Tải bản đầy đủ

SKKN dạy học tác phẩm trữ tình theo đặc trưng thể loại

SKKN: “Dạy - học tác phẩm trữ tình theo đặc trưng thể loại” SKKN được xếp loại
B cấp huyện năm học 2015-2016
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ
Quá trình dạy – học Văn là quá trình có chương trình, kế hoạch hướng vào những mục
tiêu, yêu cầu thống nhất, một quá trình gắn liền với hoạt động trí tuệ và cảm xúc của giáo
viên và học sinh. Quá trình đó còn có quan hệ chặt chẽ với những quan điểm về chính trị
và triết học, về đạo đức và thẩm mỹ về khoa học, kĩ thuật, về lịch sử xã hội, văn hoá ở
từng giai đoạn, từng thời kì của đất nước, thậm chí của từng khu vực, từng địa bàn nhất
định. Đó còn là một quá trình lao động sáng tạo nặng nhọc, mang tính đặc thù của người
giáo viên. Người giáo viên phải nghiên cứu, tính toán, nghiền ngẫm một cách công phu
qua từng công đoạn, trong mỗi khâu, mỗi biện pháp, cách thức thủ thuật… để tổ chức học
sinh, khơi dậy niềm say mê trí tuệ, tâm hồn, dẫn dắt tư duy học sinh… giúp các em chủ
động, đối diện trực tiếp với tác phẩm, tiếp xúc với tác giả qua tác phẩm, thưởng thức và
khám phá cái hay, cái đẹp, những giá trị về nhiều mặt của tác phẩm văn chương. Đó là
một quá trình hoạt động hết sức phức tạp và đa dạng, mang tính khoa học và nghệ thuật
sâu sắc.
Song để có được một tiết dạy - học tác phẩm văn chương đích thực, đúng bản chất,
đúng nghĩa của nó trong giai đoạn hiện nay là rất khó. Bởi lẽ vì nhu cầu và khả năng tiếp
cận văn học của học sinh có nhiều hạn chế, do điều kiện và môi trường sống đã làm thay
đổi cách nhìn nhận, đánh giá, cũng như thị hiếu văn học của các em. Các chương trình

truyền hình, các thông tin trên mạng và các trò chơi điện tử như đã cuốn hút, chiếm hết thời
gian và làm cho các em trở nên lười nhác với việc đọc sách, đọc truyện hay đọc thơ, mặc
dù Văn học luôn có một vị trí hết sức quan trọng trong đời sống tinh thần của các em nói
riêng và của tất cả mọi người nói chung. Từ thực tế đó dẫn đến tình trạng trong quá trình
học Ngữ văn, học sinh thường có thái độ thờ ơ, chán nản, không hứng thú, đồng thời kéo
theo là sự tiếp thu, cảm nhận một tác phẩm văn học cũng khó khăn, khô khan và thiếu chất
văn, đặc biệt là các tác phẩm trữ tình. Việc đọc tác phẩm văn học, nhất là tác phẩm trữ tình
thiếu trôi chảy, còn lúng túng, chưa đúng ngữ điệu, giọng điệu, nhịp điệu của một bài thơ
thậm chí còn sai từ, sai ngữ. Quá trình vận dụng kiến thức văn học vào việc nói và viết thì


quá vụng về, lời văn khô khan, cộc cằn, chưa diễn đạt được một ý trọn vẹn, khả năng dùng
từ đặt câu còn sai.
Bên cạnh đối tượng học sinh chưa thật sự tích cực với việc học Ngữ văn thì còn
một bộ phận giáo viên chưa nhận thức đúng mức vai trò và chức năng của Văn học cũng
như đặc trưng của Văn học. Việc giảng dạy tác phẩm văn học của một số giáo viên còn
mang tính chiếu lệ, đối phó, chưa quan tâm đến việc học sinh có cảm thụ được hay
không, hoặc trong quá trình chuẩn bị cho tiết dạy thiếu chu đáo, không nghiên cứu kĩ dẫn
đến nhầm lẫn kiến thức cơ bản, chứ chưa nói đến việc sử dụng phương pháp dạy học
không phù hợp.
Để có những tiết dạy – học Ngữ văn sinh động giàu cảm xúc, gây được hứng thú học tập
ở học sinh, đòi hỏi giáo viên dạy Ngữ văn cần có một tâm thế vững vàng về kiến thức lẫn
cảm xúc văn học mới khơi dậy được ở học sinh niềm say mê hứng thú học tập. Chính vì
vậy là một giáo viên đang trực tiếp giảng dạy bộ môn Ngữ văn ở trường THCS tôi xin
đóng góp tiếng nói kinh nghiệm của mình trong quá trình giảng dạy bộ môn Ngữ văn nói
chung và việc dạy - học tác phẩm trữ tình nói riêng đến với các giáo viên Ngữ văn trong
ngành. Mong sao nhận được sự đồng cảm chia sẻ của các đồng nghiệp.

II. Ý NGHĨA, TÁC DỤNG CỦA GIẢI PHÁP
Xuất phát nhu cầu nảy sinh trong thực tiễn dạy học tác phẩm văn chương, tôi muốn đưa ra
một vài ý kiến, quan điểm cơ bản về “Dạy - học tác phẩm trữ tình theo đặc trưng thể
loại” sao cho phát huy được tính tích cực chủ động, sáng tạo của học sinh trong học tập, để
giờ dạy - học Ngữ văn thực sự mang lại hiệu quả cao nhất.
- Giúp học sinh hiểu thêm về đăc trưng thể loại, các biện pháp nghệ thuật trong thơ trữ
tình.
- Biết cách phân tích và đưa ra tác dụng của các biện pháp nghệ thuật đó trong mối liên
hệ với nội dung tác phẩm.
- Biết vận dụng các hiểu biết để phân tích các tác phẩm thơ trữ tình.
- Làm tốt bài nghị luận về tác phẩm thơ khi kiểm tra và thi vào phổ thông trung học.



- Giáo viên có thể áp dụng vào các bài dạy, biết cách khai thác và truyền thụ tốt hơn tới
học sinh.
III. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng:
+ Các tác phẩm thơ trữ tình.
+ Học sinh trung học cơ sở
- Phạm vi nghiên cứu : “Dạy - học tác phẩm trữ tình theo đặc trưng thể loại” Chủ
yếu là các tác phẩm thơ trữ tình trong chương Ngữ văn ở trường THCS hiện nay đặc biệt
là các tác phẩm thơ trữ tình lớp 9

B. PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1. Cơ sở lí luận
- Nghị quyết hội nghị lần II Ban Chấp hành Trung ương (BCH TƯ) Đảng khóa VIII nêu
rõ: “Đổi mới phương pháp Giáo dục - Đào tạo (GD - ĐT), khắc phục lối truyền thụ một
chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học”; “Phương pháp GD phải phát
huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng lòng say
mê học tập và ý chí vươn lên”
- Trong một tác phẩm văn học (TPVH) có giá trị thì các hình thức nghệ thuật luôn thống nhất
với nội dung. Bêlinxki - nhà phê bình lí luận văn học (VH) Nga viết rằng: “Trong tác phẩm
nghệ thuật (TPNT), nội dung và các hình thức nghệ thuật phải luôn hòa hợp với nhau một
cách hữu cơ như là tâm hồn và thể xác. Nếu hủy diệt hình thức nghệ thuật thì cũng là hủy
diệt nội dung tư tưởng của tác phẩm (TP) và ngược lại cũng vậy”.
- Hê-ghen viết: “Tác phẩm văn học mà thiếu đi hình thức nghệ thuật thích đáng thì không
phải là một TPVH thực sự. Và đối với người nghệ sĩ khi đó sẽ là một biểu hiện tồi nếu
như người ta nói rằng về nội dung thì tác phẩm anh tốt, nhưng nó thiếu đi các hình thức
nghệ thuật thích đáng. Chỉ có những TPVH mà nội dung và hình thức thống nhất với
nhau mới là những TPVH đích thực”.


- Môn Ngữ văn là một môn học rất quan trọng trong trường phổ thông, có ý nghĩa trong việc
hình thành, phát triển, định hướng nhân cách cho học sinh. Học văn là học làm người, học
các phép tắc ứng xử trong cuộc sống. Mặt khác, đây là một môn học nghệ thuật, kích thích trí
tưởng tượng bay bổng, sức sáng tạo của người học. Nên để dạy và học tốt môn học này,
người dạy và người học phải không ngừng trau dồi vốn kiến thức ngôn ngữ, từ vựng, các
kiến thức liên quan về đặc trưng thể loại, các hình thức nghệ thuật, các nhà văn, nhà thơ, các
câu ca dao tục ngữ, lấy đó làm vốn sống, vốn kinh nghiệm cho bản thân.
- Dạy – học môn Ngữ văn chỉ chú trọng vào việc tìm hiểu về nội dung mà quên đi những
hình thức nghệ thuật của TP thì lúc đó việc dạy và học chắc chắn sẽ không đạt hiệu quả
cao, nó trở nên khô khan, cứng nhắc, sống sượng. học sinh sẽ không hiểu sâu, hiểu hết
được những điều mà tác giả muốn truyền đạt đến, đôi khi còn dẫn tới cách hiểu sai, lệch
lạc giá trị của tác phẩm.
- Các hình thức nghệ thuật là yếu tố không thể thiếu trong các tác phẩm văn học nói chung và
trong thể loại thơ trữ tình nói riêng. Người học phải nắm bắt được toàn diện tác phẩm, có
một cái nhìn bao quát về cả nội dung và nghệ thuật.
- Việc cần thiết là phải cho học sinh (HS) nắm được các biện pháp nghệ thuật trong một văn
bản, xâu chuỗi, và thực hiện tích hợp trong 3 phân môn.
- Tác phẩm văn học nào cũng biểu hiện tư tưởng, tình cảm, nhưng tác phẩm loại trữ tình (tức
bộc lộ tình cảm) thể hiện theo cách riêng. Ở tác phẩm tự sự, tác giả xây dựng bức tranh về
cuộc sống, trong đó các nhân vật có đường đi và số phận của chúng. Bằng những đối thoại và
độc thoại, tác giả kịch thể hiện tính cách và hành động con người qua những mâu thuẫn, xung
đột. ở tác phẩm trữ tình có khác, thế giới chủ quan của con người, cảm xúc, tâm trạng, ý nghĩ
được trình bày trực tiếp và là nội dung chủ yếu.
Trữ tình là loại hình chiếm vị trí khá quan trọng trong chương trình và SGK Ngữ văn
THCS. Cũng như tác phẩm tự sự, các tác phẩm trữ tình chiếm đến gần một nửa khối
lượng và thời gian trong chương trình SGK chưa kể những bài ký, nghị luận mà yếu tố
trữ tình khá đậm. Đó là những bài thơ, bài ca dao trữ tình và trào phúng, những bài thơ
Đường luật, những bài thơ lục bát, thơ năm chữ, những bài thơ tự do … rất phù hợp với
sự hiểu, cảm của học sinh. Đó là những sáng tác của những nhà thơ lớn của dân tộc từ
Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến … cho đến Hồ Chí
Minh, Tố Hữu, Chế Lan Viên, Phạm Tiến Duật, Thanh Hải, Viễn Phương, Hữu Thỉnh …


là tiếng nói cao đẹp về tình yêu quê hương đất nước, tình yêu con người, là tiếng đập khẽ
khàng của con tim trước vẻ đẹp của thiên nhiên, của tình người mà bất kì học sinh nào
đặt chân đến trường cũng cần học tập, bồi dưỡng để mở rộng tâm hồn, nâng cao mơ ước
và bồi dưỡng tình cảm và mĩ cảm.
Nếu tự sự là loại hình tác phẩm dùng lời kể để tái hiện thực tại khách quan nhằm dựng lại
một dòng đời qua những biến cố, những con người, qua đó thể hiện một cách hiểu, một thái
độ nhất định thì trữ tình là loại tác phẩm được cấu trúc bởi một kiểu ngôn ngữ đặc biệt, khác
hẳn ngôn ngữ hàng ngày và ngôn ngữ văn xuôi để bộc lộ ý thức, tình cảm con người một
cách trực tiếp. Đặc điểm quan trọng của tác phẩm trữ tình là sự bộc lộ trực tiếp ý thức của
con người. Là tiếng nói của tình cảm mãnh liệt, là sản phẩm của những rung động đột xuất,
độc đáo. Trong tác phẩm trữ tình, con người trực tiếp bộc lộ ý nghĩ, cảm xúc chủ quan của
mình.
2. Cơ sở thực tiễn
Về phía GV:
Qua dự giờ thăm lớp của các đồng nghiệp và từ quá trình giảng dạy của bản thân tôi nhận
thấy rằng khi phân tích tác phẩm trữ tình giáo viên đã mắc một số lỗi như sau:
+ Chỉ phân tích nội dung và tư tưởng được phản ánh trong bài thơ, không chú ý đến đặc trưng
thể loại. Đây thực chất là diễn xuôi thơ ra mà thôi.
+ Có chú ý đến đặc trưng thể loại, nhưng tách rời các hình thức nghệ thuật ra khỏi nội
dung.
+ Tình hình thực tế hiện nay là còn nhiều GV trẻ, nên việc làm thế nào để truyền đạt hết nội
dung kiến thức cả về nội dung và nghệ thuật của văn bản (VB) là tương đối khó khăn. Nhiều
GV chỉ đi sâu khai thác nội dung, chưa chú trọng khai thác nghệ thuật VB.
Nguyên nhân dẫn đến thực tế đó là do:
+ GV còn lúng túng khi đưa ra hệ thống câu hỏi khai thác nghệ thuật.
+ Khả năng tích hợp còn hạn chế. Nhiều VB mới đưa vào cũng gây không ít khó khăn khi
tìm hiểu và truyền thụ kiến thức …
+ Kiến thức lí luận văn học chưa vững.
+ Nguyên nhân khách quan nữa là hiện nay do một số VB dài so với thời lượng từ 45 - 90
phút nghiên cứu trên lớp, rất khó có thể khai thác hết được toàn bộ các giá trị tác phẩm.


Tóm lại, để phân tích bài thơ trữ tình có cơ sở khoa học, có sức thuyết phục cần đến rất
nhiều năng lực, nhưng trước hết người phân tích cần nắm được đặc trưng thể loại của các
tác phẩm thơ trữ tình.
Về phía HS:
+ HS có nhiều hạn chế trong việc tiếp thu và cảm thụ tác phẩm trữ tình. Một mặt do trình
độ nhận thức của HS còn kém, chưa có tư duy sáng tạo.
+ HS chưa nắm bắt được mối liên hệ giữa nội dung và hình thức của một tác phẩm.
+ Hiện nay HS thường sử dụng sách tham khảo, nhiều tài liệu chất lượng kém có
nhiều ý kiến khác nhau. HS bị lúng túng, thiếu tự tin, thiếu sự tìm tòi, đánh giá. Không
phát huy được tính tích cực chủ động sáng tạo của HS.
+ Thực tế hiện nay HS bị hổng kiến thức từ các lớp học dưới, học trước quên sau. Cho
nên HS rất khó tiếp thu được kiến thức của văn bản khi chưa hiểu hết ý nghĩa của các yếu
tố nghệ thuật được sử dụng trong đó.
+ Phần lớn HS chỉ biết diễn xuôi nội dung một cách cứng nhắc và gượng ép, vụng về,
tách nội dung ra khỏi các hình thức, không nắm được đặc trưng thể loại.
II. CÁC BIỆN PHÁP TIẾN HÀNH
- Khảo sát giáo án bài dạy tác phẩm thơ trữ tình của các đồng nghiệp
- Dự giờ các tiết dạy tác phẩm thơ trữ tình. Đối chiếu giữa lí thuyết và thực tế giảng dạy
- Khảo sát vở soạn bài của học sinh
- Nghiên cứu các tài liệu, chuyên đề liên quan đến việc dạy – học tác phẩm thơ trữ tình
NỘI DUNG
A. MỤC TIÊU
- Với kinh nghiệm nhỏ của mình khi phân tích thơ trữ tình tôi hy vọng đồng nghiệp sẽ có
thêm một tài liệu dùng để tham khảo, học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. nếu
kinh nghiệm được áp dụng rộng rãi, vận dụng một cách linh hoạt sẽ nâng cao hiệu quả của
giờ dạy – học văn nói chung, giờ dạy tác phẩm thơ trữ tình nói riêng.
- Các em học sinh nắm vững đặc trưng thể loại, các yếu tố nghệ thuật thường được sử
dụng trong các tác phẩm thơ trữ tình sẽ cảm thụ phân tích được cái hay cái đẹp về nội
dung, nghệ thuật của văn bản. Giúp các em làm bài kiểm tra về thơ và bài thi tốt hơn...
Hy vọng kinh nghiệm nhỏ này của tôi sẽ giúp mỗi giờ dạy – học tác phẩm thơ trữ tình
thực sự là những giờ thưởng thức nghệ thuật thú vị, hấp dẫn.


B. GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI
I. Đặc trưng của thơ trữ tình.
Thơ là một hình thức nghệ thuật đặc biệt. Hệ thống cảm xúc, tâm trạng và cách thể hiện
tình cảm, cảm xúc được xem như là đặc trưng nổi bật của thơ trữ tình. Trong các tác
phẩm thuộc các thể loại như văn xuôi, tự sự, kịch … cũng có cảm xúc, tâm trạng, nhưng
cách thể hiện thì rất khác so với thơ trữ tình. Cảm xúc của tác giả có trong các thể loại
văn học kể trên là thứ cảm xúc được thể hiện một cách gián tiếp th«ng qua hệ thống hình
tượng nhân vật, các sự kiện XH và các diễn biến của câu chuyện … Trái lại, trong thơ trữ
tình, tác giả bộc lộ trực tiếp cảm xúc của mình.
VD trong đoạn thơ sau:
Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ
Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi
Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi,
Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá!
(Tế Hanh – Quê Hương)
Người đọc cảm nhận được rất rõ tấm lòng và tình cảm nhớ nhung da diết của nhà
thơ Tế Hanh đối với quê hương, nơi ông đã sinh ra, lớn lên và gắn bó một thời. Ở đây nhà
thơ công khai và trực tiếp nói lên những tình cảm, suy nghĩ của chính mình.
Trong nhiều bài thơ trữ tình nhà thơ xưng “ta” chẳng hạn:
“Ta nghe hè dậy bên lòng
Mà chân muốn đạp tan phòng hè ôi”
(Tố Hữu)
Hoặc nhiều khi không thấy xưng “ta” hay “tôi” gì cả mà chỉ thấy một ai đó đang lẳng
lặng kể và tâm sự, tâm tình, chẳng hạn:
“Năm nay đào lại nở
Không thấy ông đồ xưa
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?”
( Ông Đồ - Vũ Đình Liên)
Trong trường hợp như thế người ta xưng “ta” hoặc không xưng gì cũng đều là chính nhà
thơ. Nghĩa là sau câu thơ vẫn hiện lên rất rõ tấm lòng và tình cảm sâu nặng của tác giả.


Có những trường hợp nhà thơ mượn lời của một nhân vật nào đó, nhập vai vào một ai đó
mà thổ lộ tâm tình (người ta gọi là trữ tình nhập vai) thì thực chất nhân vật trữ tình đó
cũng chính là tác giả. Thế Lữ mượn lời con hổ trong vườn bách thú để dốc bầu tâm sự
của chính ông về nỗi chán ghét cái xã hội giả dối, nghèo nàn, nhố nhăng, ngớ ngẩn đương
thời, để nói lên khát vọng tự do, khát vọng về một cái thời đi không trở lại … ông viết:
“Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ
Thuở tung hoành hống hách những ngày xưa”
Thì ta ở đây là con hổ cũng chính là nhà thơ. Như thế phân tích thơ trữ tình trước hết phải
xuất phát từ chính các hình thức nghệ thuật, ngôn từ mà chỉ ra vai trò và tác dụng của
chúng trong việc thể hiện tình cảm, thái độ của nhà thơ. Tuy nhiên ở một chừng mực nào
đó cần làm rõ : nhà thơ, cái tôi, tác giả, nhân vật trữ tình, hình tượng cảm xúc vì không
phải lúc nào cũng đồng nhất.
Nắm chắc đặc điểm và yếu tố trên chúng ta sẽ tránh được các lỗi dễ mắc trong việc phân
tích và cảm nhận thơ trữ tình.
II. Dạy học tác phẩm trữ tình theo đặc trưng thể loại
1. Đọc thơ trữ tình
Đọc diễn cảm là bước đầu tạo tiền đề cho hoạt động tái hiện và có khả năng thực
hiện dễ dàng, đầy đủ hoạt động tái hiện. Với tác phẩm trữ tình, đọc vừa là đồng cảm, vừa
là diễn cảm. Cũng nhờ đọc mà học sinh như vừa được chứng kiến vừa được thể nghiệm.
Vì thế đọc tái hiện, tri giác hình tượng thơ là hoạt động không thể coi nhẹ trong quá trình
dạy - học thơ trữ tình. Tái hiện hình tượng thơ không những là một thao tác tư duy để đi
vào tác phẩm mà còn là một bí quyết truyền thụ nữa. Nhờ đọc và tái hiện hình tượng và
cảm quan nghe, nhìn được khởi động theo âm vang của ngôn ngữ tác phẩm. Kết quả nhận
thức bằng cảm giác, tri giác tạo điều kiện cho tưởng tượng của các em bay bổng và tái
hiện được sáng rõ những hình ảnh do tác giả vẽ nên trong tác phẩm. Ngoài đọc diễn cảm,
giáo viên cần mô tả, kích thích trí tưởng tượng ở học sinh. Hình ảnh càng sáng rõ, sức
cảm thụ càng mạnh, sức đồng cảm càng cao, giáo viên và học sinh càng có điều kiện giao
cảm với nhau và với tác giả.
Để dạy tốt bài thơ trữ tình, giáo viên cần nghiên cứu kĩ, tìm ra giọng điệu và do đó tìm ra
cách đọc, cách tái hiện hình tượng thích hợp để hướng dẫn học sinh đọc tốt; chổ nào cần
nhấn mạnh, chổ nào cần đọc chậm, ngắt nghĩ như thế nào… Đọc thơ là đọc theo nhịp,


dựa vào dòng thơ nhưng không thể lệ thuộc vào dòng thơ. Ý tưởng của nhà thơ không bị
câu thơ câu thúc. Cho nên đọc thơ trữ tình phải làm sao thể hiện đúng tình cảm, ý nghĩ
của bài thơ. Trong thực tế quá trình giảng dạy tác phẩm trữ tình nhiều giáo viên không
mấy quan tâm đến vấn đề ngắt nhịp nên cứ để cho học sinh tự do đọc thơ theo cảm tính.
Vì thế khi phân tích cả giáo viên và học sinh đã hiểu sai lệch về nội dung của câu thơ,
chưa thấy được ý đồ nghệ thuật của tác giả. Thậm chí có những câu thơ khi đọc không
đúng nhịp thì trở nên tối nghĩa mà giáo viên không nhận ra cứ thế giảng, cứ thế khai thác.
Ví dụ: Trong bài thơ “ Nhớ rừng” của Thế Lữ ( Ngữ văn 8 ) có giáo viên đọc mẫu và
hướng dẫn học sinh đọc 2 câu: “ Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng”
“ Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt ”
Ở hai câu thơ trên, giáo viên cần cho học sinh nắm được cách ngắt nhịp. Nếu đọc theo
nhịp 3/5 câu thơ rất dễ đọc, theo vần điệu, nhưng sai nghĩa. Vì không thể chấp nhận ý
thơ: “giấc ngủ tưng bừng” ( Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng ) và “ta đợi chết” ( Ta
đợi chết mảnh mặt trời gay gắt )
Mà phải hiểu là: tiếng chim ca tưng bừng và chết mảnh mặt trời gay gắt. Vì vậy cần phải
đọc 2 câu thơ đó theo nhịp 2 / 4 / 2: “Tiếng chim/ ca giấc ngủ ta/ tưng bừng” và “Ta
đợi/ chết mảnh mặt trời/ gay gắt”.Có những câu thơ, đoạn thơ nếu giáo viên hướng dẫn
cho học sinh đọc đúng nhịp điệu cũng đã phần nào cảm nhận được nét đặc sắc, tinh tế của
câu thơ, đoạn thơ ấy. Ví dụ:
Nhiều đấy ư em, mấy tuổi rồi?
-Hai mươi!
- Ờ nhỉ, tháng năm trôi
Sóng bồi thêm bãi thuyền thêm bến
Gió lộng đường khơi rộng đất trời!
( Tố Hữu)
Điều dễ nhận thấy, ba dòng thơ đầu bị cắt nhiều nhịp phù hợp với việc diễn tả sự ngạc
nhiên, ngỡ ngàng trước những đổi thay của con người, cảnh vật. Dòng bốn và năm nhịp
thơ dài diễn tả niềm vui trải rộng, lan toả trước những thay đổi thật diệu kì của đất nước.
Hoặc như hai câu thơ sau của Nguyễn Du:
Sen tàn cúc lại nở hoa
Sầu dài, ngày ngắn đông đà sang xuân


Với dòng thơ cắt nhịp hai đều đặn như nhịp chuyển vần đều đặn của năm tháng, của bốn
mùa... Như vậy, âm thanh và nhịp điệu góp phần làm sáng ra những khía cạnh tinh vi của
tình cảm con người. Rõ ràng, đọc là một khâu rất quan trọng trong quá trình tiếp cận văn
bản trữ tình.
2. Giảng bình thơ
Giảng bình là biện pháp có tính đặc thù của cảm thụ và truyền thụ văn học. Thông
qua sự hiểu biết và rung cảm của giáo viên mà học sinh hiểu biết và rung cảm một cách
đúng đắn. Giảng bình là biện pháp đắc lực trong dạy - học Ngữ văn ở THCS vừa có tác
dụng trau dồi ngôn ngữ, vừa có tác dụng giáo dục văn học . Giảng bình giúp học sinh đi
từ giai đoạn trực cảm sang giai đoạn cảm thụ có lí tính và cuối cùng là hoàn chỉnh quy
luật tâm lý về cảm thụ văn học. Về mặt tư duy, đây là khâu học sinh được vận dụng phân
tích - tổng hợp từ thấp đến cao để đạt được hiệu quả rèn luyện tư duy tốt nhất.
Ở THCS, nội dung giảng bình trong một bài văn là những sắc thái tu từ về ngữ âm,
từ vựng, cú pháp mà chủ yếu là sắc thái tu từ từ vựng.
Giảng là làm cho học sinh hiểu thuần tuý về mặt ngôn ngữ đối với chi tiết nghệ thuật
được phân tích. Bình là làm cho học sinh hiểu sự biến đổi nghệ thuật của tác phẩm trong
văn cảnh, chỉ ra giá trị nghệ thuật của từ ngữ, câu, đoạn…chỉ ra sức thông báo nhiệm
màu của chi tiết nghệ thuật đó.
Biện pháp giảng bình ở THCS được xây dựng trên cơ sở đối lập sắc thái trung tính và
sắc thái tu từ, nhằm làm cho học sinh vừa hiểu biết và cảm thụ ngôn ngữ , vừa cảm thụ
văn học. Trên sơ đồ liên tưởng và ngữ đoạn, từ ngữ nghệ thuật luôn xuất hiện trong sự kết
hợp đó.Tìm sự đối lập giữa sắc thái trung tính và sắc thái biểu cảm trên sơ đồ kết hợp
giữa liên tưởng và ngữ đoạn là hình thức ta thường thấy ở nhiều giờ dạy học của những
giáo viên có kinh nghiệm. Ví dụ: Dạy bài “Đêm nay Bác không ngủ” của nhà thơ Minh
Huệ ở Ngữ văn lớp 6 có giáo viên đã giảng bình từ “dém” ( dém chăn, ém chăn, sửa
chăn…). Trong đó từ “dém” có sức biểu cảm cao hơn cả. Bao nhiêu yêu thương, chăm
chút, bao nhiêu trìu mến, nâng niu, như dồn cả vào từ “dém”. Ta cảm thấy như có bóng
dáng yêu thương của ông, bà, cha, mẹ ta đang chăm lo giấc ngủ của ta…Từ “dém” được
đặt trong vị trí của câu thơ “Bác đi dém chăn từng người, từng người một” còn nói lên
tình yêu thương của Bác Hồ rất cụ thể, không bỏ sót một ai. Làm cho người đọc càng trân
trọng và tự hào hơn về Bác.


Hoặc một ví dụ khác, như bài “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải, ta nên bình sâu về
câu: “ Tôi đưa tay tôi hứng”. Vậy “ hứng” ở đây cần hiểu như thế nào? Cũng có người
cho rằng “ hứng” giọt sương long lanh vào buổi sớm mai – cũng có lý, song cũng có thể
hiểu “ hứng” giọt âm thanh trong trẻo của tiếng chim chiền chiện – cũng không sai! Từ
đó giáo viên đưa ra nhận định : dẫu cảm nhận theo cách nào thì cũng chứng tỏ nhà thơ đã
mở lòng, thả hồn để cảm nhận một cách tinh tế, nhạy cảm những nét đặc sắc của mùa
xuân.
Sự kết hợp giữa giảng và bình cũng rất linh hoạt; có khi giảng trước bình sau; có khi
bình trước, giảng sau; có khi giảng kết hợp với bình. Giảng có thể có hoặc không, nhưng
bình thì nhất thiết phải có, nhất thiết phải phân tích giá trị văn học của ngôn ngữ nghệ
thuật. Người bình phải biết chọn chi tiết, hình ảnh, tứ thơ để bình, chọn lọc cách bình và
tốt nhất là phải biết dừng lại đúng lúc, đúng chỗ để cho học sinh tự suy nghĩ, liên tưởng
mộng mơ. Có khi lời bình là một nghĩ suy. Khi bình một âm thanh trong bài: “Tiếng chổi
tre” của Tố Hữu, giáo sư Lê Đình Kị đã phát biểu: “Trong âm thanh sắc ngọt của bài thơ
vẫn có một nỗi gì xao xác:
Tiếng chổi tre
Xao xác hàng me
Tiếng chổi tre
Đêm hè
Quét rác…
Bài thơ nhờ thế mà thêm chút xao xuyến, thêm sức ám ảnh cho vấn đề đặt ra. Nó
là vấn đề phức tạp, không thể nhầm lẫn một cách giản đơn, xuề xoà được”.
Để giảng bình một cách có hiệu quả, giáo viên phải có sự hiểu biết nhiều, có tình cảm
đẹp, có sự nhạy cảm thẩm mỹ và có năng lực diễn đạt. Đó là kết quả của một sự phấn đấu
rèn luyện rất cao.
3. Tìm hiểu tâm trạng trong tác phẩm trữ tình
Nếu hình tượng trong tác phẩm tự sự là hình tượng tính cách thì hình tượng trong
tác phẩm trữ tình là tiếng nói tình cảm mãnh liệt, là sản phẩm của những tâm trạng. Thơ
trữ tình chứa đầy tâm trạng nên việc tìm hiểu tâm trạng trong thơ trữ tình cần được chú ý
và hướng dẫn học sinh tìm hiểu.


Sự chọn lọc nghiên cứu những giá trị tinh thần theo quy luật của điển hình hoá nghệ
thuật sẽ giữ lại trong tác phẩm trữ tình những cảm xúc và tâm trạng mang ý nghĩa điển
hình. Tất nhiên cảm xúc và tâm trạng đó được gắn với sự rung động về vần điệu, hình
tượng âm thanh một hứng thú sáng tạo: “Qua đèo Ngang” của bà huyện Thanh Quan là
bài thơ chứa đầy tâm trạng. Mặc dù Hoành Sơn một dải nghìn tầm, có núi non hiểm trở,
có thành ấp, có dấu vết của chiến trận ngày xưa, có cái hùng vĩ của nó nhưng với một tâm
trạng cô đơn buồn bã thì dưới con mắt của bà, đèo Ngang chỉ là một mảnh buồn; từ hình
ảnh, âm thanh, màu sắc…chỉ gợi ta nghĩ đến tâm trạng cô đơn buồn bã của nhà thơ.
Đoạn thơ “Kiều ở lầu Ngưng Bích” trong Ngữ văn lớp 9 chứa đầy tâm trạng.
Kiều sống ở lầu Ngưng Bích lúc này chẳng khác gì một cô gái cấm cung. Từ trên lầu cao
trông ra, nàng ngắm dãy núi xa, mảnh trăng gần như trong cùng một bức tranh đẹp:
Bốn bề bát ngát xa trông
Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia.
Cảnh vật thiên nhiên thật là khoáng đạt và ngoạn mục, song Kiều không thấy một sự
hoà nhập nào với cảnh, chỉ thấy bẽ bàng, chua xót. Trong cảnh ấy, nàng chỉ thấy cồn lên
một nỗi nhớ, nỗi chua xót, nỗi buồn lo mênh mông, sâu thẳm trước cơn tai biến dữ dội
vừa ập lên cuộc đời nàng và chưa thôi thách thức đe doạ.
Để hướng dẫn học sinh tìm hiểu tâm trạng trong thơ trữ tình ta có thể dùng biện pháp
gợi mở với một hệ thống câu hỏi. Bằng con đường đàm thoại, gợi mở, giáo viên sẽ tạo
cho lớp học một không khí thoải mái để tìm sự đồng cảm với nhân vật trữ tình.
Tâm trạng cảm xúc trong thơ phải là những tâm trạng cảm xúc rất thật. Tâm trạng
của Viễn Phương khi “ Viếng lăng Bác” là tâm trạng điển hình, cũng là tâm trạng chung
của nhiều người, của chúng ta khi“Viếng lăng Bác”. Bởi thế tìm hiểu tâm trạng nhà thơ,
giáo viên phải nắm được trạng thái cảm xúc của nhà thơ, phải có tâm trạng cảm xúc rất
thật.
Câu nói của nhà thơ Huy Cận giúp ta thấy rõ hơn công việc thụ hiểu tâm trạng trữ
tình quan trọng đến mức nào: “ Bao trùm lên tất cả là một trạng thái tâm hồn, hơn thế nữa
là một trạng thái tâm thần và cơ thể cởi mở, thư thái mà sôi nổi, hào hứng mà lắng trong,
một trạng thái toàn diện trong đó ý và tình như đang sinh ra, đang nhú lên, tình đang
đọng trong ý, ý còn mang tất cả rung động của tình, một trạng thái tinh khôi sáng tạo ”.
4. Tìm hiểu các yếu tố thi pháp thơ trữ tình


4.1. Chất thơ, lời thơ: Nói đến thơ là nói đến chất thơ, lời thơ. Điều đáng chú ý từ dấu
hiệu đầu tiên của hình thức thơ là nhịp thơ. Thơ là văn bản được tổ chức bằng nhịp điệu
của ngôn từ. Nhịp điệu thơ được tổ chức đặc biệt để thể hiện nhịp điệu tâm hồn, nhịp điệu
cảm nhận thế giới một cách thầm kín. Nhịp điệu được tạo ra bởi sự trùng điệp; trùng điệp
của âm vần; trùng điệp ở nhịp, trùng điệp ở ý thơ, ở câu thơ hoặc bộ phận của câu thơ.
Bài thơ “ Mùa xuân nho nhỏ ” của Thanh Hải ( Ngữ văn lớp 9 ) thành công nổi bật là
việc sử dụng nhịp điệu. Sự gợi cảm của bài thơ nhờ ở cách đặt câu ngắn gọn, trùng điệp ở
câu thơ, ở bộ phận thơ, cách gieo vần cũng rất linh hoạt.
Nhịp điệu trong thơ còn có sự cộng hưởng với nhịp điệu bên trong của tâm hồn:
“Tiếng hát trong như tiếng hát xa” ( Cảnh khuya – Hồ Chí Minh). Sự rung động
của vần điệu nằm trong sức rung động mạnh mẽ của cảm hứng sáng tạo. Bài thơ “
Lượm ” của Tố Hữu là một biểu hiện thành công trong sử dụng nhịp điệu. Chính nhịp
điệu góp phần dựng lại hình ảnh một cậu bé Lượm hồn nhiên, nhí nhảnh yêu đời…Phân
tích bài Lượm phải chú ý đến việc phân tích nhịp điệu là vì thế.
4.2. Hình ảnh thơ: hình ảnh trong thơ trực tiếp truyền đạt sự cảm nhận thế giới một cách
chủ quan. Hình ảnh thơ thường gợi lên sự ngâm ngợi và liên tưởng. Hình ảnh trong thơ là
một yếu tố được sử dụng để thực hiện nhiều chức năng khác nhau. Hình ảnh có khi là
nhân tố trực tiếp của nội dung, là những bức tranh nhỏ trong cuộc sống. Hình ảnh có khi
có được qua sự so sánh:
Ca lô đội lệch
Mồm huýt sao vang
Như con chim chích
Nhảy trên đường vàng
( Lượm – Tố Hữu)
Hình ảnh thơ có được nhờ miêu tả, qua cảm quan tinh tế cùng với cảm xúc dâng trào
và tài năng nghệ thuật của tác giả:
Mọc giữa dòng sông xanh
Một bông hoa tím biếc
Ơi! con chim chiền chiện
Hót chi mà vang trời
(Mùa xuân nho nhỏ – Thanh Hải)


4.3. Ngôn ngữ thơ: Tìm hiểu thơ trữ tình không thể không tìm hiểu ngôn ngữ thơ. Thơ là
tiếng nói hàm súc cô đọng nhưng lại có sức vang ngân. Ngôn ngữ thơ quan trọng đến
mức một câu thơ có thể biểu hiện được một tình cảm lớn. Một chi tiết có thể biểu hiện
được cả một sự kiện. Lưu Hiệp trong Văn tâm điêu long từng viết: Tính tình là sợi dọc
của văn từ. Văn từ là sợi ngang của tính tình. Sợi dọc có xác định mới dệt được sợi
ngang vào. Tính tình có xác định , văn từ mới thông suốt. Đó là căn bản của việc làm
văn. Cho nên vận dụng lời văn là để làm sáng tỏ nghĩa lý. Lời văn loè loẹt quái dị, tư
tưởng tình cảm càng bị che mờ. Cũng như câu cá mà lấy lông trả làm dây, sâm nhung
làm mồi thì làm sao câu được cá.
Ngôn ngữ có được từ cuộc sống của nhân dân, là mượn ở cuộc sống. Nhưng phải sàng
sẩy gạn đục khơi trong, lọc lại cho chính xác, tinh vi, mới mẻ thì hình tượng thơ mới
giàu, cảm xúc thơ mới có được Ngôn ngữ trong thơ tuy từ này nằm cạnh từ kia nhưng ý
nghĩa câu thơ không phải là ý nghĩa riêng của các từ kia cộng lại mà đặc sắc là nó gây ra
một ý nghĩa khác hẳn, bao trùm, có lúc gợi cảm, gợi nghĩ rất sâu và lắng đọng. Tài nghệ
vân dụng ngôn ngữ của nhà thơ Thế Lữ để sáng tác bài thơ Nhớ rừng (Ngữ văn 8) đã
được nhà phê bình Hoài Thanh đánh giá rất cao: Đọc đôi bài, nhất là bài Nhớ rừng ta
tưởng chừng thay những chữ bị xô đẩy, bị dằn vặt một sức mạnh phi thường. Thế Lữ như
một viên tướng điều khiển đội quân Việt ngữ bằng những mệnh lệnh không thể cưỡng
được
III. Các bước tiến hành khi phân tích thơ trữ tình
- Học sinh đọc tác phẩm, giáo viên nhận xét và uốn nắn cách đọc theo đúng thể thơ, nhịp
thơ.
- Giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát và đọc kỹ tác phẩm bằng mắt một lần nữa cho
đúng thể thơ và nhịp thơ.
- Giáo viên cho học sinh tìm hiểu nghệ thuật ngôn từ (cách dùng từ của tác giả) trong bài
thơ, đoạn thơ đó.
- Giáo viên cho học sinh tìm hiểu vần thơ, nhịp thơ, từ ngữ và các biện pháp tu từ. Đây là
bước giáo viên có thể dừng lại để tìm hiểu kỹ và thấy được nội dung mà tác giả thể hiện
trong bài thơ đó, đoạn thơ đó. Vì sao tác giả lại có cách chọn các thể thơ đó trong bài và
cách gieo vần, ngắt nhịp… qua đó để toát lên được nội dung của tác phẩm. Giáo viên


hướng dẫn học sinh tìm hiểu không gian và thời gian nghệ thuật được tác giả sử dụng
trong câu thơ, khổ thơ, bài thơ đó như thế nào?
- Giáo viên hướng dẫn học sinh tổng kết đánh giá tác phẩm về hai mặt nội dung và nghệ
thuật.
VD:

Dạy bài thơ “Lượm” của Tố Hữu.

+ Đọc (chú ý nhấn mạnh giọng đọc vui tươi, nhẹ nhàng ở đoạn đầu và cuối, đoạn giữa
của bài thơ đọc với giọng tự hào, trầm lắng thể hiện tâm trạng hình ảnh của nhà thơ khi
nghe tin Lượm hi sinh).
+ Cho học sinh quan sát và phát hiện thể thơ mà tác giả sử dụng trong bài. Giáo viên hỏi:
Vì sao tác giả lại chọn thể thơ 4 chữ? Nhằm mục đích gì? Đối với câu hỏi này giúp học
sinh tìm hiểu thể thơ phù hợp với nội dung biểu đạt. Mỗi thể thơ có mấy câu? Và vì sao
có khổ có 4 câu, khổ 1 câu, khổ 2 câu để làm gì? Tìm hiểu nhịp thơ qua một số khổ, đa số
là nhịp 2/2 và khổ có 4 câu là nhiều. Giáo viên cho học sinh so sánh giữa cách đọc khổ 4
câu với khổ thơ đọc 2 câu mỗi câu chỉ có 2 chữ và khổ thơ chỉ có 1 câu và 4 từ để thấy
được cách ngắt nhịp của nhà thơ.
+ Giáo viên cho học sinh tìm hiểu cách gieo vần trong bài thơ mà tác giả sử dụng chủ yếu là
từ láy và vần lưng gieo liên tiếp ở cuối câu thơ. Đặc biệt khổ thơ chỉ có hai câu.
“Ra thế
Lượm ơi!…
Câu thơ gãy nhịp làm đôi tạo lên một tiếng kêu đau đớn, đột ngột, cả khổ thơ vỡ vụn đã
thể hiện được nỗi đau tan nát, tiếng khóc đứt đoạn, nghẹn tắc trước cái chết của chú bé
Lượm không gì hàn gắn được trong trái tim Tố Hữu.
+ Cuối cùng giáo viên cho học sinh tìm hiểu không gian và thời gian nghệ thuật trong bài
thơ, khổ thơ cụ thể.
IV. Giáo án minh họa
PHẦN III
THỰC NGHIỆM
Để minh hoạ cho phần trình bày lý thuyết trên, sau đây tôi xin được dẫn một giáo
án soạn theo hướng vận dụng đặc trưng thể loại


Tuần : 24

Ngày soạn:

Tiết : 112,113

Ngày dạy :

VB: MÙA XUÂN NHO NHỎ
Thanh Hải
A.Mục tiêu cần đạt:
1. Kiến thức
- HS cảm nhận được xúc cảm của tác giả trước mùa xuân của thiên nhiên, đất
nước và khát vọng đẹp đẽ muốn làm mùa xuân nho nhỏ để cống hiến cho đời.
-Thấy được đó là lẽ sống cao đẹp của một con người chân chính.
2. Kĩ năng
- Rèn kĩ năng đọc, hiểu văn bản thơ trữ tình hiện đại
- Trình bầy những suy nghĩ, cảm nhận về một hình ảnh thơ, một khổ thơ, một
văn bản thơ.
3. Thái độ
- Giáo dục lòng yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, biết cống hiến cho đời.
4. Định hướng phát triển năng lực
- Sử dụng ngôn ngữ ngữ; sáng tạo, cảm thụ, hợp tác; giao tiếp.
B. Chuẩn bị:
1. GV: SGK, SGV, nghiên cứu soạn bài, các tài liệu tích hợp liên quan
2. HS: SGK, vở ghi, soạn bài, hát bài Mùa xuân nho nhỏ
C. Tổ chức các hoạt động dạy học
Hoạt động của giáo viên và HS
Hoạt động 1: ổn định tổ chức - KT sĩ số:9B:
Hoạt động 2: KT sự chuẩn bị của HS:
? Đọc thuộc và diễn cảm bài thơ: “Con cò”. Bài thơ có nội dung gì ?
? Từ hình ảnh con cò, nhà thơ đã khái quát nên quy luật mang tính
triết lí nào về tình mẹ?
Hoạt động 3:Tổ chức dạy và học bài mới:
*GV giới thiệu bài
*ND dạy học cụ thể:

Yêu cầu cần đạt


Tích hợp : Cho HS nghe bài hát Mùa xuân nho nhỏ của nhạc sĩ Trần
Hoàn.
GV giới thiệu: Bài hát được phổ nhạc từ bài thơ của nhà thơ Thanh
Hải. Bài hát ra đời ngay trong đám tang của nhà thơ đã gây xúc
động cho tất cả mọi người.
? Em hãy trình bày những hiểu biết của mình về nhà thơ Thanh
I. Đọc và tìm hiểu chung
1. Tác giả
-Thanh Hải tên khai sinh là Phạm Bá
Ngoãn (1930-1980) quê ở Phong
Điền- Thừa Thiên Huế.
- Là nhà thơ cách mạng.
2. Tìm hiểu chung về văn bản
a.Đọc, tìm hiểu chú thích

Hải?
GV: Thanh Hải là một nhà thơ cách mạng, tham gia 2 cuộc
kháng chiến chống Pháp- Mĩ, bám trụ ở quê hương ông cả
trong những năm tháng khó khăn nhất của cuộc cách mạng ở
Miền Nam. Cũng chính trong thời gian ấy những bài thơ của
Thanh Hải như: Mồ anh hoa nở, Cháu nhớ Bác Hồ cùng với
những tiếng thơ khác của văn học cách mạng đã vượt lên sự
khủng bố tàn bạo của kẻ thù để khẳng định niềm tin thắng lợi
của cách mạng. Sau ngày giải phóng, Thanh Hải vẫn gắn bó với
quê hương xứ Huế, sống và sáng tác ở đó cho đến lúc qua đời.
Gv sử dụng bản đồ VN cho HS xác định vị trí quê hương
Phong Điền- Thừa Thiên Huế quê hương của Thanh Hải


GV: Yêu cầu đọc:
- Đọc giọng vui tươi và suy ngẫm, lúc nhanh phấn khởi khẩn trương,
lúc chậm khoan thai, càng về cuối càng lắng đọng chậm và nhỏ dần.
- Đọc với nhịp 3/2, 2/3.
GVđọc 6 câu thơ đầu.
? Gọi học sinh đọc diễn cảm toàn bộ bài thơ.
? Giải nghĩa từ “chiền chiện”( Đây là loài chim như thế nào?)
? Bài thơ được sáng tác trong thời gian nào và ở hoàn cảnh nào?

2. Tác phẩm:

GV: Tháng 11- 1980 ông viết bài thơ này khi đang nằm trên

*Xuất xứ :

giường bệnh thì đến tháng 12/1980 ông qua đời.

“Mùa xuân nho nhỏ” được viết vào

? Em hãy nêu n/ dung cơ bản của bài thơ?
- Bài thơ thể hiện niềm yêu mến thiết tha cuộc sống, đất nước và
ước nguyện của tác giả.
? Theo em văn bản này chia bố cục làm mấy phần? Em có thể nêu
giới hạn từng phần?
? Xác định thể thơ của bài thơ này?
-

Viết theo thể thơ 5 chữ.

? Nêu mạch cảm xúc của bài thơ?
- Từ cảm xúc về thiên nhiên, đất nước dẫn đến suy nghĩ, ước nguyện
của nhà thơ.
? HS đọc khổ thơ 1. Mùa xuân của TN, mùa xuân về trên xứ Huế
được tác giả miêu tả qua những hình ảnh

11-1980 trước thời gian nhà thơ qua
đời không lâu.
*ND : Bài thơ thể hiện niềm yêu mến
thiết tha cuộc sống, đất nước và ước
nguyện của tác giả.
*Bố cục:
- Phần 1: Khổ thơ đầu: Cảm xúc
trước mùa xuân thiên nhiên, đất trời.
- Phần 2: hai khổ thơ tiếp theo: Cảm
xúc về mùa xuân đất nước.
- Phần 3: 2 khổ tiếp theo: Suy nghĩ
và tâm nguyện của nhà thơ trước
mùa xuân đất nước.
- Phần 4: khổ thơ cuối: Lời ngợi ca
quê hương, đất nước qua điệu dân ca
xứ Huế
* Thể thơ: 5 chữ nhịp 3/2 hoặc 2/3
* Mạch cảm xúc của bài thơ
- Từ cảm xúc về thiên nhiên, đất
nước dẫn đến suy nghĩ, ước nguyện
của nhà thơ.


II. Phân tích
1. Hình ảnh mùa xuân của thiên
nhiên, đất nước
a. Mùa xuân của thiên nhiên
+ Với dòng sông xanh, hoa tím biếc,
tiếng chim chiền chiện hót vang trời.
=>NT đảo trật tự cú pháp tạo ấn
tượng về bức tranh xuân tươi đẹp có
nào?

không gian cao rộng: dòng sông, mặt
-

Mùa xuân: -Dòng sông xanh

đất, bầu trời; có sắc màu tươi thắm

- Bông hoa tím

của mx: màu xanh của nước sông

- Con chim chiền chiện hót.

Hương hoà hợp với màu tím của hoa

? Em có nhận xét gì về các hình ảnh mà tác giả chọn miêu tả ở đây

tạo nên bức tranh xuân xứ Huế thật

-Tác giả chọn những hình ảnh tiêu biểu để miêu tả cảnh mùa xuân.

đẹp. Và có cả âm thanh của tiếng

? Ngoài ra em có nhận xét gì về trật tự cú pháp ở hai câu thơ đầu tiên?

chim chiền chiện ngân vang rung

-

Đảo vị ngữ “mọc” lên trước.

động đất trời..

GV: Trật tự thông thường “Một …mọc giữa dòng sông xanh”. Việc
đảo trật tự cú pháp có tác dụng gì ?
- Làm cho bông hoa tím biếc kia tưởng như đang từ từ, lồ lồ mọc

- Mùa xuân với vẻ đẹp thơ mộng,

lên, vươn lên xoè nở trên mặt nước xanh.

đầy sức sống.

GV: Động từ “mọc” đặt ở đầu khổ thơ là một dụng ý nghệ thuật của

+ Cảm xúc của tác giả trước MX:

tác giả. Nó không chỉ tạo cho người đọc ấn tượng đột ngột bất ngờ,

-Từng giọt long lanh rơi

mới lạ mà làm cho hình ảnh, sự vật trở lên sống động như đang diễn

Tôi đưa tay tôi hứng.

ra trước mắt.

->Một sự chuyển đổi cảm giác: Tiếng

? Từ việc chọn hình ảnh tiêu biểu và đảo trật tự cú pháp, từ cảm thán chim cảm nhận bằng thính giác vậy
mà chuyển thành “giọt” có thể nhìn
“ơi” giúp các em cảm nhận gì về cảnh mùa xuân?
? Với vẻ đẹp của mùa xuân thì tác giả đã bày tỏ cảm nhận của mình thấy và cảm nhận bằng xúc giác (đưa
tay hứng).
như thế nào?
- Từng giọt … tôi hứng.
? Em hiểu giọt long lanh rơi mà tác giả đưa tay hứng là giọt gì?

TL: Bằng bút pháp lãng mạn, nhà thơ


-

Giọt sương, giọt mưa xuân.

đã thể hiện niềm say sưa, ngây ngất

Giọt âm thanh của tiếng chim.

trước vẻ đẹp của thiên nhiên, đất trời

? Nếu hiểu theo cách thứ 2 thì ở đây tác giả đã sử dụng biện pháp

lúc vào xuân.

nghệ thuật gì? Chuyển đổi cảm giác: Tiếng chim cảm nhận bằng
thính giác thế mà chuyển thành giọt có thể nhìn thấy và cảm nhận
bằng xúc giác (đưa tay hứng).
? Từ việc sử dụng nghệ thuật chuyển đổi cảm giác em hiểu gì về

b. Mùa xuân của đất nước, của cách

cảm xúc của nhà thơ trước cảnh mùa xuân?

mạng.

Vận dụng kiến thức môn mĩ thuật em có thể vẽ phác họa bức tranh
mùa xuân xứ Huế? (Có thể cho HS về nhà làm). GV chiếu bức tranh

- Mùa xuân người cầm súng

xuân xứ Huế

Lộc giắt đầy quanh lưng

? Gọi học sinh đọc tiếp khổ thơ 2, 3.

Mùa xuân người ra đồng

Từ mùa xuân của thiên nhiên, đất trời, nhà thơ cảm nhận mùa xuân

Lộc trải dài nương mạ

của đất nước qua những hình ảnh tiêu biểu nào?

=>NT điệp từ, điệp cấu trúc, hình

? NX về nghệ thuật ?

ảnh độc đáo (Lộc xuân). “Lộc” là

- Điệp từ, điệp cấu trúc, hình ảnh độc đáo (Lộc xuân).
? Em hiểu từ “lộc” trong các ý thơ trên có ý nghĩa gì ?
-Lộc: + Chồi non: Chỉ một sức sống đang vươn dậy-> Vẻ đẹp của
MX
+ Lộc còn chỉ sự may mắn, tốt lành, hạnh phúc.
? Từ “lộc” gắn với hình ảnh người cầm súng và người ra đồng có ý
nghiã như thế nào?
- Người cầm súng dắt nguỵ trang trên lưng như mang lộc của mùa
xuân ra trận.
- Người ra đồng gieo mạ xuân như đang gieo mùa xuân trong sản
xuất.
GV (MX đến với con người) Mùa xuân của đất trời đọng lại trong
hình ảnh lộc non theo người cầm súng và người ra đồng biểu trưng
cho hai nhiệm vụ quan trọng là chiến đấu và lao động xây dựng đất
nước. Chính họ đã góp phần đem mùa xuân đến mọi nơi trên đất

chồi non tượng trưng cho vẻ đẹp của
mùa xuân theo người cầm súng và
người ra đồng biểu trưng cho hai
nhiệm vụ quan trọng là chiến đấu và
lao động xây dựng đất nước. Hay
chính họ đã góp phần đem mùa xuân
đến mọi nơi trên đất nước.
(Họ đem lộc xuân về, họ gieo lộc
xuân, góp vào mùa xuân đất nước.)


nước.
? Lộc theo người cầm súng ra trận, người ra đồng với khí thế như
thế nào?
-

Khí thế: Hối hả, xôn xao.

? Qua đây em cảm nhận như thế nào về cảnh đất nước vào xuân?

- Tất cả như hối hả

? Từ khí thế đó tác giả hồi tưởng lại chặng đường đã qua của dân tộc

Tất cả như xôn xao

như thế nào?
-

Đất nước... trước.

? Trong khổ thơ này tác giả đã sử dụng biện pháp nghệ thuật gì?
-

So sánh: đất nước như vì sao.
? So sánh như vậy có tác dụng gì?

- Cảm nhận được vẻ đẹp kì vĩ của đất nước đang vững bước đi lên.

=>Điệp ngữ, từ láy, so sánh->
Nhịp điệu khẩn trương, náo nức. Đó
là nhịp điệu của lịch sử, của thời đại,
của đất nước đi lên phía trước không
ngừng, không nghỉ.

- Đất nước vào xuân trong khí thế hối hả, khẩn trương và rất tự tin.
? Thông qua những hình ảnh đó tác giả muốn nói gì về dân tộc ta?
- Dù trải qua những khó khăn thử thách nhưng cứ mỗi lần gian khổ
qua đi, đất nước lại vững vàng và tiến nhanh hơn về phía trước
GV tích hợp với môn Công dân: Thế hệ trẻ phải biết kế thừa và phát
huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc
? Qua sự phân tích trên giúp em hiểu gì về khí thế của đất nước khi
vào xuân?
-> Đất nước vào xuân thật khẩn trương sôi nổi, đầy khí thế tự tin và
rất lạc quan.
Chuyển: Từ mùa xuân của thiên nhiên, đất nước, mạch thơ chuyển
một cách tự nhiên sang bày tỏ những suy ngẫm và ý niệm của tác
giả trước mùa xuân đất nước.
? Đọc 3 khổ thơ tiếp theo. Từ niềm say sưa ngây ngất trước mùa
xuân, tác giả ước nguyện điều gì

-

-

Ta làm con chim hót

-

Ta làm một cành hoa
Một nốt trầm xao xuyến

-> Với khí thế tự tin và rất lạc quan.


? Em hãy phân tích ý nghĩa các hình ảnh mà tác giả lựa chọn để bày
tỏ ước nguyện của mình?
+ Con chim nhỏ nhưng cống hiến tiếng hót vui.
+ Bông hoa hiến cho đời hương thơm, sắc đẹp.
+ Nốt nhạc trầm góp phần hoàn thiện bản nhạc

2. Lời tâm niệm chân thành của

? Qua những hình ảnh ấy, em hiểu gì về ước nguyện của nhà thơ?

nhà thơ

- Niềm mong muốn được sống có ích, cống hiến cho đời là một lẽ tự

-Ta làm:

nhiên như con chim mang đến tiếng hót, bông hoa toả hương sắc

Con chim hót

cho đời - Đó là một mùa xuân nho nhỏ mà tha thiết và khiêm tốn.

Một cành hoa

? Trong bài thơ có sự thay đổi về xưng hô: mở đầu nhà thơ xưng

Một nốt trầm xao xuyến

“tôi” nhưng kết thúc lại xưng “ta”. Sự chuyển đổi cách xưng hô ấy
có tác dụng gì?
- Ta có thể chỉ cá nhân cũng có thể chỉ chung chung cho mọi người.
Em có nhận xét gì về cách sử dụng hình ảnh ở khổ thơ này?
- Lựa chọn những hình ảnh rất hay, hợp lí mang ý nghĩa liên tưởng:
Từ mùa xuân đất nước đến mùa xuân nho nhỏ của mỗi người. (mùa
xuân thiên nhiên, với mùa xuân tư tưởng.)
GV: Hình ảnh này lặp lại ở phần đầu bài thơ tạo ra một sự đối ứng
chặt chẽ nhưng mang một ý nghĩa mới. Tác giả lấy cái đẹp của
thiên nhiên nhưng để bày tỏ cái đẹp của lòng người.

+ Hình ảnh thơ đẹp, tự nhiên, cấu tứ
lặp, tạo sự đối xứng chặt chẽ thể hiện
lòng mong muốn, ao ước được góp
phần vào làm tươi đẹp mùa xuân của
đất nước, được sống có ích, được
cống hiến cho cuộc đời.

? Cảm nhận của em về câu thơ“Một mùa xuân nho nhỏ - lặng lẽ
dâng cho đời Dù là tuổi hai mươi -Dù là khi tóc bạc”?
-ý nghĩ ấy của tác giả thật cao đẹp, đáng trân trọng: Hình ảnh ẩn dụ
“Một mùa xuân nho nhỏ – lặng lẽ dâng cho đời là một thái độ khiêm
tốn đáng trân trọng của một con người tha thiết muốn cống hiến
những gì tốt đẹp nhất dù là nhỏ bé cho cuộc đời, cho đất nước
không kể trẻ trung hay tuổi cao, bệnh tật.
GV: Bài thơ như một lời tự nhủ, như một lời thúc giục mọi người
hãy biết sống, lẽ sống có ích, sống đẹp như mùa xuân.
GV tích hợp với môn Công dân: Thế hệ trẻ phải biết sống có lí

- Đại từ “Ta” có thể chỉ cá nhân cũng
có thể chỉ chung cho mọi người
-“Ta” vừa nói được niềm riêng, vừa
diễn đạt được cái chung. Đó là tâm
sự, ước vọng của một cuộc đời của


tưởng biết cống hiến sức trẻ trí tuệ cho công cuộc xây dựng và bảo

nhiều cuộc đời, muốn gắn bó, cống

vệ Tổ quốc

hiến cho đất nước.

Tích hợp với văn bản “Đoàn thuyền đánh cá” và “Lặng lẽ SaPa”.

+ Hình ảnh thơ mang ý nghĩa liên

Hình ảnh những ngư dân miền biển lao động hăng say và hình ảnh

tưởng: Từ mùa xuân đất nước đến

những trí thức trẻ sẵn sàng đi bất cứ đâu, làm bất cứ việc gì cho để

mùa xuân nho nhỏ của mỗi người.

góp phần xây dựng đất nước

.=>Tất cả làm cho bài thơ có một sức

? Đọc khổ thơ cuối cùng. Việc tác giả nhắc đến những

sống riêng

câu Nam ai, Nam bình, nhịp phách tiền… có tác dụng gì?

-“Một mùa xuân nho nhỏ

- Dụng ý: Những bản Nam ai… đó là những cái hồn của âm nhạc
dân gian xứ Huế. Tác giả muốn sống mãi với cuộc đời, với Huế quê

Lặng lẽ dâng cho đời”

hương trong tiếng phách tiền âm vang ấy.

-> Hình ảnh ẩn dụ thể hiện niềm ước

Gv liên hệ với bài Ca Huế trên sông Hương – Hà Ánh Minh ( Ngữ

nguyện dâng hiến những gì tốt đẹp

văn 7)

nhất dù là nhỏ bé cho cuộc đời, cho

GV: Đó là âm thanh mùa xuân đất nước muôn đời vẫn trẻ trung, vấn

đất nước.

vít xao xuyến lòng người. Bài thơ khép lại như một bản nhạc tha
thiết. Đặt bài thơ vào hoàn cảnh nhà thơ đang nằm trên giường bệnh TL: Bài thơ như một lời tự nhủ, như
với cái chết sắp đến gần ta mới càng xúc động, thấu hiểu hơn tâm sự một lời thúc giục mọi người hãy biết
tha thiết muốn sống và cống hiến của nhà thơ Thanh Hải. Lẽ sống ấy

sống, lẽ sống có ích, sống đẹp như

thật đáng khâm phục.

mùa xuân.

? Bài thơ có những thành công tiêu biểu nào về nghệ thuật?
- Ngôn ngữ thơ giản dị, hàm súc, tự nhiên, chân thành, cách lựa chọn
hình ảnh tiêu biểu giàu ý nghĩa biểu tượng, chứa đựng nhiều cảm xúc, có - Những bản Nam ai… đó là những
cái hồn của âm nhạc dân gian xứ
sức thu hút người đọc.
? Với những thành công về nghệ thuật làm nổi bật nội dung gì?
- Bài thơ thể hiện một tâm niệm chân thành, tha thiết mà hết sức
khiêm tốn của nhà thơ muốn cống hiến trọn đời cho đất nước.
- Bài thơ là lời kêu gọi, thúc giục mọi thế hệ hãy sống đẹp, có ích
cho cuộc đời, cho đất nước.
Gv: Cho HS nghe lại bài hát Mùa xuân nho nhỏ hoặc cho 1 HS hát

Huế. Tác giả muốn sống mãi với
cuộc đời, với Huế quê hương trong
tiếng phách tiền âm vang ấy.
* Mỗi độ xuân về, nhà thơ cất lên âm
điệu xứ Huế để ngợi ca QH, đất nước
trải dài ngàn dặm, chứa chan tình yêu
thương.


III. Tổng kết.
1-Nghệ thuật
-Thể thơ năm chữ, nhẹ nhàng tha
thiết mang âm hưởng gần gũi với dân
ca.
-Hình ảnh tự nhiên, giản dị mang ý
nghĩa biểu trưng khái quát.Kết hợp
với các biện pháp tu từ, ngôn ngữ thơ
trong sáng giàu hình ảnh .Cấu tứ chặt
chẽ, giọng điệu luôn có sự biến đổi
phù hợp với nội dung từng đoạn.
2. Nội dung.
- Bài thơ thể hiện những rung cảm
tinh tế của nhà thơ trước vẻ đẹp của
mùa xuân thiên nhiên, đất nước và
khát vọng cống hiến cho đất nước và
cho cuộc đời.
IV. Luyện tập
Hoạt động 4: Luyện tập - Củng cố
? Đọc diễn cảm bài thơ? Nêu cảm nhận của em về khổ thơ mà em thích nhất?
Hoạt động 5: HDVN
- Học thuộc bài thơ; học nội dung phân tích
- Soạn tiếp bài
- Viết bài văn nghị luận ngắn:
Đề bài: Từ những ước nguyện chân thành tha thiết của nhà thơ Thanh Hải trong bài thơ:
“Mùa xuân nhonhỏ” (Ngữ văn 9 tập 2), hãy viết một đoạn văn nêu suy nghĩ về trách
nhiệm sống của thế hệ thanh niên hiện nay.
Trong năm học 2015- 2016, tôi đã chú ý đến việc dạy văn bản trữ tình theo đặc trưng thể
loại và nhận thấy học sinh đã hứng thú hơn trong các tiết học. Chất lượng làm bài kiểm


tra Văn ở tiết 131 đã tăng lên rõ rệt so với năm học trước. Cụ thể như sau: chất lượng
khảo sát lớp 9B đã tăng lên rõ rệt so với lớp 9A (không áp dụng). Cụ thể như sau:
Điểm

Sĩ số

0 - 3,4
SL

%

3,5 - 4,9

5,0 - 6,4

6,5 - 7,9

8 - 10

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

1

4,5

7

31,8

10

45,5

4

18,2

Đối chứng
22
0
2
9,1
12
54,6
7
31,8
Từ bảng thống kê trên cho thấy tỉ lệ học sinh khá và giỏi ở lớp 9B có tăng lên rõ rệt. Điều

1

4,5

9B
Thực nghiệm
9A

22

0

đó khẳng định việc phân tích tác phẩm trữ tình bám sát vào các Đặc trưng thể loại là
hướng đi đúng, đem lại hiệu quả trong quá trình giảng dạy. Bởi lẽ nó không chỉ giúp hoạt
động dạy học nhịp nhàng, hiệu quả của giờ học nâng cao rõ rệt mà nó còn giúp học sinh
có khả năng cảm thụ sâu sắc tác phẩm thơ trữ tình cả về nội dung và nghệ thuật. Hơn nữa
nó còn giúp học sinh nâng cao năng lực cảm thụ, có kĩ năng phân tích các tác phẩm thơ
nói riêng, các tác phẩm văn học nói chung.
KẾT LUẬN
Là giáo viên giảng dạy bộ môn Ngữ văn, tôi luôn tâm đắc với ý kiến của nhà thơ Tố Hữu nói
với giáo viên giảng dạy văn học :“ Dạy văn học, học văn học thật là một niềm vui sướng
lớn. Qua mỗi giờ văn học, thầy giáo có thể làm rung động các em, làm cho các em yêu đời,
yêu lẽ sống và lớn thêm một chút”. Nhưng để làm được cái điều mà Tố Hữu đã nói để các em
yêu đời, yêu lẽ sống và lớn thêm một chút ấy là một thách thức đối với tất cả giáo viên dạy
Ngữ văn. Hơn 20 năm trong nghề, tôi luôn trăn trở để có được những tiết dạy Ngữ văn thực
sự cuốn hút đối với học sinh. Trong quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy khi dạy thơ trữ tình cần
cần chú ý đến đặc trưng thể loại mà từ đó dẫn dắt học sinh có được cách tiếp cận đúng hướng
khám phá được cái hay cái đẹp trong mỗi bài thơ là rất quan trọng.
Các đặc trưng trong thơ trữ tình rất đa dạng và phong phú. Việc làm thế nào để có thể
giúp cho người GV có thể khai thác tốt hơn giá trị của văn bản, làm thế nào để HS hiểu rõ
được những gì mà tác giả đã thể hiện và truyền đạt là một điều rất khó khăn. Tóm lại,
chuyên đề của tôi nghiên cứu và thực hiện với một lí do duy nhất là giúp dạy và học tốt
các tác phẩm trữ tình - môn ngữ văn THCS trong tình trạng HS có biểu hiện ngại học
Văn, và yếu kém kiến thức môn Ngữ văn hiện nay.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×