Tải bản đầy đủ

Tính tất yếu khách quan sự tồn tại nến kinh tế nhiếu thành phần, đặc điểm, bản chất và xu hướng vận động của các TPKT trong TKQĐ lên CNXH

Tính tất yếu khách quan sự tồn tại nến kinh tế nhiếu thành phần, đặc điểm, bản
chất và xu hướng vận động của các TPKT trong TKQĐ lên CNXH.
TKQĐ là thời kỳ lịch sử đan xen giữa cái mới và cái cũ, cái mới ra đời nhưng
chưa đủ mạnh thật sự, ngược lại cái cũ lỗi thời nhưng chưa mất hẳn, do đó, danh
từ quá độ có nghĩa là trong chế độ hiện nay có những thành phần, những bộ phận,
những mảnh của CNTB và CNXH.

Trong thực tiễn, hiếm có một nền kinh tế thuần nhất. Thông thường trong một
hình thái kinh tế - xã hội có: PTSX giữ địa vị thống trị, chi phối và là cơ sở, nền
tảng của hình thái kinh tế - xã hội đó; tàn dư của PTSX trước đó; những nhân tố
của PTSX kế sau.

Nhưng trong lịch sử mỗi nước lại có những thời kỳ mà xã hội đang chuyển từ chế
độ này sang chế độ khác, ở đó chưa có PTSX nào giữ vị trí thống trị tuyệt đối. Đó
chính là thời kỳ quá độ, trong đó mỗi PTSX chỉ là “một mảnh”, “một bộ phận” của
kết cấu kinh tế - xã hội vừa độc lập tương đối, vừa tác động lẫn nhau, hợp tác và
đấu tranh với nhau. Mỗi “mảnh” hay “bộ phận” ấy là một thành phần kinh tế.

Phạm trù TPKT và PTSX có sự trùng hợp về yếu tố cấu thành (gồm LLSX và
QHSX nhất định). Song TPKT khác PTSX ở chỗ khi nó chưa vươn lên đóng vai
trò thống trị, nhưng cũng không ở vào vị trí chi phối, nó tồn tại như một bộ phận



tương đối độc lập, đan xen với các bộ phận khác của kết cấu kinh tế - xã hội. Với ý
nghĩa này, nền kinh tế nhiều thành phần là đặc trưng riêng có của TKQĐ lên
CNXH. Tiêu thức cơ bản để phân biệt các TPKT là QHSX, trước hết là quan hệ sở
hữu về TLSX. Sự tồn tại nhiều TPKT ở nước ta trong TKQĐ lên CNXH là tất yếu,
bởi vì:

- LLSX phát triển không đồng đều giữa các vùng, các ngành và trong nội bộ từng
vùng, từng ngành, nên tương ứng với những trình độ khác nhau của LLSX ấy, tất
yếu tồn tại nhiều hình thức sở hữu về TLSX và nhiều TPKT.
- Từ một nước thuộc địa nửa phong kiến đi lên CNXH, không qua chế độ TBCN,
nước ta kế thừa từ xã hội cũ kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế hàng hóa nhỏ của nông
dân, thợ thủ công, người làm thương nghiệp, dịch vụ cá thể và kinh tế tự nhiên.
Chúng ta không thể “xóa bỏ” hay “chuyển đổi” các TPKT trên một cách chủ quan
duy ý chí, mà phải căn cứ vào trình độ phát triển của LLSX, tính chất của từng
ngành, nghề mà từng bước cải biến QHSX cũ thành QHSX mới từ thấp đến cao.
- Trong quá trình cách mạng XHCN sẽ dần dần xuất hiện những TPKT mới, như
kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư bản nhà nước.

Từ khi tiến hành đổi mới, nước ta không chỉ thừa nhận sự tồn tại khách quan
nhiều TPKT mà còn thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách kinh tế nhiều thành
phần.


TPKT là tổng thể các quan hệ kinh tế cùng dựa trên một hình thức sở hữu về
TLSX, thích ứng tính chất và trình độ phát triển của LLSX, chịu sự chi phối của
các quy luật kinh tế riêng có, các quy luật kinh tế chung và cơ chế quản lý.

Việc xác định các TPKT ở nước ta căn cứ vào tính chất sở hữu của QHSX. Đại
hội IX, ĐCSVN xác định cơ cấu các TPKT ở nước ta gồm:
- Kinh tế nhà nước dựa trên hình thức sở hữu công cộng về TLSX, bao gồm các
DNNN như đất đai, hầm mỏ, rừng, biển, ngân sách, các quỹ dự trữ quốc gia, hệ
thống bảo hiểm, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, phần vốn nhà nước góp vào các
doanh nghiệp cổ phần hay liên doanh với các doanh nghiệp thuộc các TPKT
khác...
KTNN dựa trên chế độ công hữu về TLSX, được hình thành từ 03 con đường:
quốc hữu hóa tài sản của giai cấp tư sản mại bản, cải tạo XHCN đối với tư sản dân
tộc, nhà nước đầu tư xây dựng mới - đây là con đường chủ yếu ở nước ta hiện nay.


Ở nước ta, KTNN giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, là đòn bẩy đẩy
nhanh tăng trưởng kinh tế và giải quyết những vần đề xã hội; là nhân tố mở đường
cho sự phát triển kinh tế; là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để nhà
nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. DNNN giữ những vị trí then chốt;
đi đầu ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ; nêu gương về thời gian, chất lượng,
hiệu quả kinh tế - xã hội và chấp hành pháp luật. Các DNNN là bộ phận nòng cốt,
là chỗ dựa để kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo. các DNNN chỉ phát triển


trong những ngành, lĩnh vực trọng yếu, như kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, hệ
thống tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, những cơ sở sản xuất, thương mại, dịch vụ
quan trọng, một số những doanh nghiệp thực hiện những nhiệm vụ có quan hệ đến
quốc phòng - an ninh. DNNN nói chung có quy mô vừa và lớn, công nghệ tiến bộ,
kinh doanh có hiệu quả, tạo nguồn thu cho ngân sách.

- Kinh tế tập thể là hình thức liên kết tự nguyện của những người lao động, nhằm
kết hợp sức mạnh của từng thành viên với sức mạnh tập thể để giải quyết có hiệu
quả hơn những vấn đề của sản xuất, kinh doanh và đời sống.

Kinh tế tập thể phát triển với nhiều hình thức hợp tác đa dạng từ thấp đến cao, từ
tổ nhóm hợp tác đến HTX, theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi,
quản lý dân chủ, thực hiện đúng Luật HTX.

Kinh tế tập thể được phát triển rộng rãi và đa dạng trong các ngành, nghề ở nông
thôn và thành thị, nó giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Trong quá
trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, kinh tế nhà nước cùng
với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc
dân.
- Kinh tế cá thể, tiểu chủ (của nông dân, thợ thủ công, người làm thương nghiệp
và dịch vụ cá thể) bao gồm những đơn vị kinh tế dựa trên hình thức sở hữu tư


nhân quy mô nhỏ về TLSX và hoạt động dựa vào sức lao động của từng hộ là chủ
yếu.

Trong một số ngành, nghề ở nông thôn và thành thị, kinh tế cá thể và tiểu chủ có
vị trí quan trọng. Nó có khả năng tận dụng tiềm năng về vốn, sức lao động, tay
nghề của từng gia đình, từng người lao động.

- Kinh tế tư bản tư nhân (KTTBTN) là các đơn vị kinh tế mà vốn do một hoặc
một số nhà tư bản góp lại để sản xuất, kinh doanh và thuê mướn nhân công.

KTTBTN dựa trên sở hữu tư nhân TBCN về TLSX và bóc lột lao động làm thuê.
KTTBTN có nhiều hình thức là xí nghiệp tư doanh hay Công ty TNHH và có thể
góp vốn liên doanh với các TPKT khác trong và ngoài nước.

Trong TKQĐ lên CNXH, KTTBTN không giữ vai trò thống trị như dưới chế độ
TBCN, vì nó không nắm giữ các mạch máu kinh tế quan trọng, dù nó còn chiếm tỷ
trọng lớn về vốn kinh doanh và giá trị tổng sản lượng. KTTBTN có mặt tích cực
nhưng cũng có những hiện tượng tiêu cực như trốn thuế, lậu thuế, chưa chấp hành
nghiêm chỉnh pháp lệnh về kế toán...

- Kinh tế tư bản nhà nước (KTTBNN) là những đơn vị kinh tế hình thành do sự
liên doanh giữa Nhà nước XHCN với tư bản tư nhân trong nước hoặc với tư bản tư


nhân nước ngoài; KTTBNN ra đời còn do Nhà nước XHCN góp vốn cổ phần,
hoặc cho tư nhân ở trong và ngoài nước thuê tài sản.

Trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN,
Đảng ta chủ trương áp dụng một cách phổ biến các hình thức KTTBNN. Đảng ta
đã khẳng định, KTTBNN có vai trò quan trọng trong việc động viên tiềm năng to
lớn về vốn, công nghệ, khả năng tổ chức quản lý của các nhà tư bản, vì lợi ích của
bản thân họ cũng như của công cuộc xây dựng, phát triển của đất nước.
- Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài: Văn kiện Đại hội IX nhấn mạnh: Tạo điều
kiện để kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển thuận lợi, hướng vào xuất
khẩu, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội gắn với thu hút công nghệ hiện đại,
tạo thêm nhiều việc làm.

Chú trọng phát triển các hình thức tổ chức kinh doanh đan xen, hỗn hợp; phát
triển mạnh hình thức tổ chức kinh tế cổ phần; phát triển đa dạng các hình thức thu
hút vốn đầu tư nước ngoài.

Các TPKT vừa thống nhất vừa mâu thuẫn với nhau nhưng vẫn là những bộ phận
hợp thành của một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất. Cơ cấu này sẽ từng bước
biến đổi theo hướng khai thác và sử dụng có hiệu quả mọi tiềm năng, nguồn lực
của xã hội, giải phóng LLSX, đảm bảo cho nền kinh tế hoạt động năng động, đáp
ứng nhu cầu ngày càng tăng về sản xuất và tiêu dùng trong nước, hội nhập vào thị


trường thế giới. Mặt khác, trong cơ cấu này, kinh tế nhà nước phải được củng cố,
phát triển và nâng cao hiệu quả để từng bước vươn lên giữ vai trò chủ đạo, đồng
thời cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh
tế quốc dân. Chỉ có như vậy mới đảm bảo sự phát triển nền kinh tế nước ta theo
định hướng XHCN, mới giải phóng sức sản xuất, khơi dậy tiềm năng kinh tế, động
viên và tạo điều kiện cho mọi TPKT, mọi người, mọi gia đình... làm giàu cho mình
và cho đất nước.

Xu thế vận động của các TPKT trong quá trình đi lên CNXH diễn ra dưới nhiều
hình thức phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của LLSX, có tác dụng thúc
đẩy sản xuất phát triển có hiệu quả. Đảng ta chủ trương thực hiện nhất quán chính
sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. Các TPKT kinh doanh theo pháp luật
đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh.

- Tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả KTNN để làm tốt vai trò chủ
đạo.

Trong quá trình cải tạo và xây dựng CNXH ở nước ta, KTNN đã góp phần đáng
kể vào việc ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, tạo việc làm cho
những người lao động góp phần xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của CNXH,
đóng góp đáng kể vào ngân sách nhà nước; là chỗ dựa vật chất quan trọng của Nhà


nước XHCN để điều hành và hướng dẫn sự phát triển của nền kinh tế. Song, xuất
phát từ quan niệm không đúng là đồng nhất CNXH với công hữu hóa, chúng ta đã
tiến hành công hữu hóa, quốc doanh hóa một cách ào ạt, tràn lan, thực hiện cơ chế
tập trung, bao cấp, dẫn đến tình trạng các DNNN được đầu tư nhiều, cơ sở vật chất
- kỹ thuật lớn nhưng hiệu quả kinh tế - xã hội thấp.

Để KTNN phát huy được vai trò chủ đạo, dẫn dắt các TPKT khác phát triển theo
định hướng XHCN, Nhà nước ta đang tiến hành sắp xếp, đổi mới, phát triển và
nâng cao hiệu quả khu vực DNNN, trọng tâm là cổ phần hóa mạnh hơn nữa; theo
hướng:

Xây dựng một số tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các tổng công ty nhà nước, có
sự tham gia của các TPKT.

Đổi mới và phát huy những ưu thế về kỹ thuật và công nghệ, liên kết liên doanh
với các doanh nghiệp thuộc các TPKT khác.

Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý kinh tế trong các DNNN trên cơ sở đảm bảo chế
độ tự chủ sản xuất, kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở.

Theo đề án của Ban đổi mới quản lý doanh nghiệp Trung ương, dự kiến sẽ phân
loại DNNN thành 04 nhóm: nhóm cần duy trì 100% vốn nhà nước; nhóm cần nắm


giữ cổ phần chi phối; nhóm làm ăn thua lỗ nhà nước không cần nắm giữ, nếu
không cổ phần hóa được thì giao khoán, bán, cho thuê; nhóm yếu kém hoặc không
cần thiết tồn tại độc lập, nếu không thực hiện được các hình thức chuyển đổi hình
thức sở hữu thì sẽ sáp nhập vào các doanh nghiệp khác hoặc giải thể, phá sản.

Thực hiện tốt chủ trương cổ phần hóa và đa dạng hóa sở hữu đối với các doanh
nghiệp mà nhà nước không cần nắm 100% vốn.

- Mở rộng các hình thức kinh tế tập thể: Trong phong trào hợp tác hóa nước ta đã
xây dựng được hàng vạn HTX các loại. HTX, nhất là HTX nông nghiệp đã đóng
vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng nông thôn và phát triển cộng đồng mà
đặc biệt là việc thực hiện chính sách hậu phương thời chiến. Nhưng khi chuyển
sang thời bình, nhất là chuyển sang cơ chế mới, HTX đã bộc lộ nhiều nhược điểm,
yếu kém, sản xuất, kinh doanh kém hiệu quả... Nguyên nhân là do tiến hành tập
thể hóa ồ ạt, vi phạm quy luật QHSX phải phù hợp với tính chất và trình độ phát
triển của LLSX... Vì vậy, vấn đề đặt ra là kinh tế tập thể phát triển với nhiều hình
thức hợp tác đa dạng, trong đó HTX là nòng cốt cần phải được tổ chức với quy mô
từ nhỏ đến lớn, từ thấp lên cao phù hợp với điều kiện cụ thể. Phương hướng chung
nhu sau:
Việc hợp tác hóa phải căn cứ vào sự phát triển của LLSX trong các ngành; đặc
điểm công nghệ, trình độ kỹ thuật và quản lý.


Phát triển rộng rãi và đa dạng trong các ngành, nghề, với quy mô và mức độ tập
thể hóa khác nhau.

Nhà nước có chính sách khuyến khích, ưu đãi giúp đỡ inh tế tập thể phát triển có
hiệu quả; tạo môi trường, điều kiện để phát triển, tổng kết nhân tố mới, hỗ trợ đào
tạo cán bộ quản lý...

- Giúp đỡ kinh tế cá thể, tiểu chủ phát triển: Nhà nước một mặt, cần tạo điều kiện
giúp đỡ TPKT này phát triển; mặt khác, Nhà nước khuyến khích tự nguyện tổ
chức những hình thức hợp tác thích hợp hoặc làm vệ tinh cho các doanh nghiệp
thuộc các TPKT. Phát triển các loại hình trang trại với quy mô phù hợp trên từng
địa bàn.

- Kinh tế tư bản tư nhân được khuyến khích phát triển trong các ngành, nghề, lĩnh
vực mà pháp luật không cấm. Để khuyến khích KTTBTN phát triển và định hướng
nó vào con đường tư bản nhà nước, cần phải: xóa mặc cảm đối với TPKT này; tạo
lập môi trường và điều kiện hoạt động; khuyến khích đầu tư và tăng cường quản lý
nhà nước.

- Phát triển đa dạng các hình thức KTTBNN và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài:
Áp dụng nhiều phương thức góp vốn liên doanh giữa Nhà nước với các nhà kinh
doanh tư nhân trong và ngoài nước... Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được tạo


điều kiện phát triển thuận lợi, hướng vào xuất khẩu, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh
tế, xã hội, gắn với thu hút công nghệ hiện đại tạo thêm nhiều việc làm; cải thiện
môi trường đầu tư; bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của người lao động...

Tóm lại: Quá trình xây dựng và phát triển nền KTTT định hướng XHCN là phát
triển mạnh mẽ sản xuất HH của mọi TPKT; Nhà nước XHCN và kinh tế nhà nước
phải đủ mạnh, có thực lực để điều tiết, hướng dẫn sự phát triển của toàn bộ nền
kinh tế quốc dân và các TPKT khác phát triển đúng hướng



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×