Tải bản đầy đủ

TIỂU LUẬN ĐÁNH GIÁ CÁC HÌNH THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG THƯƠNG MẠI

ĐÁNH GIÁ CÁC HÌNH THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
TRONG THƯƠNG MẠI

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ CÁC PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP KINH DOANH - THƯƠNG MẠI
1. Khái quát về tranh chấp kinh doanh thương mại
1.1. Khái niệm tranh chấp thương mại
Tranh chấp kinh doanh thương mại hay còn gọi là tranh chấp thương mại là những
thuật ngữ hay được sử dụng trên thế giới. Ở Việt Nam trong mấy năm gần đây phát sinh
khái niệm tranh chấp kinh doanh thương mại được sử dụng thay thế cho khái niệm
“tranh chấp kinh tế” trước đây.
Nhìn chung “tranh chấp kinh tế”, “tranh chấp kinh doanh thương mại” đều được
hiểu là những xung đột, bất đồng về quyền, lợi ích kinh tế giữa các chủ thể trong quá
trình xác lập và giải quyết các quan hệ kinh tế hoặc kinh doanh thương mại.
“Kinh doanh” được hiểu là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các
công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ
trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Khái niệm “kinh doanh” trong Luật doanh
nghiệp tương đồng với khái niệm “hoạt động thương mại’ quy định trong Luật thương


mại. Từ đó, khái niệm “tranh chấp kinh doanh thương mại” ra đời là hoàn toàn phù hợp

với nội dung và bản chất của các tranh chấp trên thị trường hiện nay.
Theo quan điểm hiện nay, trong điều kiện của nền kinh tế thị trường ở nước ta, có
sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, kéo theo sự đa dạng về đối tượng chủ thể và
lợi ích cần bảo vệ; hoạt động kinh doanh thương mại ngày càng đa dạng, không ngừng
phát triển trong tất cả mọi lĩnh vực kinh doanh sản xuất, thương mại và dịch vụ.
Vì vậy, tranh chấp kinh doanh thương mại trong nền kinh tế thị trường hiện nay ở
Việt Nam phát sinh nhiều dạng tranh chấp mới, có những biểu hiện đa dạng về nội dung
và mức độ khác nhau như: Tranh chấp giữa thành viên công ty với công ty; tranh chấp
giữa thành viên công ty với nhau trong quá trình thành lập, hoạt động và giải thể công
ty; tranh chấp liên quan đến việc mua bán các loai cổ phiếu, trái phiếu; tranh chấp trong
các lĩnh vực quảng cáo, bảo hiểm, kế toán, tư vấn, giám định; tranh chấp liên quan đến
hối phiếu và sec; tranh chấp liên quan đến việc bảo hộ bí mật thương mại.
1.2. Đặc điểm của tranh chấp kinh doanh thương mại
So với các tranh chấp trong lĩnh vực xã hội khác như: Lao động, Hành chính, Hôn
nhân và gia đình, tranh chấp kinh doanh thương mại có nhưng đặc điểm như sau:
- Thứ nhất, nội dung các tranh chấp luôn là những mâu thuẫn về các lợi ích kinh
tế, tài sản. Điều đó là do mục đích cơ bản của mọi hoạt động kinh doanh là sinh lời và
đối tượng đầu tư cũng như cái mà người kinh doanh nhằm đạt được sau quá trình đầu tư
đều là tài sản.


- Thứ hai, chủ thể của các hoạt động phát sinh tranh chấp đều là những người kinh
doanh. Những người kinh doanh có tâm lý mong muốn xác định quan hệ ổn định, lâu dài
trên cơ sở hợp tác, tin cậy lẫn nhau.
Mỗi bên đều có mục đích tối đa lợi ích kinh tế khi tham gia các quan hệ kinh
doanh và trong quan hệ này, nghĩa vụ của chủ thể này là quyền tương ứng của chủ thể
kia. Vì thế các tranh chấp phát sinh sẽ đe doạ ảnh hưởng xấu đến mục đích và hiệu quả
hoạt động của các doanh nhân trong điều kiện lợi ích kinh tế của các bên phụ thuộc, ảnh
hưởng lẫn nhau.
- Thứ ba, những tranh chấp kinh doanh thương mại phát triển gắn liền với các
hoạt động kinh doanh. Hoạt động kinh doanh vốn rất đa dạng, chịu sự tác động, điều
tiết của các quy luật và yếu tố riêng của thị trường,chẳng hạn như quy luật cung cầu, sự
biến đổi quy luật của giá cả.
Những tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại cũng vì thế
mà có những biến đổi về biểu hiện, mức độ và cả về cách thức giải quyết giữa các bên.
2. Các hình thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại
Ngày nay, nền kinh tế ngày càng phát triển, hoạt động buôn bán, kinh doanh
thương mại cũng phát triển hơn, từ đó nảy sinh nhiều mâu thuẫn và tranh chấp. Bởi vậy
các hình thức giải quyết tranh chấp trong hoạt động kinh doanh thương mại là hết sức
cần thiết. Việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp nói riêng cũng như mọi vấn

đề liên quan đến quá trình giải quyết các tranh chấp trong kinh doanh nói chung dựa trên


nguyên tắc quan trọng là quyền tự định đoạt của các bên. Cơ quan nhà nước và Trọng tài
thương mại can thiệp theo yêu cầu của các bên tranh chấp. Kể cả khi Tòa án hoặc Trọng
tài đã can thiệp trong quá trình tố tụng, quyền tự định doạt biểu hiện bằng những hành vi
đơn phương hoặc thoả thuận của các bên luôn được ghi nhận và tôn trọng. Quyền tự
định đoạt của các bên được coi là một nội dung của quyền tự do kinh doanh và được
pháp luật bảo hộ. Pháp luật hiện hành của Việt Nam, trong các văn bản pháp luật quốc
gia cũng như trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên đều ghi nhận
nguyên tắc này.
Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, hoạt động kinh doanh, thương mại
ngày càng đa dạng và không ngừng phát triển trong tất cả mọi lĩnh vực sản xuất, thương
mại, dịch vụ, đầu tư… Vấn đề lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh
doanh, thương mại phải được các bên cân nhắc, lựa chọn phù hợp dựa trên các yếu tố
như mục tiêu đạt được, bản chất của tranh chấp, mối quan hệ làm ăn giữa các bên, thời
gian và chi phí dành cho việc giải quyết tranh chấp. Chính vì vậy, khi lựa chọn phương
thức giải quyết tranh chấp, các bên cần hiểu rõ bản chất và cân nhắc các ưu điểm, nhược
điểm của một phương thức để có quyết định hợp lý.
Điều 317 Luật thương mại năm 2005 quy định về các hình thức giải quyết tranh
chấp trong hoạt kinh doanh thương mại bao gồm: Thương lượng giữa các bên, hòa giải
giữa các bên do một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhận được các bên thỏa thuận làm trung
gian hòa giải, giải quyết bằng Trọng tài hoặc Tòa án.
2.1. Giải quyết tranh chấp thông qua con đường thương lượng


Thương lượng là phương thức giải quyết tranh chấp cơ bản nhất trong kinh doanh
thương mại mà không cần đến vai trò của người thứ ba. Đặc điểm cơ bản của phương
thức thương lượng là các bên cùng nhau trình bày quan điểm, chính kiến, tìm các biện
pháp thích hợp và đi đến thống nhất thoả thuận đẻ tự giải quyết các bất đồng. Thương
lượng là phương thức tốt nhất để giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại vì
nó đáp ứng được những yêu cầu đã nêu trên. Tự thương lượng là phương thức được các
bên tranh chấp tự nguyện chọn lựa trước tiên và trong thực tiễn, phần lớn tranh chấp
trong kinh doanh được giải quyết bằng phương thức này. Phương thức này đã từ lâu
được giới thương nhân ưa chuộng vì nó đơn giản lại không bị ràng buộc bởi các thủ tục
pháp lý phiền phức, ít tốn kém hơn và điều quan trọng, nó không làm phương hại đến
quan hệ hợp tác vốn có giữa các bên trong kinh doanh cũng như giữ được bí mật kinh
doanh của các bên.
Với những ưu điểm riêng của mình, phương thức giải quyết tranh chấp kinh
doanh thương mại bằng thương lượng đã trở thành phương thức phổ biến của các tập
đoàn kinh tế lớn trên Thế giới đặc biệt là các tập đoàn kinh tế hoạt động trong các lĩnh
vực tài chính ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán… vì nó bảo vệ một cách có hiệu quả
những bí mật trong kinh doanh của họ.
Bản chất của thương lượng được thể hiện qua các nội dung sau:
- Một là, phương thức thương lượng được thực hiện bởi cơ chế tự giải quyết thông
qua việc các bên tranh chấp tự gặp nhau bàn bạc, thoả thuận để tự giải quyết những bất


đồng phát sinh mà không cần có sự hiện diện của bên thứ ba để trợ giúp hay ra phán
quyết.
- Hai là, quá trình thương lượng của các bên cũng không chịu sự ràng buộc của
bất kỳ nguyên tắc pháp lý hay những quy định mang tính khuôn mẫu nào của pháp luật
về thủ tục giải quyết tranh. Pháp luật Việt Nam mới chỉ dừng lại ở việc ghi nhận là một
phương thức giải quyết tranh chấp thương mại mà không có bất kỳ quy định nào chi
phối giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng phương thức thương lượng.
- Ba là, việc thực thi kết quả thương lượng hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự nguyện
của các bên tranh chấp mà không có bất kỳ cơ chế pháp lý nào bảo đảm việc thực thi đối
với thoả thuận của các bên trong quá trình thương lượng.
2.2. Giải quyết tranh chấp thông qua hoà giải
Hoà giải là phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại mà trong đó
các bên trong quá trình thương lượng với nhau có sự tham gia của các bên thứ ba độc lập
do hai bên cùng chấp nhận hay chỉ định làm vai trò trung gian để hỗ trợ cho các bên
nhằm tìm kiếm những giải pháp thích hợp cho việc giải quyết xung đột bất đồng để
chấm dứt các tranh chấp phát sinh giữa các bên tham gia quan hệ. Hoà giải là giải pháp
mang tính tự nguyện, tuỳ thuộc vào sự lựa chọn của các bên. Đặc biệt là bên thứ ba với
tính chất trung gian hoà giải phải có vị trí độc lập đối với các bên. Điều đó thể hiện rõ
bên thứ ba không ở vị trí xung đột lợi ích với các bên hoặc không có những lợi ích gắn
liền với lợi ích của một trong các bên trong các vụ việc đang có tranh chấp. Bên thứ ba


tham gia làm trung gian hoà giải thường là những cá nhân, tổ chúc có trình độ chuyên
môn cao và có kinh nghiệm về những vụ việc có liên quan đến các vụ việc phát sinh.
Công việc của bên thứ ba là; xem xét, phân tích, đánh giá và dưa ra những ý kiến, nhận
định, bình luận về chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ để các bên tham khảo lựa chọn và
quyết định.
Bản chất của hoà giải được thể hiện qua những đặc trưng sau đây:
- Thứ nhất, việc giải quyết tranh chấp phát sinh trong kinh doanh thương mại bằng
phương pháp hoà giải đã có sự hiện diện của bên thứ ba (do các bên lựa chọn) làm trung
gian để trợ giúp các bên tìm kiếm giải pháp tối ưu nhằm loại trừ tranh chấp. Điểm khác
biệt cơ bản giữa hoà giải và thương lượng là trong hoà giải luôn có sụ xuất hiện của
người thứ ba tham gia vào quá trình giải quyết tranh chấp còn thương lượng là sự tự giải
quyết tranh chấp giữa các bên mà không có sụ hiện diện của người thứ ba. Tuy nhiên,
bên thứ ba làm trung gian hoà giải không có quyền quyết định hay áp đặt bất cứ vấn đề
gì nhằm ràng buộc các bên tranh chấp. Quyết định cuối cùng vẫn thuộc về các bên tranh
chấp khi họ thống nhất được ý chí với nhau về giải quyết vụ tranh chấp trên cơ sở hướng
dẫn, trợ giúp của người thứ ba làm trung gian hoà giải. Tuy cùng có sự tham gia của
người thứ ba vào quá trình giải quyết tranh chấp nhưng hoà giải khác với phương thức
giải quyết tranh chấp thương mại trọng tài hay Tòa án bởi vai trò của người thứ ba.
Trong tài hay Tòa án với vai trò là người thứ ba tham gia vào giải quyết vụ tranh chấp
lại có thẩm quyền ra phán quyết để ràng buộc các bên tranh chấp.


- Thứ hai, quá trình hoà giải các bên tranh chấp cũng không chịu sự chi phối bởi
các quy định có tính khuôn mẫu, bắt buộc của pháp luật về thủ tục hoà giải. Cũng giống
như thương lượng, pháp luật hiện hành của Việt Nam, không có quy định nào ràng buộc,
chi phối đến cơ chế hoà giải ngoài các quy định có tính chất ghi nhận thương lương, hoà
giải là những phương thức giải quyết tranh chấp được các bên ưu tiên lựa chọn để giải
quyết tranh chấp phát sinh.
- Thứ ba, kết quả hoà giải thành được thực thi cũng hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự
nguyện của các bên tranh chấp mà không có bất kỳ cơ chế pháp lý nào bảo đảm thi hành
những cam kết của các bên trong quá trình hoà giải. Cũng giống như thương lượng giải
quyết tranh chấp bằng hoà giải thực chất vẫn được thưc hiện bởi cơ chế tự giải quyết và
hoàn toàn dựa trên cơ sở tự nguyện của các bên tranh chấp.
2.3. Giải quyết tranh chấp thông qua Trọng tài thương mại
Trọng tài thương mại tồn tại dưới hai hinh thức, đó là trọng tài vụ việc và trọng tài
thương trực.
Trọng tài vụ việc: là phương thức trọng tài do các bên tranh chấp thoả thuận thành
lập để giải quyết vụ tranh chấp giữa các bên và trọng tài sẽ tự chấm dứt tồn tại khi giải
quyết xong vụ tranh chấp.
Bản chất của trọng tài vụ việc được thể hiện qua đặc trưng sau đây:
- Thứ nhất, trọng tài vụ việc chỉ được thành lập khi phát sinh tranh chấp và tự
chấm dứt hoạt động khi giải quyết xong tranh chấp.


- Thứ hai, trọng tài vụ việc không có trụ sở thường trực, không có bộ máy điều
hành và không có danh sách trọng tài viên riêng.
- Thứ ba, trọng tài vụ việc không có quy tắc tố tụng dành riêng cho mình.
So với trọng tài thường trực trọng tài vụ việc có một số ưu thế sau:
- Có thể giải quyết một cách nhanh chóng vụ tranh chấp và ít tốn kém, bởi xét cho
cùng trọng tài vụ việc vẵn chủ yếu phụ thuộc vào ý chí của các bên tranh chấp.
- Quyền lựa chọn trọng tài viên của các bên đương sự không bị giới hạn bởi danh
sách trọng tài viên sẵn có như hình thức trọng tài thường trực mà có thể lựa chọn bất kỳ
trọng tài viên nào trong và ngoài danh sách trọng tài viên của bất kỳ trung tâm trọng tài
nào.
- Các bên tranh chấp có quyền rộng rãi trong việc xác định quy tắc tố tụng để giải
quyết tranh chấp giữa các bên.
Trọng tài thường trực: Theo pháp luật Việt Nam trọng tài thường trực dưới dạng
các trung tâm trọng tài. Trung tâm trọng tài là tổ chức phi chính phủ, có tư cách pháp
nhân, có con dấu, có tài khoản riêng và trụ sở giao dịch ổn định.
Các trung tâm trọng tài có một số đặc trưng cơ bản sau:
- Thứ nhất, các trung tâm trọng tài là tổ chức phi chính phủ, không nằm trong hệ
thống cơ quan nhà nước. Các trung tâm trọng tài được thành lập theo sang kiến của các
trọng tài viên sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép, chứ không phải
được thành lập bởi Nhà nước. Hoạt động của trọng tài theo nguyên tắc tự trang trải. Chứ


không được cấp kinh phí từ ngân sách Nhà nước. Trọng tài viên duy nhất hoặc hội đồng
trọng tài không nhân danh quyền lực mà nhân danh người thứ ba độc lập phán quyết. Là
tổ chức phi chính phủ nhưng các trung tâm trọng tài vẵn luôn đặt dưới sự quản lý của
nhà nước. Nhà nước là chủ thể quản lý đối với mọi mặt của đồi sống xã hội. Nhà nước
quản lý đối với các trung tâm trọng tài thông qua việc ban hành các văn bản pháp luật
tạo cơ sở pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động của các trung tâm trọng tài. Việc quản lý
của nhà nươc còn được thực hiện thông qua hoạt động quản lý của hệ thống các cơ quan
nhà nước có thẩm quyền trong việc cấp,thay đổi, bổ sung, hay thu hồi giấy phếp thành
lập, giấy đăng ký hoạt động của các trung tâm trọng tài…Trong quá trình hoạt động cảc
trung tâm trọng tài cũng cần có sự hỗ trợ của nhà nước trên nhiều phương diện. Như: hỗ
trợ chỉ định, thay đổi trọng tài viên, hỗ trợ trong việc xem xét lại quyết định của trọng
tài, hỗ trợ trong việc quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, hỗ trợ trong việc
huỷ hay không huỷ quyết định trọng tài, hỗ trợ trong việc cương chế thi hành quyết định
trọng tài…
- Thứ hai, các trung tâm trọng tài có tư cách pháp nhân, tồn tại độc lập với nhau.
Trung tâm trọng tài là tổ chức thoả mãn các điều kiện của pháp nhân, bao gồm:
Được thành lập hợp pháp; Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ
chức khác và tự chịu trách nhiêm bằng tài sản đó; Nhân danh mình tham gia các quan hệ
pháp luật một cách độc lập.
Mỗi trung tâm trọng tài là một pháp nhân, tồn tại độc lầp và bình đẳng với các
trung tân trọng tài khác. Giữa các trung tâm trọng tài không tồn tại quan hệ phụ thuộc


cấp trên, cấp dưới như hệ thống cơ quan tài phán. Nên đặc thù của tố tụng trọng tài là áp
dụng nguyên tắc xét xử một lần.
- Thứ ba, tổ chức và quản lý ở các trung tâm trọng tài rất đơn giản, gọn nhẹ. Cơ
cấu của trung tâm trọng tài gồm có ban điều hành và các trong tài viên của trung tâm.
- Thứ tư, mỗi trung tâm trọng tài tự quyết định về lĩnh vực hoạt động và có quy
tắc tố tụng riêng.
- Thứ năm, hoạt động xét xử của trọng tài được tiến hành bởi các trọng tài viên
của trung tâm
2.4. Giải quyết tranh chấp thông qua Tòa án
Tòa án là phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại cơ quan
xét xử nhân danh quyền lực Nhà nước, được tiến hành theo trình tự thủ tục nghiêm ngặt,
chặt chẽ và bản án hay quyết định của Tòa án về việc tranh chấp nếu không có sự tự
nguyện tuân thủ sẽ được đảm bảo thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước.
Ở các nước khác nhau, có thể có sự khác nhau trong việc xác định thẩm quyền
giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại. Ở nước ta, giải quyết tranh chấp kinh
doanh thương mại chủ yếu thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa kinh tế – Tòa chuyên trách
trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Thẩm quyền của Tòa án về giải quyết các tranh chấp trong kinh doanh thương mại
được pháp luật phân định theo cấp Tòa án, theo lãnh thổ và theo sự lựa chọn của nguyên
đơn.



CHƯƠNG II - ĐÁNH GIÁ CÁC PHƯƠNG THÚC GIẢI QUYẾT TRANH
CHẤP THƯƠNG MẠI
1. Đánh giá phương thức giải quyết tranh chấp thương mại thông qua con
đường thương lượng
1.1. Ưu điểm của phương pháp thương lượng
Ưu điểm nổi bật nhất của phương pháp thương lượng là thuận tiện, đơn giản, đảm
bảo tính linh hoạt, hiệu quả và ít tốn kèm.
Thương lượng khi giải quyết tranh chấp thương mại còn giúp cho các bên bảo vệ
được uy tín của mình, bảo vệ bí mật kinh doanh.
Việc thương lượng thành công không những loại bỏ hết các bất đồng phát sinh mà
mức độ phương hại đối với mỗi bên trong quan hệ kinh doanh còn thấp, tăng cường sự
hợp tác và hiểu biết trong tương lai.
1.2. Nhược điểm của phương pháp thương lượng
Sự thành công của phương pháp thương lượng phụ thuộc rất lớn vào sự hiểu biết,
thái độ thiện chí và hợp tác của các bên trong tranh chấp.
Việc thi hành các thỏa thuận của việc thương lượng không được đảm bảo bằng cơ
chế pháp lý mang tính chất bắt buộc, không có biện pháp cưỡng chế thi hành. Việc thực
thi kết quả thương lượng phụ thuộc rất nhiều vào sự tự nguyện của các bên.
2. Đánh giả giải quyết tranh chấp thương mại thông qua con đường hòa giải


2.1. Ưu điểm của phương pháp hòa giải
Giải quyết tranh chấp thương mại bằng phương pháp hòa giải cũng có những ưu
điểm như phương pháp thương lượng như tính đơn giản, thuận tiện, nhanh chóng, sự
linh hoạt, hiệu quả, ít tốn kém
Đồng thời với đó có thể giúp các bên bảo vệ uy tín của mình bảo vê bí mật kinh
doanh, tăng cường hiểu biết và hợp tác với nhau trong tương lai.
Thêm vào đó, phương pháp hòa giải với đặc trưng thông qua một bên thứ ba làm
trung gian. Bên thứ ba thường là người có trình độ chuyên môn, có kinh nghiệm vào am
hiểu trong lĩnh vực tranh chấp, hiểu rõ được nguyên nhân và hoàn cảnh phát sinh mâu
thuẫn, quan điểm nhận thức của các bên, hướng các bên tìm được hướng đi chung để
giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp.
2.2. Nhược điểm của phương pháp hòa giải
Phương pháp hòa giải cũng có những hạn chế nhất định mà cơ bản là về cơ chế thi
hành những thỏa thuận giữa các bên tranh chấp, kết quả cuối cùng của việc giải quyết
tranh chấp là vấn đề thi hành các thỏa thuận vẫn chủ yếu dựa vào sự tự nguyện thi hành
của các bên.
Vấn đề dù có sự trung gian hòa giải của người thứ ba nhưng nếu ít nhất có một
trong các bên không trung thực, thiếu thiện chí hợp tác trong quá trình giải quyết thì việc
hòa giải khó đạt được hiệu quả cao.


Về vấn đề uy tín, thông tin các bên trong vấn đề tranh chấp, hoạt động kinh doanh
không được bảo mật hoàn toàn khi có bên thứ ba tham gia, ngoài ra về vấn đề chi phí
cho trung gian hòa giải.
3. Đánh giá phương pháp giải quyết tranh chấp thông qua trọng tài thương mại
3.1. Nhưng ưu điểm của phương pháp giải quyết tranh chấp thương mại
thông qua con đường trọng tài
Phán quyết của trọng tài thương mại có tính chung thẩm, đa số các quyết định của
trọng tài không bị khác cáo. Ví dụ: Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì đối với
các thỏa thuận trọng tài thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 68 của Luật
Trong tài thương mại 2010 thì sẽ bị hủy.
Thông qua Công ước New York năm 1958, các quyết định của trong tài được
công nhận quốc tế và việc thi hành quyết định trong tài nước ngoài thông qua 120 quốc
gia thành viên của công ước.
Cơ quan trọng tài hoàn toàn trung lập, các trọng tài viên có trình độ chuyên môn
cao, đáp ứng nhu cầu trình độ chặt chẽ theo quy chuẩn của từng nước và từng tổ chức
trọng tài.
Cơ chế giải quyết thông qua con đường trọng tài tương đối linh hoạt, đảm bảo tốt
hơn quyền tự định đoạt của các bên. Các bên có quyền tự lựa chọn hình thức tổ chức
trọng tài và trọng tài viên, lựa chọn địa điểm, thời gian cho thuận tiện với doanh nghiệp.


Việc giải quyết thông qua cơ chế trọng tài có tính bảo mật, các phiên họp giải
quyết tranh chấp của trọng tài không được tổ chức công khai và chỉ có các bên nhận
được quyết định mới được tham gia.
Giải quyết tranh chấp thông qua con đường trọng tài giúp các bên tiết kiệm được
thời gian và chi phí hơn so với cơ chế giải quyết thông qua Tòa án. Quá trình tố tụng
trọng tài thương mại đôi khi có thể diễn ra nhanh chóng chỉ trong vòng vài tuần.
3.2. Một số nhược điểm của việc giải quyết tranh chấp thương mại thông qua
trọng tài thương mại
Các trọng tài thương mại có thể tương đối khó khăn trong quá trình điều tra, xác
minh, thu thập chứng cứ và triệu tập nhân chứng. Tuy pháp luật có quy định quyền này
tại Điều 45, Điều 46 và Điều 47 của Luật trọng tài thương mại 2010 nhưng dường như
tất cả chỉ đang dừng lại ở việc “yêu cầu” còn việc cung cấp chứng cứ và có mặt của
nhân chứng phụ thuộc nhiều và thái độ thiện chí hợp tác của người được yêu cầu.
Đối với các trọng tài vụ việc, khi giải quyết tranh chấp thương mại phụ thuộc rất
nhiều vào thiện chí của các bên. Nếu một bên trong tranh chấp không thiện chí, quá trình
tố tụng có quy cơ bị trì hoãn và nhiều khi không thể thành lập được Hội đồng trọng tài.
Hình thức trọng tài quy chế có nhược điểm là tốn kém nhiều chi phí. Ngoài việc
phải trả phí thù lao cho các trọng tài viên, các bên còn phải trả thêm chi phí hành chính
để nhận được sự hỗ trợ từ các trung tâm trọng tài.
4. Đánh giá phương thức giải quyết tranh chấp thương mại thông qua Tòa án


4.1. Ưu điểm của việc giải quyết tranh chấp thương mại thông qua Tòa án
Trình tự thủ tục tố tụng chặt chẽ, hiệu lực phán quyết có tính khả thi cao, phán
quyết của Tòa án có tính cưỡng chế thi hành với các bên.
Nguyên tắc xét xử công khai của Tòa án còn mang tính chất răn đe đối với thương
nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp luật.
Phán quyết của Tòa án là nhân danh nhà nước, đại diện cho quốc gia, việc tiến
hành điều tra, thu thập chứng cứ, xác minh và triệu tập nhân chứng đến Tòa án làm việc
là điều thuận lợi và được pháp luật thừa nhận.
Các bên không phải trả thù lao cho Thẩm phán và các chi phí hành chính tố tụng
là công khai và hợp lý.
4.2. Hạn chế của phương pháp giải quyết tranh chấp thông qua Tòa án
Thủ tục tố tụng tại Tòa án thiếu linh hoạt do phải đảm bảo đúng trình tự thủ tục
luật định, kéo dài và tốn kém thời gian cho các bên tranh chấp.
Phán quyết của Tòa án thường bị kháng cáo, thông qua đó bên tranh chấp với ý đồ
riêng của mình có thể thông qua biện pháp kháng cáo để trì hoãn, kéo dài, làm cho vụ án
phải qua nhiều cấp xét xử, làm ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kinh doanh.
Nguyên tắc xét xử công khai có ưu điểm đảm bảo tính răn đe nhưng mặt khác lại
không đảm bảo bí mất kinh doanh và uy tín trên thương trường bị giảm sút đối với
doanh nghiệp.


Đối với các phán quyết của Tòa án có yếu tố nước ngoài thì các phán quyết của
Tòa án khó được công nhận và thi hành rộng rãi ở các nước khác. Phán quyết Tòa án
thường chỉ được công nhận và thi hành ở quốc gia khác khi có hiếp định song phương,
hiệp định tương trợ tư pháp theo một quy trình nghiêm ngặt.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×