Tải bản đầy đủ

bộ sưu tập trường phái lập thể

1. L ý do ch ọn đ ề t à i .

- Xuất hiện từ năm 1906 - 1914 nhưng tranh lập thể ( Trường phái
Lập thể ) đã có những tác động nhất định vào các loại hình nghệ thuật.
Từ điêu khắc, tạo dáng, kiến trúc, đồ họa, và thời trang.... Và nó đã
phá bỏ những quan niệm chủ quan của con người vào thời đó về hội
họa. Tmh lập thể cũng gây với bản thân tôi những cảm xúc cho việc
sáng tác thời trang. Và trong xu hướng thời trang những năm gân đây
và hơn hết là năm 2010 người mặc vẫn thích những trang phục đơn
giản và cá tính nhưng nó cũng đòi hởi sự tinh tế của trang phục. Và tôi
nghĩ trường phái lập thể có những yếu tố mà tôi cần.
2 . C á c tài liệu th am k h ảo.

- Alfred H. Barr, Jr, Tóm tắt Lập thể và Nghệ thuật, New York: Bảo
tàng nghệ thuật hiện đại, 1936.
- John Cauman (2001) Inheriting Lập thể.: Tác động của Lập thể vê
Mỹ thuật, 1909-1936. New York: Hollis Taggart Galleries.
-Cooper, Douglas (1970). The Epoch cubist. London: Phaidon gắn
với Los Angeles County Museum of Art & Bảo tàng Nghệ thuật
Metropolitan của.
-John Golding, Lập thể: A History và một phân tích, 1907-1914, New

York: Wittenborn, 1959.
-Richardson, John. A Life O f Picasso, The Rebel cubist 1907-1916
New York.
- Batterberry, Michael. Twentieth Century thuật. McGraw, 1970.
-Gerhardus, Maly và Gerhardus, Dietfried. Lập thế và Chủ nghĩa vị
lai. Dutton, 1979.
- Palau i Fabre, Josep. Picasso: The Early Years, 1881-1907.
Rizzoli,
1981.
-Selz, Peter. Nghệ thuật Ở Times của chúng tôi: A Pictorial History
1890-1980. Abrams, 1981
I.S ự h ìn h th à n h và p h á t triển củ a tr ư ò iìg p h á i lậ p th ế.
1. K hái niệm.

- Chủ nghĩa lập thể, còn gọi là trường phái lập thể (Cubism) là một
trường phái hội họa tạo ra cuộc cách mạng vê hội họa và điêu khăc
châu Au vào đầu thế kỷ 20.
- Trong tác phẩm của họa sĩ lập thể, đối tượng được mổ xẻ, phân tích
và được kết hợp lại trong một hỉnh thức trừu tượng. Người họa sĩ
không quan sát đối tượng ở một góc nhìn cố định mà lại đồng thời
phân chia thành nhiều mặt khác nhau, nhiều khía cạnh khác nhau.
Thông thường các bề mặt, các mặt phẳng giao với nhau không theo
các quy tăc phôi cảnh làm cho người xem khó nhận ra chiêu sâu của
bức tranh.

i


-Chủ nghĩa lập thể do Georges Braque và Pablo Picasso khởi xướng
năm 1906 tại khu Montmartre của kinh đô ánh sáng Paris, Pháp. Họ
gặp nhau năm 1907 và làm việc cùng nhau cho đến năm 1914 khi Đệ
nhất thế chiến bắt đầu.
- Nhà phê bình hội họa người Pháp Louis Vauxcelles sử dụng danh từ
"lập thể" lần đầu tiên để ngụ ý rằng đó là những hình lập phưomg kỳ
quặc vào năm 1908. Sau đó danh từ này được hai nhà khai phá của
trường phái lập thế sử dụng một vài lần và sau đó thành tên gọi chính
thức.
- Trường phái Lập thế khai sinh ở đồi Montmartre, sau đó lan ra các
họa sĩ khác ở gần đó và được nhà buôn tranh Henry Kahn Weiler
truyền bá. Nó nhanh chóng trở nên phổ biến vào năm 1910 và được

gọi là chủ nghĩa lập thể. Tuy nhiên, một số họa sĩ khác cũng tự coi là
họa sĩ lập thể khi đi theo các khuynh hướng khác với Braque và
Picasso.
- Lập thể ảnh hưởng tới các nghệ sĩ vào thập niên 1910 và khơi dậy
một vào trường phái nghệ thuật mới như chủ nghĩa vị lai, chủ nghĩa
cấu trúc và chủ nghĩa biểu hiện.
- Các nghệ sĩ thiên tài, Braque và Picasso mở ra phương pháp mới
trong cách diễn đạt và thế hiện không gian trong hội họa nhưng chính
họ lại bị ảnh hưởng của các nghệ sĩ khác như Paul Cezanne, Georges
Seurat, điêu khắc Iberi, nghệ thuật điêu khắc châu Phi và như sau này
Braque thừa nhận, họ bị ảnh hưởng bởi chủ nghĩa dã thú.

%


1.1 C á c lo ạ i lậ p th ể.
1.1.1 Lập thế phân tích

- Picasso và Braque sát cạnh bên nhau để mở đường cho ý tưởng tiền
lập thể vào những năm 1906-1909, sau đó là "chủ nghĩa lập thể phân
tích" (1909-1912). Vào thời kỳ này, hội họa của họ là nhiều bề mặt
gần như đơn sắc, những đường thẳng không hoàn thiện, những hình
khối đan xen lẫn nhau.
- Bức họa Les Demoiselles d’Avignon (Những cô nàng ở Avignon)
của Picasso không được coi là lập thể nhưng nó lại được coi là cột
mốc quan trọng để tiến đến trường phái lập thể. Trong tác phẩm này,
lần đầu tiên Picasso thế hiện các hướng nhìn khác nhau cùng một lúc
của vật thế ba chiều trên không gian hai chiều của bức tranh. Dựa trên
ý tưởng này, Braque khai triến thêm nhiều khía cạnh khác và hai
người này đã tạo ra trường phái lập thế.
- Một số nhà sử học còn gọi giai đoạn này của chủ nghĩa lập thế là giai
đoạn bí hiểm vì các công trình được vẽ theo lối đơn sắc và khó có thế
hiểu được. Người họa sĩ chỉ để lại một chút dấu vết trên bức tranh để
có thể nhận ra đối tượng của họ. Lúc này, chủ nghĩa lập thể rất gần với

3


chủ nghĩa trừu tượng. Một số chữ cái cũng được đưa vào các bức
tranh để làm đầu mối gợi ý ý nghĩa của các bức tranh.
1.1.2 L ậ p th ể tổ n g h ọ p

- Giai đoạn tiếp theo của lập thể phân tích là "lập thể tổng hợp", bắt
đầu vào năm 1912.
- Trong lập thể tổng hợp, bố cục của bức tranh gồm các chi tiết chồng
chất lên nhau, những chi tiết này được tô sơn hoặc được trát sơn lên
nền vải, chúng có màu sắc sặc sỡ hơn. Không giống như lập thể phân
tích, ở đó vật thể bị bẻ gãy làm nhiều mảnh, lập thể phân tích cố gắng
kết hợp nhiều vật thế với nhau để tạo nên các hình khối mới.
- Thời kỳ này còn đánh dấu sự ra đời của tranh dán và tranh dán giấy.
Picasso đã phát minh ra tranh dán với bức tranh nối tiếng của ông là
Tĩnh vật với chiếc mây trong đó ông đã dán những miếng vải dầu lên
một phần của chiếc ghế mây. Braque cũng lấy cảm hứng từ bức tranh
này để tạo ra tác phẩm Đĩa hoa quả và cốc thủy tinh. Tranh dán giấy
cũng gồm các vật liệu dùng để dán nhưng có điều khác là các mấu
giấy dán chính là các vật thể. Ví dụ, cốc thủy tinh trong bức tranh Đĩa
hoa quả và cốc thủy tinh chính là một mẩu giấy báo được cắt thành
hình chiếc cốc.


- Trước đó Braque đã sử dụng chữ cái nhưng các tác phấm của thời kỳ
lập thể tổng hợp đã đưa ý tưởng này đến một tầm cao mới. Các chữ
cái trước đây dùng để gợi ý cho chủ đề thì này chúng chính là chủ đề.
Các mẩu giấy báo là các vật dụng được các họa sĩ dùng nhiều nhất. Họ
còn đi xa hcm nữa là dùng giấy với hình khắc gỗ. Sau đó còn đưa thêm
các mẩu quảng cáo trên báo vào tác phấm của họ và điều này làm cho
các công trình của các nhà lập thể có thêm phần màu sắc.
Các họa sĩ lập thể nổi tiếng:

Georges Braque, Marcel Duchamp, Juan Gris, Fernand Leger, Jacques
Lipchitz, Louis Marcoussis, Marie Marevna, Jean Metzinger, Francis
Picabia, Pablo Picasso, Liubov Popova, Marie Vassilieff, Fritz
Wotruba
1.1.3 S ơ lư ọ t v ề h ai n h à sá n g lậ p tr ư ờ n g p h á i lậ p th ế G e o rg e s
B ra q u e v à P a b lo P ica sso
G eorges Braque:

Sinh ngày 13 Tháng Năm 1882, Georges Braque được đào tạo tại
trường nghệ thuật ở Le Havre. Từ 1902-1904 Braque đã đi đến Paris
để học tại Humbert Académie và sau đó tại Ecole des Beaux-Arts
(Trường Mỹ thuật) trong xưởng vẽ của Leon Donnât. Braque đã có
những tác phấm đầu tiên. Chịu ảnh hưởng của André Derain, Henri
Matisse, và Maurice de Vlaminck, trong đó ông sử dụng các mẫu và
màu sắc rực r ỡ ..

5


Một thay đổi quan trọng trong nghệ thuật của Braque đến vào mùa
thu năm 1907, khi ông nhìn thấy tranh của Paul Cézanne tại triển lãm
tưởng niệm tại Salon d'Automne và Bernheim-Jeune Gallery. Vào
thời gian này, ông cũng gặp Picasso. Trong công việc cuối của
Cézanne. Trong thời hạn ba năm, Picasso và Braque phát minh ra hội
họa phân tích,.
Những bức tranh cua Braque :

Khỏa thân

‘Violin và Pitcher"

"Chai và Fishes"

Ê

"Sân Hotel Mistral"


P a b lo P icasso:

Pablo Ruiz y Picasso,
(1881-1973), là họa sĩ, nhà
điêu khắc Tây Ban Nha.
Ông được coi là nghệ sĩ vĩ
đại nhất của thế kỷ 20.
Ông là một nhà phát minh
độc đáo, như là một sáng
tạo của các phong cách và
kỹ thuật, như là một bậc
thầy của các phương tiện truyền thông khác nhau,
và là một trong những nghệ sĩ sáng tác nhiều nhất
trong lịch sử. Ông đã tạo ra hơn 20.000 công
trình.
Ông sinh ra tại Málaga ngày 25 tháng 10 năm
1881. Picasso là con trai của José Ruiz Blasco,
một giáo viên nghệ thuật, và mẹ María Picasso
Lopez. Cho đến năm 1898, ông luôn luôn được
sử dụng tên của cha mình trang các tác phấm nhệ
thuật, Ruiz, và tên thời con gái của mẹ mình. Sau
khoảng 1901 ông đã bị bỏ "Ruiz" và được sử
dụng tên thời con gái của mẹ mình để đăng ảnh
của ông.
Các tác phẩm về lập thể của Picasso


Portrait of Daniel-Henry Kahnweiler" (1910)

Les Demoiselles
d'Avignon (1907), Bảo tàng nghệ thuật hiện đại, New York


Guernica, 1937, Museo Reina Sofía
N ghệ sĩ khác theo nghệ thuật lập thể :

Ngoài Picasso và Braque tranh lập thê còn được tiêp tục phát triên
bởi rất nhiều các hoạ sĩ như: Juan Gris, Fernand Léger, R obert, Sonia
Delaunay, Roger de la Fresnaye, Marcel Duchamp, Albert Gleizes, và
Jean Metzinger . Mặc dù chủ yếu là một phong cách kết hop với sơn,
Lập thể cũng có một sô ảnh hưởng sâu săc vê điêu khăc thê kỷ 20 và
kiến trúc. Các nhà kiến trúc chịu ảnh hưởng của lập thể là Alexander
Archipenko, Raymond Duchamp-Vilỉon, và Jacques Lipchitz. Việc
thông qua tính thẩm mỹ lập thể do kiến trúc sư Le Corbusier được
phản ánh trong hình dạng của những công trình nhà mà ông đã thiêt
kế trong thập niên 1920.
Juan Gris người được coi là nghệ sĩ lớn thứ ba của thời kỳ này về
trường phái lập thể.

5


Juan Gris:

Chân dung "của Picasso”
- Ông sinh ra tại Madrid và được đào tạo ở de Escuela Manufacturas
y Artes (Trường Nghệ thuật và sản xuất). Ông rời Madrid vào năm
1906 và đã đi đến Paris, ở tại nơi này ông đã quen biết với Pablo
Picasso và Georges Braque.
Những bức tranh lập thể đầu tiên của Gris, nhiều hơn những tính
toán của Picasso và Braque trước đó, xuất hiện vào năm 1912. Ong đã
trải qua mùa hè tiếp theo trong Céret, Pháp, với Picasso, và trong khi
có được thông qua việc sử dụng "Colle papier", hình dạng cắt từ giấy,
một dạng cắt và dáng giấy. Trong Thế chiến 1 (1914-1918) ông làm
việc ở Paris cho đến khi ông đã mở một cuộc trien lãm đầu tiên của
mình tại Paris năm 1919.
Từ 1922-1924, ông đã tham gia sáng tác ở nhà hát ba lê của Nga
Sergey Diaghilev, "Les Tentations de la Bergere" (The Temptations
của Shepherdess) và "La Colombe" (The Dove), bên cạnh đó ông cũng
tiếp tục vẽ tranh .
Sau 1925 ông làm việc chủ yếu vào gouaches, watercolors, và minh
họa cho sách. Kỹ thuật cắt giấy tiêu biểu của ông-là "Ly và báo".
Hầu hết các bức tranh của ông vẫn còn ảnh hưởng của lập thể, bao
gồm cả "Violin và Guitar", và "The open Window". Ông đã vẽ rất
nhiều nhạc cụ.


Ông được gọi là một trong những người đi tiên phong của Lập thế,
ông mất av2o ngày 11 Tháng 5 năm 1927 ở tuối 39.

F e r n a n d L éger:

(1881-1955) Léger là một họa sĩ người Pháp, những người chịu ảnh
hưởng của nghệ thuật lập thế, các poster thương mại hiện đại và các
loại hình nghệ thuật đã áp dụng lập thể. Sinh ra tại Argentan, Pháp,
ông đã học kiến trúc 2 năm tại Caen, Pháp, và sau đó là nghiên cứu
sinh không chính thức với hai giáo sư tại École des Beaux - trường
nghệ thuật ở Paris, Pháp.
Bắt đầu từ năm 1910 ông đã làm một nhà triển lãm nổi bật và là thành
viên của Salon des Indépendants. Phần lớn các hình ảnh ban đầu ông
đã lập thể trong ký tự, như trong "Nudes trong rừng". Cùng với
Georges Braque và Pablo Picasso, Léger đã đóng một vai trò quan
trọng trong sự phát triển và truyền bá trường phái lập thể.
Trong những năm sau đó Léger đã chịu ảnh hưởng từ những kinh
nghiệm của mình trong chiến tranh thế giới I. Ông bắt đầu sử dụng các
biếu tượng rất nhiều từ thế giới công nghiệp và cố gắng miêu tả các
đối tượng của mình và những người trong các hình thức máy móc
công nghiệp . "Thành phố này" là một trong những bức tranh của ông
đáng chú ý nhất. Công việc của Léger đã có một ảnh hưởng quan
trọng như các phong trào neoplasticism ở Hà Lan và Constructivism ở
Liên Xô. Ông đã nỗ lực rất thành công như là một họa s ĩ , như là một
nhà điêu khắc, và trong việc tạo ra ghép, gốm sứ.

ii


Jacques Lipchitz:

(1891-1973) Lipchtiz là một nhà điêu khắc Pháp. Ban đầu được đặt
tên là Jacob Chaim Lipchitz, ông được sinh ra ở làng Druskininkai,
Nga (hiện tại Lithuania). Năm 1909, trong khi theo học tại École des
Beaux-nghệ thuật ở Paris, ông tham gia một nhóm các nghệ sĩ, trong
đó có người Tây Ban Nha Juan Gris và Pablo Picasso, những người đã
được thử nghiệm với hội họa, và sớm được công nhận là một trong
những điêu khắc theo phong cách lập thể. Một ví dụ quan trọng của
công việc sử dụng lập thể là "Reclining Nude với Guitar". Ông đã nổ
lực làm nên phẩm chất huyền bí và kỳ diệu cho điêu khắc. Một trong
những chủ đề thường xuyên Lipchitz, đặc biệt là sau khi đến ú c tại
Mỹ vào năm 1941, là chiến thắng, như là biểu tượng trưng trong
"Prometheus bóp nghẹt các Ken kền". Tượng đài Hòa bình "của ông
trên Trái Đất" là một ví dụ tốt về vĩ và trầm lắng của công việc cuối
năm của ông.




A lexander Porflryevich Archipenko:

(1887-1964) Archipenko là một nàh điêu khắc người Mỹ , sinh năm
Kyyiv. Ông học tại các trường học và Nghệ thuật Kyyiv tại Ecole des
Beaux-nghệ thuật ở Paris. Ông đã làm tại Paris, ông đã hoạt động ở
đó từ năm 1908-1914; sống tại Berlin 1921-1923 và 1923 ông sống ở
Hoa Kỳ, nơi ông đã dạy và giảng dạy tại các trường cao đẳng và đại
học khác nhau. Từ 1939-1955, ông tiến hành mở ra một trường học tư
nhân mỹ thuật tại New York. Archipenko là một thí nghiệm và sáng
tạo trong điêu khắc, hình thức trừu tượng bắt nguồn từ những con số
của con người trong một số tác phẩm điêu khắc cubist sớm nhất được
biết đến như "Medrano". Phong cách của ông dựa trên sự nhấn mạnh
cho làm cho bề mặt bị lổ, không gian âm tính.

43


M arcel Ducham p:

(1887-1968) Dada Duchamp đã là một nghệ sĩ Pháp,ông đã có những
ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của phong trào nghệ thuậ thế kỷ
20. Sinh ra vào ngày 28 tháng 7 năm 1887, trong Blainville, anh trai
của nghệ sĩ Raymond Duchamp-Villon và em trai của họa sĩ Jacques
Villon, Duchamp.
Trong điêu khắc, Duchamp đi tiên phong trong đối mới đồi nghệ
thuật của thế kỷ 20, nghệ thuật là động lực và sẵn sàng làm nghệ
thuật. "San sàng của ông-mades" đơn giản ảnh hưởng phố biến của
ông là rất quan trọng vào sự phát triển của surrealism, Dada, và Pop
Art. Duchamp đã trở thành một công dân Mỹ trong năm 1955. Ông
mất ở Paris vào ngày 01 Tháng Mười 1968.

iị


Trong bức tranh cuôi của ông,. 'The Great Parade" một trong những
bức tranh cuối cùng của ông, là một ví dụ của ảnh hưởng lập thể.

R obert Delaunay:

(1885-1941) Delaunay là một họa sĩ Pháp, một nhà tiên phong của
nghệ thuật trừu tượng ở đầu thế kỷ 20. Năm 1912 ông chuyển từ họa
với các hình thức hình học và màu sắc đơn sắc-đến một phong cách
mới, được gọi là Orphism, trong đó tập trung vào các hình thức tròn
và màu sắc tươi sáng. “Series Windows” của ông (1912) là một trong
những ví dụ đầu tiên của nghệ thuật hoàn toàn trừu tượng, một mốc
quan trọng trong nghệ thuật hiện đại. Tình yêu của Delaunay về nhịp
điệu và chuyến động đã dẫn đến một vài loạt các bức tranh dựa trên sự
kiện thể thao, như Sprinters và lên đến đỉnh điểm trong các tác phấm
sáng chói và mang tính chất trừu tượng tập trung hoàn toàn vào nhịp
điệu, như Rhythms sau này và Eternal Rhythms.

45


2.Sự ảnh hưỏtig
2.1 Kiến trúc


2.2 T r o n g tạo d án g.



2.4 Điêu khắc

$


2.5 T h ò i tra n g :
Basso & Brooke, Fall 2009

20


r

,

'VIỆN

ITPƯQMO t)H KỶ THUẬT CÕNG NGHÉ TP.HCU

IC \OOSk QO

li


1%


3.1 K ỹ th u ậ t vẽ lập th ể p h ân tích

Một số nhà sử học gọi giai đoạn này của chủ nghĩa Ịập thể là
giai đoạn bí hiếm vì các công trình được vê theo lối đơn sắc và khó có
thê hiêu được. Người họa sỹ chỉ đê lại một chút dấu vết trên bức tranh
đế có thê nhận ra đối tượng của họ. Lúc này, chủ nghĩa lập thê rất gần
với chủ nghĩa trừu tượng. Một số chữ cái cũng được đưa vào các bức
tranh đế làm đầu mối gợi ỷ, ý nghĩa của các bức tranh.
Trong thời kỳ này Picasso đã pha trộn các vật liệu khác vào
màu đê tạo nên các hiệu ứng bề mặt. Ong đã cho cát , mùn cưa vào
màu đế vẽ tranh.
Lập thể phân tích cần nhiều trí tuệ hơn so với giai đoạn thứ hai
lập thế tống hợp. Lập thế phân tích là giai đoạn phát triển đầu tiên của
Lập thể. Công việc là khó khăn để đọc (giải thích) và là cố ý không
rõ.

3.2 L ập th ể tổ n g h ọp

Trong lập thê tống hợp, bố cục của bức tranh gôm các chi tiết
chồng chất lên nhau, những chi tiết này được tô sơn hoặc được trát sơn
lên nền vải, chúng có màu sắc sặc sỡ hơn. Không giống như lập thế
phân tích, ớ đó vật thể bị bẻ gãy làm nhiều mảnh, lập thể phân tích cố
găng kêt hợp nhiều vật thế với nhau để tạo nên các hình khôi mới.
Thời kỳ này còn đánh dấu sự ra đời của tranh dán và tranh
dán giấy. Picasso đã phát minh ra tranh dán với bức tranh nổi tiếng
của ông là Tĩnh vật với chiếc máy trong đó ông đã dán nhừng miêng
vải dầu lên một phần của chiếc ghế mây
4. Đặc trưng cho BST
Bộ sưu tập sẽ sử dụng kỹ thuật giống như cách vẽ lập the
phân tích. Bằng cách tạo các mãng màu và kết hợp các vật liệu khác
đế vẽ, phun màu lên vải. Ngoài ra BST cũng sẽ tạo các đường cắt, và
sắp xếp các mãng trên trang phục, như tinh thần cốt lồi của trang lặp
thê. Một phân khác BST sẽ kết hợp các chất liệu khác nhau trên một
bộ trang phục.


X u h irön g 2011:

ELITIST ELEGANCE

THE PRECIOUS ÜBER

M


BE

EXOTIC JUNK
THE NEO DISSIDENTS
WILD ANTI ESTABLISHMENT

NEO PRATES

DISOBEDIENT

OAZZUNG

Who has never dreamt o( a land ol one’s own, a paradise between earth and
sea, voluntarily shipwrecked, to create one's own civilization, far from the
restraints of urban world ? Our imaginations drawn to Easter Island, to the
legendary shores of Hawaii, and then to inventing a new kind of esthetic.

X5


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×