khi nhiệt độ trên 60 oC. Khi điều
kiện nhiệt độ khắc nghiệt, vi khuẩn hình thành bào tử, với thành bào tử dày thì chúng có
thể chống chịu được với điều kiện tự nhiên khắc nghiệt như nhiệt độ quá cao, quá thấp,
thiếu thức ăn, khô hạn. Chúng có mặt khắp nơi trong tự nhiên và sẽ sinh trưởng, phát
triển khi môi trường tự nhiên thuận lợi.
Khi nhiệt độ giảm các vi sinh vật ôn hoà lại phát triển và chiếm ưu thế.
Các loài vi khuẩn thường gặp là: Bacillus, Pseudomonas, Clostridium,…
- Xạ khuẩn

Hình 1.1. Hình dạng xạ khuẩn
Xạ khuẩn giống nấm nhưng chúng phát triển ở dạng khuẩn ty, khi phát triển tạo
SVTH: Nguyễn Văn Ngọ

Trang 12


Đồ án công nghệ 2

GVHD: TS. Bùi Xuân Đông

thành dạng sợi nấm. Chúng có hình dạng tua, đâm nhánh, trông giống như mạng nhện
giăng ra. Những sợi xạ khuẩn nhỏ xuất hiện ở giai đoạn cuối của quá trình ủ, dài
khoảng từ 10-15cm ở bên ngoài của đống ủ. Trong quá trình ủ tạo mùn chúng đóng vai
trò quan trọng trong việc phân huỷ các hợp chất hữu cơ phức tạp như lignin, cellulose,
chitin, protein để tạo mùn. Hệ enzyme của chúng có thể phân huỷ hoá học các hợp chất
bền như than gỗ, vỏ cây, giấy báo. Một vài loài xuất hiện ở nhiệt độ cao và một vài loài
xuất hiện ở pha nhiệt độ thấp
Vài loài xạ khuẩn thường gặp trong quá trình ủ: Actinobifida, Actinomyces,
Streptomyces, Nocardia, Pseudonocardia…
- Nấm
Nấm bao gồm nấm mốc và nấm men, chúng có nhiệm vụ phân huỷ các hợp chất
polymer trong đất và phân ủ. Đối với quá trình ủ chúng đóng vai trò quan trọng trong
việc phân huỷ nhiều hợp chất phức tạp thành các hợp chất đơn giản hơn, dễ phân huỷ.
Nấm phân huỷ các chất còn lại ở điều kiện quá khô, môi trường axít và Nitơ thấp mà vi
khuẩn không thể phân huỷ. Nấm phát triển trên lớp ngoài của hố ủ khi nhiệt độ cao, có
dạng sợi trắng bao phủ phía ngoài, là loài duy nhất phát triển trong nhiệt độ ôn hoà và
nhiệt độ cao.

Hình 1.2. Hình dạng nấm
Một vài loài nấm thường gặp khi ủ: Mucor, Aspergillus, Torula, Talaromyces,
Coprinus…
- Sinh vật đơn bào
Sinh vật đơn bào là động vật rất nhỏ, chúng được tìm thấy ở các giọt nước trong
phân ủ, đóng vai trò thứ yếu trong quá trình phân huỷ. Sinh vật đơn bào lấy thức ăn từ
SVTH: Nguyễn Văn Ngọ

Trang 13


Đồ án công nghệ 2

GVHD: TS. Bùi Xuân Đông

các hợp chất hữu cơ tương tự như vi khuẩn và nấm.
Tóm lại, tùy thuộc vào những khoảng nhiệt độ khác nhau trong quá trình ủ
compost sự xuất hiện của các loài VSV cũng thay đổi phù hợp với bản chất của quá
trình trao đổi chất ở VSV và được biểu diễn ở hình 2.3 [5].
t0C

Không có VSV dị dưỡng nhưng một số enzyme ngoại bào vẫn
80
70

hoạt động
Bào tử của vi khuẩn và xạ khuẩn vẫn có thể phát triển, trên giới

hạn phát triển của xạ khuẩn và phần lớn vi khuẩn
60 Trên giới hạn phát triển của nấm chịu nhiệt, nhiệt độ thấp nhất
để tiêu diệt mầm bệnh
50 Nhiệt độ thích hợp cho quá trình phân hủy tạo thành compost
40 Trên giới hạn phát triển của vi khuẩn ưa nhiệt trung bình

30
20

Sự phát triển hỗn tạp của vi khuẩn, nấm, xạ khuẩn,
động vật nguyên sinh và giun tròn

10
0

Dưới giới hạn phát triển của vi khuẩn ưa nhiệt trung bình

Hình 1.3. Ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự xuất hiện của VSV trong đống ủ
* Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình ủ
Trong quá trình ủ có rất nhiều các yếu tố ảnh hưởng đến làm thay đổi đến thời gian
ủ, quá trình xảy ra trong khối ủ, chất lượng sản phẩm tạo thành, cụ thể như sau:
- Thành phần nguyên liệu
Thành phần nguyên liệu ảnh hưởng đến quá trình ủ như thời gian chất lượng mùn,
các khí tạo thành…
Thành phần nguyên liệu được biểu thị qua tỉ lệ C/N. C và N là 2 nguyên tố quan
trọng trong quá trình ủ, cũng là 2 nguyên tố giới hạn. C cung cấp năng lượng và cũng
là nguyên liệu xây dựng tế bào, N cần thiết cho sự tăng trưởng của vi sinh vật, nếu N
SVTH: Nguyễn Văn Ngọ

Trang 14


Đồ án công nghệ 2

GVHD: TS. Bùi Xuân Đông

bị giới hạn thì quần thể vi sinh vật bị suy giảm và mất một thời gian khá lâu để phân
huỷ rác. Nếu N vượt quá lượng giới hạn thì khối ủ sẽ có mùi khó chịu như NH 3 gây ô
nhiễm môi trường ủ.
Tỉ lệ C/N thích hợp dao động trong khoảng 25:1 đến 40:1, tỉ lệ C/N thích hợp nhất
là 30:1.
- Kích thước nguyên liệu
Nếu vật liệu ủ có kích thước lớn sẽ kéo dài thời gian ủ và không giữ ẩm tốt, còn
nếu kích thước vật liệu quá nhỏ thì sẽ bít các lỗ khí làm giảm nồng độ O 2, tạo quá
trình phân giải kị khí. Qua nghiên cứu thì kích thước nguyên liệu thích hợp nhất là từ
1,2-5 cm.
- Độ ẩm
Độ ẩm ảnh hưởng đến hoạt động sống của vi sinh vật và nồng độ O 2 trong khối ủ.
Nếu độ ẩm cao sẽ làm giảm nồng độ O2 trong hỗn hợp, quá trình phân giải kị khí xảy
ra và tạo mùi khó chịu, kéo dài thời gian phân huỷ.
Nếu độ ẩm thấp hạn chế sự phát triển của vi sinh vật, các chất dinh dưỡng hoà tan
thấp và vi sinh vật sẽ tạo bào tử. Còn độ ẩm quá cao sẽ rửa trôi chất dinh dưỡng, giảm
nhiệt độ khối ủ tạo điều kiện để vi sinh vật gây bệnh phát triển.
Độ ẩm thích hợp cho quá trình ủ từ 40-60%. Ở giai đoạn đầu độ ẩm khoảng 5560% kết thúc quá trình độ ẩm khoảng 40-45%.
- Nhiệt độ
Nhiệt độ rất quan trọng trong quá trình ủ. Nếu ủ tốt thì nhiệt độ tăng 40-50 oC sau
2-3 ngày. Nếu nhiệt độ tăng quá 60oC thì làm giảm sự phân huỷ tạo mùi hôi còn nếu
thấp thì quá trình phân huỷ chậm. Nhiệt độ thường trong khoảng 55-60 oC, với việc
kiểm tra nhiệt độ tại những điểm khác nhau của các đống ủ ta sẽ xác định được đồ thị
nhiệt độ từ đó có thể kiểm soát được nhiệt độ của quá trình ủ.
Nhiệt độ được tạo ra trong quá trình hoạt động sinh hoá học của vi sinh vật. Nhiệt
độ tối ưu cho quá trình ủ là 50-55 oC, ở mức nhiệt độ này các vi sinh vật gây bệnh
được tiêu diệt và tác dụng thúc đẩy quá trình phản ứng sinh hoá.
- pH
SVTH: Nguyễn Văn Ngọ

Trang 15


Đồ án công nghệ 2

GVHD: TS. Bùi Xuân Đông

pH ảnh hưởng đến hoạt động của vi sinh vật, hầu hết chúng hoạt động tốt ở môi
trường trung tính và môi trường có tính axít yếu. Khoảng pH thích hợp cho các vi sinh
vật phát triển là: pH = 5,5 – 8,5. Ở giai đoạn đầu của quá trình phân hủy thì các axít
được tạo thành làm pH giảm, tạo điều kiện cho sự phát triển của nấm và sự phân huỷ
lignin, cellulose. Khi quá trình phân huỷ tiếp tục, các acid bị trung hoà và phân trộn
có pH = 6.
- Nồng độ O2, CO2
Nồng độ thích hợp của O2 khoảng 15-20% và của CO2 là 0,5-5%. Nồng độ oxi
thấp sẽ dẫn đến phân giải kị khí tạo mùi hôi, ngược lại nồng độ oxi cao sẽ không bảo
đảm độ ẩm thích hợp cho các vi sinh vật kị khí phát triển.
* Kiểm soát và đánh giá quá trình ủ
- Kiểm soát quá trình ủ
Quá trình ủ được kiểm soát qua các yếu tố sau:
+ Cân bằng các chất dinh dưỡng: Đảm bảo đầy đủ các chất dinh dưỡng cần
thiết cho sự hoạt động của vi sinh vật như các nguyên tố vi lượng và đa lượng…
+ Độ ẩm: Độ ẩm thích hợp từ 50-60%. Như vậy ta phải tiến hành đảo trộn
định kỳ và phun ẩm nếu độ ẩm không thích hợp.
+ Cung cấp không khí: Có thể cung cấp bằng phương pháp đảo trộn hoặc dùng
các máy nén sục khí.
+ pH, Nhiệt độ: Nhiệt độ thích hợp: 50-55oC, pH thích hợp: Trung tính
- Đánh giá quá trình ủ
Quá trình ủ và điểm kết thúc được đánh giá qua các yếu tố sau:
+ Nhiệt độ giảm đến mức nhiệt độ bình thường, không tăng trở lại
+ Thành phần các chất trong khối ủ: C/N, tro, COD, VS (chất rắn bay hơi)
+ % lượng nitrat và không có mặt của NH3
+ Không có các loại côn trùng trước và sau sản phẩm ủ
+ Không còn mùi khó chịu
+ Xuất hiện màu trắng hay màu xám trắng của xạ khuẩn [9]

SVTH: Nguyễn Văn Ngọ

Trang 16


Đồ án công nghệ 2

GVHD: TS. Bùi Xuân Đông

1.2. Vi sinh vật và các quá trình chuyển hóa trong rác thải sinh hoạt
1.2.1. Vi sinh vật chuyển hóa cacbon
Sự chuyển hóa vật chất carbon hữu cơ có trong rác thải sinh hoạt bao gồm cả hai
quá trình:
- Quá trình tổng hợp do vi sinh vật.
- Quá trình phân giải do vi sinh vật.[1]
1.2.1.1. Quá trình tổng hợp carbon hữu cơ nhờ vi sinh vật
Quá trình này xảy ra không mạnh, nhưng luôn luôn xảy ra với cường độ khác nhau
tùy thuộc vào từng điều kiện cụ thể. Các vi sinh vật thực hiện quá trình này chủ yếu là
các vi khuẩn quang hợp thuộc bộ Rhodospirillales gồm các họ sau:
- Họ Rhodospirillaceae gồm các chi: Rhodospirillum, Rhodopsrendomonas…
- Họ Chromatiaceae gồm các chi: Chromatium, Thiosarsina, Thiospirillum...
- Họ Chlorobium gồm các chi: Chlorobium, Chloropseudomonas...
Đặc điểm chung của chúng là tồn tại ở dạng hình cầu, hình que, hình dấu phẩy hay
hình xoắn, chúng có kích thước chiều ngang khoảng 0,3-0,6 µm. Các vi khuẩn trên
thường tiến hành quang hợp trong điều kiện yếm khí, CO 2 được đồng hóa thông qua
chu trình pentose phosphate dạng khử và các phản ứng kết hợp CO 2. Phần lớn các vi
khuẩn này, ngoài khả năng tổng hợp quang năng còn có khả năng cố định nitơ phân tử
nên chúng vừa có khả năng làm giàu chất hữu cơ carbon vừa làm giàu hợp chất nitơ
cho rác thải. [1, trang 40-42]
1.2.1.2. Quá trình phân giải carbon hữu cơ nhờ vi sinh vật
Bao gồm các quá trình phân giải monosaccharide, oligosaccharide và polysaccharide.
- Với monosaccharide, oligosaccharide quá trình phân giải xảy ra cả trong điều
kiện yếm khí và hiếu khí bởi các enzyme của vi sinh vật có sẵn trong những chất thải
đó. Các loại đường đơn thường bị phân giải rất nhanh.
- Với polysaccharide tiêu biểu cho hợp chất hữu cơ chứa carbon từ nguồn thực vật
thì sự phân giải bao gồm:
SVTH: Nguyễn Văn Ngọ

Trang 17


Đồ án công nghệ 2

GVHD: TS. Bùi Xuân Đông

* Sự phân giải tinh bột Nhiều loại vi sinh vật có khả năng sản sinh hệ enzyme
amylase ngoại bào, phân giải tinh bột thành glucose, maltose và dextrin. Một số vi
sinh vật tham gia sinh tổng hợp amylase cao và có nhiều ý nghĩa trong phân giải tinh
bột:
- Vi sinh vật tổng hợp α-amylase: Aspergillus awamorii, Asp. oryzae, Asp. niger,
Bacillus amyloliquefaciens, Clostridium acetobutylinon...
- Vi sinh vật tổng hợp β-amylase: Aspergillus awamorii, Asp. niger, Asp. oryzae,
Saccharomyces cerevisiae, Clostridium acetobutylium...
- Vi sinh vật tổng hợp γ-amylase: Asp. awamorii, Asp. usamii,
* Sự phân giải cellulose
Trong rác thải sinh hoạt có nguồn gốc thực vật, hàm lượng cellulose chiếm số
lượng nhiều nhất. Đây cũng là lượng vật chất cần được chuyển hóa lớn nhất khi tiến
hành xử lý.
Cellulose được phân giải bởi các enzyme trong hệ enzyme cellulase ngoại bào của
vi sinh vật. Tham gia vào quá trình phân giải các chất cellulose bao gồm rất nhiều loài
vi sinh vật khác nhau, trong đó có cả các loài thuộc nhóm vi khuẩn, các loài thuộc
nhóm xạ khuẩn và các loài thuộc nhóm nấm sợi. Các loài thuộc nhóm vi khuẩn
thường phát triển trước, khi đó nhiệt độ chưa cao và sự thay đổi pH trong khối ủ chưa
mạnh, sau đó là sự phát triển mạnh của các loài thuộc nhóm nấm sợi và sau cùng là
nhóm xạ khuẩn. Khi nhiệt độ trong khối ủ tăng lên thì chỉ có các loài vi khuẩn và xạ
khuẩn chịu nhiệt trong khối ủ.
Trong điều kiện hiếu khí quá trình phân giải cellulose xảy ra chủ yếu là do các vi
khuẩn Bacillus sp. Trong điều kiện yếm khí, quá trình phân giải chủ yếu là do các vi
khuẩn yếm khí.
Những loài vi sinh vật điển hình tham gia phân hủy cellulose trong điều kiện tự
nhiên:
- Vi khuẩn: Acetobacterxylinum Celluvibriogilvus, Bacillus, Cellulomonas,
Pseudomonas, Chlostridium,Fluorescens.
SVTH: Nguyễn Văn Ngọ

Trang 18


Đồ án công nghệ 2

GVHD: TS. Bùi Xuân Đông

- Nấm sợi: Asp. fumigatus, Asp. niger, Mucor pusillus, Penicillim notatum,
Fusarium moniforme, F. solani, Piricularia oryzae, Myrothecium verucarium...
- Xạ khuẩn: Streptomyces antibioticus, Str. cellulosae, Str. celluloflavus, Str.
thermodiastaticus, Thermosporafusca, Nocardia cellulans.
* Sự phân giải xylan
Xylan là một trong những thành phần quan trọng của thực vật, phân giải xylan có
ý nghĩa quan trọng trong xử lý chất thải hữu cơ. Trong thực vật, xylan được xem như
chất keo liên kết các sợi cellulose với nhau, việc phá vỡ chất keo này có ý nghĩa rất
lớn trong quá trình thủy phân celllulose có trong thực vật.
Có nhiều loài vi sinh vật tham gia phân giải xylan, chúng có khả năng tổng hợp
enzym xylanase, dưới tác dụng của enzym này xylan được chuyển hóa thành nhiều
sản phẩm khác nhau và cuối cùng chuyển hóa thành đường.
Những loài vi sinh vật tham gia phân giải xylan:
- Vi khuẩn: Bacillus subtilis, B.xylophagus, B. polymyxa,Clostridium sp,
Micromonospora chalcea, Cellvibriofulvus.
- Nấm sợi: Aspergillus niger, Asp. oryzae, Asp. amstelodami, Alternaria kikuchiana,
Chaetonium globosun, Fomes annosus, F. igniarus, Fusariummoniliforme, Gibberella
sanbenetti, Myrothecium cyclopium…
- Xạ khuẩn: Streptomyces albogriseolus, Streptomyces albus, Streptomyces
xylopplagus, Streptomyces olivaceus.
* Sự phân giải pectin
Trong khối ủ chất thải hữu cơ, có các loài vi sinh vật thuộc nhóm nấm sợi và vi
khuẩn tham gia phân giải pectin mạnh, do chúng tổng hợp được các enzym pectinase
thủy phân pectin, điển hình như:
- Nấm sợi: Aspergilus flavus, Rhizopustritici, Selerotina libetina...
- Vi khuẩn: Bacillus polymyxa, Clostridium multifermentans, Erwinia aroideae.
* Sự phân giải lignin
Lignin có nhiều trong thực vật, có nhiều loài vi sinh vật tham gia phân giải hợp
chất lignin, trong đó đáng chú ý nhất là các loài: Polysticus versicolor, stereum
SVTH: Nguyễn Văn Ngọ

Trang 19


Đồ án công nghệ 2

GVHD: TS. Bùi Xuân Đông

hirsutum, pholiota Sp., lenzies Sp., poria Sp., trametes Sp. Quá trình phân giải lignin
của những loài vi sinh vật này giúp quá trình phân giải cellulose trong chất thải thực
vật tốt hơn.
1.2.2. Vi sinh vật chuyển hóa nitơ
Sự chuyển hoá các hợp chất chứa nitơ trong rác thải bao gồm các quá trình sau:
* Quá trình amôn hóa
Quá trình amôn hóa là quá trình phân giải các chất hợp hữu cơ chứa nitơ. Tham gia
quá trình này là các vi sinh vật có khả năng tổng hợp protease và những enzyme khử
amin. Như vậy quá trình amôn hóa protein gồm hai giai đoạn:
- Giai đoạn phân giải protein.
- Giai đoạn khử amin.
Các loài vi sinh vật tham gia vào quá trình amôn hóa:
- Nấm sợi: Aspergillus.oryzae, Asp. flavus, Asp. candidus, Mucos pusilus,
Penicillium caseicolum, P. notatum, Ryzopus chimesis, Fusarium solani...
- Nấm men: Saccharomyces carls bengensis, S. cerevisiae, Candide albicans,
Endorycopsis fibuligera, Turolopsis insigeniosa...
- Vi khuẩn: Bacillus polymyxa, B. cereus, B. themoproteplyticus, B. subtilis,
Clostridium botulinum, E. coli, Proteus vulgaris,Str. lactis...
- Xạ khuẩn: Streptomyces, Thermonospora fusca, Thermoactinomyces vulgaries.
* Quá trình nitrat hóa
Quá trình nitrat hóa được thực hiện qua hai giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Giai đoạn nitrit hóa. Đây là giai đoạn chuyển hoá NH3, NH4+ → NO2-.
Vi khuẩn tham gia vào giai đoạn này: Nitrosomonas, Nitrosospira, Nitrosococcus,
Nitrosolobus.
- Giai đoạn 2: Giai đoạn nitrat hóa. Giai đoạn chuyển hoá NO2- → NO3Vi khuẩn tham gia vào giai đoạn này: Nitrobacter, Nitrospina, Nitrococcus.
Nhờ hoạt động của của vi khuẩn các chất hữu cơ chứa nitơ được vô cơ hóa tạo ra
các chất vô cơ chứa nitơ hòa tan. Đây là quá trình có lợi cho việc xử lý rác thải hữu
cơ, cần được thúc đẩy trong quá trình ủ.
SVTH: Nguyễn Văn Ngọ

Trang 20


Đồ án công nghệ 2

GVHD: TS. Bùi Xuân Đông

*Quá trình phản nitrat hóa.
( NO3- → NO2- → NO → N2O → N2 ↑ )
Các vi khuẩn tham gia quá trình này như: Thiobacillus denitritficans, Bacillus
licheniformis, Pseudomonas aeruginosa, Pseudomonas stutzeri.
Đây là quá trình giải phóng nitơ, không có lợi cho quá trình ủ chất thải, cần hạn
chế quá trình này.[2]
1.2.3. Các quá trình khác
Ngoài các quá trình trên còn có các quá trình chuyển hóa khác như quá trình
chuyển hóa lưu huỳnh, quá trình phân giải phospho hữu cơ, phospho vô cơ...
- Vi khuẩn tham gia chuyển hóa lưu huỳnh: Nhóm Thiobacillus tự dưỡng hóa
năng, họ Thiorodaceae, họ Chlorobacteria ceae, Bacillus subtilis...
- Vi khuẩn tham gia chuyển hóa phospho: Bacillus mycoides, Pseudomonas spp,
Actinomyces spp, Mycobacterium cyaneum, Flavobacterium aurantiacus...[2]
1.3. Tổng quan về phân vi sinh
Phân vi sinh là loại phân chứa một hay nhiều loại vi sinh vật sống có khả năng
kích thích sự tăng trưởng của cây bằng cách gia tăng sự hấp thu những dưỡng chất
cần thiết cho cây.
Phân hữu cơ vi sinh do Noble Hilner sản xuất đầu tiên tại Đức năm 1896 và được
đặt tên là Nitragin, sau đó phát triển sản xuất tại một số nước như Mỹ (1896), Canada
(1905), Nga (1907), Anh (1910) và Thụy Điển (1914).
Nitragin là loại phân được chế tạo bởi vi khuẩn Rhizoliumdo Beijerink phân lập
năm 1888 và được Fred đặt tên năm 1889 dùng để bón cho các loại cây thích hợp của
họ đậu.
Phân hữu cơ vi sinh có rất nhiều loại, nhiều dạng. Tuy nhiên có thể hiểu chung là
sản phẩm được chế biến từ việc kết hợp phân hữu cơ với việc chọn lọc, nuôi cấy, đưa
vào một hệ vi sinh nào đó có tính năng chuyển hóa được những gì có sẵn trong môi
trường đất tự nhiên trở thành những chất dinh dưỡng hữu ích cho cây trồng. Như vậy
một loại phân hữu cơ vi sinh thường có thành phần cơ bản bao gồm các hợp chất
SVTH: Nguyễn Văn Ngọ

Trang 21


Đồ án công nghệ 2

GVHD: TS. Bùi Xuân Đông

cacbon hữu cơ có tác dụng cải tạo đất và tạo ra môi trường thuận lợi cho vi sinh vật có
trong phân phát triển.
1.3.1. Ưu điểm của phân hữu cơ vi sinh
- Sử dụng phân hữu cơ vi sinh sẽ thay thế dần việc bón phân hóa học, giảm tính độc
hại do hóa chất gây ra mà vẫn đảm bảonâng cao năng suất thu hoạch.
- Sử dụng phân hữu cơ vi sinh về lâu dài sẽ dần dần trả lại độ phì nhiêu cho đất
như:Làm tăng lượng nitơ, phospho và kali dễ tan trong đất, cải tạo và giữ độ bền cho
đất nhờ khả năng cung cấp hàng loạt các chuyển hoá chất khác nhau liên tục do nhiều
quần thể vi sinh vật khác nhau tạo ra.
- Giá thành hạ, nông dân dễ chấp nhận, có thể sản xuất được tại địa phương và giải
quyết được việc làm cho một số lao động, ngoài ra cũng giảm được một phần chi phí
ngoại tệ nhập khẩu phân hóa học.[10]
1.3.2. Nguyên liệu sản xuất
1.3.2.1. Rác thải sinh hoạt
Nhà máy sử dụng nguồn nguyên liệu sản xuất chính từ rác thải sinh hoạt. Rác thải
sinh hoạt bao gồm nhiều thành phần, trong đó thành phần có ý nghĩa quan trọng,
quyết định chất lượng phân vi sinh là các hợp chất hữu cơ dễ phân hủy. Dưới tác động
của vi sinh vật thì rác hữu cơ được phân giải thành các chất mùn dễ hấp thụ cho cây
trồng. Do vậy để đảm bảo cho việc sản xuất đạt hiệu quả cao thì chúng ta cần phải
phân loại nguồn rác thải trước khi đưa vào sản xuất.
1.3.2.2. Chế phẩm EM và men vi sinh
Chế phẩm EM (Effective Microoganisms) được sử dụng trong xử lý rác thải, bao
gồm các vi sinh vật có ích, và các chất dinh dưỡng cần thiết cung cấp cho sinh trưởng
và phát triển của vi sinh vật.
Sử dụng chế phẩm EM dạng bột, pha thành dung dịch sử dụng cho quá trình khử
mùi rác thải.
Men vi sinh là dung dịch có chứa các men phân giải lignin và xenlulose hoặc
các chất khác có trong nguyên liệu.
SVTH: Nguyễn Văn Ngọ

Trang 22


Đồ án công nghệ 2

GVHD: TS. Bùi Xuân Đông

Các enzym phân giải lignin: Lignin pezoxidaza, mangan pezoxidaza,
laccaza, ligninaza.
Các enzym phân giải xenlulose: Exoglucanza, endogluanaza, xenlobioza,
xenluloza.
1.3.2.3. Nguyên liệu sản xuất khác
* Phân urê
Phân urê có dạng tròn, màu trắng trong, dễ hút ẩm, dễ chảy nước, khi tiếp xúc với
không khí. Urê dạng bột thường sử dụng có công thức: (NH2)2CO.
* Phân lân
Phân lân hay còn gọi là phân superphosphate đơn có màu xám xanh dạng bột mịn, khi
gặp ẩm dễ vón cục. Trong đề tài này sử dụng phân lân dạng bột có công thức hoá học:
Ca(H2PO4)2
* Phân kali
Phân kali có dạng viên tròn, màu đỏ, dễ hút ẩm, chảy nước khi tiếp xúc với không
khí. Phân lân dạng bột có công thức hoá học: K2O hoặc KCl.

SVTH: Nguyễn Văn Ngọ

Trang 23


Đồ án công nghệ 2

CHƯƠNG 2:

GVHD: TS. Bùi Xuân Đông

CHỌN VÀ THUYẾT MINH DÂY CHUYỀN

2.1. Dây chuyền công nghệ
2.1.1. Đặc điểm dây chuyền công nghệ
Ở các khu vực khác nhau trên thế giới thì đặc điểm, thành phần tính chất của rác
thải cũng khác nhau. Do vậy công nghệ xử lý chất thải rắn (rác thải sinh hoạt) cũng
khác nhau.
Trong quản lý xã hội ở các nước phát triển, họ đã có những phương pháp quy
hoạch rác thải từng khu vực như: Khu công nghiệp, khu sản xuất nông nghiệp, khu
vui chơi, giải trí, khu hành chính sự nghiệp…nên việc quản lý và xử lý rác thải dễ
dàng hơn… Ở các nước đang phát triển và kém phát triển, sự phân chia khu vực đó
chưa rõ ràng nên toàn bộ chất thải chưa được phân loại. Như vậy, ở những nước này,
chất thải thường rất phức tạp và có chiều hướng tăng rất nhanh. [3 trang 23]
Với những đặc trưng của rác thải đô thị Việt Nam, mà cụ thể là rác thải sinh hoạt ở
thành phố Đà Nẵng, ta chọn công nghệ An sinh – ASC cho thiết kế nhà máy này.
Đặc điểm của công nghệ An Sinh - ASC: [11]
- Mang tính chất một dây chuyền thiết bị đồng bộ từ khâu tiếp nhận rác thải đến
công đoạn sản xuất ra sản phẩm cuối cùng.
- Phù hợp với điều kiện địa phương.
- Giá thành rẻ hơn so với dây chuyền xử lý rác nhập ngoại.
- Giảm thiểu chôn lấp: Tỷ lệ chôn lấp không quá 10%.
- Phù hợp với xử lý rác thải sinh hoạt tươi của thành phố Đà Nẵng, rác được thu
gom chưa có phân loại từ đầu nguồn: Tỷ lệ thu hồi từ 25% đến 30% so với trọng
lượng rác tươi, tỷ lệ thu hồi plastic từ 7% đến 10% so với trọng lượng rác tươi.

SVTH: Nguyễn Văn Ngọ

Trang 24


Đồ án công nghệ 2

GVHD: TS. Bùi Xuân Đông

2.1.2. Sơ đồ dây chuyền công nghệ
Rác thải sinh hoạt

Bai tâp kêt rác

Vi sinh

Phun chê phẩm EM

Nạp lên băng chuyền xử ly

Phân loại sơ bô bằng tay

Tạp chất

Máy xé bao

Màng mỏng dẻo

Phân loại bằng sức gió lần 1

Màng mỏng dẻo

Đất, cát,

Sàng lồng 1

Tái chê

vụn hữu cơ

Tách tuyển bằng tay

Máy tách tuyển

Sàng rung

từ tính

Máy băm,

Vụn hữu cơ

Kim loại

Tái chê

cắt nhỏ

Màng mỏng dẻo

Phân loại bằng sức gió lần 2

Tái chê

Phối trôn

SVTH: Nguyễn Văn Ngọ

Men vi sinh

Trang 25

Giống

Nhân giống


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×