Tải bản đầy đủ

SA ngay nay 60 (3 2010)

MUA VÀNG –

DIỄN ĐÀN Y HỌC
TRẢho5c
BẠC

Phan Xuân Trung
Trong điều cuối cùng của
các lời thề Hippocrates ghi:
"Nếu tôi làm trọn lời thề này
và không có gì vi phạm tôi
sẽ được hưởng một cuộc
sống sung sướng và sẽ được
hành nghề trong sự quý
trọng mãi mãi của mọi
người". Vậy nghĩa là nghề y
chân chính là một nghề mà
thầy thuốc sẽ có cuộc sống
sung sướng và được sự quý
trọng. Điều này đúng với tất
cả các nước khác, tất cả mọi

thời đại, ngoại trừ Việt Nam
hiện nay. Thực tế ở Việt
Nam hiện nay, người làm
việc trong ngành y không hề
được sung sướng mà còn bị
sỉ nhục. Sự sỉ nhục từ bên
ngoài không thể làm hoen ố
màu áo trắng tinh khiết vốn
có của y khoa mà chỉ làm
xấu thêm cho những ai
đang thực hiện sự sỉ nhục
đó.
Xã hội Việt Nam, đúng hơn,
nhà nước Việt Nam đang
bóc lột thậm tệ trí và lực
của nhân viên y tế để tô vẽ
cho "tính nhân đạo xã hội
chủ nghĩa". Người ta muốn
chứng tỏ rằng ở Việt Nam, 2
yếu tố giáo dục và y tế được
cung cấp cho dân chúng với
giá rất rẻ, họ quan tâm đến
người nghèo, "không người
nghèo nào phải chết vì
không được chữa trị". Thế
nhưng những nhân viên y
tế, người thực hiện cụ thể
cho chính sách cao đẹp đó
lại bị bỏ mặc với đồng lương
tệ hại. Những nhà quản lý
nhắm mắt làm ngơ trước
thực tế cuộc sống của nhân
viên y tế, bắt nhân viên y tế
phải phục vụ kiệt sức trong
những điều kiện thiếu thốn
nhưng đãi ngộ thì không có.
Họ chỉ có khai thác mà
không có bồi dưỡng. Nói
nôm na là họ đang "mua
vàng trả bạc".

(Xin giải thích thêm, vàng ở
đây nghĩa là sức khỏe bởi có
câu "sức khỏe là vàng".
Người mất sức khỏe thì
không có khả năng đóng
góp trí, lực cho xã hội mà
còn trở thành gánh nặng
cho xã hội. Người thầy
thuốc mang lại sức khỏe cho
bệnh nhân tức là đóng góp
gián tiếp cho phát triển kinh
tế, hạnh phúc của xã hội.
Bạc ở đây là sự bạc bẽo, vô
ơn của xã hội đối với ngành
y, không phải là tiền bạc.

"Mua vàng trả bạc" nói lên
được thực trạng của xã hội
đối với ngành y ngày nay).
Vietnamnet ngày 13/8/2010
giật tít một bài viết cực kỳ
xúc phạm: "Bác sĩ: Nghèo +
thức thời + chụp giựt + trục
lợi", sau đó tựa bài đổi lại
thành "Bác sĩ: Nghèo thì khó
giữ y đức?". Bài viết nêu ý
kiến của các quan chức y tế
cũ và mới về vấn đề lương
nhân viên y tế. Những ý
kiến này bộc lộ tư duy của
từng con người đã từng
hoặc đang nắm vai trò lãnh
đạo liên quan đến y tế.
Ông Phạm Song - Giáo Sư,
Viện sỹ, nguyên Bộ trưởng
Bộ Y tế, Chủ tịch Tổng hội Y
học Việt Nam vài tuần lễ
trước đây đã phát biểu
rằng: "Bác sĩ cần phải được
giáo dục lại" (mặc dù không
biết ai đủ tư cách giáo dục
ai), nay lại nói: "Lương thấp
nhưng đời sống cao là có cái
gì đó không được minh bạch
và thiếu nhân đạo". Suy
diễn câu nói của ông thì
những bác sĩ phải nghèo thì
mới là nhân đạo, còn giàu
(không cần biết tại sao giàu)
thì thiếu nhân đạo. Chỉ câu
phát biểu ngắn thôi, nhưng
chứa nhiều điều cần suy
gẫm.
Một, bác sĩ mà lại nghèo!
Xã hội gì mà kỳ vậy? Thu
nhập của bác sĩ ở các nước
khác là đứng hàng nhất nhì
trên bậc thang thu nhập của
xã hội, còn ở Việt Nam là
hạng chót! Vá ruột người rẻ
hơn vá ruột xe. Công ăn học
hàng chục năm mà thu
nhập không bằng anh thợ
hớt tóc.
Hai, bác sĩ mà không minh
bạch. Sự không minh bạch
này nếu xảy ra ở từng con
người riêng rẻ thì đó là
không minh bạch cá nhân.

Siêu âm ngày nay Tập 60 ι Số 3/2010

Tuy nhiên, sự không minh
bạch hiện nay không phải
xảy ra ở một cá nhân mà là
cả một ngành nghề, và như
nhận định của ông Phạm
Song, nó xảy ra ở toàn xã
hội. Vậy thì không phải là
bác sĩ không minh bạch mà
là xã hội không minh bạch.
Không minh bạch nghĩa là
dối trá. Ngành y khoa không
có sự dối trá. Hình ảnh thiếu
minh bạch của ngành y
khoa Việt Nam hiện nay là
do ngành y nhúng mình vào
một xã hội dối trá nên nó
cũng bị mang màu sắc dối
trá.
Ba, bác sĩ mà thiếu nhân
đạo. Ngành y là ngành cứu
giúp người, không thể nói là
không nhân đạo. Nếu như
nhân viên y tế làm sai điều
gì đó hoặc không thực hiện
được sứ mệnh của mình thì
phải xem lại điều kiện thực
tế để xem tại sao có sự
nghịch lý như vậy. Ta vẫn
thường nghe câu "Thầy
thuốc như mẹ hiền", mẹ nào
chẳng thương con, chẳng lo
cho con. Thế nhưng mẹ đói,
không có ăn thì làm gì có
sữa cho con bú. Bản thân
mẹ mặc không đủ thì lấy
đâu ra hơi ấm mà che cho
con? Đó là chưa nói đến
những hàng "nghịch tử".
Không ít trường hợp bệnh
nhân đầu gấu rượt đánh bác
sĩ. Những kẻ nhân danh cái
nghèo của mình để trở nên
hung tợn như Chí Phèo, bắt
người khác phải phục dịch
cho mình. Bảo Hiểm Y Tế đã
trả cho đến 95% tiền viện
phí mà cũng không dứt lời
ca cẩm.
Bốn, "đời sống cao là thiếu
minh bạch và thiếu nhân
đạo". Ông Phạm Song có vơ
đũa cả nắm không? Nếu ông
nói đến những chiếc xe hơi
trong sân bệnh viện của
những vị lãnh đạo ăn trên
ngồi trốc hưởng lộc bất
minh thì đúng. Họ là người
lãnh lương ít nhưng giàu có
vì nhiều cách. Tuy nhiên,
nếu ông nói về các bác sĩ thì
ông cần phải suy nghĩ lại.
Bác sĩ không phải là những
con cừu cho người ta chăn
dắt, phải sao chịu vậy, cho
ăn thì ăn, bắt đói thì chịu
đói. Chúng tôi có trí óc để
tự lo toan cho cuộc đời
mình, gia đình mình dù phải

1


làm việc với đồng lương
chết đói. Đa phần bác sĩ đi
theo ngành y là những
người lương thiện, đề cao
giá trị tinh thần, trọng chữ
nghĩa nhân hơn giá trị vật
chất. Vì giá trị tinh thần đó
mà những người anh em y
khoa thầm lặng làm việc,
mặc cho xã hội bêu rếu, bạc
đãi. Bác sĩ cũng cần phải
sống để còn thực hiện sứ
mạng của mình. Mặc dù có
không ít bác sĩ bỏ nghề,
nhưng cũng còn có những
lối thoát khác giúp bác sĩ
bám trụ. "Thợ may ăn giẻ,
thợ vẽ ăn hồ", bác sĩ cũng
có thể làm phòng mạch tư
để kiếm thêm. Bác sĩ giỏi,
có uy tín, làm chuyên khoa
đặc biệt thì thu nhập khá.
Chả lẽ vì những thu nhập
chân chính đó mà là thiếu
minh bạch và thiếu nhân
đạo?
Về việc hoa hồng thuốc
men. Đã bao lần báo chí
nêu vấn đề, nhưng đã chỉ ra
được ai là tội phạm? Các
công ty kinh doanh dược
phẩm thực hiện đúng pháp
luật về kinh doanh, về hoa
hồng, chiết khấu... Các tỷ lệ
chiết khấu nằm trong giới

hạn cho phép của quy định
pháp luật.
Các thủ thuật kinh doanh
bắt buộc cty dược phải trả
công cho người giúp đỡ họ.
Dù kê đơn thuốc cho ai đi
nữa, không công ty này
cũng công ty khác tìm đến
bác sĩ để chia phần lợi tức
nhằm duy trì công việc làm
ăn. Suy cho cùng thì bệnh
nhân là người nuôi bác sĩ.
Bệnh nhân không nuôi qua
đồng thuế, đồng lương thì
nuôi qua đồng thuốc. Đó là
cơ chế tự điều tiết của xã
hội. Chỉ thương cho những
người đồng nghiệp làm việc
ở môi trường độc hại như x
quang, nhiễm khuẩn... mà
không có cơ chế bù đắp.
Các bác sĩ lâu nay thường
quý trọng màu áo trắng của
mình, không thích lên tiếng
khi báo chí bêu rếu những
điều không đúng về mình.
Có vị bác sĩ già đã phát biểu
trong cuộc họp anh em:
"Báo chí họ nói thì cứ nói,
họ không phải người làm y
khoa nên họ không hiểu gì
hết. Họ nói bậy kệ họ,
không cần tranh cãi. Ta cứ
làm công việc của mình".
Thế nhưng, sự kiện tăng
viện phí của Bộ Y Tế đã làm

DIỄN ĐÀN Y HỌC
miếng mồi ngon cho khá
ho5c
nhiều báo chí nhảy vào
báng bổ ngành y tế. Có
những bài báo viết như thể
đang nghiến răng, chì chiết
ngành y tế. Tôi đã khều
phóng viên Vietnamnet để
hỏi cô ấy viết bài trên quan
điểm gì? Sau đó vấn đề
lương phạn bác sĩ được cô
phóng viên khui ra với nhiều
bức xúc. Hay thay, những
"ông lớn" với đầu óc già
nua, xơ cứng, tư duy não
trạng bị dừng lại từ 30 năm
trước của thời bao cấp được
mời phỏng vấn đã phát biểu
những lời không hợp thời
sự, mang tính giáo điều,
thiếu thực tế. Chính những
chính sách, tư duy thời đó
đã dẫn ngành y tế Việt Nam
đến tình trạng "mua vàng trả bạc" ngày hôm nay.
Mong sao những lãnh đạo
ngành y tế ngày nay đừng vì
"tôn sư, trọng đạo", "giữ
vững lập trường quan điểm"
mà đi theo đúng lối mòn
chính sách lạc hậu của thời
bao cấp gây hậu quả xấu
cho danh tiếng ngành y.
Hãy tư duy, động não, bắt
kịp thực tế để tìm hướng
giải quyết chứ đừng ở đó
phê phán y đức.

VÌ SAO CHỮ “SĨ” TRONG NGÀNH Y BỊ XUỐNG CẤP?
Với bác sĩ, y sĩ thì chữ “SĨ”
là điều rất quan trọng. Thế
nhưng xã hội lại đang phải
chứng kiến sự xuống cấp
của cái “SĨ” trong ngành y.
Nguyên nhân vì sao?
Bác sĩ thành danh thật lắm
gian nan, cả về thời gian và
sự trưởng thành trong nghề
nghiệp. Trước năm 75 ở
miền Nam, để đậu được vào
Y khoa Huế, Sài Gòn khó đã
đành, đến khi tốt nghiệp
cũng “trầy vi tróc vẩy”.
Nhiều người không theo nổi
phải “nửa đường đứt gánh”,
đành chuyển nghề hoặc có
khi ra trường vẫn còn nợ
luận án…
Sau năm 1975, có thời kỳ
không ai thèm thi vào y
khoa nên điểm chuẩn đầu
vào rất thấp. Đơn cử như
điểm chuẩn vào Đại học Y
khoa Huế năm 1998 chỉ 14
điểm. Tuy nhiên những năm
gần đây, xã hội lại trở lại
chuộng
“nhất
Y,
nhì
Dược”… Điều đó nói lên,
qua bao thăng trầm lịch sử,
y khoa luôn là một ngành
được nhiều chiếu cố. Đó là

Lê Quang Thông
điều đáng mừng cho xã hội
trọng học vấn.
Sinh viên thích vào ngành y
(dù gần đây điểm chuẩn cao
ngất trời) có nhiều lý do.
Ngoài nỗi đam mê nghề
nghiệp, mong được góp
phần cứu chữa cho người
bệnh thì còn có những lý do
khác. Trong đó có sự nể
trọng, mối quan hệ xã hội,
một nghề nghiệp đặc biệt
liên quan đến sinh mệnh
con người (mà chuyện tử
sinh rất là nhạy cảm với một
người bình thường) và thu
nhập có vẻ “kha khá” so với
nhiều nghề...
Thời Pháp thuộc và trước
năm 75, bác sĩ là những
người được chọn lọc từ
thành phần ưu tú của sinh
viên, được xã hội kính trọng
nên đa số họ có sự hiểu
biết, tự trọng, kiến văn rộng
rãi. Biết “đạo người quân
tử sống như tùng bách”.
Nên chẳng lạ gì khi nhiều
bác sĩ cũng đồng thời là văn
sĩ, họa sĩ, thi sĩ, nhạc sĩ…
Y đức không phải là điều
cần rao giảng nhiều trong
nhà trường nhưng họ cũng

Siêu âm ngày nay Tập 60 ι Số 3/2010

tự hiểu phải “đối nhân xử
thế” ra sao cho đúng chữ
“Sĩ”. (Trong tiếng Hán, chữ
“Sĩ” gồm chữ “Nhất” và
chữ “Thập” ghép lại, có
nghĩa là nguời biết hết
tần tật chuyện thiên hạ…
Còn chữ “Sĩ” ghép với
chữ “Khẩu” là chữ “Cát”,
có nghĩa những gì “Sĩ”
nói ra phải là điều cát
tường tốt đẹp…).
Bởi vậy mà đã có rất nhiều
tấm gương trong sáng của
các bác sĩ như Đặng Văn
Ngữ, Phạm NgọcThạch,
Phạm Biểu Tâm, Lê Khắc
Quyến… khám bệnh không
lấy tiền. Nhưng cũng cần nói
thêm là thu nhập (lương)
của họ so với mặt bằng xã
hội lúc đó khá cao, các bác
sĩ không cần mở phòng
mạch khám tư cũng dư
sống, nuôi vợ con (nhất
thế y tam đại công
khanh).
Sau 75, thời thế đổi thay, xã
hội xem bác sĩ như mọi
ngành khác, thậm chí thu
nhập chẳng khác chi công
nhân lao động, thua cả
“bác” tài chạy xe đường Lào

2


hay các tài công tàu viễn
dương… Do vậy mà sự chọn
lọc đối với các thành phần
tham gia ngành y tại Việt
Nam bị giảm sút, hầu như ai
cũng có thể vào, chưa kể
chế độ chuyển cấp từ y tá
lên y sĩ, bác sĩ…
Từ đó dẫn tới suy nghĩ, ứng
xử của từng bác sĩ, y sĩ đối
với chữ “Sĩ”, cái “Sĩ” rất
khác nhau, nhất là trong lúc
kinh tế khó khăn, thu nhập
ít ỏi. Điều này không lạ, bởi
ngày xưa cha ông ta đã
biết: “Nhược hữu lương y
viên tuyệt mệnh. Tùng
lai vô dược trị tham tâm”

(Dẫu có thầy thuốc hay
chữa bệnh khó, nhưng xưa
nay chưa có thuốc trị lòng
tham).

Cũng từ đó dẫn tới y đức bị
báo động đỏ. Ngành y tế
phải ra các điều y đức, mở
rộng học tập “Lương y như
Từ mẫu” dù thừa biết gốc
gác căn bệnh từ đâu…. Do
vậy mà hiệu quả của bao
nhiêu lời kêu gọi về “y đức”
xem ra không được như
mong muốn. Nên không có
gì lạ khi xã hội phản ứng với
“triệu đóa huê hồng” của
các hãng duợc trao vào tay
các bác sĩ, thậm chí xã hội
còn bị “choáng” với thu
nhập của bác sĩ, “lương”
không đủ sống mà “bổng”
thì ngất trời…
Các bài viết gần đây trên
Internet và báo chí đã phân
tích khá đầy đủ, tôi chỉ xin
tóm tắt: Thu nhập của nhiều
bác sĩ hiện nay rất cao nhờ
làm tư: mở phòng mạch, mổ
ngoài bệnh viện tư, mổ
ngoài giờ…. (đó là lao động
chân chính có thể chấp

nhận!), hoặc nhờ phong
bao, phong bì (có thể do tự
nguyện của bệnh nhân hay
bắt chẹt người bệnh, hoặc
hành nghề không theo chính
đạo, trục lợi trên sức khỏe
người bệnh thiếu hiểu biết…
là hậu quả của nhất thế y
tam thế suy…)…
Tuy nhiên, hiện dư luận xã
hội chỉ mới nhìn thấy “điểm”
mà chưa thấy ”diện”. Số bác
sĩ ở các thành phố lớn có
thu nhập cao, “nhà lầu, xe
hơi” chỉ là thiểu số trong cả
nước so với các bác sĩ ở
tuyến quận, huyện, xã,
phường hay các y tá, điều
duỡng, y công….
Ở đây tôi chỉ muốn nhắc hai
điều mong mọi người bình
tâm suy xét:
Y khoa là môn khoa học
và nghệ thuật (science
and art - Từ điển Bách
khoa). Cho nên cách đây
hơn trăm năm, William Osler
(1849 – 1919), thầy thuốc
tim mạch người Anh đã nói:
Y khoa là một khoa học
của sự bất định, và một
nghệ thuật của xác suất
(Medicine is a science of
uncertainly, and an art of
probability). Từ đó để thấy
rằng, bệnh tật con người và
sự điều trị thành công
không có mẫu số chung.
Nên chuyện “thầy thuốc mát
tay, tài giỏi” là có thật,. Bởi
thế, cùng mở phòng mạch
nhưng có nơi thì khách rất
đông, thu nhập cao, có nơi
lại chẳng ai tìm đến.
Nhưng như người xưa đã
nói: “Đại phú do thiên,
tiểu phú do cần” (Giàu to
do trời, giàu nhỏ do cần cù
siêng năng)… Nói bác sĩ có

CHẤT THƠ TRONG MỖI NGƯỜI NGÀNH Y
Tiếp theo Trang 38
Có lần một cô y tá hướng dẫn cho bệnh nhân như
thế này :

Chị ra mua thuốc rồi vào .
Em bày chị uống cho mau mà về ...

Nghe được câu nói như vậy , tôi và bác sĩ Lân
khen cô y tá đó quá chừng . Câu nói vừa tỏ ra mộc
mạc , nhiệt tình , lại có chất thơ trong đó nên nghe
rất nhẹ nhàng.
Một buổi sáng khi vào làm việc , tôi nghe cô y tá
nhăn nhó nói :
Điện thoại gì gọi hoài chẳng được .
Tôi nói luôn :

Đứt dây rồi hay bị hư chuông ?

Cô y tá vẫn đang thái độ bực tức, nói :

Muốn cho một phát đi luôn .

Đến nước này , tôi phải thêm cho đủ và hàm ý
cảnh báo hậu quả :

Coi chừng đến tháng nhận lương bị trừ ...

Vậy là cả nhân viên và bệnh nhân ngồi chờ khám
tất cả cười ồ lên thật vui vẻ vì vừa nghe một khổ

Siêu âm ngày nay Tập 60 ι Số 3/2010

DIỄN ĐÀN Y HỌC
thu nhập cao, thật ra cao
ho5c

nhất cũng chỉ mới đến mức
trung lưu trong xã hội, chứ
những “đại gia” có máy bay
riêng thì có ai theo nghề y,
làm thầy thuốc đâu?
Y khoa không có thần đồng
mà phải khổ luyện, nhất là
với các bác sĩ ngoại khoa,
thường xuyên phải mổ xẻ.
Sau khi tốt nghiệp, ít nhất
họ phải trải 10 năm trong
nghề mới có kinh nghiệm.
Chứ vừa ra trường, chưa
thực sự hành nghề mà đã
có nhà lầu xe hơi thì hoặc là
do cha mẹ để lại, hai là... từ
các nước giàu có trở về, chỉ
cần dựa vào “lương y như
tháng trước” là có đủ tất
cả, khỏi mở phòng mạch,
khỏi mổ chạy “sô”, nhận
phong bì… chi cho mệt!
Nói cách khác, sự đòi hỏi về
chuyên môn lẫn đạo đức
nghề nghiệp đối với ngành y
là rất cao, nhưng đồng
lương mà những người theo
ngành này đang được
hưởng thì lại thực sự là
không đủ sống. Chính sự
bất hợp lý đó đã dẫn tới sự
xuống cấp về y đức, y đạo
khiến xã hội lên án và rất
nhiều người trong ngành y
cũng cảm thấy đau lòng.
Nhưng nếu chỉ phê phán
những bác sĩ “sống không
nhờ lương” mà không mổ xẻ
và cải tổ đến cùng cái cơ
chế tồn tại lâu nay đã dẫn
tới hoặc là phải chụp giựt để
sống, để nuôi vợ con, hoặc
là lợi dụng để trục lợi ở một
số người trong ngành y,
thiết nghĩ cũng chỉ mới là
phiến diện!

"song thất lục bát " không hay nhưng khá hợp lý .
Lần khác , một chị bệnh nhân vào khám bệnh, do
gấp gáp hay sao mà khi đứng dậy chị quên túi
xách . Cô y tá thấy vậy nói :

Chị quên túi xách chị kìa !

Một người bệnh nhân ngồi gần đó nói thêm :

Người đâu của đó đừng lia mất chừ !

Vậy là những tiếng cười tán thưởng vang lên Bầu
không khí im lặng , căng thẳng biến đâu mất .
Những câu thơ mộc mạc, xuất khẩu bất ngờ đôi
lúc lại có một tác dụng rất lớn. Đó là làm chúng
tôi quên đi những mệt nhọc khi khám bệnh. Làm
cho bệnh nhân và người nhà quên đi những căng
thẳng , lo âu khi chờ đợi . Không khí bệnh viện
vốn được xem là khó thở cũng bị phá vỡ mà thay
vào đó là những tiếng cười sảng khoái, những lời
bình luận , thêm thắt hóm hỉnh làm mọi người vui
vẻ , thông cảm nhau hơn .
Và cứ như thế mà phòng khám sản của chúng tôi
luôn đầy ắp tiếng cười , người bệnh ít ý kiến, hiệu
quả công việc tăng lên rõ rệt .
Bửu Thuyên (BV Đa Khoa Vĩnh Đức-Quảng nam)

3


CHUYÊN ĐỀ SIÊU ÂM

CHẤT TƯƠNG PHẢN SIÊU ÂM
và các KỸ THUẬT PHÁT HIỆN
TỔN THƯƠNG GAN NHỎ DƯỚI 3cm.
BS NGUYỄN THIỆN HÙNG dịch
Trung tâm Y khoa MEDIC HÒA HẢO * Thành phố Hồ Chí Minh
Từ Jing-Houng Wang, Chi-Sin Changchien: Contrast-Enhanced Ultrasonography in Small Liver Tumors
(under 3cm), J Med Ultrasound (2008); 16(1):26-40.

Các chất tương phản siêu âm (TPSA)
Chất vi bọt với đường kính nhỏ hơn 8 µm qua được mao mạch và xung siêu âm với tần số 2MHz và áp
suất âm khoảng 700kPa có thể làm vỡ vi bọt và tạo ra tín hiệu siêu âm. Bởi vậy, chất tương phản với độ
bền vững qua phổi khi tiêm tĩnh mạch ngoại biên có thể được dùng trong nghiên cứu tăng cường âm.

H.1: (a) Sóng âm ngẫu nhiên. (b) Phản âm của vi bọt không tuyến tính. (c)
Phổ tần số của phản âm vi bọt.
Trong số các chất tương phản siêu âm, gồm SonoVue, Levovist, Sonazoid, Optison, Definity and
Imagent, 3 loại chất tương phản thường được dùng tại Âu châu, là SonoVue, Levovist, Sonazoid,
Optison.

Bảng 1: Chất tương phản siêu âm và protocol tạo hình trong
thì mạch máu và thì trễ.
1. Levovist (SH U 508A): Chất vi bọt Levovist chứa khí với chất bề mặt galactose/palmitic acid (của
Schering, 1996). Chất vi bọt trong Levovist được bọc trong một lớp mỏng palmitic acid. Flash echo
không thể quan sát được dưới độ sâu 7cm, vì áp lực âm học hạ thấp dưới ngưỡng làm vỡ vi bọt do hiện
tượng giảm âm do mô. Để đảm bảo độ giảm âm là 0,6 dB/MHz/cm cường độ truyền âm phải giảm còn 10,5dB hoặc trong khoảng 420kPa ở độ sâu 7cm. Điều này gợi ra rằng cần nhiều năng lượng xuất ra để
Levovist có được flash echo sâu hơn 7cm. Chỉ định chủ yếu dùng Levovist gổm các nghiên cứu ở tim,
bụng (kể cả hồi lưu bàng quang niệu quản) và xuyên sọ.
2. SonoVue (chất TPSA thế hệ 2): Chất vi bọt SonoVue chứa sulfur hexafluoride với vỏ phospholipid
(Bracco, Milan, Italy, 2001), là chất khí perfluoro hồ máu (blood pool perfluoro gas agent), gồm vi bọt
sulfur hexafluoride được ổn định bằng vỏ phospholipid. Vi bọt này đẳng trương với plasma người, ổn
định và kháng áp lực. SonoVue dùng tăng cường tưới máu khối u và tưới máu nhu mô gan bình thường.
Chỉ định chủ yếu của SonoVue là tim, mạch máu lớn , tổn thương gan và vú.
3. Optison: Optison chứa octafluoropropane (perflutren) với vỏ albumin (Amersham,1998). Chỉ dùng
cho tim.
Các chất TPSA gồm vi bọt chứa khí có vỏ bọc; Levovist chứa không khí, trong khi SonoVue (sulfur
hexafluoride) và Optison (perflutren) chứa khí với độ hòa tan thấp (low solubility gases) để làm tăng độ
bền vi bọt.
Các kỹ thuật
Siêu âm hòa âm (Harmonic imaging)
Vì có khác biệt trở âm (acoustic impedance) giữa không khí và chất lỏng, vi bọt chứa khí trong chất
lỏng có thể phản hồi tín hiệu siêu âm có năng lượng đáng kể, không chỉ với tần số cơ bản từ đầu dò mà
còn các hòa âm bậc cao hơn. Bằng cách dùng những đặc điểm không tuyến tính này của vi bọt, có một

Siêu âm ngày nay Tập 60 ι Số 3/2010

4


CHUYÊN ĐỀ SIÊU ÂM
nghiên cứu tạo hình hòa âm về dòng chảy mao mạch được báo cáo năm 1992. Trong phương pháp
này, tín hiệu được truyền đi với tần số cơ bản, nhưng lại nhận về được hòa âm bậc cao hơn. Là vì máy
siêu âm truyền đi ở một tần số, nhưng nhận về gấp đôi hay gấp ba lần tần số đã truyền. Phương pháp
này làm tăng cường độ phát hiện chất TPSA vi bọt. Tạo hình hòa âm giúp thấy được dòng chảy mao
mạch trong mô, vốn không thể phát hiện bằng B-mode quy ước hay siêu âm Doppler màu.
Siêu âm đảo xung (Pulse inversion imaging)
Vì có giới hạn về độ ly giải do tạo hình hòa âm làm hạn chế độ rộng dải tần, siêu âm đảo xung được
thiết kế nhằm cho phép cường độ thấp và không phá hủy tạo hình liên tục chất vi bọt trong cơ quan
(như gan) để có hình tăng cường tương phản chất lượng cao.
Siêu âm đảo xung có khả năng cao hơn siêu âm hòa âm hoặc Doppler quy ước, cho các hình ảnh mạch
máu hòa âm (harmonic angio images). Trong siêu âm đảo xung, 2 xung riêng biệt (xung bình thường
và xung đảo ngược 180 độ) được truyền nhanh nối tiếp vào mô. Xung đảo là hình soi gương của xung
bình thường. Phản âm từ 2 xung nối tiếp được nhận lại và tạo nên tổng của chúng. Phản âm từ mô loại
bỏ từng xung theo tuyến tính, và tổng của chúng là bằng không.

H.2: Bằng cách thêm vào 2 phản âm vi bọt liên tục từ xung đảo ngược, siêu
âm đảo xung loại bỏ các phản âm cơ bản mà không phải lọc.
Với phản âm có các thành phần không tuyến tính, như phản âm từ vi bọt, phản âm từ 2 xung này
không đơn giản là hình soi gương. Vì bán kính vi bọt không đối xứng theo thời gian, tổng của 2 xung
không phải là zero. Điều đó có nghĩa là phản âm hiện diện và chứa các thành phần hoà âm không
tuyến tính của tín hiệu (bao gồm hòa âm thứ cấp). Do vậy phát hiện được tín hiệu từ vi bọt chứ không
phải từ mô. Siêu âm đảo xung không bị giới hạn do độ rộng dải tần; toàn bộ khoảng tần số âm phát từ
đầu dò đều được phát hiện và kỹ thuật này rất có hiệu quả.

H.3: Siêu âm đảo xung xử lý tín hiệu.
Kỹ thuật chỉ số cơ học thấp (Low mechanical index [MI] technique)
Xung siêu âm với một cường độ âm học có khả năng làm vỡ vi bọt chất TPSA. Chỉ số cơ học thấp với
năng lượng âm học rất thấp (như dưới 0,2) tránh làm vỡ vi bọt. Kỹ thuật tương phản chỉ số cơ học thấp
giúp đánh giá tiếp sau 3 pha mạch máu khác nhau của tạo hình động bằng cách dùng chất TPSA có khí
với độ hòa tan thấp. Tiêm bolus chất TPSA theo sau với 5-10mL saline . Kim tiêm dùng không nhỏ hơn
20 gauge nhằm tránh thất thoát vi bọt do tác động cơ học lúc tiêm. Quét khoảng 60-90 giây để liên tục
có hình pha động mạch và pha tĩnh mạch cửa. Tưới máu vi mạch sẽ thể hiện khi chất TPSA trong mô
biến mất. Thông số cài đặt của low MI là dùng tần số 3 MHz, acoustic power từ −75 đến −90 dB, và
frame rate khoảng 17–20. Thời gian khảo sát mạch máu trên 3,5 phút, gồm pha động mạch 0-49 giây,
pha tĩnh mạch cửa 50-179 giây và pha trễ trên 180 giây.
Kỹ thuật chỉ số cơ học cao (High MI technique)
Kỹ thuật chỉ số cơ học cao, trong đó chất vi bọt bị phá hủy có cân nhắc, có thể có ích trong phát hiện
tổn thương gan khu trú và phân loại chúng. Kỹ thuật này cần khảo sát gián đoạn tổn thương trong suốt
3 pha. Hủy vi bọt bằng kỹ thuật chỉ số cơ học cao giúp phân cách mô và chất TPSA. Kỹ thuật này được
gọi là tạo hình phát hiện chất TPSA (agent detection imaging, ADI). Với Doppler, ADI biểu hiện tín hiệu
vi bọt với màu chồng lên hình mô thang xám. Với kỹ thuật ADI, hình ảnh phá hủy vi bọt thể hiện gan

Siêu âm ngày nay Tập 60 ι Số 3/2010

5


CHUYÊN ĐỀ SIÊU ÂM
bình thường có nền sáng và tổn thương di căn thì đen không có tín hiệu. Do đó ADI làm cho CEUS rất
nhạy.
H.4: Flash echo imaging với
subtraction mode ở một
bệnh nhân có 1 u HCC nhỏ
=1cm đường kính. A: SA quy
ước với tổn thương echo
kém nhỏ (mủi tên). B: Thì
động mạch của CEUS tổn
thương hypervascular không
thể phân biệt với nhu mô
gan được tăng cường xung
quanh.C: Với subtraction
mode tổn thương thể hiện rõ
(mủi tên). D+E: Thì tĩnh
mạch cửa và thì trễ tổn
thương là hypoechoic (mủi
tên). F: Subtraction hình pha
trễ tổn thương vẫn là
hypoechoic (mủi tên).

Tạo hình hòa âm gián đoạn với subtraction mode
Với kỹ thuật tạo hình hòa âm thứ cấp, tạo hình hòa âm gián đoạn (flash echo) với subtraction mode
dùng để đánh giá tưới máu động các tổn thương nhỏ mà Doppler thất bại vì không thể hiện được mạch
máu. Kỹ thuật này tiến hành theo cách thức như sau. Máy siêu âm truyền chùm siêu âm, ví dụ ở
2,1MHz và nhận lại phản âm ở 4,2MHz và được cài đặt để tạo nên 2 sự bùng nổ năng lượng âm học
cao (high MI, 1,0-1,2) khi truyền nhanh nối tiếp. Hình subtraction có được tự động bằng cách cài đặt
máy subtract khung hình thứ 2 từ khung hình đầu tiên. Hình flash echo với subtraction mode có thể
thiết kế tùy yêu cầu người khám. Hình năng lượng âm thấp (low acoustic power imaging) real-time (low
MI, 0,2) được dùng để theo dõi trong các khoảng cách của tạo hình flash echo.
Nghiên cứu Pha mạch máu của Gan
Cấp máu động mạch gan thường bắt đầu 10-20 giây sau tiêm tĩnh mạch và mất khoảng 10-15 giây.
Tiếp sau là pha tĩnh mạch cửa, thường mất khoảng 2 phút sau tiêm chất TPSA. Pha trễ cho đến khi
sạch chất TPSA trong mô gan khoảng trên 15-20 phút sau tiêm Levovist và 4-6 phút sau tiêm SonoVue.
1. Pha động mạch: Chất TPSA tới gan trước tiên theo động mạch gan và cho thông tin theo mức độ
và kiểu tưới máu. Các khối u nhiều máu cấp biểu hiện nhiều tưới máu trong pha này.
2. Pha tĩnh mạch cửa: Chất TPSA đi qua hệ tuần hoàn và trải khắp gan theo các nhánh cửa. Pha này
mất 2 phút sau tiêm chất TPSA.
3. Pha trễ (nhu mô): Pha trễ hay pha nhu mô tiếp sau pha tĩnh mạch cửa, ở pha này chất TPSA phân
bố chậm trong toàn bộ nhu mô gan. Còn nhiều bàn cãi về lúc bắt đầu pha trễ và gợi ý các cơ chế như
làm đầy các xoang và hệ lưới võng nội mô/ tế bào Kupffer bắt thuốc.
Pha tĩnh mạch cửa và pha trễ cho thông tin về wash-out chất TPSA từ tổn thương đối chiếu với mô gan
lành. Trong trường hợp hemangioma có thể thấy quá trình làm đầy thuốc xảy ra trong các pha này.
Tăng cường trong thì tĩnh mạch cửa và thì trễ có những thông tin quan trọng về bản chất của tổn
thương.

Bảng 2: Xu hướng mạch máu tổn thương trong khi khảo sát bằng chất tương phản siêu âm.
Phần lớn tổn thương ác tính là hypo-enhancing, trong khi đa số tổn thương đặc lành tính thì iso hoặc
hyper-enhancing. Giới hạn của CEUS trong phân biệt tổn thương gan cũng là đối tượng của các kỹ thuật
siêu âm khác, và độ nhạy giảm đi rõ trong gan giảm âm và các tổn thương ở sâu.
Và như là quy luật chung, nếu điều kiện siêu âm không tối hảo, kết quả của CEUS cũng có thể làm thất
vọng.

Siêu âm ngày nay Tập 60 ι Số 3/2010

6


CHUYÊN ĐỀ SIÊU ÂM

KỸ THUẬT HÌNH ẢNH THAM SỐ TRONG THỜI
GIAN THỰC CỦA SIÊU ÂM TƯƠNG PHẢN
CHẨN ĐOÁN TỔN THƯƠNG GAN ÁC TÍNH
BS NGUYỄN THIỆN HÙNG dịch
TRUNG TÂM Y KHOA MEDIC HÒA HẢO
Thành phố Hồ Chí Minh
(từ Eric Barnes: Contrast US Processing Tools Shows Malignant Liver Lesions, AuntMinnie.com, 30
tháng 7 năm 2010).
Các nhà nghiên cứu Thụy Sĩ đã phát triển một kỹ thuật hình ảnh tham số trong thời gian thực (real-time
parametric imaging technique) bằng siêu âm tăng cường tương phản (contrast-enhanced ultrasound)
để phân biệt không xâm lấn tổn thương gan lành tính và ác tính dễ sử dụng. Trong lần áp dụng lâm
sàng đầu tiên, phương thức này có độ đặc hiệu và độ nhạy cao trong một nghiên cứu đoàn hệ.
Phân biệt không xâm lấn tổn thương gan lành tính và ác tính bằng siêu âm là mục tiêu nghiên cứu
trọng điểm, và được xem là tiềm năng hứa hẹn nhất của siêu âm tăng cường tương phản.
"Có thể phân biệt tổn thương bằng cách xem sự hấp thụ chất tương phản của nó so với nhu mô bình
thường xung quanh", ông Nicolas Rognin, PhD, từ Research Bracco tại Geneva, đã trình bày như trên
tại cuộc họp Computer hỗ trợ Radiology và Phẫu thuật (CARS), 2010 tháng Sáu cũng tại Geneva.
Sau khi tiêm 1 bolus chất tương phản, đặc điểm của tổn thương gan có kiểu động học mạch máu
(DVP, dynamic vascular patterns) khi so sánh với nhu mô lành xung quanh. Theo các tín hiệu video hấp
thu độ tương phản trong gan ghi lại được tuyến tính hoá, động học hấp thu chất tương phản được thể
hiện bằng đơn vị echo-cường độ (echo-power units) như là một hàm của thời gian.
Có hai loại tổn thương, lành tính hoặc ác tính, mỗi loại tách thành hai lớp. Trong ung thư tế bào gan
nguyên phát, DVP của nó cho thấy tăng cường mạnh trong giai đoạn động mạch so với nhu mô lành
xung quanh, tiếp theo là thì thải thuốc trong giai đoạn tĩnh mạch cửa, và trở nên kém tăng cường
(hypoenhanced) rõ trong giai đoạn trễ.
Để làm cho những khác biệt thang xám này dễ thấy hơn, các nghiên cứu trước đó đã phát triển kỹ
thuật xử lý ảnh để tăng cường những trình tự DVP này trong hình ảnh tái tạo. Phương pháp này giúp
chẩn đoán tổn thương, nhưng chẩn đoán hạn chế chỉ với một hình tại một thời điểm.

Trên, phân tích DVP trong siêu âm dùng để phân biệt lành tính và ác tính từ kiểu dòng
chảy trong tổn thương gan khu trú.
(FNH= focal hyperplasia, nốt tái tạo)
HCC= ung thư tế bào gan nguyên phát).
Dưới, một hình của phương pháp postprocessing chẩn đoán kiểu dòng chảy bằng màu
từ một nghiên cứu trước đó của nhóm rendered DVP khác biệt dễ thấy hơn. Tuy nhiên,
phương pháp này bị hạn chế trong việc mô tả một hình duy nhất ở một thời điểm. ©
Bracco Switzerland 2010.

DANH NGÔN
Trong những lúc khó khăn nhất của cuộc sống, đừng cố gắng trở thành người
thành công hay hạnh phúc, mà tốt hơn hãy trở thành một người có giá trị.
(Albert Eistein)
Hạnh phúc cộng thêm và nhân lên khi ta đem chia nó cho người khác.
(A. Nielson)
Cuộc đời tựa như một viên đá, chính bạn là người để viên đá ấy bám rong rêu
hay trở thành một viên ngọc sáng.
(Cavett Robert)

Siêu âm ngày nay Tập 60 ι Số 3/2010

7


Trong nghiên cứu này, "mục tiêu là để cung cấp tất cả các thông tin lâm sàng có liên quan ở một hình
ảnh duy nhất," một kỳ công thực hiện bằng cách " áp dụng phân loại pixel để vẽ bản đồ chữ ký mạch
máu vào một hình ảnh tham số," Rognin nói.
Kỹ thuật vẽ bản đồ tham số động học (parametric dynamic mapping) bao gồm bốn bước chính:
1.Tiền xử lý (Preprocessing): dữ liệu video chuyển đổi không gian để bù cho bất kỳ chuyển động nào
trong mặt phẳng (in-plane motion),và sau đó tuyến tính hóa (linearized) để lấy được tín hiệu echocường độ ở cấp độ pixel.
2.Làm mịn tín hiệu (Signal smoothing): Tín hiệu echo-cường độ này sau đó được làm nhẵn bằng cách
sử dụng một kỹ thuật vẽ đường cong khớp với các điểm đã cho (curve fitting) với một mô hình chức
năng bolus tưới máu.
3.Trừ tín hiệu (Signal subtraction): các tín hiệu " khác biệt " được tính bằng cách trừ đi các tín hiệu
tham khảo từ các tín hiệu echo-cường độ được mềm hoá (smoothed).
4.Phân loại pixel (Pixel classification): điểm ảnh được phân thành bốn lớp theo cực của tín hiệu khác
biệt theo thời gian.
Sử dụng siêu âm tăng cường tương phản, hemangiomas lành tính thường hyperenhanced vào mọi lúc,
trong khi di căn ác tính thường hypervascular biểu hiện hyperenhancement trong giai đoạn động mạch
và theo sau là hypoenhancement trong giai đoạn tĩnh mạch cửa. Các tín hiệu khác biệt trong
hemangioma trình bày một chữ ký mạch máu đơn cực, trong khi tín hiệu khác biệt của di căn
hypervascular có chữ ký mạch máu lưỡng cực.
Biểu đồ phân loại pixel sử dụng màu xanh lá đại diện cho đơn cực dương (chữ ký hyperenhanced
thường trực). Màu xanh dương miêu tả đơn cực âm (chữ ký hypoenhanced thường trực), trong khi màu
đỏ đại diện cho kết quả dương lưỡng cực (hyperenhancement, theo chữ ký hypoenhancement) và màu
vàng được miêu tả âm lưỡng cực (hypoenhancement, theo chữ ký hyperenhancement).
Do đó, tổn thương ác tính xuất hiện là các khu vực màu đỏ, còn tổn thương lành tính có màu xanh hoặc
màu vàng. Khi phân tích, trình tự phân tích tương phản sau đó được tổng hợp như bản đồ không gian
của chữ ký mạch máu dùng để chẩn đoán loại tổn thương.
Các nhà nghiên cứu dùng kỹ thuật hình ảnh tham số DVP để đánh giá 146 tổn thương gan (113 ác tính
và 33 lành tính), hình ảnh hoá với chỉ số cơ học (MI, mechanical index) thấp trong thời gian thực bằng
siêu âm tương phản chuyên biệt sau khi tiêm bolus 2,4 mL một chất tương phản microbubble
(SonoVue, Bracco, Milan).

Hemangiomas (lành tính) thường hyperenhanced vào mọi lúc, trong khi di căn
hypervascular (ác tính) thường trình bày một hyperenhancement trong giai đoạn động
mạch, theo sau là một hypoenhancement trong giai đoạn tĩnh mạch cửa. Mã màu của các
loại tổn thương ác tính hoặc lành tính được thực hiện bằng cách phân tích sự khác biệt tín
hiệu, được xác định bằng cách trừ đi các tín hiệu tham khảo từ các tín hiệu echo-cường
độ mềm hoá (smoothed) trong hình ảnh siêu âm. Các tín hiệu khác biệt trong
hemangioma trình bày một chữ ký mạch máu đơn cực, trong khi các tín hiệu khác biệt di

Siêu âm ngày nay Tập 60 ι Số 3/2010

8


căn hypervascular có một chữ ký mạch máu lưỡng cực.
Trong bảng dưới đây, chữ ký mạch máu được phân loại thành bốn lớp theo tín hiệu khác
biệt phân cực tương ứng theo thời gian. Màu khác nhau được sử dụng để hiển thị các
điểm ảnh trong các lớp khác nhau.

Để kiểm định những phát hiện từng trường hợp được đối chiếu với CT, MRI, hoặc sinh
thiết.

Bốn trường hợp lâm sàng cho thấy làm thế nào hình ảnh tham số DVP cho phép tạo điều
kiện đặc điểm tổn thương như là lành hay ác tính trong bốn ví dụ lâm sàng điển hình,
với tổn thương ác tính xuất hiện với màu đỏ, không giống như các tổn thương lành tính
xuất hiện với màu xanh lá hoặc màu xanh lá - màu vàng.
xem tiếp trang 12

Siêu âm ngày nay Tập 60 ι Số 3/2010

9


CHUYÊN ĐỀ SIÊU ÂM

TISSUE HARMONIC IMAGING
BS NGUYỄN THIỆN HÙNG dịch
Trung tâm Y Khoa MEDIC HÒA HẢO *Thành phố Hồ Chí Minh
Siêu âm hòa âm mô (tissue harmonic ultrasonography) dựa trên hiện tượng biến dạng không tuyến tính
(nonlinear distortion) của tín hiệu siêu âm khi truyền qua cơ thể (H.1).

H.1: Thứ tự thời gian (time sequence) minh họa sự hình thành các tần số hòa âm. Time step 1 có 1
sóng tần số đơn. Khi truyền qua mô (time step 2) sóng bị biến dạng. Các thành phần của sóng thêm
vào được tạo ra sao cho tích hợp nhiều lần tần số khởi điểm. Các thành phần này được gọi là các tần số
hòa âm (harmonic frequencies). Khi sóng truyền đi tiếp sẽ biến dạng nhiều hơn (time step 3) và có
nhiều tần số hòa âm hơn. Ghi nhận là các tần số hòa âm được tạo và tích tụ khi sóng truyền qua trong
mô. Mặc dù các tần số hòa âm được tạo với nonlinear wave propagation biên độ lại cực nhỏ cho hòa
âm cao hơn. Do đó kỹ thuật hiện nay chỉ dùng second harmonic (2f), gấp đôi tần số truyền danh nghĩa
(nominal).

Sóng âm với tần số truyền đặc biệt khi quét mô tạo nên hình ảnh. Sóng hòa âm được tạo trong mô và
tạo dựng với độ sâu từ 1 điểm có cường độ tối đa trước khi suy giảm vì hiện tượng giảm âm. Còn sóng
siêu âm quy ước được hình thành từ bề mặt đầu dò và cường độ giảm dần khi truyền qua cơ thể (H.2).

H.2: Sơ đồ mô tả cường độ tương đối và thay đổi tần số của chùm sóng hòa âm và sóng truyền căn
bản với tăng độ sâu trong mô.

Siêu âm ngày nay Tập 60 ι Số 3/2010

10


CHUYÊN ĐỀ SIÊU ÂM
Các tần số sóng hòa âm được tích hợp cao hơn nhiều lần tần số truyền, giống như các họa âm cao
(overtones) của một nốt nhạc. Công nghệ hiện tại chỉ dùng second harmonic (gấp đôi tần số truyền) để
tạo hình. Tiến trình tạo hình hình thành bằng cách dùng harmonic-frequency bandwidth (độ rộng dải
tần số hòa âm) sau khi phổ tần số truyền được lọc (H.3).
Ích lợi của tạo hình hòa âm gồm tăng cường axial resolution do độ dài sóng ngắn hơn, lateral resolution
tốt hơn do chùm âm hẹp hơn vì tăng cường tập trung với tần số cao hơn, và ít xảo ảnh hơn siêu âm
quy ước.
Giảm xảo ảnh trong tạo hình hòa âm do biên độ nhỏ tương đối của sóng hòa âm, qua đó làm giảm phát
hiện phản âm từ nhiều tình trạng tán xạ. Ngoài ra giảm nhiễu ồn từ nhiễu búp bên (side lobes) làm
tăng signal-to-noise ratios và làm giảm xảo ảnh. Đặc biệt tạo hình hòa âm giúp dễ phát hiện đường viền
và bóng âm tổn thương, nang, giúp phân biệt nang với tổn thương đặc echo kém, và thành phần mô
bên trong nang có echo như mỡ, vôi hoặc khí cũng như giúp phân biệt xảo ảnh với các cấu trúc có echo
thật sự như cặn, máu hay vách ngăn. Tuy nhiên THI có giá trị giới hạn khi phân biệt tổn thương lành
tính và ác tính.
Thêm vào đó, chùm hòa âm được tạo ra xa hơn thành cơ thể, do đó làm giảm hiệu ứng mất tập trung
(defocusing) của thành cơ thể. Đây là điều có lợi khi khám bệnh nhân béo phì.
Tạo hình hòa âm tốt hơn siêu âm quy ước về phương diện khảo sát hình ảnh tổn thương (lesion
visibility) và độ tin cậy chẩn đoán nhất là người béo có body mass index (BMI) khoảng 30 hay hơn.
Cường độ sóng hòa âm tùy thuộc vào nonlinearity coefficient [B/A coefficient] (hệ số không tuyến tính)
của mô, là cách mà mô có khả năng hỗ trợ sóng hòa âm. Với mô cơ thể có tỉ lệ thành phần mỡ cao có
hệ số không tuyến tính cao nhất làm tăng cường độ sóng hòa âm được tạo thành, các điều kiện khác là
bằng nhau. Hiện tượng tăng cường độ này là một trong những yếu tố làm tăng khả năng phát hiện tổn
thương ở bệnh nhân béo phì vốn có nhiều mỡ trong thành cơ thể. Hình thành sóng hòa âm trong mô cơ
thể có có tần số hiệu quả cao hơn cho phép tạo hình không bị giảm âm và không bị biến dạng sóng,
nên có xuyên thấu sâu hơn.

H.3: Phổ tần số của của sóng truyền và sóng nhận. Sóng căn bản (f) dược tạo ra ở bề mặt đầu dò và
suy giảm tuyến tính khi truyền qua cơ thể. Sóng hòa âm (2f) được hình thành khi sóng căn bản truyền
qua cơ thể. Sóng hòa âm tăng nhanh cường độ trước khi suy giảm trong độ sâu hơn của mô. Tạo hình
hòa âm chỉ dùng tần số hòa âm trong tín hiệu echo nhận lại bằng cách lọc đi phổ tần số truyền trong
tín hiệu.

Cùng với compound imaging, THI gần đây được thêm vào khám tuyến vú tiêu chuẩn, và có các báo cáo
THI là kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh đầu tay khám bụng người lớn nhất là ở người béo phì.
Differential Tissue Harmonic Imaging (D-THI)
Siêu âm hòa âm mô biệt hóa (D-THI) có xuyên thấu tuyệt hảo với ly giải cao nhất.
D-THI sử dụng độ rộng dải hiệu quả có tăng cường để cung cấp ly giải không gian, ly giải tương
phản và tăng xuyên thấu.
Ích lợi lâm sàng
• Xác định mô và đường viền rõ
• Tiếp cận nhanh khối u, tổn thương, nang và mô bình thường
• Xác định rõ cấu trúc trong mô cơ quan
• Tăng xuyên thấu nhưng vẫn giữ ly giải không gian
• Dễ ghi hình các bệnh khó
Nguyên lý
• Truyền đồng thời 2 xung có tần số khác nhau
• Nhận các tín hiệu hòa âm ở tần số khác nhau
• Dùng Pulse Subtraction để loại bỏ các tín hiệu cơ bản. [ Pulse Subtraction là kỹ thuật tương tự như kỹ
thuật đảo pha (pulse inversion), một loại siêu âm harmonic với chất contrast. Pulse inversion từng dược
dùng hỗ trợ làm giảm tín hiệu cơ bản trong các mode tạo hình không tuyến tính như THI mà không cần
chất contrast].

Siêu âm ngày nay Tập 60 ι Số 3/2010

11


CHUYÊN ĐỀ SIÊU ÂM
D-THI được thiết kế bằng cách kết hợp các lợi điểm của siêu âm thang xám cơ bản và siêu âm THI
quy ước, đặc biệt ở độ sâu hơn [hơn 8cm]).

H.4: Nguyên lý của siêu âm hòa âm mô biệt hóa (differential tissue
harmonic imaging)
Differential THI được cài trong các dòng máy Toshiba Aplio XG, Aplio MX and Xario XG (có tại MEDIC).
Tài liệu tham khảo chính:
1. Sabrina Choudhry , Brian Gorman, J. William Charboneau, Donald J. Tradup, Rebecca J. Beck, James M. Kofler,
Debra S. Groth: Comparison of Tissue Harmonic Imaging with Conventional US in Abdominal Disease, RadioGraphics
2000;20:1127-1135.
2. Benoit Mesurolle, Tarek Helou, Mona El-Khoury, Michael Edwardes, Elizabeth J. Sutton, Ellen Kao: Tissue Harmonic
Imaging, Frequency Compound Imaging and Conventional Imaging: J Ultrasound Med 2007; 26:1041-1051.
3. See-Ying Chiou, Flemming Forsberg, Traci B. Fox, and Laurence Needleman: Comparing Differential Tissue
Harmonic Imaging With Tissue Harmonic and Fundamental Gray Scale Imaging of the Liver, J Ultrasound Med 2007:
26:1557-1563

KỸ THUÂT HÌNH ẢNH THAM SỐ TRONG THỜI GIAN THỰC CỦA SIÊU
ÂM TƯƠNG PHẢN CHẨN ĐOÁN TỔN THƯƠNG GAN ÁC TÍNH
Tiếp Trang 9
Các tổn thương đã được quét bằng cách sử dụng siêu âm tương phản MI thấp trong thời gian thực
trên một trong một số máy siêu âm, trong đó có HDI 5000 và iU22 ( Philips Healthcare , Andover,
MA), SSD-5500 (Aloka , Tokyo), hoặc Sequoia 512 (Siemens Healthcare, Erlangen, Germany).
Các hình ảnh tham số DVP đã được đọc bởi một bác sĩ lâm sàng mù với các kết quả bằng cách sử
dụng màu đỏ như là một tiêu chí về bệnh ác tính. Phương pháp mang lại độ nhạy 97%, độ đặc hiệu
91% đối với bệnh ác tính.
Trong khi đó, một nghiên cứu đa trung tâm của siêu âm tăng cường tương phản mà không sử dụng
phương pháp lập bản đồ có độ nhạy 91% và độ đặc hiệu 86% ( American Journal of Roentgenology,
tháng 6 năm 2006, Vol. 186:6, tr. 1551-1559).
"Các điểm thu được hiệu quả cao với hình ảnh tham số DVP chứng minh tiềm năng của phương pháp
này để tăng độ tin cậy trong chẩn đoán tổn thương gan khu trú," Rognin lưu ý rằng các kết quả
thuận lợi so với y văn.
Ngoài việc cung cấp một phương pháp chẩn đoán đơn giản là tìm các khu vực màu đỏ như chỉ báo
của bệnh ác tính, kỹ thuật này có lợi thế là ít tốn thời gian hơn so với phương pháp hiện thời là xem
xét trình tự của toàn bộ các hình ảnh tương phản. Chỉ thực hiện mất khoảng hai phút cho mỗi trường
hợp.
Các nhà nghiên cứu dự định nghiên cứu phân đoạn tự động nhu mô bình thường để giảm thiểu phụ
thuộc vào người đọc kết quả các bản đồ tham số, do đó tiếp cận chẩn đoán siêu âm tương phản tổn
thương gan có máy tính hỗ trợ.
"Trong tương lai, hình ảnh học tương phản 4D có khả năng trở nên phổ biến," Rognin nói. "Việc xem
xét lại trình tự như thế có thể trở nên khá tẻ nhạt, do đó, phần mở rộng dữ liệu thể tích của hình ảnh
tham số DVP có thể trở thành một công cụ rất có giá trị cho bác sĩ."
Các nhà nghiên cứu cũng có kế hoạch đánh giá kỹ thuật của họ rộng rãi hơn trong một nhóm bệnh
nhân lớn hơn.

DANH NGÔN
* Chẵng phải người có nhiều của cải mới là người giàu có. Chính những người
cho đi nhiều mới là người giàu có.( Eric Fromm )
*Cho những gì ta không cần đến thì không phải là cho.( Mẹ Teresa ).
*Ngôn ngữ giống như những tia X quang, nếu được sử dụng thích hợp nó có thể
xuyên qua mọi thứ.( A. Huxley )
* Cha đẻ của vinh quang và hạnh phúc chính là sự làm việc quên mình vì kẻ
khác.( Euripied )

Siêu âm ngày nay Tập 60 ι Số 3/2010

12


CHUYÊN ĐỀ SIÊU ÂM

THỐNG PHONG
VÀ SIÊU ÂM CHẨN ĐÓAN
BS NGUYỄN THIỆN HÙNG
Trung tâm Y khoa MEDIC HÒA HẢO * Thành phố Hồ Chí Minh
Các dấu hiệu siêu âm trong gout gồm dấu viền đôi (double contour sign), vùng mờ echo dày
(hyperechoic cloudy area) và cục tophus, khuyết xương (erosion), phì đại màng hoạt dịch,và tụ dịch
khớp. Các dấu hiệu này xuất hiện không cùng lúc và có ngay cả khi tăng acid uric máu chưa có triệu
chứng. Từ 2007, nhiều báo cáo nhấn mạnh khả năng phát hiện dấu viền đôi của siêu âm với đầu dò
linear 7,5-10MHz hay ly giải cao trong tăng acid uric máu chưa có triệu chứng.

Dấu viền đôi (double
contour sign)

Dấu viền đôi ở gối

Dấu viền đôi ở cổ chân

- Dấu viền đôi (double contour sign) là 2 đường: một là dải echo dày có bề mặt không đều do tinh
thể urat (monosodium urate, MSU) lắng đọng trên bề mặt sụn khớp, và đường thứ hai là đường viền vỏ
xương có echo dày.
- Vùng mờ echo dày (hyperechoic cloudy area) do tinh thể urat lắng đọng trong màng hoạt dịch
viêm dày.
- Cục tophus thường có dạng ovale như nhúm đường ướt (wet sugar clumps) ở cạnh xương và
khoảng khớp, có echo kém hay echo dày, không đồng dạng, và có viền không có echo xung quanh
(anechoic seam).
Vùng mờ echo dày và cục tophus là 2 dạng lắng đọng tinh thể urat (tophaceous material) thường thấy
ở khớp bàn đốt ngón chân (metatarsophalangeal, MTP) và khớp bàn đốt ngón tay
(metacarpophalangeal, MCP).

Vùng mờ echo dày

Cục tophus

Khuyết xương

Siêu âm ngày nay Tập 60 ι Số 3/2010

13


CHUYÊN ĐỀ SIÊU ÂM
- Khuyết xương (erosion) ở cạnh nơi lắng đọng tinh thể urat, là các chỗ vỡ của đường viền echo dày
của vỏ xương.
- Phì đại màng hoạt dịch là nơi dày đồng tâm của màng hoạt dịch, có trong gout cấp tính và đợt cấp
gout mạn tính. Có tăng tưới máu mô màng hoạt dịch trên power Doppler ở các trường hợp không có
triệu chứng lâm sàng gout cấp.
- Tụ dịch khớp có trong gout cấp tính, gout mạn tính và đợt cấp gout mạn tính.
Siêu âm có khả năng chẩn đoán gout không xâm lấn nhờ phát hiện tinh thể urat lắng đọng trên bề mặt
sụn khớp (double contour sign, dấu viền đôi), các dạng lắng đọng tinh thể urat (tophaceous materials)
và khuyết xương điển hình (typical erosion).
Ghi chú:
1. Phương pháp chẩn đoán gout đáng tin cậy nhất là chọc hút dịch khớp và soi kính hiển vi phân cực
(polarizing microscopy) để định danh tinh thể .

Tinh thể urat dưới kính hiển vi phân cực

(Hình từ Wikipedia)

2. Giả gout (pseudogout) là thể chính của bệnh lý lắng đọng calcium pyrophosphate dihydrate (CPPD)
và viêm khớp mạn. Khác với gout, CPPD lắng đọng trong trung tâm của sụn hyaline và fibrous, tạo nên
một lớp trong sụn hyaline song song với vỏ xương: sụn nhiễm vôi (chondrocalcinosis). Hình ảnh siêu âm
của sụn nhiễm vôi là một đường echo dày không đều trong sụn hyaline.

Phân biệt gout và giả gout
3. KÍNH HIỂN VI PHÂN CỰC:
Kính hiển vi quang học có hai nicon phân cực ánh sáng, đặt thẳng góc nhau: nicon phân cực đặt dưới
mâm kính, nicon phân tích đặt giữa vật kính và thị kính. Mẫu đá hoặc khoáng vật mài mỏng tới bề dày
0,03 mm, được gắn bằng nhựa Canađa vào tấm thuỷ tinh và đặt trên mâm kính.
KHVPC cho phép xác định các hằng số quang học của khoáng vật (chiết suất, lưỡng chiết suất, góc
quang học, màu tự nhiên, màu đa sắc của khoáng vật kim loại) và nhờ đó có thể xác định chính xác tên
khoáng vật.

TẠI SAO ĐỨC PHẬT LẠI NÓI
KẺ THÙ LỚN NHẤT LÀ CHÍNH MÌNH ?
Tiếp theo trang 36
TÀI LIÊU THAM KHẢO :
1.Kinh Vô ngã tướng(Anattalakkhana sutta) trong “Căn
bản học Kinh Phật” của cư sĩ Thiện Nhựt- Huỳnh Hữu
Hồng.
2.Thân Tâm và Ta, bài thuyết trình tại Tổ đình Từ
Quang,Montreal,tháng7/2008 của cư sĩ Thiện NhựtHuỳnh Hữu Hồng.
3.Danh từ Phật học thực dụng, Tâm Tuệ Hỷ.
4.Trung Đạo về Bản Ngã, Thường Hỷ Lê Niên.
5.Vô ngã là Niết Bàn, HT.Thích Thiên Siêu.
6.Vô Ngã, TT.Thích Trí Siêu.
7.Vô ngã, Thiền sư Sayadaw U Silananda,Tỳ Kheo Pháp
Thông dịch.
8.Kinh Kim Cang giảng giải, HT.Thích Thanh Từ.
9.Khai thị,Quyển 3, HT.Tuyên Hoá.
10.Tạng thư sống chết, Soyal Rinpoche,Thích nữ Trí Hải
dịch.

Siêu âm ngày nay Tập 60 ι Số 3/2010

11.Tỉnh thức, Dr Prashant V.Kakode,Lê văn Mậu
và Trần Thế Lâm biên dịch.
12.Impact Médecin, Hebdo Volume 345/03.
13.Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Tâm Minh Lê Đình
Thám.
14.Đức Phật và Phật pháp , Đại Đức Narada,Cư sĩ
Phạm Kim Khánh dịch.
15.Kinh Diệu Pháp Liên Hoa giảng giải, HT.Thích
ThanhTừ.
16.Phật học tinh hoa, Thu Giang Nguyễn Duy
Cần.
17.La vie vaut d’être vécue, Teilhard de Chardin.
18.Trung Đạo, Bài giảng của Đại Đức Thích Minh
Khương.
19.Duy Ma Cật sở thuyết kinh,Tỳ kheo Thích Duy
Lực dịch.
20.Pháp dạy người của Lục Tổ Đại Sư, Đại Lãn.
21.Tâm bất sinh,Thiền sư Bankei,Ni sư Trí Hải
dịch.

14


CHUYÊN ĐỀ SIÊU ÂM

SIÊU ÂM ĐÀN HỒI VIÊM RUỘT THỪA CẤP

KINH NGHIỆM ẤN ĐỘ
BS NGUYỄN THIỆN HÙNG trích dịch
Trung tâm Y KHOA MEDIC HOÀ HẢO * Thành phố Hồ Chí Minh
Từ Real-time Elastography in Acute Appendicitis, Kapoor Atul , Kapoor Aprajita, Mahajan Glodaa, J
Ultrasound Med 2010; 29:871-7.

Siêu âm đàn hồi (elastography, ES) được dùng kết hợp với siêu âm để chẩn đoán viêm ruột thừa cấp
và phân hạng độ nặng tình trạng viêm.
Siêu âm dùng đầu dò convex 4MHz và đầu dò linear 7MHz với kỹ thuật graded compression của
Puylaert. Dấu hiệu viêm ruột thừa cấp gồm: (1) ruột thừa tròn không đè ép được với đường kính ngoài
lớn hơn 6mm với đá phân hoặc không; (2) vách dày hơn 3mm; và (3) có dịch quanh ruột thừa và tăng
echo mô mỡ quanh ruột thừa.
Siêu âm đàn hồi tức thì (Real-time Elastography) với máy ACUSON S2000 tìm tăng độ cứng ruột thừa
bằng cách ấn nhẹ. Tất cả các hình ES được xem lại từng khung để tìm yếu tố chất lượng (quality factor,
QF); chỉ khảo sát với hình có QF lớn hơn 30 nhằm đảm bảo tính lập lại của việc đo độ đàn hồi.
Ruột thừa bình thường có đường kính nhỏ hơn 6mm, tròn, với vách không có vùng nào tăng độ cứng.
Khi bị viêm vách ruột thừa có màu đỏ ở các vùng tăng độ cứng trên bản đồ đàn hồi (strain map).
Viêm quanh ruột thừa là các vùng màu đỏ quanh ruột thừa và được phân loại nhẹ, trung bình và nặng
tùy vào khoảng cách với vách ngoài ruột thừa có độ cứng tăng bất thường. Viêm nhẹ khi có tăng độ
cứng vách ruột thừa và ở ngay kế cận ruột thừa. Viêm trung bình khi vùng viêm cách vách ngoài ruột
thừa 2cm. Viêm rõ khi vùng viêm lớn hơn vùng viêm trung bình.

H.1= Hình siêu âm bên T cho thấy ruột thừa tròn có
hơi trong lòng và bản đồ đàn hồi (P) cho thấy vách
ruột thừa bình thường màu xanh lá cây.

H.2 = Siêu âm (T) thấy ruột thừa căng và bản đồ đàn
hồi (P) vách ruột thừa tăng độ cứng có màu đỏ

H.3 = Siêu âm (T) và elastogram (P) cho thấy ruột
thừa căng dày vách và viêm quanh ruột thừa có màu
đỏ.

H. 4= Elastogram (P) viêm quanh ruột thừa trung bình
với màu đỏ tương xứng với hình siêu âm (T).

Siêu âm ngày nay Tập 60 ι Số 3/2010

15


CHUYÊN ĐỀ SIÊU ÂM
Bàn luận:
ES là phương tiện hỗ trợ cho siêu âm trong việc thể hiện độ cứng của ruột thừa viêm.
Viêm ruột thừa giai đoạn sớm không thể phát hiện bằng siêu âm (3/25 ca), nhưng 3 ca này ES giúp
phát hiện được trong lô nghiên cứu.
ES giúp chẩn đoán viêm ruột thừa có đường kính nhỏ hơn 6mm (H.6) và bệnh nhân viêm ruột thừa chỉ
ở đầu tự do (tip appendicitis).
Siêu âm và CT không thể phân loại độ viêm nặng hay nhẹ, nhưng qua công trình này ES tỏ ra khá hơn;
những ca viêm quanh ruột thừa nặng cần được mổ ngay để tránh nguy cơ viêm phúc mạc và biến
chứng thủng.
Kết luận: Công trình này cho thấy ES kết hợp với siêu âm thường quy để khám viêm ruột thừa giúp cải
thiện độ nhạy chẩn đoán từ 88% lên 100%, trong đó có những ca viêm ruột thừa nhưng ruột thừa
viêm không căng to. Thêm vào đó ES phân lọai độ nặng tình trạng viêm chính xác giúp quyết định lâm
sàng và lập kế hoạch điều trị tốt hơn.

H. 5= Siêu âm (T) cho thấy ruột thừa căng với tụ dịch xung
quanh và ES (P) cho thấy viêm quanh ruột thừa rõ (nặng).

H.6: Siêu âm (T) cho thấy ruột thừa viêm không căng to
đường kính=5,1mm và elastogram (P) cho thấy vách ruột
thừa có màu đỏ vì tăng độ cứng.

PHÌNH TĨNH MẠCH CHỦ DƯỚI VÀ THÔNG NỐI TĨNH MẠCH CHỦ DƯỚI VỚI TĨNH
MẠCH TRÊN GAN PHẢI QUA TÚI PHÌNH
Việc phát hiện bệnh lý này rất quan trọng, vì tiềm ẩn nguy cơ tạo huyết khối và vỡ phình.
Huyết khối là bất thường thường gặp trong lòng của tĩnh mạch chủ dưới và đôi khi bắt nguồn
từ tĩnh mạch vùng chậu, chi dưới, gan hoặc thận. Trong trường hợp này tĩnh chủ dưới có túi phình đi
kèm với bất thường đường đi thông qua tĩnh mạch trên gan nên càng làm tăng nguy cơ tắc nghẽn khi
có huyết khối. Vì vậy việc theo dõi sát là cần thiết và bao gồm cả việc khám định kỳ tĩnh mạch chi dưới
để phòng tránh và điều trị kịp thời bệnh lý huyết khối chi dưới.
Nên dùng siêu âm Doppler như là phương tiện chẩn đoán thường quy khi khám ổ bụng để
tránh bỏ sót những phình mạch có thể được xem là nang đơn thuần trên siêu âm B-Mode.
Siêu âm Doppler là phương pháp không xâm lấn, rất có giá trị trong chẩn đoán với độ nhạy và
độ đặc hiệu cao nên được dùng như là phương tiện chính trong việc theo dõi.
MSCT Angio được xem là phương tiện khách quan, ít xâm lấn, có khả năng thay thế những
phương tiện chụp mạch máu xâm lấn trước đây để xác định chẩn đoán, và lập kế hoạch điều trị.
KẾT LUẬN:
Phình tĩnh mạch chủ dưới và thông nối tĩnh mạch chủ dưới với và tĩnh mạch trên gan phải là
bệnh lý rất hiếm gặp. Siêu âm Doppler màu, Doppler phổ và Doppler năng lượng thể hiện vai trò quan
trọng, giúp phát hiện tổn thương, xác định chẩn đoán và theo dõi diễn tiến bệnh.
ABSTRACT: A 39 year-old female without any symptom went to Medic having a check-up. Ultrasound
detected an aneurysm in the right lobe of liver in communication with IVC and right hepatic vein.
MSCT Angio confirmed IVC aneurysm and IVC –Right hepatic vein anastomosis.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:



Aneurysm

of

the

inferior

vena

cava

R.

Jegananthan

J.A.

Reid

R.J.

Hannon

Vascular Unit, Belfast City Hospital, Lisburn Road, Belfast, BT9 7AB. Copyright: 10 April 2003






Imaging of the Inferior Vena Cava with MDCT.Sheila Sheth1 and Elliot K. Fishman .1 Both
authors: The Russell H. Morgan Department of Radiology and Radiological Science, Johns
Hopkins University, 600 N Wolfe St., Nelson B176D, Baltimore, MD 21287. .Received February
9, 2007; accepted after revision May 22, 2007.
Aneurysm of the inferior vena cava: Case report and review of the literature.
Wayne S. Gradman1
and Fred Steinberg1.(1) From the Departments of Surgery and
Radiology, Cedars-Sinai Medical Center, Los Angeles, Califo.
Diagnostic Ultrasound, Carol M.Rumack, M.D.

Siêu âm ngày nay Tập 60 ι Số 3/2010

16


CASE REPORT

PHÌNH TĨNH MẠCH CHỦ DƯỚI VÀ THÔNG
NỐI TĨNH MẠCH CHỦ DƯỚI VỚI TĨNH
MẠCH TRÊN GAN PHẢI QUA TÚI PHÌNH
(Inferior Vena Cava (IVC) Aneurysm
and IVC – Right Hepatic Vein Anastomosis)
BS Lê Thanh Liêm
Trung Tâm Y Khoa Medic – Thành Phố Hồ Chí Minh
Phình tĩnh mạch chủ dưới là bệnh lý rất hiếm gặp, và kết hợp với sự bất thường đường đi của tĩnh
mạch chủ dưới, thông nối với tĩnh mạch trên gan phải càng hiếm gặp hơn.
BỆNH ÁN:
Bệnh nhân nữ 39 tuổi, kiểm tra sức khỏe định kỳ với siêu âm B mode phát hiện có một tổn
thương dạng nang trong gan phải. Bệnh nhân không có triệu chứng đau bụng.
Bệnh nhân được khám lại với siêu âm Doppler vùng bụng vào ngày 24 tháng 04 năm 2009.
Mô gan cấu trúc đồng nhất, bờ đều. Gan phải, Hạ phân thùy VIII có 1 cấu trúc dạng nang, d
=39x34 mm, có dấu hiệu dòng chảy được khẳng định bằng siêu âm Doppler màu. Siêu âm Doppler cho
thấy dòng chảy xoáy, phổ liên tục, dạng phổ tĩnh mạch, một phía liên tục với tĩnh mạch chủ dưới, phía
khác thông với tĩnh mạch trên gan phải. Tĩnh mạch trên gan phải dãn nhẹ, d = 16 mm. Dòng chảy
hướng từ tĩnh mạch chủ dưới qua túi phình, đến tĩnh mạch trên gan phải, sau đó hợp lưu với tĩnh mạch
trên gan giữa và trái rồi đổ về tim.

H1: Vị trí HPT VIII có 1 cấu trúc dạng nang, phía
trên lien tục với tĩnh mạch trên gan phải.

H2: Siêu âm Doppler màu cho thấy dòng chảy xoáy
trong nang, phía dưới liên tục với tĩnh mạch chủ
dưới.

H3: Siêu âm Doppler phổ, cho thấy phổ liên tục,
dạng phổ tĩnh mạch, chảy theo hướng từ tĩnh
mạch chủ dưới đến túi phình.

H4: Tĩnh mạch trên gan phải dãn d = 16 mm.

DANH NGÔN
* Người lạc quan luôn nhìn thấy ánh mặt trời nơi người khác chỉ thấy bóng tối,
thấy thành công nơi thất bại nặng nề.( Orison Swett Marden )
* Hạt giống thành công ẩn mình đâu đó trong những thất bại mà bạn từng nếm trãi.
( Billi Lim )
* Những người đánh cá vẫn biết biển cả nguy hiểm và những cơn bảo thật kinh hoàng,
nhưng họ vẫn giong bườm ra khơi.
( Vincen Van Gogh )

Siêu âm ngày nay Tập 60 ι Số 3/2010

17


H5,H6: Chổ hợp lưu 3 tĩnh mạch trên gan bình thường trước khi đổ về tim.

MSCT Angio khẳng định lại chẩn đoán siêu âm. MSCT Angio cho thấy hình ảnh bất thường đường đi
của tĩnh mạch chủ dưới và tạo thành túi phình đoạn trong gan d=35x50mm. Túi phình này nối với tĩnh
mạch trên gan phải sau đó nối với hai nhánh tĩnh mạch gan còn lại và đổ vào nhĩ phải.

H7

H9

H8

H10
MSCT Angio: hình tái tạo 3D cho thấy cấu trúc bắt thuốc cản quang mạnh đoạn trong gan, liên
tục với tĩnh mạch chủ dưới và tĩnh mạch trên gan phải.

Đây là một bệnh nhân phình tĩnh mạch chủ dưới , thông nối tĩnh mạch chủ dưới và tĩnh mạch
trên gan phải qua túi phình, và có bất thường đường đi tĩnh mạch chủ dưới thông qua tĩnh mạch trên
gan phải về tim.
Bệnh nhân được điều trị bảo tồn (không phẫu thuật) và theo dõi định kỳ bằng siêu âm
Doppler.
BÀN LUẬN:
Phình tĩnh mạch chủ dưới và thông nối tĩnh mạch chủ dưới với và tĩnh mạch trên gan phải là
bệnh lý rất hiếm gặp.
Theo“R.JegananthanJ.A.ReidR.J.Hannon : Vascular Unit, Belfast City Hospital, Lisburn
Road, Belfast: 10 April 2003”: Phình tĩnh mạch chủ dưới là bệnh lý hiếm , chỉ có 16 báo cáo trước đó.
Xem tiếp Trang 16

Siêu âm ngày nay Tập 60 ι Số 3/2010

18


CASE REPORT

XUẤT HUYẾT NỘI Ở SẢN PHỤ
MANG THAI 30 TUẦN
BÁC SĨ LỮ MINH TÂN
TRUNG TÂM Y KHOA MEDIC TPHCM .

I.GIỚI THIỆU : Sản phụ 29 tuổi cư ngụ tại TpHCM, đang mang thai lần đầu khoảng 30 tuần. Không
có tiền căn hư thai hoặc nạo hút thai. Cách 3 ngày sản phụ đột ngột đau bụng vùng hông trái , không
ra huyết âm đạo, không bị chấn thương, cơn đau âm ỉ kéo dài liên tục, đến khám và nhập viện Bệnh
viện Từ Dũ TpHCM , sau đó được Bệnh viện Từ Dũ gửi đến Medic để siêu âm ngày 14/08/2010.
II.HÌNH ẢNH SIÊU ÂM :

Thai nhi trong tử cung với các số đo BPD

và FL tương đương với thai khoảng 30 tuần.

Nhau bình thường, không bong nhau, không tụ máu
sau nhau – Buồng ối nguyên vẹn, nước ối không có
cặn .

Tim thai nhanh đều 181lần / phút.

Gan, mật, tuỵ của mẹ bình thường .

Siêu âm ngày nay Tập 60 ι Số 3/2010

Hai thận ứ nước nhẹ có thể do tử cung có thai chèn –
Có sự xuất hiện của dịch trong ổ bụng mẹ.

19


Vách túi mật bình thường
thấm .

đây không phải là dịch

Trong dịch có nhiều khối nhỏ echo kém hỗn hợp nghĩ là
máu cục .

Dịch có khắp bụng, có hồi âm và có vách sợi .

Vùng bụng trái tương ứng với điểm đau của sản phụ
có mạc nối lớn dầy lên hiện diện .
Và có khối to # 95 x 39mm echo kém có
nhiều sợi fibrin, không có tín hiệu Doppler
nghĩ là khối máu cục. Khối này dính vào mạc
nối lớn vùng hông trái (tương ứng với vùng
đau của bệnh nhân).
Đến đây siêu âm có chẩn đoán tạm thời như
sau : XUẤT HUYẾT NỘI CÓ THỂ XUẤT PHÁT
TỪ MẠC NỐI LỚN TRÊN SẢN PHỤ MANG
THAI 30 TUẦN .

Sản phụ được Bệnh viện Từ Dũ chuyển đến Bệnh viện Chợ Rẫy phẫu thuật cấp cứu (giải quyết nguyên
nhân gây chảy máu và mổ lấy thai) với kết luận phẫu thuật :
XUẤT HUYẾT NỘI DO VỠ PHÌNH MẠCH THÂN TRÁI TỬ CUNG TRÊN SẢN PHỤ MANG THAI 30 TUẦN.
Hiện tại mẹ khoẻ và bé được tiếp tục nuôi tại dưỡng nhi bệnh viện Từ Dũ .
III.KẾT LUẬN : Vỡ tự nhiên của các phình mạch trong ổ bụng gây xuất huyết nội thường không được
chẩn đoán chính xác trước phẫu thuật. Tuy nhiên siêu âm có khả năng chẩn đoán xuất huyết nội tuy
không phải lúc nào cũng tìm được nguyên nhân chảy máu trong. Bài học kinh nghiệm rút ra được từ
trường hợp này đối với siêu âm là khi thấy có dịch ổ bụng thì phải xác định tính chất của dịch. Nếu dịch
là máu hoặc nghĩ là máu thì siêu âm cần phải khẩn trương, vì chính sự khẩn trương này sẽ góp phần cải
thiện tiên lượng của bệnh nhân. Tuy nhiên siêu âm không thể chỉ dừng lại với chẩn đoán xuất huyết nội
mà không tìm nguyên nhân, vì vậy chúng ta cần phải chú ý vào điểm đau của bệnh nhân trên lâm sàng
để từ đó có thể nhanh chóng tìm và suy luận ra nguyên nhân gây chảy máu sao cho gần với kết luận
cuối cùng của phẫu thuật (mặc dù không phải dễ dàng).

Siêu âm ngày nay Tập 60 ι Số 3/2010

20


CASE REPORT

HÌNH ẢNH SIÊU ÂM NỘI SOI
TRƯỚC VÀ SAU TIÊM CHẤT XƠ VÀO
TĨNH MẠCH TRỨƠNG DẠ DÀY
Endoscopic ultrasonographic findings before and after Sclerotherapy for gastric varices
Takahiro Sato * Department Of Gastroenterology.
Sapporo Kosei General Hospital, Kita 3 Higashi 8.Chuo–ku, Sapporo. Hokkaido 060-0033. Japan
Received: 29 January 2010/Accepted: 14 February 2010/Published online: 14 April 2010 @ The Japan
Society of Uttrasonics in Medicine 2010
e-mail: taka.sato@ja–hokkaidoukouseiren.or.jp
Phần mềm dịch tự động EVTRAN * Lê Quang Huy chỉnh sửa

Case report:
Lâm sàng:
Nam bệnh nhân 60 tuổi xơ gan và AntiHCV (+),nhập viện tháng 3.2009 để điều trị tĩnh mạch trướng dạ
dày.Bệnh nhân cao 163cm,nặng 73kg,nhập viện huyết áp 120/70 mmHg,mạch 90 beats/min,nhiệt độ
cơ thể 36 độ 5.Bệnh nhân có vàng kết mạc,không thiếu máu.Khám bụng mềm,xẹp không có khối u sờ
thấy.
Xét nghiệm: red blood cell count 315 X 104/mm3(norma1: 353-466 X 104/mm3),hemoglobin 11.6
g/dL (10.6-14.4 g/dL), white blood cell count 4300/mm3 7(3000-7800/mm3), platelet count 5.5 X
104/mm3 (13.8-30.9 X 104/mm3), serum albumin 2.4 g/mL (4.0-5.2 g/mL), total bilirubin 5.5 mg/mL
(0.2- 1.2 mg/mL), glutamic oxaloacetic transaminase 335 IU/L
(8-38 IU/L), glutamic pyruvic transaminase 183 IU/L (4- 44 IU/L), alkaline phosphatase 460 IU/L (104338 IU/L),blood urea nitrogen 11.2 mg/dL (7.0-24.0 mg/dL), và creatine 0.5 mg/dL (0.4-0.9 mg/dL).
Prothrombin time: 51% (90-140%). Huyết thanh hepatitis C viruses : positive. Kết quả các xét nghiệm
đánh dấu khối u ở mức bình thường
Nội soi: có hình ảnh (coil-shaped red color negative) với erosion-positive gastric varices (Hình. 1). The
color flow images of gastric varices (Hình. 2) và các tĩnh mạch trướng quanh dạ dày phát hiện bởi siêu
âm nội soi ECDUS (Pentax EG–3630UR, 10 MHZ, electronic radial–type scope, 2700 images (Pentax
Optical,Tokyo, Japan) and Hitachi EUB 8500 System (Hitachi Medical, Tokyo, .Japan)).
Thuật tóan Fourier (Fast Fourier transform FFT)phân tích cho thấy đây là dòng chảy tĩnh mạch
truớng thực quản với dòng chảy tốc độ vượt xa 25.0 cm/s.Khỏang cách của thành dạ dày và tĩnh mạch
trướng là 0.9 mm(Hình 3)
Hình ảnh Chụp cắt lớp phát hiện hình ảnh tĩnh mạch trướng dạ dày thông với shunt dạ dày thận.
Trên cơ sở các dấu hiệu chẩn đóan siêu âm nội soi ta có thể kết luận:
Trướng tĩnh mạch dạ dày với nguy cơ xúât huyết cao
Điếu trị: bệnh nhân được tiến hành điều trị tại Sapporo Kosei Hospital, với tiêm chất xơ qua nội soi
70% N-buty1–2–cyanoacrylate (N- butyl-2-cyanoacrylate mixed with 5% Lipiodol (Lipiodol Ultra Fluide;
Hãng Guerbet, Aulnay–Sous–Bois,France),lặp lại cho đến khi tĩnh mạch trướng biến mất trên màn hình
hùynh quang.Tổng liều N-butyl-2-cyano–acrylate 4.0 mL.
Luôn quan sát trên màn hùynh quang khi tiêm 70% N-butyl-2- cyanoacrylate (tránh thuốc vào hệ tuần
hòan và đánh giá sự lan rộng của tĩnh mạch trướng(Hình 4)
Kết quả: Bệnh nhân không biến chứng và thuốc tiêm không ảnh hưởng chức năng gan.Bốn tháng sau
khi tiêm ECDUS được tiến hành cho thấy không còn dòng chảy trong tĩnh mạch trướng nữa(Hình 5),và
bệnh nhân vẫn được tiếp tục theo dõi.

Hình 1: Hình ảnh lồi lớn,không đỏ,đó là tĩnh mạch trướng dạ dày

Siêu âm ngày nay Tập 60 ι Số 3/2010

21


Hình 2: Dòng chảy của
trướng tĩnh mạch dạ dày
qua siêu âm nội soi
color Doppler

Hình 3: Thành dạ dày
khỏang cách với tĩnh
mạch trứong là 0,9mm

Hình 4: Quan sát trên màn hùynh quang khi tiêm
và xác định độ lan rộng của Tĩnh mạch trướng

Hình 5: 4 tháng sau siêu âm nội soi không còn dòng chảy tĩnh
mạch trướng thực quản nữa

DANH NGÔN
* Nếu nhìn vào những gì mình đang có, bạn sẽ nhận được nhiều hơn.
Nếu chỉ thấy những gì mình không có, bạn sẽ không bao giờ có đủ.( Oprah
Winfrey )
* Điều hoàn hảo nằm ở phía chân trời. Tôi tiến gần hơn hai bước, nó lùi ra xa hai
bước. Tôi tiến gần hơn mười bước, nó lại chạy ra xa mười bước. Vì thế, điều hoàn
hảo luôn luôn đòi hỏi chúng ta tiến bước.( Eduardo Galeano )
* Khi bạn gieo ý nghĩ, bạn sẽ hành động,Khi bạn hành động bạn sẽ gặt thói quen
Gieo thói quen sẽ gặt tính cách.Gieo tính cách, bạn gặt định mệnh cho chính
mình.( Samuel Smiles )

Siêu âm ngày nay Tập 60 ι Số 3/2010

22


CHÂN TRỜI SIÊU ÂM

BS Võ Nguyễn Thục Quyên

Tuyển chọn và dịch
1/ DÃN TĨNH MẠCH VÀ
HỘI
CHỨNG
NUTCRACKER:
DẤU
HIỆU SIÊU ÂM
Varicocele and Nutcracker
Syndrome:
Sonographic
Findings
Afshin
Mohamadi,
MD,
Mohammad Ghasemi-Rad,
MD, Nikol Mladkova, MD and
Sima Masudi, MS
Departments of Radiology
(A.M.)
and
Biostatistics
(S.M.) and Genius and
Talented
Student
Organization,
Student
Research Committee (M.G.R.), Urmia University of
Medical Sciences, Urmia,
Iran; and Institute of Cell
and
Molecular
Science,
London, England (N.M.).
Address correspondence to
Mohammad Ghasemi-Rad,
MD, Genius and Talented
Student
Organization,
Student Research Center,
Urmia University of Medical
Sciences,
Urmia,
WestAzerbaijan, Iran, E-mail:
medman11@gmail.com
-Mục tiêu: dãn tĩnh mạch
thường kết hợp với vô sinh.
Nguyên nhân chỉ hiểu được
một phần, vì vậy, mục tiêu
của nghiên cứu là thiết lập
mối liên quan giữa bản chất
giải phẫu khác nhau và hội
chứng Nutcracker.
-Phương pháp: bao gồm 93
bệnh nhân có dãn tĩnh mạch
và 76 bệnh nhân không có
dãn tĩnh mạch. Chẩn đoán
dãn tĩnh mạch dựa trên
khám lâm sàng, được theo
dõi bằng siêu âm đánh giá
đoạn rốn và đoạn đm chủmạc treo của tĩnh mạch
thận trái. Đường kính trướcsau tính bằng mm và tốc độ
đỉnh lưu lượng tính bằng
cm/giây ở mỗi vùng được
đo.
-Kết quả: tổng số 28 bệnh
nhân hội chứng Nutcracker
đã được phát hiện trong
nhóm nghiên cứu (30,10%)
và 2 được phát hiện trong
nhóm
chứng
(2,63%).

Đường kính trung bình ở
đoạn rốn và đoạn ĐM chủđm mạc treo của tĩnh mạch
thận trái khác nhau đáng kể
ở những bệnh nhân bị dãn
tĩnh mạch so với nhóm
chứng. Tốc độ đỉnh trung
bình ở đoạn rốn và đoạn đm
chủ- mạc treo khác nhau
đáng kể ở bệnh nhân dãn
tĩnh mạch. Bệnh nhân dãn
tĩnh mạch kèm hội chứng
nutcracker không có sự khác
nhau đáng kể ở cả đoạn rốn
và đoạn đm chủ- mạc treo
so với bệnh nhân dãn tĩnh
mạch không kèm hội chứng
nutcracker. Có sự khác nhau
đáng kể về tôc độ lưu lượng
đỉnh ở cả vùng rốn và đm
chủ- mạc treo. Có sự khác
nhau đáng kể ở tốc độ đỉnh
đoạn rốn và đoạn đm chủmạc treo( p= 0,0001) cho
cả 2
-Kết luận: những dấu hiệu
chúng tôi chỉ điểm hội
chứng nutcracker là dấu
hiệu thường ảnh hưởng trên
bệnh nhân dãn tĩnh mạch và
nên được khám thường qui
loại trừ nguyên nhân có thể
có của dãn tĩnh mạch. Thêm
vào đó, khác biệt bản chất
giải phẫu ở nhóm đm chủđm mạc treo tràng ở đoạn
rốn và đoạn đm chủ- mạc
treo của tĩnh mạch thận trái
có thể trực tiếp làm dãn tĩnh
mạch
2/Ý
NGHĨA
QUAN
TRỌNG CỦA DẠNG SÓNG
DOPPLER ĐM ĐỐT SỐNG
VỚI TRỞ KHÁNG CAO
QUA SIÊU ÂM DUPLEX
ĐM CẢNH:
Radiologic Importance of a
High-Resistive
Vertebral
Artery Doppler Waveform on
Carotid
Duplex
Ultrasonography
Esther S. H. Kim, MD, MPH,
Megan Thompson, Kristine
M. Nacion, BA, Carmel
Celestin,
MD,
Alejandro
Penrez, MD and Heather L.
Gornik, MD, MHS
Noninvasive
Vascular
Laboratory and Department
of Cardiovascular Medicine,
Section
of
Vascular
Medicine, Cleveland Clinic,
Cleveland, Ohio USA.
Address correspondence to
Esther S. H. Kim, MD, MPH,
Department
of
Cardiovascular
Medicine,
Desk J3-5, Cleveland Clinic,
9500 Euclid Ave, Cleveland,
OH 44195 USA, E-mail:
kims@ccf.org

Siêu âm ngày nay Tập 60 ι Số 3/2010

-Mục tiêu: dạng sóng
Doppler phổ của ĐM đốt
sống ở siêu âm duplex ĐM
cảnh tiêu chuẩn có thể gợi ý
bệnh lý đốt sống- thân nền.
Chúng tôi đi tìm ý nghĩa
quan trọng của phổ doppler
xung của đm đốt sống trở
kháng cao trên siêu âm
dupplex.
-Phương pháp: Tập hợp dữ
liệu đo mạch máu không
xâm lấn cho siêu âm duplex
đm cảnh để nghiên cứu tín
hiệu Dopper đm đốt sống
trở kháng cao. Nghiên cứu
với trở kháng cao 1 bên hay
2 bên và dạng sóng đm đốt
sống thượng nguồn và hình
ảnh thần kinh trong 60
ngày. Báo cáo nhằm xác
định : 1/ đm đốt sống bình
thường 2/ tối thiểu VA xa
trung bình hay hẹp đm thân
nền, tắc nghẽn, hay bóc
tách; 3/ đm đốt sống nhỏ
bẩm sinh hay bất thường
khác.
-Kết quả: 1338 nghiên cứu
với 1 hay dạng sóng VA trở
kháng cao, 79 nghiên cứu
bao gồm tất cả tiêu chuẩn
(n= 157 động mạch) có
hình ảnh thần kinh liên quan
đầy đủ. Có 90 ĐM đốt sống
trở kháng cao và dạng sóng
trở kháng cao thì phân bố
đều tương đương ở 2 bên P,
T. Tốc độ tâm thu trung
bình của ĐM đốt sống trở
kháng cao so với trở kháng
thấp là 51,7 so với 63,6cm/s
( p= 0,04), tốc độ cuối tâm
trương của HR so với LR là
4,6 so với 17,3 cm/s và chí
số trở kháng của ĐM HR so
với LR là 0,92 so với 0,73.
Trong tất cả đm ĐS trở
kháng cao 18,9% là bình
thường, 38,9% có hẹp hay
tắc đoạn xa phần đốt sống
thân nền; 35,7% thì teo nhỏ
thiểu dưỡng bẩm sinh và
6,7% có những bất thường
khác (hẹp phần gần, xoắn
quá mức, loạn sản sợi cơ và
giảm sản ĐM thân nền).
-Kết luận: dấu hiệu Doppler
phổ trở kháng cao của ĐM
đốt sống của bệnh lý đốt
sống thân nền chính (46%
các ca) gợi ý là dấu hiệu
mới về hình ảnh thần kinh
học của tình huống lâm
sàng tương thích.
3/ ĐÁNH GIÁ ĐỘ CỨNG
CỦA ĐM CẢNH VÀ BỀ
DẦY LỚP NỘI MẠC ĐỘNG
MẠCH TỪ DỮ LIỆU SIÊU
ÂM: ĐỐI CHIẾU 2 KỸ
THUẬT

23


CHÂN TRỜI SIÊU ÂM
Assessment of Carotid Stiffness
and Intima-Media Thickness
From Ultrasound Data
Comparison
Between
Two
Methods
Elisabetta Bianchini, MSc, Erwan
Bozec,
PhD,
Vincenzo
Gemignani, MSc, Francesco
Faita, MSc, Chiara Giannarelli,
MD, PhD, Lorenzo Ghiadoni,
MD, PhD, Marcello Demi, MSc,
Pierre Boutouyrie, MD, PhD and
Stéphane Laurent, MD, PhD
Institute of Clinical Physiology
(IFC),
National
Research
Council (CNR), Pisa, Italy (E.Bi.,
V.G., F.F., M.D.); University of
Paris Descartes, Paris, France
(E.Bo., P.B., S.L.); National
Institute of Health and Medical
Research (INSERM) Unit 970,
Paris, France (E.Bo., P.B., S.L.);
Georges Pompidou European
Hospital (HEGP), Paris, France
(E.Bo.,
P.B.,
S.L.);
and
Department
of
Internal
Medicine, University of Pisa,
Pisa, Italy (C.G., L.G.).
Address correspondence to
Elisabetta
Bianchini,
MSc,
Institute of Clinical Physiology,
National Research Council, Via
Moruzzi 1, 56124 Pisa, Italy. Email: betta@ifc.cnr.it

-Mục tiêu: độ cứng của
động mạch tăng và bề dầy
lớp nội mạc (IMT) đm cảnh
được xem là những dấu
hiệu độc lập. Mục tiêu của
nghiên cứu là so sánh 1 kỹ
thuật đánh giá tự động các
thông số với hình ảnh siêu
âm có tham khảo kỹ thuật
echo-tracking RF.
-Phương pháp: đm cảnh
chung ở 21 bệnh nhân có
những yếu tố nguy cơ tim
mạch và 12 người tình
nguyện đã được phân tích
bằng cả những thiết bị dùng
đánh giá đường kính (D),
IMT và sức căng. Ở những
người tình nguyện, phân
tích được lặp lại 2 lần để
đánh giá khả năng của các
nhà quan sát. Sự thống nhất
đánh giá bằng phân tích
Bland-Altman, trong khi khả
năng lập lại được diễn đạt
bằng hệ
số biến số
(coefficient of variation, CV).
-Kết quả: dựa theo sự giống
nhau giữa 2 kỹ thuật , các
giá trị chênh lệch của +/SD là 0,06 +/- 0,11mm cho
D, - 0,006 +/- 0,039mm cho
IMT, và – 0,016 +/- 0,039
mm cho delta D. CV trong
người quan sát là 2% +/2% cho D, 5% +/- 5% cho
IMT và 6% +/- 6% cho
delta D với kỹ thuật echotracking RF và 2% +/- 1%
cho D, 6% +/- 6% cho IMT
và 8% +/- 6% cho D với kỹ

thuật tự động của chúng
tôi.
-Kết luận: mặc dù thiết bị
dựa trên Bmode ít chính xác
hơn thiết bị dựa trên RF, kỹ
thuật tự động chúng tôi
phù hợp tốt với phương
pháp tham khảo và có tính
lặp lại. Vì vậy, nghiên cứu
này gợi ý kỹ thuật tự động
chúng tôi thích hợp để đo
IMT và độ cứng đm khu trú.
4/ ĐÁNH GIÁ MỚI CỦA
XƠ HÓA GAN KHÔNG
XÂM LẤN TRÊN VIÊM
GAN B MẠN : ĐỘ BIẾN
DẠNG TÍCH TỤ TỐI ĐA
DO HÔ HẤP (MARS)
New Noninvasive Assessment of
Liver
Fibrosis
in
Chronic
Hepatitis B
Maximal
Accumulative
Respiration Strain
Xiangdong Hu, MD, Jinhua
Shao, PhD, Jing Bai, PhD, Jinrui
Wang, MD and Linxue Qian, MD
Department
of
Ultrasound,
Beijing Friendship Hospital,
Capital
Medical
University,
Beijing, China (X.H., L.Q.);
Department
of
Biomedical
Engineering,
School
of
Medicine, Tsinghua University,
Beijing, China (J.S., J.B.); and
Department
of
Ultrasound,
Peking University Third Hospital,
Beijing, China (J.W.).
Address correspondence to
Linxue Qian, MD, Department of
Ultrasound, Beijing Friendship
Hospital,
Capital
Medical
University,
100050
Beijing,
China.
email:qianlinxue2002@yahoo.co
m.cn

- Các thông số video siêu
âm Bmode qui ước được
trình bày trong nghiên cứu
này và đánh giá chính xác
khảo sát độ xơ hóa gan.
-Phương pháp: 28 bệnh
nhân viêm gan B và 8 bệnh
nhân nang gan ở thùy P
(nhóm chứng) đã được
chọn. Video siêu âm Bmode
chuyển động gan dưới
xương ức ở mặt cắt đứng
dọc được lưu giữ trong khi
thở nhẹ. Mức độ MARS của
mô gan có được bằng phân
tích hình ảnh. Chỉ số
METAVIR sau sinh thiết gan
được xem xét tiêu chuẩn.
Đầu tiên, mối liên hệ giữa
MARS và giai đoạn xơ hóa
được nghiên cứu; thứ 2;
ROC được dùng dể đánh giá
độ chính xác của MARS cho
chẩn đoán xơ hóa.
-Kết quả: khi đầu dò được ở
mắt cắt đứng dọc dưới
xương ức trong suốt toàn bộ
giai đoạn thở, chuyển động
mô gan hầu hết giống mặt
cắt tương tự. Giá trị MARS là

Siêu âm ngày nay Tập 60 ι Số 3/2010

29,44 % +/- 10,44 % trong
nhóm F0 (không xơ hóa;
n=8); 19,3% +/- 9,1%
trong nhóm F1 ( xơ hóa cửa
không tạo vách, n= 8),
18,09 +/- 7,36 % trong
nhóm F2- F3 ( xơ hóa cửa
với ít vách ngăn hay một số
vách không xơ hóa, n= 12)
và 14,16 % +/ - 4,18 %
trong nhóm F4 ( xơ, n= 8).
Sự tương quan Spearman
giữa MARS và giai đoạn xơ
hóa là 0,516 . Tỉ lệ chẩn
đoán chính xác, diễn tả như
vùng dưới ROC là 0,87 cho
xơ hóa nhẹ ( F >= 1) . 0,72
cho xơ hóa đáng kể và 0,75
cho xơ gan ( F= 4)
- Kết luận: MARS có được từ
video siêu âm Bmode của
mô gan là thơng số không
xâm lấn hứa hẹn, kinh tế,
thuận lợi, mới cho đánh giá
xơ hóa gan trên bệnh nhân
viêm gan B
5/ SỬ DỤNG SIÊU ÂM
ĐỊNH LƯỢNG ĐỂ CHẨN
ĐOÁN ĐẬM ĐỘ XƯƠNG
Ở NGƯỜI GIÀ:
Use of Quantitative Ultrasound
for Identifying Low Bone
Density in Older People
Hsin-Dai Lee, MD, MS, Hei-Fen
Hwang, RN, MS and Mau-Roung
Lin, PhD
Department of Family Medicine,
Taipei
Medical
University
Hospital, Taipei, Taiwan (H.D.L.); Department of Nursing,
National Taipei College of
Nursing, Taipei, Taiwan (H.F.H.); and Institute of Injury
Prevention and Control, College
of Public Health and Nutrition,
Taipei
Medical
University,
Taipei, Taiwan (M.-R.L.).
Address correspondence to
Mau-Roung Lin, PhD, Institute
of Injury Prevention and
Control,
Taipei
Medical
University, 250 Wu-Hsing St,
Taipei 110, Taiwan. E-mail:
mrlin@tmu.edu.tw

-Mục tiêu: nghiên cứu này
khám tiêu chuẩn, tổng hợp
và phân biệt giá trị của siêu
âm định lượng (quantitative
ultrasound, QUS) đậm độ
xương thấp ở nhóm người
tuổi từ 55 trở lên ở Đài loan.
-Phương pháp: chúng tôi
tuyển chọn 453 người tình
nguyện trong cộng đồng và
30 bệnh nhân có gãy xương
chân. Đậm độ xương được
đánh giá cả bằng QUS
xương gót (calcaneal QUS)
và đo độ hấp thu tia X năng
lượng đôi của cổ xương đùi
( femoral neck dual- energy
x-ray absorptionmetry DXA).
2 thông số QUS, tốc độ âm
thanh (SOS) và suy giảm
siêu âm băng rộng (BUA),

24


CHÂN TRỜI SIÊU ÂM
cũng được dùng để phỏng
đoán đậm độ xương thấp (
thang điểm T DXA 1 hay
thấp hơn) , giống như tỉ lệ
tiêu chuẩn cho BUA và SOS
tại 50 percentile và HBMD
cho nam lần lượt là 1,5 ,
1,75 và 1,28; phần tính cho
nữ là 1,54 , 2,13 và 1,29.
Khi nhận diện loãng xương
(thang điểm T là 2,5 hay
nhỏ hơn), cao hơn giống
như tỉ lệ của 3 thông số
QUS đã đạt được. Cho giá
trị hội tụ, tương
quan
Pearson đồng hiệu quả cho
DXA với BUA, SOS và
khoảng HBMD từ 0,4- 0,43
cho nam và 0,48 – 0,53 cho
nữ. Khả năng phân biệt gãy
xương chân ở nam và nữ từ
không có, không có sự khác
nhau đáng kể trong vùng
dưới đường cong ROC đã
phát hiện giữa BUA, SOS và
HBMD và DXA
sau điều
chỉnh tuổi, chỉ số khối cơ
thể, tiền sử té, và hút thuốc
lá.
-Kết luận: mặc dù có độ tập
trung rất tốt và giá trị phân
biệt và giá trị tiêu chuẩn, và
QUS xương gót (calcaneal)
có thể là dụng cụ tầm soát
cho nhận biết đậm độ
xương thấp.
6/ TỔN THƯƠNG VÚ:
SIÊU ÂM ĐÀN HỒI ĐỊNH
LƯỢNG
VỚI
SUPERSONIC
SHEAR
IMAGINGKẾT
QUẢ
BƯỚC ĐẦU:
Breast Lesions: Quantitative
Elastography with Supersonic
Shear
Imaging—Preliminary
Results
Alexandra Athanasiou, Anne
Tardivon,
Mickael
Tanter,
Brigitte Sigal-Zafrani, Jeremy
Bercoff, Thomas Deffieux, JeanLuc Gennisson, Mathias Fink,
and Sylvia Neuenschwander
Radiology July 2010 256:297303; Published online May 26,
2010

-Mục tiêu: chẩn đoán các
dạng tổn thương vú với siêu
âm đàn hồi định lượng sử
dụng
supersonic
shear
imaging (SSI) và để đánh
giá mối liên quan giữa đánh
giá số lượng của độ cứng
tổn thương và kết quả bệnh
học, dùng như tiêu chuẩn
tham khảo.
-Đối tượng và phương pháp:
nghiên cứu được chứng
minh bằng Hội đồng quốc
gia Pháp cho bảo vệ bệnh
nhân tham gia trong chương
trình nghiên cứu y sinh. TẤt
cả những bệnh nhân được
cung cấp những thông tin
ưng thuận. Siêu âm qui ước

và SSI siêu âm đàn hồi định
lượng được thực hiện trên
46 phụ nữ ( tuổi trung bình
57,6; 38- 71t) với 48 tổn
thương vú ( 28 lành, 20 ác
tính, kich thước trung bình
14,7mm); kết quả bệnh học
là phù hợp ở tất cả các ca.
Tổn thương đàn hồi định
lượng được đo bằng đơn vị
kiloPascal. Độ nhạy, đặc
hiệu và khu vực dưới đường
cong được dùng phân tích
ROC để đánh giá.
-Kết quả: tất cả tổn thương
vú được phát hiện bằng
SSI. Tổn thương ác tính có
độ đàn hồi là =146,6 kPa+/40,04, trong khi tổn thương
lành có độ đàn hồi 45,3
kPa+/- 41,1 (P<.001). Nang
có biến chứng phân biệt
được với tổn thương đặc vì
có giá trị đàn hồi = 0kPa
(vùng dịch không có tín
hiệu).
-Kết luận: SSI cung cấp số
đo đàn hồi định lượng, do
vậy có thêm thông tin bổ
sung, giúp siêu âm Bmode
chẩn đoán tổn thương vú .
7/SIÊU
ÂM
NỘI
SOI(EUS) HỨƠNG DẪN
SÚC RỬA BẰNG CỒN VÀ
TIÊM PACLITAXEL VÀO U
NANG
GIẢ
TUỴ(Pancreatic
cystic
tumour-PCT)
Dong Wan Seo
Department
of
internal
medicine,University of Ulsan
College medicine,Asan Medical
Center
Journal GE and Hepatology.Vol
25, Sept 2010 P. 14

51 bệnh nhân đã chẩn đoán
PCT và qua siêu âm nội soi
hút hết dịch trong nang,súc
rửa bằng ethanol và tiêm
Paclitaxel.Bệnh nhân được
theo dõi trong 30 ngày,an
toàn và điều trị đáp ứng.
CT tính thể tích nang trước
và sau điều trị.
Kết quả:
Đường kính trung bình trước
soi 31,8mm(17-68mm) và
thể
tích
14,09ml(1,1668,74ml). 20 PCT là nang ít
dịch,CEA
trung
bình
463ng/ml. Thể tích trung
bình giảm từ 14,09ml xuống
3,31ml. Sau 6 tháng 6 bệnh
nhân vẫn còn nang,4 bệnh
nhân giải phẩu cắt bỏ nang.
Mô bệnh học cho thấy đa số
là loại remnant mucous
epithelium,1 full epithelial,và
1
neuroendocrine.
Biến
chứng 1 ca splenic vein
thrombosis.
8/FIBROSCAN Ở NGƯỜI
KHOẺ MẠNH BẮC MÃ LAI

Siêu âm ngày nay Tập 60 ι Số 3/2010

Transient
elastography
(Fibroscan)
in
healthy
populations
in
Northern
Malaysia
KL
Chin
&
Collaborator.
Gastroenterology Unit, Hospital
Sultanah
Bahiyah,
Alor
Setar,Kedah
Journal GE and Hepatology.Vol
25, Sept 2010 P. 105

Dẫn nhập: Mặc dầu có nhiều
y văn thế giới khảo sát độ
cứng của gan nhưng chưa
có y văn nào tại Mã lai,nên
chúng
tôi
tiến
hành
Fibroscan trên một số dân
địa phương hy vọng cung
cấp thêm dữ liệu cho các
khảo sát về sau.
Phương pháp: Fibroscan tiến
hành trên các đối tựơng
khám sức khoẻ hàng năm
tại bệnh viện bao gồm cả
những bênh nhân cao huyết
áp, đái đường,người mang
viêm gan B và C thể không
hoạt động.
Kết quả: 126 người khoẻ
mạnh: 91 Mã lai,27 Trung
quốc,8 Ấn. 35 nam và 91 nữ
Tuổi trung bình: 21-64.
BMI trung bình 24,70
Độ cứng gan : 5,30+/1,40kPa
Theo phân tích Nữ có vẻ
thấp hơn 5,02kPa so với
Nam:6,03kPa.
9/BIẾN ĐỔI ĐỘ ĐÀN
HỒI GAN TRÊN BỆNH
NHÂN MANG SIÊU VI B
MÃN TÍNH
Change
of
transient
elastography(TE) in chronic
hepatitis carriers(CHB)
S. Likitlersuang và cộng sự
Division of GE,Dept of internal
medicine,Faculty
of
Medicine,Siriraj
Hospital,Bangkok,Thailand
Journal GE and Hepatology.Vol
25, Sept 2010 P. 94

Đối tượng khảo sát là các
bệnh nhân nhiễm siêu vi
gan B với HbeAg âm tính,
HBVDNA <2000IU/ml, ALT
bình thuờng và cả người
bình thường theo dõi trong
11 tháng.
87 bệnh nhân CHB và 66
bình thường.
Kết quả độ cứng gan trung
bình 5,2 và 5.0 và nhóm
bình thường là 5,3-4,9.
Không thấy sự khác biệt có
nghĩa thống kê giữa hai
nhóm.
Sự kết hợp TE,sinh hoá và
HBVDNA theo dõi ở các
bệnh nhân CHB rất có ích để
phát hiện diễn tiến xơ
sợi(fibrosis).

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×