Tải bản đầy đủ

Đề xuất các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại

Tiểu luận:
Đề xuất các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại.
Danh sách nhóm 03, Lớp kinh tế luật Tây Nguyên 2015.
1. Vũ Đức Anh
2. Lê Thị Hạnh
3. Tạ Thanh Hoàng
4. Bùi Ngọc San
5. Võ Văn Tín
6. Đoàn Thị Thu Trang

MS: 801071541
MS: 801071545
MS: 801071548
MS: 801071556
MS: 801071558
MS: 801071561

1


A. PHẦN MỞ ĐẦU

Việt Nam đang tiến hành Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây
dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Có thể thấy trong
những năm gần đây kinh tế nước ta đã có những bước phát triển lớn cùng với xu
thế hội nhập quốc tế đã tạo ra rất nhiều thuận lợi nhưng kéo theo là việc tranh
chấp thương mại tăng nhanh về số lượng cũng như tính phức tạp của vụ việc.
Giải quyết tranh chấp thương mại là công việc tất yếu của quá trình phát triển
kinh tế nó luôn đòi hỏi được giải quyết một cách nhanh chóng hiệu quả và chính
xác nhất. Để giải quyết các tranh chấp thương mại các bên có thể thỏa thuận lựa
chọn một trong bốn phương thức giải quyết tranh chấp thương mại đó là thương
lượng, hòa giải, trọng tài thương mại hoặc tòa án. Mỗi phương thức đều có
những ưu điểm và hạn chế riêng và việc lựa chọn phương thức nào để giải quyết
tranh chấp tùy thuộc vào hiểu quả mà phương thức đó đem lại cho mỗi bên trong
cuộc đối với mỗi vụ việc cụ thể. Hiểu biết và nắm vững về mỗi phương thức là
cơ hội và chìa khóa để các doanh nhân tìm ra được con đường giải quyết tranh
chấp thích hợp nhất cho mình. Tuy nhiên cũng còn những vấn đề liên quan tới
các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại chưa được quy định đầy đủ và
hợp lý trong hệ thống pháp luật nước ta, việc áp dụng các phương thức trong
thực tiễn còn nhiều bất cập, vấn đề hoàn thiện các phương thức để phát huy tối
đa vai trò của chúng trong nền kinh tế là một nhu cầu bức thiết. Tìm hiểu phân
tích làm rõ nội dung các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại, từ đó tìm
ra ưu nhược điểm của mỗi phương thức và có những đề xuất để hoàn thiện là
công việc hoàn toàn cần thiết.

2


B. NỘI DUNG
I. Khát quát về tranh chấp thương mại và các phương thức giải quyết:
1. Định nghĩa tranh chấp thương mại:
Điều 3 Luật thương mại 2005 quy định: “Hoạt động thương mại là hoạt
động nhằm mục đích sinh lời, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu
tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động thương mại của các thương nhân được
gọi là tranh chấp thương mại. Là một hiện tượng kinh tế - xã hội tất yếu xuất hiện
trong điều kiện kinh tế thị trường, hiểu một cách khái quát, tranh chấp thương
mại là những mâu thuẫn (bất đồng hay xung đột) về quyền và nghĩa vụ giữa các
bên trong quá trình thực hiện các hoạt động thương mại. Dưới tác động của quy
luật cạnh tranh và sự tự do hóa thương mại, tranh chấp thương mại có xu hướng
ngày càng phong phú, đa dạng về chủng loại.
2. Đặc điểm:
Chủ thể chủ yếu của tranh chấp thương mại là thương nhân. Quan hệ

thương mại có thể được thiết lập giữa các thương nhân với nhau hoặc giữa
thương nhân với bên không phải là thương nhân. Một tranh chấp được coi là
tranh chấp thương mại khi có ít nhất một bên là thương nhân. Ngoài ra cũng có
một số trường hợp, các cá nhân tổ chức khác cũng có thể là chủ thể của tranh
chấp thương mại, tranh chấp giữa công ty – thành viên công ty; tranh chấp giữa
các thành viên công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, hợp
nhất, giải thể, chia, tách ... công ty; ...
Căn cứ phát sinh tranh chấp thương mại là hành vi vi phạm hợp đồng hoặc
vi phạm pháp luật. Trong nhiều trường hợp, tranh chấp thương mại phát sinh do
các bên có vi phạm hợp đồng và xâm hại lợi ích của nhau, tuy nhiên cũng có thế
có những vi phạm xâm hại lợi ích của các bên nhưng không làm phát sinh tranh
chấp.
Nội dung của tranh chấp thương mại là những xung đột về quyền, nghĩa vụ
và lợi ích của các bên trong hoạt động thương mại. Các quan hệ thương mại có
bản chất là các quan hệ trong hoạt động thương mại. Các bên thương mại có bản
chất là các quan hệ tài sản, nên nội dung tranh chấp thường liên quan trực tiếp tới
lợi ích kinh tế của các bên.
3. Về các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại:
Tranh chấp thương mại đòi hỏi được giải quyết thỏa đáng nằm bảo việc
quyền lợi của các bên, giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật của công dân, góp
phần ngăn ngưa vi phạm pháp luật trong hoạt động thương mại, bảo đảm trật tự
pháp luật, kỷ cương xã hội. Hiện nay tranh chấp thương mại được giải quyết các
3


các phương thức: thương lượng, hòa giải, trọng tài thương mại và tòa án. Mỗi
phương thức có sự khác nhau về tính chất, nội dung. Các bên có quyền tụ do lựa
chọn phương thức phù hợp, phụ thuộc vào lợi thế mà mỗi phương thức có thể
mang lại, mức đọ phù hợp của phương thức so với nội dung tính chất của tranh
chấp và thiện chí của các bên.
II. Ưu điểm, hạn chế của các phương thức giải quyết tranh chấp
thương mại và Đề xuất các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại.
1. Giải quyết tranh chấp bằng phương thức thương lượng:
Thương lượng là phương thức giải quyết tranh chấp thông qua việc các
bên tranh chấp cùng nhau bàn bạc, tự dàn xếp, tháo gỡ những bất đồng phát sinh
để loại bỏ tranh chấp mà không cần có sự trợ giúp hay phán quyết của bất kì bên
thứ ba nào.
Thương lượng là phương thức được các bên tranh chấp lựa chọn trước tiên
và trong thực tiễn phần lớn các tranh chấp trong kinh doanh, thương mại được
giải quyết bằng phương thức này. Nhà nước khuyến khích áp dụng phương thức
tự thương lượng để giải quyết tranh chấp trên tinh thần hoàn toàn tôn trọng
quyền thoả thuận của các bên. Bản chất của thương lượng được thể hiện qua các
đặc trưng sau:
- Phương thức giải quyết tranh chấp này được thực hiện bởi cơ chế tự giải
quyết thông qua việc các bên tranh chấp gặp nhau bàn bạc, thoả thuận để tự giải
quyết những bất đồng phát sinh mà không cần có sự hiện diện của bên thứ ba để
trợ giúp hay ra phán quyết.
- Quá trình thương lượng giữa các bên không chịu sự ràng buộc của bất kì
nguyên tắc pháp lý hay những quy định mang tính khuôn mẫu nào của pháp luật
về thủ tục giải quyết tranh chấp. Pháp luật Việt Nam mới chỉ dừng lại ở việc ghi
nhận thương lượng là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại mà không
có bất kì quy định nào chi phối đến cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại bằng
thương lượng.
- Việc thực thi kết quả thương lượng hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự nguyện
của mỗi bên tranh chấp mà không có bất kì cơ chế pháp lý nào bảo đảm việc thực
thi đối với thoả thuận của các bên trong quá trình thương lượng.
Giải quyết tranh chấp thương mại bằng thương lượng thực chất được thực
hiện bởi cơ chế giải quyết nội bộ và hoàn toàn xuất phát từ sự tự nguyện của các
bên tranh chấp mà không có sự can thiệp của bất kì cơ quan nhà nước hay người
thứ ba nào. Thương lượng là sự thể hiện quyền tự do thoả thuận, tự do định đoạt
của các bên tranh chấp, các bên tự đề xuất các giải pháp và thoả hiệp với nhau
4


theo trình tự, thủ tục tự chọn để giải quyết các bất đồng phát sinh mà không bắt
buộc phải tuân theo một thủ tục pháp lý nào.
Quá trình thương lượng để giải quyết tranh chấp thương mại có thể được
thực hiện bằng nhiều cách thức: thương lượng trực tiếp, thương lượng gián tiếp
và kết hợp thương lượng trực tiếp với thương lượng gián tiếp. Thương lượng trực
tiếp là cách thức mà các bên tranh chấp trực tiếp gặp nhau bàn bạc, trao đổi và đề
xuất ý kiến của mỗi bên nhằm tìm kiếm giải pháp loại trừ tranh chấp. Thương
lượng gián tiếp là cách thức các bên tranh chấp gửi cho nhau tài liệu giao dịch
thể hiện quan điểm và yêu cầu của mình nhằm tìm kiếm giải pháp loại trừ tranh
chấp.
a. Ưu điểm:
Phương thức thương lượng đơn giản, ít phiền hà, hiệu quả, ít tốn kém,
không gây ra ảnh hưởng xấu trong quan hệ kinh doanh giữa các bên sau tranh
chấp nên thương lượng luôn là phương thức ưa chuộng, phổ biến, được các
thương nhân ưu tiên lựa chọn trước khi tìm đến các giải pháp khác để giải quyết
các tranh chấp thương mại. Ưu điểm của thương lượng trực tiếp là thông qua
những cuộc đàm phán, tiếp xúc trực tiếp, các bên nhanh chóng hiểu biết được
quan điểm, thái độ hợp tác và thiện chí của mỗi bên và có sự điều chỉnh để phù
hợp với ý chí của các bên nhằm tiến tới một giải pháp chung nhất có thể lựa chọn
để giải quyết vụ tranh chấp. Ưu điểm của thương lượng gián tiếp là chi phí thời
gian, tiền bạc cho việc đi lại, ăn ở để đàm phán ít hơn so với đàm phán trực
tiếp… Ưu điểm nổi bật của phương thức giải quyết tranh chấp bằng thương
lượng là sự thuận tiện, đơn giản, nhanh chóng, tính linh hoạt, hiệu quả và ít tốn
kém. Mặt khác, giải quyết tranh chấp bằng thương lượng còn bảo vệ được uy tín
cho các bên tranh chấp cũng như bí mật trong kinh doanh của các nhà kinh
doanh. Các bên tranh chấp hiểu rõ những bất đồng và nguyên nhân phát sinh
tranh chấp nên quá trình đàm phán, thương lượng dễ hiểu và cảm thông với nhau
hơn để có thể thoả thuận được các giải pháp tối ưu theo đúng nguyện vọng của
mỗi bên nên không cần có sự can thiệp của cơ quan tài phán nào.
b. Hạn chế:
Bên cạnh những ưu điểm trên, phương thức giải quyết tranh chấp bằng
thương lượng cũng có những nhược điểm nhất định. Thương lượng thành công
hay thất bại hoàn toàn phụ thuộc vào sự hiểu biết và thái độ thiện chí, hợp tác của
các bên tranh chấp. Khi quan điểm, thái độ và ý chí của các bên có sự cách biệt
quá lớn, nhất là khi một bên thiếu sự hợp tác và thiện chí không cao trong quá
trình đàm phán hay đại diện đàm phán tranh chấp của mỗi bên không biết lắng
5


nghe, không có sự bình tĩnh, kiên trì, mềm dẻo cũng như không có khả năng
thuyết phục đối tác thì cơ hội thương lượng thành công không cao. Khi một hoặc
các bên tranh chấp thiếu sự hiểu biết về lĩnh vực và vấn đề đang tranh chấp,
không nhận thức được vị thế của mình về khả năng thắng thua nếu phải theo đuổi
vụ kiện tại cơ quan tài phán hoặc không có thái độ nỗ lực hợp tác, thiếu sự thiện
chí, trung thực trong quá trình thương lượng thì khả năng thành công là rất mong
manh, kết quả thương lượng thường bế tắc. Mặt khác, kết quả thương lượng
không được đảm bảo bằng cơ chế pháp lý bắt buộc. Dù các bên có đạt được thoả
thuận để giải quyết vụ tranh chấp thì việc thực thi kết quả thương lượng vẫn phụ
thuộc vào sự tự nguyện thi hành của các bên. Nếu một bên không tự nguyện thi
hành thì kết quả thương lượng cũng chỉ tồn tại trên giấy tờ mà không có một cơ
chế pháp lý trực tiếp nào bắt buộc thi hành.
Khi xảy ra tranh chấp trong kinh doanh, nhiều doanh nghiệp đã ưu tiên
chọn phương thức thương lượng để giải quyết. Tuy vậy, không phải trong mọi
trường hợp các doanh nhân đều sử dụng thành công phương pháp này. Để giải
quyết có hiệu quả tranh chấp thương mại, doanh nhân cần phải nắm vững hợp
đồng và luật áp dụng cho hợp đồng, kiên trì, mềm dẻo và thiện chí trong quá
trình thương lượng, đồng thời biết kết hợp với sự tác động của các cơ quan quản
lý nhà nước theo chức năng.
c. Đề xuất:
- Thứ nhất, trong quá trình đàm phán, thương lượng, các bên phải vận
dụng, giải thích và phân tích đúng các điều khoản của hợp đồng cũng như các
quy định của pháp luật áp dụng cho hợp đồng để làm căn cứ cho các lập luận của
mình mới thuyết phục đối tác. Trên cơ sở đó, lập trường quan điểm và ý chí của
hai bên dễ gặp nhau. Nếu một bên hoặc hai bên giải thích thiên lệch điều khoản
của hợp đồng hoặc các quy định của pháp luật áp dụng cho hợp đồng, từ đó đưa
ra những yêu sách không hợp lý, những lập luận vô căn cứ thì không thể chấp
nhận, không muốn đàm phán thương lượng. Muốn hiểu đúng nội dung và các
điều khoản của hợp đồng, các quy định của hệ thống pháp luật áp dụng cho hợp
đồng thì các doanh nghiệp phải sử dụng những người có chuyên môn, nghiệp vụ,
có kinh nghiệm kinh doanh và có kiến thức pháp lý. Tốt nhất là mỗi doanh
nghiệp nên tiếp nhận một luật sư có kinh nghiệm vào làm trong doanh nghiệp
mình hoặc ký một hợp đồng dịch vụ pháp lý thường xuyên với một luật sư, một
văn phòng luật sư để đảm bảo kinh doanh đúng luật và giải quyết những vấn đề
pháp lý nảy sinh được nhanh chóng, tiện lợi.

6


- Thứ hai, khi thương lượng nhằm giải quyết tranh chấp thương mại, các
bên cần thể hiện tính kiên trì, không nên nóng vội, dễ dẫn đến hỏng việc. Tính
kiên trì trước hết thể hiện ở việc biết chịu khó lắng nghe ý kiến trình bày của phía
đối tác, nghiên cứu kỹ quan điểm lập luận của họ trình bày một cách có lý, có
tình, dễ hiểu về quan điểm, lập trường; phân tích đúng sai, lựa chọn cách thuyết
phục đối tác. Tính kiên trì còn thể hiện ở chỗ luôn giữ vững mục tiêu tối thiểu đã
được đặt ra cho cuộc thương lượng.
- Thứ ba, trong thương lượng luôn cần sự nhẹ nhàng, nói năng mạch lạc,
sử dụng từ ngữ, lời văn rõ ràng, lịch sự nhưng logic, chặt chẽ. Và điều đặc biệt là
trong quá trình thương lượng, các nhà doanh nghiệp nhất thiết phải tạo ra không
khí thân mật, thông cảm, hiểu biết lẫn nhau, biết tạo ra những tình huống làm dịu
không khí thương lượng mỗi khi cảm thấy căng thẳng. Tính mềm dẻo cũng được
thể hiện ở chỗ biết gợi ra những ý tưởng kinh doanh có thể tiếp tục thực hiện sau
khi tranh chấp được giải quyết. Nghĩa là trong thương lượng giải quyết tranh
chấp các nhà doanh nghiệp cần đứng trên lập trường hợp tác lâu dài và hết sức
tôn trọng mối quan hệ đã được xác lập giữa hai bên.
- Thứ tư, muốn thương lượng giải quyết tranh chấp kinh doanh thành công,
nhà doanh nghiệp cần phải có thiện chí. Thiện chí được đánh giá là chiếc cầu nối
hai nhà doanh nghiệp với nhau trên bàn đàm phán. Thiện chí thể hiện trước hết ở
tính hợp lý và hợp pháp của những yêu sách do bên khiếu nại nêu ra. Những yêu
sách đó nhất thiết phải phù hợp với hợp đồng hai bên đã kí kết. Bên khiếu nại
không nên đưa ra những yêu sách quá cao, đòi bồi thường cả những khoản thiệt
hại không thật hợp lý vì làm như thế chỉ đưa ra quá trình thương lượng đến đổ
vỡ. Mặt khác các bên bị vi phạm trong nhiều trường hợp để tỏ ra thiện chí của
mình, có thể đưa ra quan điểm sẵn sàng chấp nhận tiền phạt hoặc bồi thường thiệt
hại thấp hơn mức đã đưa ra. Các nhà doanh nghiệp cần biết việc tự thương lượng
giải quyết thành công tranh chấp giữa hai bên đã là thắng lợi bởi không phải chi
phí tốn kém cho trọng tại hoặc toà án và không phải lo lắng về khả năng thi hành
án và thi hành phán quyết của trọng tài trong tương lai. Hơn thế nữa, không ai
nắm được nội dung vụ việc hơn những người trong cuộc, tự mình giải quyết việc
của mình là nhanh nhất, hợp tình, hợp lý nhất.
- Thứ năm, thiện chí phải đến từ hai phía. Bên vi phạm cũng cần thể hiện
thiện chí trong thương lượng thì việc giải quyết mới đạt được hiệu quả. Khi nhận
được hồ sơ khiếu nại, bên vi phạm cần phải đọc kỹ, phân tích hồ sơ, tham vấn ý
kiến luật sư, xác định giá trị pháp lý của các căn cứ và các tài liệu, chứng từ làm
bằng chứng. Nếu thấy các chứng từ không hợp lệ, các yêu sách không có căn cứ
pháp lý thì cần phải bác bỏ trên cơ sở lập luận có sức thuyết phục để bên khiếu
7


nại hiểu được lập trường, quan điểm của mình. Trước hết nên trả lời nghiêm túc,
kịp thời khiếu nại và chủ động thống nhất quan điểm, cùng nhau tìm mọi cách tự
giải quyết vụ việc bảo đảm lợi ích hợp pháp của hai bên, bảo đảm bí mật kinh
doanh và giữ được mối quan hệ bạn hàng với nhau. Trên tinh thần đó, nếu thấy
mình có lỗi thì tìm cách thuyết phục bên khiếu nại miễn hoặc giảm trách nhiệm
pháp lý và cam kết thực hiện nghiêm chỉnh các hợp đồng ký kết sau này, hoặc
chủ động đề xuất chấp nhận một phần bồi thường thiệt hại, dứt khoát tránh tình
trạng cố tình không chấp nhận bất cứ một yêu sách nào của bên khiếu nại. Với
tinh thần còn nước còn tát, ngay cả khi bên vi phạm đã đưa vụ việc ra toà hoặc
Trọng tài nhưng chưa xét xử thì bên vi phạm vẫn có thể thể hiện thiện chí bằng
cách thương lượng với bên vi phạm về việc sẵn sàng nộp phạt hoặc bồi thường
thiệt hại ít hơn trị giá đơn kiện. Cơ hội này nếu được tận dụng vẫn có lợi cho cả
hai bên.
- Thứ sáu, khai thác hợp lý sự tác động của cơ quan nhà nước. Trong quá
trình thương lượng để giải quyết tranh chấp, các nhà doanh nghiệp cần tận dụng
sự tác động của các cơ quan quản lý nhà nước liên quan. Điều cần lưu ý là phải
khai thác sự tác động của những cơ quan nhà nước theo chức năng một cách hợp
lý, vừa phải và vừa đúng lúc mới có thể đem lại hiệu quả cho quá trình giải quyết
tranh chấp.
2. Giải quyết tranh chấp bằng phương thức hoà giải:
Hoà giải là phương thức giải quyết tranh chấp với sự tham gia của bên thứ
ba làm trung gian hoà giải để hỗ trợ, thuyết phục các bên tranh chấp tìm kiếm các
giải pháp nhằm loại trừ tranh chấp đã phát sinh.
Bản chất của hoà giải được thể hiện qua các đặc trưng cơ bản sau:
- Việc giải quyết tranh chấp thương mại bằng hoà giải đã có sự hiện diện
của bên thứ ba (do các bên tranh chấp lựa chọn) làm trung gian để trợ giúp các
bên tìm kiếm giải pháp tối ưu nhằm loại trừ tranh chấp. Điểm khác biệt cơ bản
của hoà giải và thương lượng là trong hoà giải luôn có sự xuất hiện của người thứ
ba trong quá trình giải quyết tranh chấp còn thương lượng là sự tự giải quyết giữa
hai bên. Tuy nhiên, quyền quyết định cuối cùng vẫn thuộc về các bên tranh chấp
khi họ thống nhất được ý chí với nhau về giải quyết tranh chấp trên cơ sở hướng
dẫn, trợ giúp của người thứ ba làm trung gian hoà giải. Đây cũng là sự khác biệt
giữa hoà giải với trọng tài thương mại, toà án.
- Quá trình hoà giải các bên tranh chấp cũng không chịu sự chi phối bởi
các quy định có tính khuôn mẫu, bắt buộc của pháp luật về thủ tục hoà giải.

8


- Kết quả hoà giải thành được thực thi cũng hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự
nguyện của các bên tranh chấp mà không có bất kì cơ chế pháp lý nào đảm bảo
thi hành những cam kết của các bên trong quá trình hoà giải.
Quá trình giải quyết tranh chấp thương mại bằng hoà giải, người thứ ba
được các bên lựa chọn làm trung gian hoà giải có vai trò quan trọng và giữ vị trí
trung tâm mặc dù quyết định cuối cùng vẫn thuộc về các bên tranh chấp. Tuy
pháp luật không có quy định như với vị trí, vai trò của người trung gian hoà giải
họ cần phải hội tụ những phẩm chất nhất định: trình độ chuyên môn, nghiệp vụ;
am hiểu pháp luật, có kinh nghiệm thực tiễn và có sự độc lập, trung lập với các
bên tranh chấp. Người trung gian hoà giải không thể có lợi ích liên quan hoặc
xung đột với lợi ích của các bên tranh chấp. Có như vậy, người thứ ba mới có đủ
uy tín và độ tin cậy cần thiết để các bên tranh chấp mời làm trung gian hoà giải.
a. Ưu điểm:
Giải quyết tranh chấp bằng hoà giải có nhiều ưu điểm như thủ tục hoà giải
được tiến hành nhanh gọn, chi phí thấp, các bên có quyền tự định đoạt, lựa chọn
bất kì người nào làm trung gian hoà giải cũng như địa điểm tiến hành hoà giải.
Hòa giải mang tính thân thiện nhằm tiếp tục giữ gìn và phát triển các mối quan
hệ kinh doanh vì lợi ích của hai bên. Hoà giải là mong muốn của các bên dàn xếp
vụ việc sao cho không có bên nào bị thua cuộc, không dẫn đến tình trạng đối đầu,
thắng thua như quá trình kiện tụng tại toà án. Hình thức giải quyết này đặc biệt
hiệu quả khi giải quyết những tranh chấp kinh doanh, thương mại mang tính chất
kỹ thuật (xây dựng, tài chính…). Vì các bên trong vụ việc tranh chấp hoàn toàn
có quyền chủ động trong việc tìm kiếm một hoà giải viên có đủ hiểu biết để tham
gia giải quyết tranh chấp. Nhưng trong thực tiễn kiện tụng tại toà thì các bên
không có quyền lựa chọn cán bộ giải quyết trừ một số trường hợp phải thay đổi
hội đồng xét xử theo quy định của pháp luật. Một điều quan trọng khác mà các
nhà kinh doanh rất quan tâm khi giải quyết bằng con đường này là các bên kiểm
soát được các tài liệu, chứng cứ có liên quan (những bí mật kinh doanh) trong khi
giải quyết tại toà án thì các yêu cầu này không được đảm bảo do toà án thực hiện
xét xử theo nguyên tắc công khai. Người trung gian hoà giải có trình độ chuyên
môn, có kinh nghiệm, am hiểu lĩnh vực và vấn đề tranh chấp nên họ dễ hiểu rõ
được nguyên nhân, hoàn cảnh phát sinh mâu thuẫn cũng như quan điểm, nhận
thức của mỗi bên, họ sẽ biết cách làm cho ý chí của các bên dễ gặp nhau trong
quá trình đàm phán. Vì vậy trong những trường hợp kinh nghiệm và sự hiểu biết
của các bên về tranh chấp còn hạn chế, giải quyết tranh chấp bằng thương lượng

9


sẽ khó đạt được kết quả, nhưng khi có sự can thiệp của ngường thứ ba làm trung
gian hoà giải thì cơ hội thành công lại cao hơn.
Ngoài ra, kết quả hoà giải được ghi nhận và chứng kiến bởi người thứ ba
nên mức độ tôn trọng và tự nguyện tuân thủ các cam kết đã đạt được trong quá
trình hoà giải cũng cao hơn so với thương lượng.
b. Hạn chế:
Bên cạnh những ưu điểm trên, giải quyết tranh chấp bằng phương thức hoà
giải cũng có những nhược điểm nhất định. Do bản chất của hoà giải vẫn được
quyết định trên cơ sở ý chí thoả thuận và sự tự nguyện thi hành của các bên nên
dù có sự trợ giúp của người thứ ba làm trung gian hoà giải, mà một bên không
trung thực, thiếu thịên chí hợp tác trong quá trình đàm phán thì hoà giải cũng khó
có thể đạt được kết quả như mong đợi.
Ngoài ra trong quá trình hoà giải các bên phải trao đổi, cung cấp thông tin
với người thứ ba về hoạt động kinh doanh của mỗi bên liên quan đến vụ tranh
chấp nên uy tín cũng như bí mật kinh doanh của mỗi bên dễ bị ảnh hưởng hơn
phương thức thương lượng. Chi phí cho quá trình giải quyết tranh chấp thương
mại bằng hoà giải cũng thường tốn kém hơn so với thương lượng bởi một hoặc
các bên tranh chấp phải trả khoản dịch vụ phí cho người thứ ba làm trung gian
hoà giải.
c. Đề xuất:
- Thứ nhất, các bên trong quan hệ tranh chấp khi lựa chọn phương thức
hòa giải cần phải thực sự tham gia với thái độ hợp tác và thiện chí, tôn trọng
những ý kiến cũng như các giải pháp mà bên thứ ba hòa giải đưa ra. Các bên
tranh chấp không được chỉ nghĩ đến lợi ích của mình mà làm xâm phạm đến
những lợi ích hợp pháp của bên kia.
- Thứ hai, các hòa giải viên cần phải nâng cao tính chuyên nghiệp cũng
như uy tín và độ tin cậy từ phía các bên tranh chấp để giúp cho việc giải quyết
tranh chấp đạt được hiệu quả một cách tốt nhất. Bên thứ ba hòa giải không nên
chỉ tham gia hòa giải với tư cách là người được các bên tranh chấp lựa chọn, mà
cần phải hoạt động một cách thường xuyên và chuyên nghiệp. Điều đó sẽ giúp
cho các bên trong quan hệ tranh chấp cảm thấy tin tưởng và tôn trọng hơn ở các ý
kiến và giải pháp mà người hòa giải đưa ra.
- Thứ ba, do trong quá trình giải quyết tranh chấp bằng hòa giải có sự tham
gia của người thứ ba có thể làm ảnh hưởng đến tính bí mật của hoạt động kinh
doanh mà các bên không muốn tiết lộ, cho nên pháp luật cần phải có những cơ
chế quản lý và các chế tài chặt chẽ hơn nhằm đảm bảo các bí mật kinh doanh của
10


các bên tranh chấp không bị “rò rỉ” ra ngoài bởi người hòa giải. Có làm được
như vậy thì các bên tranh chấp mới có thể yên tâm khi nhờ cậy vào sự giúp đỡ
của các hòa giải viên.
3. Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại:
Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong
hoạt động thương mại được tiến hành theo trình tự, thủ tục do các bên thoả thuận
hoặc theo quy định của pháp luật. Hình thức giải quyết tranh chấp thương mại
bằng trọng tài thương mại là hình thức giải quyết tranh chấp thương mại hiện đại
nhất trong các hình thức giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án. Đây cũng là phương
thức giải quyết tranh chấp thương mại phổ biến của các nước trên thế giới hiện
nay.
Bản chất của trọng tài thương mại được thể hiện ở những khía cạnh sau:
- Thứ nhất, Trọng tài thương mại là hình thức giải quyết tranh chấp ngoài
thủ tục tư pháp do các bên có tranh chấp lựa chọn để giải quyết tranh chấp thông
qua hoạt động của Trọng tài viên.
- Thứ hai, Trọng tài thương mại là một tổ chức phi Chính phủ, hoạt động
với tư cách là một tổ chức nghề nghiệp, do các Trọng tài viên thành lập ra để giải
quyết các tranh chấp thương mại. Trọng tài thương mại do các Trọng tài viên
thành lập ra để giải quyết các tranh chấp thương mại khi được các nhà kinh
doanh yêu cầu như một loại dịch vụ pháp lý và được hưởng lệ phí trọng tài do
các bên yêu cầu phải trả, tức là nó hoạt động trên cơ sở lấy thu bù chi, chứ không
được hưởng ngân sách nhà nước.
Trọng tài thương mại tồn tại dưới hai hình thức, đó là: Trọng tài vụ việc và
trọng tài thường trực.
- Trọng tài vụ việc là hình thức trọng tài do các bên có tranh chấp thỏa
thuận thành lập để giải quyết một vụ tranh chấp cụ thể giữa các bên có tranh chấp
và khi giải quyết xong vụ tranh chấp đó, trọng tài sẽ chấm dứt tồn tại.
- Trọng tài thường trực là hình thức trọng tài được tổ chức dưới dạng các
Trung tâm trọng tài, các Hiệp hội trọng tài hay các Viện trọng tài,… nhưng chủ
yếu và phổ biến là được tổ chức dưới hình thức các Trung tâm trọng tài, là một tổ
chức phi Chính phủ, có tư cách pháp nhân, có con dấu, có tài khoản riêng và có
trụ sở giao dịch ổn định.
a. Ưu điểm:
- Thứ nhất, Việc giải quyết tranh chấp tại Trung tâm trọng tài thương mại
có ưu điểm nổi bật ở chỗ nhanh gọn, kín đáo và phán quyết của trọng tài là có giá
trị chung thẩm, tức có hiệu lực cuối cùng. Trong khi Tòa án xử thì phải 2 - 3 lần,
11


từ sơ thẩm đến phúc thẩm, rồi còn thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, rồi còn khiếu
nại, khiếu kiện và còn có sự tham gia của nhiều cơ quan khác (như Viện kiểm
sát...). Còn cách thức giải quyết bằng trọng tài lại hết sức đơn giản và linh động.
Tính chung thẩm của quyết định trọng tài không chỉ có giá trị bắt buộc đối với
các bên đương sự mà nó còn khiến các bên không thể chống án hay kháng cáo.
Xét xử tại trọng tài chỉ có một cấp xét xử. Khi tuyên phán quyết xong, Uỷ ban
Trọng tài (Hội đồng trọng tài) hoàn thành nhiệm vụ và chấm dứt sự tồn tại của
mình. Những ưu điểm này đặc biệt quan trọng đối với hoạt động đầu tư thương
mại. Chính những ưu điểm đó bảo đảm rằng nếu các bên ưu tiên giải quyết tranh
chấp bằng trọng tài thì các nhà đầu tư sẽ giảm rủi ro cho bên nước ngoài khi
quyết định tham gia đầu tư thương mại tại Việt Nam; tạo thuận lợi cho các bên
nước ngoài và cả bên Việt Nam thông qua việc giải quyết tranh chấp tại Việt
Nam.
Quyết định trọng tài được thực hiện ngay, đáp ứng yêu cầu khôi phục
nhanh những tổn thất về tiền, hàng trong kinh doanh thương mại. Quyết định
trọng tài là quyết định cuối cùng và có hiệu lực pháp luật, như bản án của Toà án.
Tuy là chung thẩm, nhưng tố tụng trọng tài không đặt vấn đề cưỡng chế thi hành,
nên bên đương sự nào không chấp nhận phán quyết của trọng tài thì có thể kiện
ra Toà kinh tế theo thủ tục giải quyết các vụ án.
- Thứ hai, trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp bí mật:
Trọng tài là một tiến trình giải quyết tranh chấp có tính riêng biệt. Hầu hết
pháp luật về trọng tài của các nước đều thừa nhận nguyên tắc trọng tài xử kín nếu
các bên không quy định khác. Tính bí mật thể hiện rõ ở nội dung tranh chấp và
danh tính của các bên được giữ kín, đáp ứng nhu cầu tin cậy trong quan hệ
thương mại. Điều đó có ý nghĩa lớn trong điều kiện cạnh tranh. Đây là ưu điểm
đối với những doanh nghiệp không muốn các chi tiết trong vụ tranh chấp của
mình bị đem ra công khai, tiết lộ trước Tòa án (hoặc công chúng) - điều mà các
doanh nghiệp luôn coi là tối kỵ trong hoạt động kinh doanh của mình.
- Thứ ba, trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp liên tục
Các bên đương sự được tự do lựa chọn trọng tài viên. Cách thức lựa chọn
trọng tài và Hội đồng trọng tài phát huy tính dân chủ, khách quan trong quá trình
tố tụng. Hoạt động trọng tài diễn ra liên tục vì Hội đồng trọng tài (Uỷ ban trọng
tài) xét xử vụ kiện đã được các bên lựa chọn, hoặc được chỉ định để giải quyết vụ
kiện đó. Khi mang một vụ việc ra xét xử ở Toà án, có khả năng thẩm phán được
chỉ định giải quyết vụ việc không có trình độ chuyên môn liên quan đến đối
tượng tranh chấp, đặc biệt các ngành có đặc thù chuyên môn cao như: dầu khí,
xây dựng, tài chính, đầu tư, bảo hiểm… Khi giải quyết bằng trọng tài, các bên
12


hoàn toàn có thể lựa chọn trọng tài viên có trình độ chuyên môn phù hợp với đối
tượng tranh chấp, góp phần nâng cao hiệu quả, công bằng và chính xác trong giải
quyết tranh chấp. Trọng tài viên - người chủ trì phân xử tranh chấp theo suốt vụ
kiện từ đầu đến cuối, vì vậy, họ có cơ hội tìm hiểu tình tiết vụ việc. Điều này có
lợi ngay cả khi các bên muốn hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp thông qua đàm
phán, trọng tài có thể hỗ trợ các bên đạt tới một thỏa thuận.
- Thứ tư, trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp mềm dẻo, nhanh
chóng, linh hoạt cho các bên.
Tòa án, khi xét xử các bên hoàn toàn phụ thuộc vào sự chỉ đạo của Toà án
về thủ tục, thời gian, địa điểm, cách thức xét xử… được quy định trước đó. Trong
khi đó, với trọng tài, các bên thông thường được tự do lựa chọn thủ tục, thời
gian, địa điểm phương thức giải quyết tranh chấp theo phương thức tiện lợi,
nhanh chóng, hiệu quả nhất cho các bên trong khuôn khổ pháp luật cho phép.
Điều này có thể làm giảm chi phí, thời gian và tăng hiệu quả cho quá trình giải
quyết tranh chấp.
- Thứ năm, tiết kiệm thời gian.
Tính liên tục, đặc biệt trong hoạt động kinh doanh quốc tế đòi hỏi các bên
không thể lãng phí thời gian, điều mà các Tòa án sẽ rất khó đáp ứng được do
luôn phải giải quyết nhiều tranh chấp cùng một lúc, gây ra khả năng ách tắc hồ
sơ. Giải quyết tranh chấp bằng Tòa án cho phép các bên được quyền kháng án
cũng làm cho tiến độ bị kéo dài. Trong thực tế, giải quyết tranh chấp bằng trọng
tài, ví dụ như giải quyết tranh chấp bằng VIAC thường kéo dài tối đa là 6 tháng,
còn tại Tòa án có thể kéo dài hàng năm trời.
- Thứ sáu, duy trì được quan hệ đối tác.
Việc thắng, thua trong tố tụng tại trọng tài kinh tế vẫn giữ được mối hoà
khí lâu dài giữa các bên tranh chấp. Đây là điều kiện không làm mất đi quan hệ
hợp tác kinh doanh giữa các đối tác. Bởi lẽ tố tụng tại trọng tài là tự nguyện.
Xét xử bằng trọng tài sẽ làm giảm mức độ xung đột căng thẳng của những
bất đồng trên cơ sở những câu hỏi gợi mở, trong một không gian kín đáo, nhẹ
nhàng… Đó là những yếu tố tạo điều kiện để các bên duy trì được quan hệ đối
tác, quan hệ thiện chí đối với nhau và đặc biệt, sự tự nguyện thi hành quyết định
trọng tài của một bên sẽ làm cho bên kia có sự tin tưởng tốt hơn trong quan hệ
làm ăn trong tương lai.
- Thứ bảy, trọng tài cho phép các bên sử dụng được kinh nghiệm của các
chuyên gia:
Ưu điểm này thể hiện ở quyền được chọn trọng tài viên của các bên đương
sự, điều mà không tồn tại ở Tòa án.
13


Các bên có thể chọn một Hội đồng trọng tài dựa trên năng lực, sự hiểu biết
vững vàng của họ về pháp luật thương mại quốc tế, về các lĩnh vực chuyên ngành
có tính chuyên sâu như chứng khoán, xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ, sở
hữu trí tuệ…
- Thứ tám, tuy là giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài - một tổ
chức phi chính phủ, nhưng được hỗ trợ, bảo đảm về pháp lý của Toà án trên các
mặt sau:
Xác định giá trị pháp lý của thoả thuận trọng tài; giải quyết khiếu nại về
thẩm quyền của Hội đồng trọng tài; ra lệnh áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
xét đơn yêu cầu huỷ quyết định trọng tài; công nhận và thi hành quyết định trọng
tài.
Trong quá trình giải quyết tranh chấp, nếu quyền và lợi ích của một bên bị
xâm hại hoặc có nguy cơ xâm hại thì có quyền làm đơn yêu cầu Toà án áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời, nhằm: bảo toàn chứng cứ trong trường hợp chứng
cứ bị tiêu huỷ hoặc có nguy cơ bị tiêu huỷ; kê biên tài sản tranh chấp để ngăn
ngừa việc tẩu tán tài sản; cấm chuyển dịch tài sản tranh chấp; cấm thay đổi hiện
trạng của tài sản tranh chấp; kê biên và niêm phong tài sản ở nơi gửi giữ; phong
toả tài khoản tại ngân hàng.
Việc đánh giá và sử dụng nguồn chứng cứ tại các cơ quan trọng tài rộng
hơn, tự do hơn, mang tính xã hội hơn, tạo điều kiện cho các bên làm sáng tỏ
những vấn đề nhạy cảm. Trong khi đó, Toà án áp dụng các chứng cứ để tố tụng bị
ràng buộc hơn về mặt pháp lý, làm cho các bên tham gia tố tụng không có cơ hội
làm sáng tỏ hết được nhiều vấn đề khúc mắc, không thể hiện trên các chứng cứ
“pháp lý”.
b. Hạn chế:
- Thứ nhất, phí trọng tài thông thường cao hơn phí Tòa án. Đặc biệt, đối
với các tranh chấp mang tính quốc tế, chi phí này còn cao hơn nhiều.
- Thứ hai, việc thi hành những quyết định của Trọng tài là rất khó khăn.
Việc thi hành phán quyết, quyết định của Trọng tài hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự
nguyện của các bên.
- Thứ ba, trong khi giải quyết vụ việc, theo sự thỏa thuận của các bên tranh
chấp, Uỷ ban trọng tài hoặc trọng tài viên duy nhất có quyền ra các quyết định
bắt buộc đối với các bên tranh chấp nhưng lại không có quyền ra lệnh bắt buộc
đối với bên thứ ba hay bất kỳ cơ quan, tổ chức nào khác dù có liên quan đến
tranh chấp. Với quyền lực hạn chế như vậy nên không phải lúc nào Trọng tài

14


thương mại cũng có khả năng đảm bảo cho quá trình tố tụng trọng tài diễn ra
suôn sẻ, có hiệu quả.
c. Đề xuất:
- Thứ nhất, mở rộng, xác định rõ và cụ thể phạm vi thẩm quyền của trọng
tài. Cụ thể, phạm vi thẩm quyền của trọng tài có thể bao gồm:
Tất cả các tranh chấp dân sự, kinh tế và lao động đều có thể giải quyết
bằng trọng tài, trừ một số ít các trường hợp được quy định cụ thể;
Các tranh chấp giữa cơ quan quản lý nhà nước và nhà đầu tư trong việc
chuẩn bị đầu tư, thực hiện và quản lý dự án đầu tư, khuyến khích và ưu đãi đầu
tư trên lãnh thổ Việt Nam cũng có thể được giải quyết bằng trọng tài.
- Thứ hai, mở rộng tiêu chí xác định thoả thuận trọng tài. Cần phải làm rõ,
đầy đủ cả hình thức và nội dung của thoả thuận trọng tài, bao quát hết các trường
hợp thoả thuận của các bên về giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, bao gồm:
Xác định rõ nội dung tối thiểu của thoả thuận trọng tài, là sự đồng ý của
các bên về việc sử dụng trọng tài như một trong số các hình thức giải quyết tranh
chấp, hoặc đồng ý chọn trọng tài để giải quyết tranh chấp;
Xác định rõ và cụ thể các trường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu;
Xác định rõ và cụ thể các thoả thuận trọng tài không thể thực hiện được.
- Thứ ba, Hội đồng trọng tài là cơ quan duy nhất quyết định hiệu lực của
thoả thuận trọng tài.
- Thứ tư, nếu các bên có tranh chấp về hiệu lực thoả thuận trọng tài (kể cả
tranh chấp giữa các bên hoặc giữa một hoặc các bên với Trung tâm trọng tài) thì
Toà án là nơi có quyền quyết định hiệu lực của thoả thuận trọng tài. Tuy nhiên,
cần xác định rõ thẩm quyền của Toà án và hiệu lực của quyết định của Toà án
trong trường hợp này.
- Thứ năm, xác định chặt chẽ, rõ ràng, hợp lý tiêu chí xác định Toà án có
thẩm quyền đối với trọng tài theo hướng linh hoạt; đồng thời cần xác định rõ
trong trường hợp nếu nhiều Toà án có thẩm quyền thì Trung tâm trọng tài có
quyền lựa chọn một trong các Toà án đó và quy định rõ trách nhiệm hợp tác, phối
hợp công việc của Toà án và không được quyền từ chối.
- Thứ sáu, cần quy định cụ thể, chi tiết “trách nhiệm của Toà án” trong
việc thu thập chứng cứ, lưu giữ chứng cứ về hình thức và nội dung yêu cầu của
trọng tài, cụ thể là trong thời hạn cụ thể mà Toà án phải xem xét và chỉ định một
thẩm phán có trách nhiệm thu thập chứng cứ; Toà án thông báo bằng văn bản về
việc chỉ định thẩm phán. Đặc biệt phải xác định rõ trách nhiệm của Toà án trong
việc bảo đảm sự có mặt của người làm chứng, xác định rõ trình tự thủ tục nhanh
15


chóng, thuận tiện trong việc yêu cầu Toà án áp dụng các biện pháp khẩn cấp, tạm
thời.
- Thứ bảy, tăng cường sự hỗ trợ của Cơ quan thi hành án đối với thực thi
quyết định của trọng tài thông qua việc quy định rõ tiêu chí xác định cơ quan thi
hành có liên quan. Thi hành đầy đủ, kịp thời và hiệu quả phán quyết trọng tài là
một trong số các giải pháp cơ bản nâng cao độ tin cậy và tính hấp dẫn của trọng
tài đối với các bên tranh chấp. Phán quyết trọng tài là chung thẩm, có hiệu lực kể
từ ngày công bố. Các bên tranh chấp phải thừa nhận, tôn trọng và nghiêm túc
thực hiện đầy đủ, kịp thời. Tuy vậy, trong trường hợp các bên không tự nguyện
thi hành thì sự can thiệp và hỗ trợ kịp thời, có hiệu quả của Cơ quan thi hành án
là không thể thiếu, để bảo đảm hiệu lực của phán quyết trọng tài.
4. Giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án:
Giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án là hình thức giải quyết
tranh chấp do cơ quan tài phán nhà nước thực hiện nhân danh quyền lực nhà
nước, được tiến hành theo trình tự, thủ tục nghiêm ngặt, chặt chẽ của pháp luật tố
tụng. Kết quả của quá trình tố tụng là Tòa án đưa ra bản án có giá trị pháp lý bắt
buộc đối với các bên đương sự. Nếu các đương sự không tự nguyện thi hành thì
sẽ được đảm bảo thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước.
a. Ưu điểm:
Với tính cách là cơ quan đại diện cho quyền lực tư pháp của Nhà nước nên
các quyết định, bản án của Tòa án mang tính cưỡng chế thi hành đối với các bên.
Nếu không chấp hành sẽ bị cưỡng chế, do đó khi đã đưa ra tòa án thì quyền lợi
của người thắng kiện sẽ được đảm bảo nếu như bên thua kiện có tài sản để thi
hành án. Hơn nữa, việc giải quyết tranh chấp thương mại thông qua tòa án còn
trực tiếp góp phần vào việc nâng cao ý thức, tôn trọng pháp luật cho các chủ thể
kinh doanh. Mặt khác, với nguyên tắc 2 cấp xét xử, những sai sót trong quá trình
giải quyết tranh chấp có khả năng được phát hiện và khắc phục.
Cũng như thương lượng và hoà giải, khi muốn giải quyết tranh chấp tại
Toà án, các bên không cần phải có thoả thuận bằng văn bản như thoả thuận trọng
tài. Ngoài ra, nếu như thoả thuận trọng tài của các bên tranh chấp vô hiệu thì
thẩm quyền giải quyết lại thuộc về Toà án.
Tòa án có thể áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời để đảm bảo thi
hành án như buộc các bên đương sự không được thực hiện hoặc buộc phải thực
hiện một số hành vi nhất định, hoặc kê biên tài sản,… giúp cho quyết định của
Tòa án được thực thi trên thực tế.
16


Đương sự có thể kháng cáo, yêu cầu Tòa án xét xử lại nếu thấy phán quyết
của Tòa án không thỏa đáng. Xét ở khía cạnh tích cực, đây là một quyết định cho
phép đảm bảo sự đúng đắn của các phán quyết của Tòa án, đảm bảo vụ tranh
chấp giữa các bên được giải quyết một cách hợp lý và hợp pháp.
b. Hạn chế:
Thủ tục tố tụng tại Toà án đã được pháp luật quy định từ trước nên ổn định
nhưng trong một số trường hợp lại là những quy định cứng nhắc, gây khó khăn
cho các bên tranh chấp. Mặt khác, các bên không được lựa chọn những chuyên
gia trong lĩnh vực thương mại như trọng tài để giải quyết tranh chấp. Vì trên thực
tế, ở Việt Nam, trình độ của các thẩm phán cấp huyện còn hạn chế. Những lý do
này khiến cho phương thức này không có tính linh hoạt.
Chi phí khi giải quyết tranh chấp tại toà án thường tốn kém hơn so với
phương thức thương lượng hoặc hoà giải. Bên cạnh đó, có những vụ việc không
có sai sót trong quá trình giải quyết nhưng vẫn bị kháng cáo. Có thể sẽ xảy ra
tình trạng bên bị phán quyết bất lợi sẽ sự dụng biện pháp này để trì hoãn việc thi
hành bản án hoặc quyết định của Toà án. Kinh nghiệm chung ở nhiều nước cho
thấy, thủ tục giải quyết tranh chấp thông qua tòa án thường dài hơn so với giải
quyết tranh chấp bằng trọng tài. Do đó, phương thức này không tiết kiệm cả về
thời gian và tiền bạc.
Khi giải quyết tại Toà án, thông thường, vụ việc được xét xử công khai nên
tính đảm bảo bí mật sẽ không còn. Nguyên tắc xét xử công khai tuy được xem là
tiến bộ, mang tính răn đe nhưng đôi khi lại là cản trở đối với doanh nhân khi
những bí mật kinh doanh bị tiết lộ. Đây là một nhược điểm lớn của phương thức
Toà án so với 3 phương thức trên. Bởi lẽ, trong thương mại, các bên rất quan tâm
đến uy tín và danh dự của mình. Do đó, các bên thường muốn các tranh chấp của
mình được giữ bí mật để đảm bảo uy tín.
Hơn nữa, quyền tự định đoạt của các bên đương sự bị hạn chế, đương sự
không có quyền lựa chọn Tòa án, thành phần Hội đồng xét xử, thời gian hay địa
điểm tổ chức phiên tòa.
Ngoài ra, do phán quyết của Tòa án do các Thẩm phán nhân danh nhà
nước đưa ra, vì vậy các phán quyết đó thường mang nặng tính pháp lý. Điều này
rõ ràng không phù hợp với tính chất thương mại của vụ tranh chấp cũng như với
mong muốn của các bên trong quan hệ tranh chấp thương mại.
Chính vì những nhược điểm này mà hình thức giải quyết tranh chấp bằng
tòa án ít khi được các thương nhân lựa chọn và các thương nhân thường xem đây
17


là phương thức lựa chọn cuối cùng của mình khi các phương thức thương lượng,
hòa giải, trọng tài không mang lại hiệu quả.
c. Đề xuất:
- Thứ nhất, nâng cao hơn nữa năng lực chuyên môn cũng như đạo đức của
đội ngũ thẩm phán, hội thẩm nhân dân để đảm bảo cho việc giải quyết tranh chấp
thương mại luôn được đúng đắn, khách quan và công bằng. Để làm được điều
này, thiết nghĩ, cần phải thực hiện tốt công tác tuyển chọn, bổ nhiệm và sử dụng
đội ngũ những người tiến hành tố tụng nói chung, trong đó đặc biệt chú trọng đến
chất lượng của đội ngũ thẩm phán và hội thẩm – những người “cầm cân nảy
mực”, quyết định đến sự thật khách quan của các vụ tranh chấp.
- Thứ hai, pháp luật cần có những quy định mang tính chất “rộng mở” hơn
đối với việc giải quyết các tranh chấp thương mại của Tòa án. Chẳng hạn như có
thể quy định cho các bên đương sự được quyền lựa chọn thời gian hoặc địa điểm
để trình Tòa án có thể xem xét và quyết định, sao cho phù hợp với lịch trình làm
việc của các bên tranh chấp, không ảnh hưởng đến họat động kinh doanh, sản
xuất của họ.
- Thứ ba, các quyết định của Tòa án không nên mang nặng tính chất pháp
lý như hiện nay. Vì trên thực tế, bản chất của một vụ án kinh tế chắc chắn sẽ rất
khác so với một vụ án dân sự hay hình sự đơn thuần. Do đó, ngoài việc phải tuân
thủ triệt để các quy định của pháp luật tố tụng và pháp luật chuyên ngành, Tòa án
có thẩm quyền khi ra các phán quyết cần phải cân nhắc đến những tình tiết cũng
như bản chất của hoạt động thương mại, để từ đó có thể đưa ra được những bản
án vừa đúng với quy định của pháp luật, vừa bảo đảm quyền lợi hoạt động
thương mại của các bên đương sự một cách tốt nhất.

18


C. PHẦN KẾT LUẬN
Các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại là một vấn đề còn khá
phức tạp về cả lý luận và thực tiễn. Trên cơ sở nghiên cứu những quy định của
pháp luật hiện hành và tìm hiểu thực tiễn áp dụng bốn phương thức: thương
lượng, hòa giải, trọng tài thương mại và tòa án ở nước ta, chúng ta đã tập trung
làm rõ những vấn đề pháp lý cơ bản về giải quyết tranh chấp thương mại thông
qua các phương thức trên, từ đó tìm ra những ưu điểm cũng như hạn chế của
từng phương thức và đề xuất hoàn thiện pháp luật về phương thức giải quyết
tranh chấp thương mại. Ở những nước có nền kinh tế đang phát triển, các phương
thức giải quyết như thương lượng, hòa giải và trọng tài thương mại hết sức phổ
biến, chiếm ưu thế, nhưng ở quốc gia còn đang trong quá trình chuyển đổi như
Việt Nam thì việc giải quyết vấn đề bằng Tòa án vẫn giữ vai trò quan trọng. Sau
khi tìm hiểu, ta có được cái nhìn tổng quan về việc áp dụng mỗi phương thức, từ
đó giúp các thương nhân lựa chọn phương thức cho phù hợp với từng việc cụ thể.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
19


1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật thương mại, Tập II,
NXB.CAND, Hà Nội, 2006.
2. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật dân sự Việt Nam,
NXB.CAND, Hà Nội, 2005.
3. Nguyễn Thị Khế (chủ biên), Luật thương mại và giải quyết tranh chấp
thương mại, NXB. Tài chính, Hà Nội, 2007.
4. Nguyễn Đình Thơ, Hoàn thiện pháp luật về trọng tài thương mại của
Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, Luận ấn tiến sĩ luật học,
Trường Đại học luật Hà Nội, 2007.
5. Nguyễn Hoài Sơn, Giải quyết tranh chấp thương mại bằng phương thức
thương lượng, hòa giải – Những vấn đề lí luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ luật
học, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2004.
6. Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi năm 2011.
7. Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
8. Luật thương mại Việt Nam năm 2005.
Một số trang web:
http://text.123doc.org/document/69157-cac-phuong-thuc-giai-quyet-tranhchap-thuong-mai-va-huong-hoan-thien.htm
http://lawsoft.thuvienphapluat.vn/default.aspx?ct=TVQD&id=3224
https://luatminhkhue.vn/kien-thuc-luat-doanh-nghiep/phuong-thuc-giaiquyet tranh-chap-trong-kinh-doanh--thuong-mai.aspx.

20



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×